1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại phòng tài chính kế hoạch Thị Xã Gia Nghĩa, Tỉnh Đăk Nông

93 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 706,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Hiện đại hoá công tác quản lý NSNN từ khâu lập kế hoạch, thực hiện NSNN, báo cáo NSNN và tăng cường trách nhiệm, nâng cao tính minh bạch trong trong quản lý NS

Trang 1

PHAN THỊ HIẾU

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN

TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

Chuyên ngành : Kinh tế phát triển

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Quang Bình

Đà nẵng - Năm 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực,

khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Phan Thị Hiếu

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 4

5 Những đóng góp về khoa học của luận văn 5

6 Tổng quan nghiên cứu 5

7 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN 9 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI NSNN 9

1.1.1 Ngân sách nhà nước 9

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm chi NSNN 10

1.1.3 Chức năng của chi NSNN 10

1.1.4 Vai trò của quản lý chi NSNN 13

1.1.5 Nguyên tắc quản lý chi NSNN 13

1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NSNN 16

1.2.1 Khái niệm về quản lý chi NSNN 16

1.2.2 Công tác lập dự toán chi NSNN 17

1.2.3 Phân bổ và giao dự toán chi NSNN 19

1.2.4 Chấp hành dự toán chi NSNN 20

1.2.5 Công tác quyết toán NSNN 21

1.2.6 Thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi NSNN 23

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN 24

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24

Trang 4

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI

CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG 27

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN 27

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên 27

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 30

2.1.3 Thực trạng thu chi NSNN của thị xã Gia Nghĩa 36

2.1.4 Những thuận lợi, khó khăn ở thị xã Gia Nghĩa 39

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG 40

2.2.1 Tình hình lập dự toán chi NSNN 40

2.2.2 Tình hình phân bổ, giao dự toán chi NSNN 43

2.2.3 Tình hình chấp hành dự toán chi NSNN 46

2.2.4 Tình hình quyết toán chi NSNN 47

2.2.5 Về thanh tra, kiểm soát, kiểm tra thanh toán trong chi NSNN 52

2.2.6 Đánh giá chung về tình hình chi NSNN tại phòng Tài chính Kế hoạch thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông 57

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA , TỈNH ĐẮK NÔNG 60

3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA TRONG THỜI GIAN TỚI 60

3.1.1 Định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới 60

Trang 5

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI

CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG 65

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện việc lập, phân bổ, giao và chấp hành dự toán 65

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN cấp thị xã 68

3.2.3 Giải pháp liên quan đến thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính và biên chế đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập 73

3.2.4 Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý chi NSNN 75

3.2.5 Một số giải pháp khác 77

3.2.6 Một số kiến nghị 80

KẾT LUẬN 82

TÀI I LIỆU THAM KHẢO 84 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)

Trang 7

Bảng 2.1

Bảng 2.4

Tay nghề đào tạo của Lao động trong độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tại thời điểm tháng 01-7 hàng năm

36

Trang 8

Số biểu đồ Tên biểu đồ Trang

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện đại hoá công tác quản lý NSNN từ khâu lập kế hoạch, thực hiện NSNN, báo cáo NSNN và tăng cường trách nhiệm, nâng cao tính minh bạch trong trong quản lý NSNN; hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng NSNN; đảm bảo an ninh tài chính trong quá trình phát triển và hội nhập của quốc gia; tăng cường sự gắn kết giữa yêu cầu quản lý NSNN với các mục tiêu tài chính phát triển, với các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật thông qua việc xây dựng kế hoạch tài chính và kế hoạch chi tiêu trung hạn là mục tiêu tổng quát trong “Báo cáo khả thi Dự án Cải cách tài chính công” được Chính Phủ Phê duyệt tại Quyết định

số 432/QĐ-TTg ngày 21/4/2003 nhằm huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài chính, ổn định tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, hỗ trợ tốt nhất cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Để đạt được mục tiêu đó, trong điều kiện của một nền kinh tế đang phát triển, nguồn thu cho NSNN còn gặp nhiều khó khăn, nước ta đang phải tập trung các nguồn lực tài chính để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các khoản chi của NSNN luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp

Trong thời gian qua, công tác quản lý chi NSNN liên tục được đổi mới

và tăng cường theo hướng đơn giản hoá quy trình, tăng hiệu quả, đẩy mạnh tiết kiệm, chống lãng phí Các khoản chi của NSNN đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển,

Trang 10

tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội quan trọng

và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Công tác quản lý và phân cấp NSNN đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm cho các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị sử dụng NSNN, thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, kiểm soát chi NSNN đã được sửa đổi bổ sung theo hướng đơn giản, thuận lợi

Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, tính dàn trải trong chi NSNN chưa được khắc phục, hiệu quả đầu tư còn thấp; thất thoát, lãng phí trong quản lý

và sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn cao; chi tiêu hành chính còn nhiều bất hợp lý…

Thị xã Gia Nghĩa là trung tâm của Tỉnh Đắk Nông được thành lập theo Nghị định 82/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2005 của Chính phủ, trên cơ

sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Glong (cũ) là xã Quảng Thành,

xã Đắk Nia và thị trấn Gia Nghĩa để thành lập để thành lập 08 đơn vị hành chính mới thuộc thị xã Gia Nghĩa, bao gồm 05 phường, 03 xã Với tổng diện

em sinh sống trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa có vị trí quang trọng về phát triển kinh kế - xã hội trong mối liên hệ liên vùng, có mối giao lưu thuận lợi theo tuyến đường Bắc- Nam (QL14); là đầu mối nối vùng Tây nguyên với vùng trung tâm kinh kế lớn như: Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, đồng thời là đầu mối nối vùng Bắc Tây Nguyên(Buôn Ma Thuột, Gia Lai, Kom Tum) với Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) và các tỉnh vùng Duyên hải Nam Trung Bộ như : Ninh Thuận, Bình Thuận,… thông qua quốc lộ 28; có nhiều thác lớn đẹp như: Liêng Nung, Thác 3 tầng… thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ du lịch Trong tương lai sẽ có đường sắt đi qua nối khu mỏ khai thác

bô xít với các khu công nghiệp của các tỉnh Bình Phước, Binh Dương và Thành Phố Hồ Chí Minh Đây chính là lợi thế trong quan hệ phát triển kinh tế

Trang 11

- xã hội trong tương lai của thị xã, sẽ có điều kiện tăng cường các quan hệ hợp tác đầu tư phát triển Thực trạng hiện nay công tác thu, chi NSNN của thị xã Gia Nghĩa vẫn còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế Thu NSNN chưa tập trung đầy đủ; số thu chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế trên địa bàn Chính sách cơ chế phân cấp nguồn thu chưa thật sự tạo được động lực khai thác tối

đa nguồn thu, vẫn chưa bao quát các nguồn thu, vẫn còn tình trạng thất thu,

nợ đọng thuế còn lớn, nguồn thu còn hạn chế … Hiệu quả chi đầu tư còn thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả thấp, gây lãng phí; chi thường xuyên còn vượt dự toán Do đó, việc quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các khoản chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu chi tiêu của các cấp chính quyền địa phương, tăng cường cho nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và các khoản chi đột xuất khác, khắc phục và giảm thiểu tối đa các hạn chế trong quản lý chi NSNN như đã nêu trên là yêu cầu và đòi hỏi tất yếu đối với các cơ quan quản lý và sử dụng NSNN trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa

Với những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chi

NSNN tại phòng tài chính - kế hoạch thị xã gia nghĩa, tỉnh đắk nông" làm

đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn

- Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa lý luận về chi NSNN và

quản lý chi NSNN cấp thị xã, luận văn tập trung phân tích làm rõ thực trạng quản lý chi NSNN cấp huyện trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa Từ đó, rút ra những nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng quản lý chi NSNN cấp thị xã trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa trong thời gian tới

- Nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về chi NSNN cấp thị xã và quản lý chi NSNN cấp thị xã

Trang 12

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN cấp huyện trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý chi NSNN cấp huyện trên địa bàn Thị xã Gia Nghĩa, Tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: quản lý chi NSNN trên địa bàn một thị xã

- Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trên địa bàn

Thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý chi của NSNN cấp thị xã, không nghiên cứu quản lý chi đối với các khoản chi của NSNN trung ương, NSNN tỉnh và NSNN phường phát sinh trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

- Thời gian nghiên cứu: luận văn nghiên cứu quản lý chi NSNN trên địa

bàn thị xã Gia Nghĩa trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2014

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp thu thập số liệu

Các số liệu của luận văn chủ yếu là số liệu thứ cấp;

Các số liệu này được thu thập từ số liệu các cơ quan của thị xã có liên quan tới quản lý chi NSNN như HĐND và UBND thị xã, Phòng Tài chính kế hoạch thị xã; Chi Cục Thống kê thị xã

Các số liệu này sau đó được tổng hợp và xử lý bằng các công cụ thống

kê phù hợp để làm cơ sở dữ liệu cho phân tích

Trang 13

quản lý chi, đồng thời cho biết xu hướng thay đổi của tình hình quản lý chi NSNN Cách phân tích này sẽ cho phép chỉ ra những khiếm khuyết và nguyên nhân của chúng

Phương pháp so sánh sẽ cho phép đánh giá tình hình chi tiêu NSNN của địa phương như thế nào theo các tiêu chuẩn quản lý chi NSNN, so với các địa phương khác, so với chính thị xã trong thời gian trước đây

Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa được thực hiện để để cho ra những đánh giá và kết luận xác đáng làm cơ sở đề ra giải pháp hoàn thiện công tác trong thời gian tới

Phương pháp chuẩn tắc được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi làm thể nào

để quản lý chi NSNN của địa phương tốt hơn trong những năm tới

Nhìn chung đề tài được giải quyết bằng các phương pháp mang tính chất định tính

5 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Hệ thống hóa có chọn lọc để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về

chi NSNN cấp thị xã và quản lý chi NSNN cấp thị xã

Phân tích, đánh giá thực trạng chi và quản lý chi NSNN cấp thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

Chỉ ra được những kết quả và hạn chế cần hoàn thiện trong quản lý chi

NS cấp thị xã trong thời gian tới

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN cấp thị xã nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng NSNN của chính quyền

và các đơn vị thụ hưởng NSNN trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

6 Tổng quan nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, các vấn đề liên quan đến quản lý chi NSNN

đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý kinh

tế và các bài viết đăng trên báo, tạp chí của trung ương và địa phương Cụ thể

Trang 14

đề cập tới nhóm nghiên cứu gián tiếp quản lý chi NSNN qua kho bạc nhà nước như các nghiên cứu sau:

Vũ Đức Trọng (2009), đã tập trung nghiên cứu Kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc nhà nước Hải Dương Hay nghiên cứu của Vũ Hoàng Nam (2008), Về hoàn thiện hoạt động kiểm soát chi NSNN qua KBNN trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu của Vũ Hoàng Nam (2008) và Vũ Văn Yên (2008) cũng theo chủ đề về hoàn thiện hoạt động kiểm soát chi NSNN qua KBNN

Các nghiên cứu này chỉ tập trung vào quản lý chi NSNN nhà nước ở tại kho bạc nhà nước các địa phương Điểm chung các đề tài này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chi tiêu NSNN, những quy định về quản lý chi tiêu NSNN trên cơ sở Luật NSNN nhà nước, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Tài chính có liên quan Do đó những quy định và cách thức quản lý đối tượng này – NSNN có những điểm khác biệt mà khi đưa vào các nghiên cứu quản lý chi NSNN tại phòng tài chính Nhưng những bài học rút ra trong cách thức quản lý ở kho bạc vẫn hữu ích

Bây giờ hãy xem xét cụ thể các nghiên cứu quản lý chi NSNN tại phòng tài chính cấp huyện Các nghiên cứu này như :

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Tuấn (2011) với nội dung phân cấp NSNN, lập dự toán NSNN trong đó phân bổ vốn đầu tư và chi thường xuyên, từng bước đổi mới công tác lập dự toán gắn với thực hiện các chương trình kinh tế, nâng cao ý thức tiết kiệm chống lãng phí, ý thức kỷ luật tài chính, có chính sách tài chính để khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi Luận văn chưa làm rõ vấn đề chấp hành ngân sách của các đơn dự toán

Tô Thiện Hiền (2011) với nội dung phân tích thực trạng thu, chi NSNN, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý NSNN tỉnh

An Giang đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững với tầm nhìn

Trang 15

đến năm 2020

Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác như:

Trịnh Văn Ngọc (2008), Quản lý NSNN trên địa bàn thành phố Hà

Tĩnh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế- Đại học Quốc gia Hà

Nội, năm 2008;

Nguyễn Ngọc Anh Tuấn (2007), Về hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN

của Thành phố Nha Trang thành phố Khánh Hoà, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007;

Hoàng Hàm (2008), Bàn về thực trạng và giải pháp nâng cao chất

lượng dự toán NSNN, Tạp chí Kế toán, số 11,12 năm 2008;

Nguyễn Thị Minh và Nguyễn Quang Dong (2009), Phân tích tính công

bằng và hiệu quả của chi NSNN theo thành phố tạp chí Tài chính tháng

12/2009;

Lê Thị Thanh Tuyền (2012), Hoàn thiện quản lý chi NSNN tỉnh Quảng

Ngãi” Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế, ĐHĐN năm 2012

Ngô Thị Bích (2010), Hoàn thiện quản lý chi NSNN tại TP Đà Nẵng”

Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học kinh tế, ĐHĐN năm 2010

Trong các công trình nghiên cứu khoa học và các bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến quản lý chi NSNN và giải pháp

để nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN nhưng phần lớn mới tiếp cận từ góc độ quản lý, kiểm soát chi của cơ quan KBNN hoặc cơ quan tài chính, rất ít công trình, bài viết đi sâu nghiên cứu về vấn đề chi NS cấp thị xã và quản lý chi NSNN cấp thị xã từ góc độ tiếp cận của tất cả các cơ quan có liên quan đến quá trình quản lý các khoản chi NSNN Đặc biệt là ở Tỉnh Đắk Nông nói chung và thị xã Gia Nghĩa nói riêng chưa có các công trình khoa học nghiên cứu để đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý chi NS cấp thị xã trên địa bàn

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý chi NSNN cấp thị xã

Chương 2: Thực trạng quản lý chi NSNN thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN thị xã Gia Nghĩa, trong thời gian tới

Trang 17

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI NSNN

1.1.1 Ngân sách nhà nước

a Khái niệm ngân sách nhà nước

NSNN thể hiện các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, là sự vận động của các nguồn tài chính gắn với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, phát sinh khi Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia

NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản để hình thành, phân phối, sử dụng qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước, là nguồn lực để nuôi sống bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội NSNN được coi là tấm gương phản ánh các hoạt động kinh

tế của Nhà nước, bên cạnh đó nó còn phản ánh thái độ, quan điểm, cách thức

mà Nhà nước giải quyết các vấn đề KT - XH

Theo Luật NSNN cho rằng NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi Nhà

nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm, để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Về hình thức, các khái niệm trên có thể không giống nhau, nhưng nhìn chung, chúng đều phản ánh về kế hoạch, dự toán thu, chi của nhà nước trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nhà nước sử dụng quỹ tập trung đó để trang trải cho các khoản chi tiêu của mình

Trang 18

chính trị của nhà nước Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu, chi của NSNN;

Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước; Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ Ví dụ như các Luật, các chế

độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành

Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN được hình thành chủ yếu thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến;

Ẩn sau các hoạt động thu, chi của NSNN là các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm chi NSNN

Đứng về phương diện pháp lý, chi NSNN là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được những mục tiêu công ích, chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp

Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mang các sự nghiệp văn hóa xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh, quốc phòng

1.1.3 Chức năng của chi NSNN

a Chức năng phân bổ nguồn lực

NSNN không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, phát triển, khai thác các nguồn lực, thúc đẩy, duy trì và tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập, mà còn

Trang 19

phải quản lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tiềm năng của đất nước Với chức năng tập trung, phân phối, tổ chức luân chuyển vốn, nguồn vốn, giám đốc bằng đồng tiền, tài chính luôn gắn chặt trong mối quan

hệ kinh tế phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các nguồn lực của đất nước Trong kinh tế thị trường, chức năng phân phối nguồn lực của tài chính ngày càng được coi trọng Phân phối nguồn lực và thu nhập tài chính có chủ định,

có căn cứ, phù hợp mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội sẽ là yếu

tố quyết định cho phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế Thảo luận của Quốc hội ngoài nội dung phân phối và sử dụng NSNN, cần dành nhiều thời gian và trí tuệ cho bàn thảo và tìm kiếm nguồn thu, tìm kiếm và sử dụng

có hiệu quả các biện pháp khai thác nguồn lực cả trước mắt và lâu dài Có nguồn lực dồi dào mới có điều kiện để tăng chi và chủ động trong phân bổ, sắp xếp các khoản chi Quốc hội thảo luận và yêu cầu Chính phủ cần và có thể

sử dụng các chính sách tài chính, chính sách NSNN, chính sách tài khóa để điều tiết kinh tế vĩ mô; phát huy chức năng ổn định kinh tế của tài chính Trong phạm vi và điều kiện NSNN còn hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu cho kinh tế-

xã hội ngày càng lớn, việc thực hiện chính sách NSNN thắt chặt hay nới lỏng đều đòi hỏi phải có sự cân nhắc và quyết định thông minh, tỉnh táo phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế nhất định Chính sách NSNN thắt chặt đòi hỏi phải hạn chế chi tiêu, kiềm chế bội chi, tiến tới cân bằng NSNN, nhưng sẽ vấp phải áp lực chi NSNN quá lớn như hiện nay Thực hiện chính sách tài chính nới lỏng cho phép thoả mãn nhu cầu chi tiêu bằng vay nợ (phát hành trái phiếu, công trái ) mà lãi suất tiền vay sẽ phải trả bằng chính tiền thu thuế, phí trong tương lai Số có thể vay trong nền kinh tế cho chi tiêu của Nhà nước cũng có hạn Quốc hội cần dành thời gian thảo luận kỹ và chi tiết, cân nhắc, đánh giá các phương án, lựa chọn và quyết định chính sách phù hợp cho từng niên độ NSNN, cho kế hoạch NSNN trung hạn Trên cơ sở đó, Quốc hội

Trang 20

thảo luận và quyết định về dự toán NSNN, về từng loại thu, từng lĩnh vực chi

và cơ cấu chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, mức bội chi NSNN và các nguồn

bù đắp bội chi Hơn thế nữa, Quốc hội thảo luận và quyết định về phương án

phân bổ NSNN trung ương cho từng Bộ, ngành và mức bổ sung từ NSNN

trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quyết định danh

mục các chương trình dự án Quốc gia, các công trình xây dựng cơ bản quan

trọng đầu tư từ nguồn NSNN Đó là những nhiệm vụ của Quốc hội vừa mang

tính cụ thể, vừa thể hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế

b Chức năng phân phối thu nhập

Về mặt xã hội, tài chính công góp phần điều tiết công bằng thu nhập

giữa các tầng lớp dân cư bằng cả 2 công cụ bộ phận thuế và chi tiêu Trong

khi thuế là công cụ mang tính chất động viên nguồn thu cho nhà nước, thì chi

NSNN mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu nhập

thấp thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giải

quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo Nghệ thuật của Chính phủ thể hiện ở

chỗ lấy nhiều tiền có thể được từ một giai cấp trong xã hội để chuyển cho một

giai cấp khác nhằm tạo ra sự công bằng trong xã hội

c Chức năng điều chỉnh và kiểm soát

Cũng cần thấy rằng, chi NSNN đã hình thành nên một thị trường đặc

biệt Với một khối lượng hàng hóa to lớn do nhà nước tiêu thụ trên thị trường

làm tổng cầu của xã hội được mở rộng Đến lượt mình, tổng cầu mở rộng lại

tác động nâng cao khả năng thu hút vốn và kích thích sản xuất phát triển hơn

nữa Trên góc độ này mà nói, nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà

nước lại trở thành công cụ kinh tế quan trọng nhằm tích cực tái tạo lại cân

bằng của thị trường hàng hóa khi bị mất cân đối bằng cách tác động vào các

quan hệ cung cầu thông qua tăng hay giảm mức độ chi NSNN ở thị trường này

Trang 21

1.1.4 Vai trò của quản lý chi NSNN

Quản lý chi NSNN nhằm đảm bảo và duy trì sự hoạt động bình thường của hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương Hoạt động

bộ máy chính quyền các cấp, không chỉ nhằm mục đích thống nhất quản lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo ổn định về chính trị một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của công cuộc cải cách kinh tế

1.1.5 Nguyên tắc quản lý chi NSNN

Trong bất kỳ thời đại nào, chi NSNN đều phải tuân thủ những quy tắc nhất định, những yêu cầu đó càng trở thành bắt buộc bởi tính đa dạng, phong phú cũng như mục tiêu hiệu quả là những đặc trưng cơ bản đối với nền kinh tế thị trường

Thứ hai, tính kỷ luật

Mọi khoản thu, chi của Nhà nước đều được phản ánh đầy đủ vào NSNN và phải có ràng buộc cứng về NSNN Nguyên tắc kỷ luật ở đây cũng hàm ý rằng việc hấp thụ nguồn lực của khu vực công chỉ giới hạn ở phạm vi cần thiết để thực hiện các chính sách của chính phủ Chi NSNN phải được tính toán trong khả năng nguồn lực huy động được từ nền kinh tế và nguồn khác Khả năng này không chỉ tính trong một năm mà phải được tính trong trung hạn (3-5 năm), kết hợp với dự báo xảy ra rủi ro, chỉ có như vậy mới

Trang 22

đảm bảo tính ổn định và bền vững của NSNN trong trung hạn Nhìn chung các nhà quản lý phải dự tính được rủi ro về thu và sự biến động về chi để có chính sách đối ứng với những tình huống có thể xảy ra và dự tính nhiều phương án Hàng năm trên cơ sở đánh giá và xây dựng NSNN năm rà soát lại

kế hoạch trung hạn để điều chỉnh sát với thực tiễn và cập nhật thêm một năm những biến động tăng giảm nguồn và những chính sách bổ sung hoặc thay đổi, như vậy lúc nào cũng đảm bảo có kế hoạch trung hạn để xác định ngân quỹ trong 3-5 năm, đáp ứng được yêu cầu chi NSNN trong khuôn khổ nguồn lực cho phép và thể hiện tính bền vững

Thứ ba, tính có thể dự báo được

Đây là điều kiện để thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình Điều này không chỉ đòi hỏi sự ổn định và tính minh bạch về cơ chế, chính sách, ổn định vĩ mô, mà còn phải có sự cân đối giữa ngắn hạn và dài hạn, tính đến nhu cầu và khả năng nguồn lực cho các nhu cầu chi

Thứ tư, tính minh bạch, công khai trong cả quy trình từ khâu lập, tổ chức thực hiện, quyết toán, báo cáo và kiểm toán

Nguồn kinh phí phục vụ cho chi NSNN chủ yếu từ nguồn thuế, phí do dân đóng góp nên phải đảm bảo rõ ràng, công khai để các tổ chức, cá nhân giám sát và tham gia Kế hoạch tài chính NSNN bản thân nó phải xây dựng trên cơ sở thông tin Nó phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cơ bản để thực hiện có hiệu quả việc thảo luận, phê chuẩn Khi được phê chuẩn, kế hoạch tài chính NSNN trở thành nguồn thông tin truyền tải toàn bộ mục tiêu, quan điểm của chính phủ và là căn cứ để cơ quan hành pháp tham gia kiểm tra giám sát thực hiện Các quyết định ban hành phải có căn cứ, có cơ sở, chi phí, lợi ích gắn liền với quyết định phải rõ ràng, dễ tiếp cận Như vậy, thực hiện nguyên tắc này vừa nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến NSNN, vừa đảm bảo sử dụng NSNN có hiệu quả, vừa giúp cho phát hiện

Trang 23

chỉnh sửa để thông tin về NSNN sát đúng thực tiễn

Thứ năm, đảm bảo cân đối, ổn định tài chính, NSNN

Kế hoạch tài chính, NSNN nói riêng và công tác kế hoạch nói chung đều phải mang tính cân đối và ổn định Tuân thủ nguyên tắc này để thực hiện

có hiệu quả chức năng, sứ mệnh của nhà nước trong việc duy trì trật tự xã hội

và khắc phục những thất bại của nền kinh tế thị trường

Thứ sáu, chi NSNN phải gắn chặt với chính sách kinh tế, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn

Chi NSNN phải dựa trên nguồn thu có được, nhưng nguồn thu lại được hình thành chủ yếu từ hoạt động kinh tế và gắn với chính sách kinh tế, gắn với mục tiêu vĩ mô Mặt khác trong bất kể nền kinh tế nào và đặc biệt là kinh tế thị trường, trách nhiệm của Nhà nước là phải tập trung giải quyết vấn đề về phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, trợ cấp xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, khắc phục chênh lệch giữa các vùng miền NSNN chính là công cụ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm xã hội to lớn đó Điều đó thể hiện chỉ có gắn chi NSNN với chính sách kinh tế thường niên, mục tiêu kinh tế trung và dài hạn thì mới tạo được sự nhất quán, đảm bảo chi NSNN đạt được tính khả thi cao và dự báo NSNN chuẩn xác hơn

Thứ bảy, chi NSNN phải cân đối hài hòa giữa các ngành với nhau, giữa trung ương và địa phương, kết hợp giải quyết ưu tiên chiến lược trong từng thời kỳ

Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển ngành - địa phương, giữa các ngành, giữa các địa phương để xây dựng NSNN, thúc đẩy phát triển cân đối, toàn diện, tạo ra mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành, các địa phương Giải quyết mối quan hệ giữa trung ương - địa phương theo hướng giao quyền tự chủ cho địa phương để khuyến khích địa phương khai thác tiềm

Trang 24

năng thế mạnh, gắn trách nhiệm với quyền lợi địa phương

Cần tập trung giải quyết ưu tiên chiến lược, bởi thực tiễn cho thấy nhu cầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ công trong kinh tế thị trường rất đa dạng phong phú Với nguồn lực tài nguyên cũng như tài chính khan hiếm, thì việc sắp xếp thứ tự ưu tiên chiến lược để tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước, những vấn đề có tác động tích cực đến các lĩnh vực khác, tạo động lực cho sự phát triển, hoặc giải quyết những vấn đề cấp thiết của kinh tế xã hội Nguyên tắc này tạo cho chi NSNN trở thành công cụ hữu hiệu

để điều hành có hiệu quả, gắn NSNN với chính sách kinh tế và đảm bảo cho NSNN được cân đối vững chắc, chủ động khi có biến động về nguồn thu Việc điều hành chi NSNN cần tập trung nguồn lực giải quyết được những ưu tiên bắt buộc, những ưu tiên ở cấp độ thấp hơn được giải quyết tùy theo khả năng cân đối ở từng thời điểm

1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ CHI NSNN

Trước khi làm rõ nội dung quản lý chi NSNN cấp thị xã cần làm rõ khái niệm này

1.2.1 Khái niệm về quản lý chi NSNN

Khái niệm: Được nhiều nghiên cứu thống nhất đó là: Quản lý chi

NSNN là sự tác tác động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đến các hoạt động chi NSNN, làm cho quỹ NSNN được phân bổ, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả, nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận

Quản lý chi NSNN thị xã là quản lý toàn bộ các khoản chi NSNN cấp thị

xã hàng năm qua các khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra, thanh tra NSNN thị xã Tuy nhiên quy trình này sẽ tiến hành cho hai mục chi chính là (1) chi thường xuyên và (2) chi đầu tư phát triển

Trang 25

1.2.2 Công tác lập dự toán chi NSNN

Trong quản lý chi NSNN nhất thiết phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó cơ quan tài chính mới có căn cứ để lập các phương án phân bổ NSNN, kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành, thẩm tra phê duyệt quyết toán kinh phí của các đơn vị thụ hưởng Đồng thời dựa vào định mức chi mà các ngành, các cấp, các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể của quá trình quản lý, sử dụng kinh phí tại đơn vị mình theo đúng chế độ

Thông thường định mức chi được thể hiện dưới hai dạng: Loại định mức chi tiết theo từng mục chi của Mục lục NSNN (còn gọi là định mức sử dụng) và loại định mức chi tổng hợp theo từng đối tượng được tính định mức chi của NSNN (còn gọi là định mức phân bổ)

Để xác định định mức chi, người ta sử dụng một số phương pháp xây dựng như sau:

+ Đối với các định mức sử dụng:

- Xác định nhu cầu chi cho mỗi mục;

- Tổng hợp nhu cầu chi theo các mục đã được xác định để biết được tổng mức cần chi từ NSNN cho mỗi đơn vị, mỗi ngành làm cơ sở để lên cân đối chung;

- Xác định khả năng về nguồn tài chính có thể đáp ứng cho nhu cầu chi;

- Cân đối giữa khả năng và nhu cầu chi để quyết định mức chi cho các mục

+ Đối với định mức phân bổ:

Trang 26

Nội dung lập dự toán chi đầu tư phát triển

Chi đầu tư phát triển: Là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho

các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích

tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Chi đầu tư xây dựng cơ bản có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh

tế hợp lý theo định hướng của nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng suất lao động xã hội

Lập dự toán chi đầu tư phát triển:

Xem xét việc bố trí các dự án, hạng mục thứ tự ưu tiên phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của dự án trong từng thời kỳ và khả năng cân đối của NSNN, theo tiến độ triển khai của dự án, dứt điểm, tránh dàn trải

Việc xem xét thẩm định dự toán của các đơn vị là kiểm soát tuân thủ và cắt giảm những nội dung chưa thực sự cần thiết, tập trung vào trọng tâm, trọng điểm nhiệm vụ của đơn vị, nhiệm vụ của cấp trên giao, trên nguyên tắc vừa đảm bảo hiệu quả phục vụ nhiệm vụ chính trị của các đơn vị, vừa tiết kiệm thiết thực

Nội dung lập dự toán chi thường xuyên

Trang 27

Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT-XH Cùng với quá trình phát triển KT-

XH các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng gia tăng, do đó đã làm phong phú nội dung chi thường xuyên của NSNN

- Xây dựng dư toán chi thường xuyên:

Khi lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên các căn cứ sau:

+ Các chỉ tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo ANQP …liên quan đến chi thường xuyên

+ Chính sách của Nhà nước về hoạt động của bộ máy QLNN, các hoạt động sự nghiệp, ANQP và các hoạt động khác trong từng giai đoạn nhất định + Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; định mức phân bổ dự toán NSNN do Thủ tướng chính phủ, HĐND Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương ban hành theo phân cấp

+ Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán NSNN; thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN của Bộ Tài chính và văn bản hướng dẫn của cơ quan chủ quản các cấp

+ Số kiểm tra về dự toán NSNN được cơ quan có thẩm quyền thông báo, tình hình thực hiện dự toán năm báo cáo và các năm liên kề

1.2.3 Phân bổ và giao dự toán chi NSNN

Căn cứ Quyết định của UBND tỉnh và giao nhiệm vụ thu, chi NSNN, Phòng Tài chính Kế hoạch thị xã có trách nhiệm tham mưu cho UBND thị xã, thực hiện phương án phân bổ NSNN cấp thị xã và mức phân bổ cho NSNN cấp dưới

Nội dung cơ bản của chi thường xuyên: Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ, văn hoá – thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp

Trang 28

kinh tế của Nhà nước; Chi hoạt động môi trường; Chi cho hoạt động hành chính nhà nước; Chi cho An ninh – quốc phòng và chi khác NSNN

Nội dung cơ bản của chi đầu tư phát triển: Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch; Cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch, trong phạm vi giá dự toán được duyệt;

1.2.4 Chấp hành dự toán chi NSNN

Tùy theo nội dung chi thường xuyên hay đầu tư mà có sự khác biệt nhất định

a Chấp hành dự toán chi thường xuyên:

Chấp hành chi NSNN nhà nước là thực hiện dự toán NSNN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hay nói cách khác là thực hiện các chỉ tiêu chi tài chính trong dự toán NSNN Ở nước ta, năm NSNN được pháp luật quy định tính theo năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm

Đây là nội dung rất quan trọng trong chi NSNN, là khâu thứ hai trong chu trình quản lý NSNN Mục tiêu chính của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng kinh phí được phân bổ một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Muốn vậy trong quá trình

tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên cần chú trọng các yêu cầu sau: phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm trên cở sở dự toán chi đã xác định; đảm bảo cấp phát vốn kịp thời, đúng nguyên tắc; tuân thủ đúng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong sử dụng vốn NSNN

Trong khâu này cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát của cơ quan tài chính các cấp, công tác kiểm soát chi của KBNN và hơn hết là nâng cao ý thức chấp hành dự toán, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn kinh phí được cấp của các đơn vị sử dụng NSNN

Trang 29

b Chấp hành dự toán chi đầu tư phát triển:

Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích và đúng kế hoạch Đây là nguyên tắc quan trọng do nguồn vốn và phương hướng sử dụng vốn đầu tư đã được trong dự toán NSNN

Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích và đúng kế hoạch Đây là nguyên tắc quan trọng do nguồn vốn và phương hướng sử dụng vốn đầu tư đã được trong dự toán NSNN hàng năm Nguyên tắc này đòi hỏi việc cấp phát chỉ được tiến hành cho những công trình đã được ghi kế hoạch

và phải có đầy đủ thủ tục XDCB theo quy định

Vốn đầu tư XDCB được cấp phát theo mức độ hoàn thành thực tế của công trình, theo đúng dự toán được duyệt Chủ đầu tư chỉ thanh toán cho bên nhận thầu khi đã hoàn thành bàn giao công trình hay hạng mục công trình hoặc khối lượng hoàn thành theo giai đoạn Nguyên tắc này đảm bảo việc cấp phát vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích

Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải được thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền Việc kiểm tra này được thực hiện trong toàn bộ quá trình đầu tư Thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền trong quá trình cấp phát vốn đầu tư nhằm đảm bảo tính hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

1.2.5 Công tác quyết toán NSNN

Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng của một chu trình NSNN Tổng kết quá trình thực hiện dự toán NSNN nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm NSNN từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc quản lý NSNN cấp thị xã cho những năm tiếp sau đó

Phòng Tài chính - Kế hoạch phải là cơ quan tổng hợp báo cáo quyết toán các khoản thu, chi của NSNN theo quy định Công tác quyết toán NSNN thị xã phải thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật về chứng từ thu, chi NSNN; mục lục NSNN; hệ thống tài khoản, sổ sách, mẫu biểu báo cáo, mã số

Trang 30

đơn vị sử dụng NSNN

Tùy theo nội dung chi mà công tác quyết toán có những điểm riêng phù hợp với đối tượng này Cụ thể

a Quyết toán vốn đầu tư phát triển:

Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình ngay sau khi công trình hoàn thành bàn giao đưa vào khai thác, sử dụng Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã được thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp là chi phí thực hiện đúng với thiết kế, dự toán được duyệt, đảm bảo đúng định mức, đơn giá, chế độ tài chính kế toán, hợp đồng kinh tế kỹ thuật được ký kết và các quy định của nhà nước có liên quan Báo cáo quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác tổng chi phí đầu tư đã thực hiện; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án, TSCĐ, TSLĐ; đồng thời phải bảo đảm đúng nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định

b Quyết toán chi thường xuyên

Đây là khâu kết thúc của chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên của NSNN Quyết toán chi thường xuyên cũng được lập từ cơ sở và tổng hợp

từ dưới lên theo hệ thống các cấp dự toán và các cấp NSNN Quá trình quyết toán chi thường xuyên phải chú ý các nội dung sau:

+ Phải lập đầy đủ các loại báo cáo quyết toán và gởi kịp thời các loại báo cáo đó cho các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xét duyệt hoặc phê chuẩn theo quy định của luật NSNN

+ Số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo chính xác, trung thực, theo đúng mục lục NSNN quy định

+ Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán và của NSNN các cấp phải được KBNN đồng cấp xác nhận về tổng số và chi tiết trước khi trình

Trang 31

cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt

+ Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu

Qua công tác quyết toán chi thường xuyên NSNN sẽ giúp các cơ quan quản lý phân tích đánh giá quá trình chấp hành NSNN, chấp hành các định mức nhà nước đã quy định của các đơn vị thụ hưởng NSNN cũng như của các cấp NSNN, nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong quá trình sử dụng NSNN; làm cơ sở cho việc xây dựng cũng như điều chỉnh các định mức phân

bổ NSNN, xây dựng dự toán NSNN cho năm sau

1.2.6 Thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi NSNN

Các đơn vị sử dụng NSNN cấp thị xã và các tổ chức được NSNN cấp thị

xã hỗ trợ kinh phí thường xuyên mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước để giao dịch, thanh toán và chịu sự kiểm tra của Phòng Tài chính – Kế hoạch và Kho bạc Nhà nước tỉnh Đắk Nông trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí Các khoản chi NSNN cấp thị xã được kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán Phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện kiểm soát đối với các khoản chi bằng Lệnh chi tiền, dự toán, Kho bạc Nhà nước tỉnh Đắk Nông thực hiện kiểm soát chứng từ chi đối với các khoản chi bằng dự toán Đồng thời, Kho bạc tỉnh Đắk Nông thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi NSNN theo nguyên tắc thanh toán cho người hưởng lương, người cung cấp hàng hóa, dịch

vụ và người nhận thầu

Thông qua công tác thẩm định quyết toán, thanh tra, kiểm toán các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện và chấn chỉnh nhiều tồn tại trong công tác quản lý tài chính NSNN tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, từ đó đã góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính NSNN trên địa bàn thị xã

Để đảm bảo việc quản lý sử dụng NSNN có hiệu quả, tiết kiệm, thực hiện

Trang 32

nghiêm các chế độ, chính sách quản lý chi tài chính UBND thị xã có trách nhiệm

tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ quản lý chi NSNN của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra trong nội

bộ đơn vị mình và các đơn vị cấp dưới trực thuộc

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, do vậy cần phải có những thiết kế, kiến trúc phù hợp với điều kiện tự nhiên ở nơi đầu tư vốn, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Chẳng hạn, ở địa phương có nhiều sông, lại hay xảy ra lũ lụt thì các khoản chi NSNN sẽ tập trung vào xây dựng đê, kè, và tu sửa để, khi xây dựng công trình phải tránh mùa mưa, bão và

có những biện pháp hữu hiệu để tránh thiệt hại xảy ra nhằm đảm bảo chất lượng công trình; hoặc địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, dốc thì chú ý đầu tư cho giao thông thuận lợi để có thể phát triển kinh tế và phát triển các ngành nghề phù hợp với điều kiện địa hình đó Vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản chịu ảnh hưởng nhiều từ các điều kiện tự nhiên ở địa phương

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương đều chịu ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế xã hội Với môi trường kinh tế ổn định, vốn đầu tư sẽ được cung cấp đầy đủ, đúng tiến độ Ngược lại nền kinh tế mất ổn định, mức tăng trưởng kinh tế chậm Nhà nước sẽ thắt chặt tín dụng để kìm chế lạm phát, các

dự án sẽ bị điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư, chi NSNN giảm Lạm phát cũng làm cho giá cả nguyên vật liệu tăng, làm chi phí công trình tăng điều này có thể hoãn thực hiện dự án vì không đủ vốn đầu tư để thực hiện Vì vậy, có thể nói các yếu tố về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương

Trang 33

1.3.3 Tình hình thu, chi NSNN hàng năm và bộ máy quản lý chi NSNN

Thu, chi NSNN là đối tượng chính của quản lý chi NSNN Do đó đặc điểm và tình hình thu, chi NSNN sẽ quyết định tới công tác chi này Nguồn thu sẽ quyết định đến chi và quản lý chi Khi thu tăng hay giảm sẽ buộc phải

có những điều chỉnh trong quản lý chi tiêu Trong điều kiện thâm hụt NSNN hiện nay, chi thường cao hơn sẽ yêu cầu công tác quản lý chi phải hiệu quả hơn Chỉ có như vậy mới bảo đảm không chỉ cho hoạt động thường xuyên của

bộ máy quản lý hành chính và sự phát triển lâu dài của địa phương

Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương và việc vận dụng quy trình nghiệp vụ quản lý vào thực tiễn địa phương: hoạt động quản lý chi NSNN được triển khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc biệt là quy trình nghiệp vụ quản lý Tổ chức bộ máy và quy trình quản lý, quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, mối quan hệ của từng bộ phận trong quá trình thực hiện từ lập, chấp hành, quyết toán và kiểm toán chi NSNN có tác động rất lớn đến quản lý chi NSNN Tổ chức bộ máy quản lý phù hợp sẽ nâng cao chất lượng quản lý, hạn chế tình trạng sai phạm trong quản lý Quy trình quản lý được bố trí càng khoa học, rõ ràng thì càng góp phần quan trọng làm nâng cao chất lượng của thông tin tới cấp ra quyết định quản lý chi NSNN, giảm các yếu tố sai lệch thông tin Từ đó nâng cao được hiệu quả quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương

Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy chi NSNN, bao gồm các nội dung sau: năng lực đề ra chiến lược trong hoạt động NSNN; đưa ra được các kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng; tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn giữa các nhân viên, cũng như giữa các khâu, các bộ phận của bộ máy quản lý

Trang 34

chi NSNN ở địa phương Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý tài chính công ở trung ương cũng như địa phương Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp

lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thì việc quản lý chi tiêu nguồn lực tài chính công sẽ không hiệu quả, dễ gây tình trạng chi vượt quá thu, chi đầu tư giàn trải, phân bổ chi thường xuyên không hợp lý; có thể dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí NSNN, không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội…

Ngoài ra, đối với người lãnh đạo cũng cần tránh bệnh chạy theo thành tích, bệnh cục bộ địa phương, bệnh quan liêu mệnh lệnh, coi thường pháp luật, xem trình tự thủ tục là thứ gò bó quyền lực của mình Đây cũng có thể được coi là một trong những yếu tố làm giảm hiệu quả, thậm chí còn gây những hậu quả như thất thoát, lãng phí, tham nhũng,… trong công tác quản lý chi NSNN trên địa bàn địa phương

Năng lực chuyên môn của các bộ phận quản lý các khoản chi NSNN ở địa phương lại là yếu tố quyết định hiệu quả chi NSNN Nếu cán bộ quản lý

có năng lực chuyên môn cao sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng nguồn lực tài chính công, kiểm soát được toàn bộ nội dung chi, nguyên tắc chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý nguồn tài chính công đảm bảo theo dự toán đã đề ra

Bên cạnh năng lực chuyên môn thì đối với cán bộ công chức cũng cần phải tránh bệnh xu nịnh, chiều ý cấp trên, là thói quen xin cho, hạch sách, thiếu ý thức chịu trách nhiệm cá nhân Thậm chí là sa sút về phẩm chất đạo đức như đòi hối lộ, đưa đút lót, thông đồng, móc ngoặc, gian lận… đây là những nhân tố ảnh hưởng không tốt tới quá trình quản lý chi NSNN, gây giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công nghiêm trọng

Trang 35

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSNN TẠI PHÒNG TÀI

CHÍNH KẾ HOẠCH THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ

ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên

a Điều kiện tự nhiên

Thị xã Gia Nghĩa nằm ở khu vực Nam Tây nguyên là trung tâm kinh

tế-xã hội, chính trị của tỉnh Đăk Nông, được thành lập ngày 15 tháng 7 năm

2005 theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP, ngày 27/6/2005 của Chính Phủ, trên

cơ sở diện tích, dân số của ba đơn vị hành chính là thị trấn Gia Nghĩa, xã

Quảng Thành và xã Đăk Nia của huyện Đăk Nông cũ

Phía Đông giáp huyện Đăk G’long, tỉnh Đăk Nông

Phía Tây giáp huyện Đăk R’lấp, tỉnh Đăk Nông

Phía Nam giáp huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng

Phía Bắc giáp huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông

Dân số thị xã Gia Nghĩa tính đến 31/12/2013 là: 52.778 người, chiếm

khoảng 9,5% dân số toàn tỉnh Đắk Nông Mật độ dân số: 185,84 người/km2

Thị xã Gia Nghĩa có 8 đơn vị hành chính gồm 05 phường: Nghĩa Đức,

Nghĩa Thành, Nghĩa Tân, Nghĩa Phú, Nghĩa Trung và 03 xã gồm: Quảng

Thành, Đăk Nia và Đăk R’Moan

Thị xã Gia Nghĩa cách thành phố Buôn Ma Thuột 120 km theo quốc lộ

14 về phía Đông Bắc; cách thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía Nam; là

giao điểm giữa quốc lộ 14 nối thành phố Buôn Ma Thuột với thị xã Gia Nghĩa

và các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh…, và quốc lộ

28 nối trung tâm thị xã Gia Nghĩa với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh vùng Duyên

Trang 36

hải Nam Trung Bộ như: Ninh Thuận, Bình Thuận,…Trong tương lai sẽ có đường sắt đi qua nối khu mỏ khai thác bô xít với các khu công nghiệp của các tỉnh Bình Phước, Bình Thuận, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh Đây chính là lợi thế trong quan hệ phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai của thị

xã, sẽ có điều kiện tăng cường các quan hệ hợp tác đầu tư phát triển

Thị xã Gia Nghĩa có địa hình phức tạp, gồm nhiều dãy đồi núi mấp mô xen kẽ nhiều khe suối tự nhiên lớn, nhỏ tạo thành dạng địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh Địa hình thị xã có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây; Địa hình của thị xã như vậy rất không thuận lợi trong canh tác nông nghiệp, xây dựng giao thông, xây dựng các công trình, nhưng lại tạo cảnh quan sinh động và thơ mộng cho khu đô thị có dáng vẻ đặc trưng riêng biệt của miền núi Tây Nguyên

Thị xã Gia Nghĩa nằm trong tiểu vùng khí hậu Cao Nguyên Đăk Nông – Lâm viên Bảo Lộc, thời tiết mát mẻ, ít có gió bão, không có mùa đông lạnh, rất thuận lợi cho phát triển ngành du lịch, nghỉ dưỡng và sản xuất nông nghiệp

Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa bình quân năm là: 2.339 mm, phân bố chủ yếu vào mùa mưa (khoảng 90%) Về mùa khô, khí hậu khô hạn, độ ẩm thấp Sự phân bố không đồng đều này đã ảnh hưởng đến sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân

- Số giờ nắng bình quân năm từ 2.000 – 2.200 giờ

- Lượng bốc hơi bình quân năm là: 1.000 mm

- Độ ẩm không khí bình quân năm là: 82%

- Gió có hai hướng chính theo mùa: mùa khô gió Đông Bắc; mùa mưa

Trang 37

gió Tây Nam

- Tài nguyên nước:

Tài nguyên nước mặt do nguồn nước mưa cung cấp, được lưu giữ trong các hồ và hệ thống khe suối Nhìn chung, nước mặt trong khu vực tương đối dồi dào do lượng mưa trung bình năm lớn Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng của khí hậu cao nguyên, lại nằm ở phía Tây, cuối dãy Trường Sơn nên vào mùa khô mưa ít, nắng nóng kéo dài làm khô hạn, nhiều lúc thiếu nước

Tài nguyên nước ngầm, phân bố ở hầu khắp cao nguyên bazan và các địa bàn trong khu vực nghiên cứu, có trữ lượng lớn ở độ sâu 40-90m Đây là nguồn cung cấp nước bổ sung cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô

- Tài nguyên rừng:

Trước đây rừng tự nhiên được phân bố đều trong khu vực thị xã, tập trung chủ yếu ở vùng núi cao, rừng tự nhiên có nhiều hệ động vật, thực vật phong phú và đa dạng Nhiều khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ và nhiều loại dược liệu có giá trị kinh tế và khoa học Trong rừng còn có nhiều loại động vật quý hiếm như: voi, hổ, gấu v.v được ghi trong sách đỏ thế giới Rừng đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, bảo vệ môi sinh

Trang 38

Trong những năm gần đây diện tích rừng dần bị thu hẹp và hiện giờ rừng trong khu vực đô thị Gia Nghĩa hầu như không còn nữa, đất rừng đã nhường lại cho cây công nghiệp, hoạt động xây dựng và phát triển kinh tế Rừng nói chung chỉ còn lại rất ít tại khu vực xã Trường Xuân và một vài cụm

- Tài nguyên khoáng sản:

Trên địa bàn thị xã có các loại khoáng sản như bô xít, đá Grannit, sét Cao Lanh và một số khoáng sản quý hiếm như Vonfram, Thiếc,… Ngoài ra còn có các tài nguyên khá phong phú là nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, đất sét phân bố rải rác, có thể khai thác công nghiệp, sản xuất gạch, ngói phục vụ nhu cầu xây dựng Sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp phân bố tập trung ở thị xã Gia Nghĩa hiện nay Hiện tại, thực hiện chủ trương của Chính phủ, Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam đã triển khai thăm dò tổng thể và thí điểm khai thác bô xít một số vị trí Hiện nay, đã triển khai xây dựng nhà máy khai thác bô xít ở xã Nhân Cơ, huyện Đăk R’lấp, dự kiến cuối năm 2015 sẽ đưa vào vận hành khai thác Trong năm 2016 sẽ tiến hành khai thác bô xít quy mô lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Nông nói chung và thị xã nói riêng và giải quyết việc cho người lao động trên địa bàn thị xã

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

a Tăng trưởng kinh tế:

Gia Nghĩa luôn duy trì mức tăng trường ổn định, cao hơn so với các huyện trong tỉnh, đạt bình quân cả giai đoạn 2010 - 2014 là 20% So với mức tăng trưởng kinh tế bình quân chung toàn tỉnh là 14 % Chỉ số tăng trưởng khu vực kinh tế nông - lâm thủy sản, Công nghiệp - xây dựng và dịch vụ năm

2014 tương ứng là: 3,19% - 26,5% - 13,22% GDP bình quân đầu người năm

2014 đạt 35,19 triệu đồng/người (theo giá hiện hành)

Trang 39

b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Tổng sản phẩm trên địa bàn thị xã trên 3 khu vực kinh tế nông - lâm -

thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có sự chuyển dịch theo hướng

tích cực Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã trong thời gian qua

tương đối hợp lý, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng,

đặc biệt là ngành dịch vụ thương mại phù hợp với tiềm năng của thị xã

c Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế:

Khu vực kinh tế nông nghiệp:

Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2006 - 2010 đạt trên 2%/năm

Giai đoạn 2010 - 2014 tăng bình quân 4,65%/năm, riêng năm 2013 giá trị sản

xuất ước đạt 233,10 tỷ đồng, tăng 5,72 % so với năm 2012 Nhìn chung, giá

trị khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế,

do quá trình đô thị hóa nhanh, nên diện tích đất sản xuất nông, lâm nghiệp

trên địa bàn thị xã bị thu hẹp, nhất là diện tích trồng lúa nước, ao hồ nuôi

trồng thủy sản, tuy nhiên do tình trạng dân di cư tăng mạnh dẫn đến việc

người dân phá rừng để canh tác nông nghiệp, cùng với việc ứng dụng các mô

hình nông nghiệp công nghệ cao nên sản lượng tăng Trong thời gian đến, để

phát triển bền vững gắn tăng trưởng với bảo vệ môi trường thị xã cần có chủ

trương mở rộng mô hình kinh tế trang trại, tăng diện tích trồng rau, màu, hoa

và cây cảnh, trồng rừng cảnh quan Để thực hiện được vấn đề này, yêu cầu

phải tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng chi tiết; đồng

thời, phải tăng cường hơn nữa trong công tác quản lý, sử dụng đất đai và công

tác quản lý bảo vệ rừng nhằm bảo đảm quỹ đất cho phát triển kinh tế nông nghiệp

Khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng:

Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng ở thị xã Gia

Nghĩa có bước khởi sắc, năng lực sản xuất được nâng lên và dần khẳng định

Trang 40

vai trò là một ngành kinh tế quan trọng của thị xã Trong giai đoạn 2008-

2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân toàn ngành đạt gần 22%/năm, giai đoạn 2010 – 2014, tốc độ tăng giảm dần những vẫn ở mức cao trung bình đạt 16%/năm; giá trị GDP (giá so sánh 1994) năm 2014 tăng 24% so với năm 2013; nâng giá trị GDP ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ lệ 46,5% trong cơ cấu kinh tế

Để phát triển công nghiệp, chính quyền thị xã đã quy hoạch các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành công nghiệp Alumin - Nhôm và phát triển các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, năm 2014 có 462 cơ sở hoạt động có đóng góp cho nền kinh tế

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu của thị xã là Gỗ tinh chế, Chế biến cao

su, May xuất khẩu, Vật liệu xây dựng, Hóa chất, cồn công nghiệp,…góp phần quan trọng tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu, nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng có chất lượng được thị trường chấp nhận

Công tác đầu tư xây dựng được tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân Năm 2014, thị xã Gia Nghĩa được giao nguồn vốn đầu

tư xây dựng kết cấu hạ tầng từ NSNN đạt trên 128 tỷ đồng Nhiều công trình

hạ tầng kinh tế - xã hội trong và ngoài các khu công nghiệp, các công trình giao thông, quy hoạch mở rộng các khu dân cư, trụ sở cơ quan nhà nước, nước sạch, hạ tầng đô thị,…đã được đầu tư và nhiều công trình đã hoàn thành

đi vào sử dụng, góp phần thúc đẩy sản xuất và đời sống nhân dân, làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn

Khu vực kinh tế dịch vụ:

Hoạt động dịch vụ của thị xã Gia Nghĩa trong thời gian qua phát triển khá phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần kinh tế Các loại hình dịch vụ được mở rộng cả về địa bàn và lĩnh vực hoạt động, góp phần quan

Ngày đăng: 23/11/2017, 20:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w