1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÁO CÁO THỰC TẾ “CON ĐƯỜNG DI SẢN MIỀN TRUNG”

32 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN PHẦN 1: LỊCH TRÌNH THỰC TẾ 1 PHẦN 2: KHẢO SÁT, MÔ TẢ, ĐÁNH GIÁ CÁC DI TÍCH TRONG CHUYẾN ĐI THỰC TẾ 2 2.1. Mô tả di tích 2 2.1.1. Hội An 2 2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 2 2.1.1.2. Mô tả về Hội An 3 2.1.2. Đại Nội 8 2.1.2.1. Lịch sử hình thành 8 2.1.2.2. Mô tả Đại Nội 9 2.1.3. Lăng Khải Định 14 2.1.3.1. Lịch sử hình thành 14 2.1.3.2. Mô tả lăng Khải Định 15 2.2. Thực trạng các di tích 16 2.2.1. Hội An 16 2.2.2. Đại Nội 17 2.2.3. Lăng Khải Định 18 2.3. Công tác quản lý và phát huy giá trị di tích 18 2.3.1. Hội An 18 2.3.2. Đại Nội và lăng Khải Định. 19 2.4. Đề xuất giải pháp 21 2.4.1. Giải pháp chung 21 2.4.2. Giải pháp riêng 23 2.5. Cảm nhận về chuyến đi khảo sát thực tế 24 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26 PHỤ LỤC 27

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

KHOA VĂN HÓA - THÔNG TIN VÀ XÃ HỘI

BÁO CÁO THỰC TẾ

“CON ĐƯỜNG DI SẢN MIỀN TRUNG”

Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Thảo

Mã số sinh viên : 1405QLVA039

Lớp : ĐH QLVH 14A

Người hướng dẫn : Ths Trần Thị Phương Thúy

Ths Nghiêm Xuân Mừng

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện báo cáo em đã nhận được rất nhiều sự quan tâmvà giúp đỡ Để hoàn thành bài báo cáo kiến tập này, em xin gửi lời cảm ơn sâusắc tới giảng viên: Thạc sĩ Trần Thị Phương Thúy và Thạc sĩ Nghiêm XuânMừng - người đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình không chỉ về kiến thức mà còncả phong cách cũng như thái độ làm việc nghiêm túc, để em có thể hoàn thànhbáo cáo một cách tốt nhất

Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoavăn hóa - thông tin và xã hội đã tạo điều kiện cho chúng em đi thực tế tìm hiểuđể qua đó chúng em tiếp thu được nhiều thông tin hữu ích và kiến thức bổ ích,giúp chúng em trang bị cho mình những kĩ năng và kiến thức thực tế

Với kiến thức còn hạn chế, báo cáo không thể tránh được những thiếu sótnhất định Em rất mong nhận được ý kiến góp của thầy cô để bài báo cáo đượchoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Thảo

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

PHẦN 1: LỊCH TRÌNH THỰC TẾ 1

PHẦN 2: KHẢO SÁT, MÔ TẢ, ĐÁNH GIÁ CÁC DI TÍCH TRONG CHUYẾN ĐI THỰC TẾ 2

2.1 Mô tả di tích 2

2.1.1 Hội An 2

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 2

2.1.1.2 Mô tả về Hội An 3

2.1.2 Đại Nội 8

2.1.2.1 Lịch sử hình thành 8

2.1.2.2 Mô tả Đại Nội 9

2.1.3 Lăng Khải Định 14

2.1.3.1 Lịch sử hình thành 14

2.1.3.2 Mô tả lăng Khải Định 15

2.2 Thực trạng các di tích 16

2.2.1 Hội An 16

2.2.2 Đại Nội 17

2.2.3 Lăng Khải Định 18

2.3 Công tác quản lý và phát huy giá trị di tích 18

2.3.1 Hội An 18

2.3.2 Đại Nội và lăng Khải Định 19

2.4 Đề xuất giải pháp 21

2.4.1 Giải pháp chung 21

2.4.2 Giải pháp riêng 23

2.5 Cảm nhận về chuyến đi khảo sát thực tế 24

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

PHỤ LỤC 27

Trang 4

PHẦN 1:

LỊCH TRÌNH THỰC TẾ

- Thời gian: Từ ngày 27/05/2017 đến ngày 01/06/2017

- Địa điểm: Đà Nẵng – Quảng Nam – Hội An – Huế

- Lịch trình cụ thể:

Thời gian Nội dung chi tiết

27/06/2017 - Tối: 8 giờ 30 xuất phát ở Hà Nội vào Đà Nẵng

28/06/2017 - Chiều:

+ Tham quan Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng+ Tắm biển

29/06/2017 - Sáng: Giao lưu với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

cơ sở Miền Trung

- Chiều: Tham quan làng đá Ngũ Hành Sơn

- Tối: Đi Hội An

30/06/2017 - Sáng: Đi chùa Linh Ứng

- Chiều: Về Huế thăm lăng Khải Định

- Tối: Đi thuyền rồng nghe ca Huế trên sông Hương

31/06/2017 - Sáng: Tham quan Đại Nội

- Chiều: Đi chùa Thiên Mụ

01/06/2017 - Sáng: Đi Thành cổ Quảng Trị

- Trưa: Viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

PHẦN 2:

KHẢO SÁT, MÔ TẢ, ĐÁNH GIÁ CÁC DI TÍCH TRONG CHUYẾN ĐI

Trang 5

THỰC TẾ 2.1 Mô tả di tích

2.1.1 Hội An

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùngđồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵngkhoảng 30 km về phía Nam

Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thươngcảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốcvà phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII Trước thời kỳ này, nơi đâycũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùngcon đường tơ lụa trên biển, nhưng đến trước thế kỷ XV họ dần dần di cư vàophía trong và ngày nay đa phần là người Việt sinh sống tại đây

Sông Thu Bồn là một trong những dòng sông lớn chảy qua tỉnh QuảngNam, trước đây sông rất rộng, tàu thuyền của các thương gia nước ngoài đithẳng từ Cửa Đại vào trong rất gần Vào cuối thế kỷ XIX, giao thông đườngthủy ở đây không còn thuận tiện bởi quá hẹp do phù sa bồi đắp, cảng thị Hội Andần suy thoái và mất đi, nhường chỗ cho thương cảng thuyền máy ở cửa Hà ởĐà nẵng bây giờ Hội An chấm dứt thời kỳ thương cảng, khi đó Hội An như mộtthành phố ngủ quên, ngủ một giấc rất sâu mà không ai biết đến

Trước đây, Chúa Nguyễn đã có rất nhiều công lao đối với xứ Đàng Trong,Chúa đã vào đây và phát triển dựa vào thương mại, giao lưu buôn bán với nướcngoài Chúa Nguyễn có rất nhiều chính sách trong việc phát triển thương mạiđặc biệt cho phép thương gia nước ngoài ở lại Việt Nam, Hội An thời kỳ đó vôcùng tấp nập thể khá rõ qua câu thơ:

“Tơ cau thuốc lá đầy gheHội An buôn bán tiếng nghe xa gần”

Thời bấy giờ, thương gia Nhật Bản và Trung Quốc tới đây buôn bán nhiềunhất và họ chủ yếu đi theo đường biển Chính vì thế, nơi đây được gọi với cáitên “Thương cảng thuyền buồm Hội An” Trước đây họ chỉ sinh sống trên

Trang 6

thuyền trong thời gian buôn bán khoảng ba đến năm tháng nhưng sau khi đượcChúa Nguyễn hạ lệnh cho phép thương gia nước ngoài ở lại nước ta thì họ dầndần định cư và xây dựng nhà cửa, đường xá, các công trình,… Người TrungQuốc đến Hội An từ rất sớm, khi đó Hội An còn là một thương cảng của xứĐàng Trong vô cùng phát triển Thương cảng Hội An được hình thành từ cuốithế kỷ XV và nằm ngay khu vực đối diện Chùa Cầu Khi đó không chỉ có cộngđồng người Trung Quốc mà còn có cộng đồng người Nhật, Ấn Độ, Tây BanNha, Bồ Đào Nha, Pháp,… họ đến Hội An và mở hội chợ từ bốn đến sáu tháng.Sau một thời gian làm ăn như vậy một số thương gia người Nhật và người TrungQuốc nhận thấy nhu cầu thu mua các mặt hàng trái mùa ngày càng cao, bởi vậy

họ xin phép Chúa Nguyễn được định cư lại Hội An Chúa Nguyễn lúc bấy giờmuốn phát triển xứ Đàng Trong Việt Nam nên phải dựa vào thương mại và đãcho phép một số thương gia người Nhật và người Trung quốc tái định cư ở Hội

An Họ được phép xây dựng nhà cửa, thành lập phát triển các khu phố riêng vàsống theo phong tục tập quán của mình Trong quá trình đó họ cho xây dựng rấtnhiều công trình phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cũng như tín ngưỡng của họ

Đến thời Ngô Đình Diệm, ông bắt buộc người Trung Quốc định cư tại đâyphải nhập quốc tịch Việt Nam và kể từ đó người Trung Quốc được gọi là ngườiHoa Ngày nay ở Hội An, các công trình của người Hoa vẫn còn được lưu giữ lạitương đối nguyên vẹn như: Hội Quán Quảng Đông, chùa,… Đối với người Nhật,công trình tiêu biểu nhất của họ để lại là cầu Nhật Bản

Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránhđược quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ XX Bắt đầu từ thập niên 1980, nhữnggiá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả dukhách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn củaViệt Nam

Trang 7

Đây là một trong năm công trình Hội Quán của người Hoa, là công trìnhtín ngưỡng cộng đồng, đồng thời cũng là nơi để hội tụ và giúp đỡ nhau khi họgặp khó khăn nơi đất khách quê người Hội Quán được xem như một cái đìnhlàng, nhà thờ tộc, từ đường, hội đồng hương,… nhưng chức năng chính dùng đểthờ cúng và họ chỉ hội họp trong những ngày lễ tết và cùng nhau ăn một bữacơm tại đây

Quan Thánh Đế Quân là một vị thánh được thờ tại Hội Quán QuảngĐông, người ta tôn ông đến bậc Thánh và thờ ông không phải dưới danh nghĩacủa một vị tướng quân mà họ thờ giá trị đạo đức của con người ông chính làlòng trung kính nghĩa tín Xưa kia người ta quan niệm làm ăn buôn bán phải đặtchữ “tín” lên hàng đầu thì mới sinh ra tài lộc Họ coi ông như một vị quan tòa vìtrước đây trong làm ăn buôn bán không có hợp đồng như bây giờ, bởi vậy khiphát sinh những mâu thuẫn hoặc tranh chấp họ sẽ đến đây thắp nhang và thề nếunhư làm trái lời thề trước mặt ông sẽ bị ông trừng phạt Công trình này có ýnghĩa vô cùng sâu sắc, bởi vậy trong một số gia đình họ cũng thờ ông và đặt bànthờ ông cao hơn bàn thờ gia tiên Ở Hội An có hai nơi lớn thờ ông đó chính làHội Quán Quảng Đông và chùa Ông

Về quy mô và kiến trúc thì các Hội Quán tương đương và gần giống nhau.Kiến trúc là bốn dãy nhà khép kín lại với nhau và chừa một khoảng không ngaychính giữa người ta gọi đó là giếng trời- nơi đón nắng, đón gió, không khí chotoàn bộ ngôi nhà và người ta quan niệm lộc chính là khoảng không chính giữa

do trời ban xuống Trong Hội Quán có hai dãy nhà ở hai bên gọi là nhà tả, hữucó đắp nổi hai chữ “phúc” và “thọ”

Bên trong có ba gian thờ, gian chính giữa thờ ngài Quan Thánh Đế Quân,bên trái thờ thần tài và bên phải thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu Người Hoa thườnghay gọi Thiên Hậu Thánh Mẫu là Má Tổ, bà được xem như một vị thần cứu nạntrên biển của cộng đồng người Hoa Phía dưới bà có hai bức tượng nhỏ, đây làhai vị thần giúp việc cho bà là Thiên Lý Nhãn và Thuận Phong Nhĩ (hai vị thầncó tài nghe xa trông rộng) giúp bà sớm phát hiện những người sắp gặp tai ươngtrên biển để cứu giúp Chính vì thế, thuyền của người Hoa bao giờ cũng có một

Trang 8

gian thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu Trước gian thờ Quan Thánh Đế Quân có thờhai con ngưạ đó là Bạch Mã và Xích Thố Để thể hiện lòng trung thành với chủsau khi ngài bị giặc giết hai con ngựa đã bị bắt và nhịn ăn trong suốt ba ngày vàchết theo chủ, bởi vậy người Hoa đã thờ chúng ở đây để thể hiện sự tôn kính đốivới lòng trung thành của nó

Ngoài chức năng thờ những vị thần thì họ còn thờ tổ tiên của cộng đồngngười Hoa Ngoài ra, nơi đây còn thờ trầm hương, tơ tằm, gốm sứ, yến xào Họthờ những thứ đó ở đây như một vị thần xua đi tà khí xấu để đem đến bình anmay mắn cho nhân dân

Phía sau là hậu hoa viên gồm có cửu long chân châu và ngũ đại dương.Đây là biểu tượng của người Quảng Đông

Ở hai bên cổng vào của Hội Quán bao giờ cũng có hai bàn thờ môn thần(tức là thần giữ cửa) và Hội Quán Quảng Đông cũng thờ hai vị thần này

Nhà cổ Đức An [A2;Tr27]

Nhà cổ Đức An là nơi ghi dấu quá trình hoạt động của Tổ chức Hội ViệtNam cách mạng thanh niên ở Hội An cũng như tỉnh Quảng Nam và gắn liền vớingười chiến sĩ cách mạng Cao Hồng Lãnh Nhà cổ Đức An là nhà cổ của tưnhân và trong khu phố này có hơn 1000 ngôi nhà cổ như vậy Nhà ở đây đượcchia thành hai loại đó là nhà thờ tộc và nhà buôn nhà phố Nhà thờ tộc thườngnằm trong hẻm nhỏ, trên nền đất cao và có tường rào bao quanh còn nhà buônnhà phố thì hướng ra phố để thuận tiện cho buôn bán Nhà cổ ở Hội An thườngcó những cái tên riêng, 80% là nhà cổ của tư nhân và thường mang biển số màuxanh, còn nhà cổ thuộc nhà nước thì mang biển số màu đỏ

Trước cửa nhà thường treo những câu đối và nhà cổ nơi đây thường cómắt cửa Công dụng của mắt cửa là gắn cánh cửa và khoang cửa, sau này người

ta hình tượng hóa ví nó như gương bát quái mà người Việt ta thường sử dụng đểtrừ tà ma Người ta quan niệm rằng vạn vật hữu linh, cái gì cũng có linh hồn màđặc biệt là ngôi nhà- nơi họ sống cả đời trong đó và gắn với vận mệnh của cuộcđời nên phải có linh hồn của nó và chính đôi mắt ấy sẽ dõi theo họ trên mọibước đường đời Ở Hội An có hơn 20 loại mắt cửa như: hình xoáy âm dương,

Trang 9

hình bát quái, chữ thọ, chữ phúc,… các loại hình mắt cửa này chỉ duy nhất tìmthấy ở Hội An Trước cửa nhà thường treo những tấm vải đỏ bởi theo quan niệmcủa người Trung Quốc, màu đỏ và màu vàng ánh kim thể hiện cho sự may mắn,người Hoa rất thích màu này do đó họ treo những tấm vải điều trước cửa để cầumong may mắn vào nhà và xua đi những tà khí xấu Thường thì họ hay treo vàonhững dịp lễ tết là chính nhưng nhà cổ Đức An mỗi ngày đón rất nhiều du kháchcho nên ngày nào cũng là ngày lễ tết, bởi vậy họ treo thường xuyên và chỉ thaymới vào những dịp lễ tết Cũng giống như Hội Quán, ở tại nhà riêng họ khôngthờ những khóm lớn mà chỉ thắp nhang ở hai bên cửa thờ môn thần.

Nhà cổ Đức An có tuổi đời khoảng 200 năm và được xây dựng theo lốikiến trúc: nhà rất dài, hẹp về bề ngang, nhiều gian Những gian phía trước là nơiđể buôn bán và thờ cúng tổ tiên cũng như để tiếp khách Các gian phía sau dùngđể sinh hoạt gia đình, trước đây các gian này còn là nơi để lưu giữ và gia cônghàng hóa cũng như sinh hoạt cá nhân Khoảng không gian chính giữa mở ra đểlấy ánh sáng, không khí, cho toàn bộ ngôi nhà và được họ gọi là giếng trời.Người ta quan niệm đây là nơi đón linh khí của trời đất cho nên vào mùng 1hoặc 15 chủ nhà thường bày lễ ra đây để cúng Vào những ngôi nhà có kiến trúckiểu như vậy ta sẽ cảm thấy mát về mùa hè và ấm về mùa đông bởi có nhiều yếutố kết hợp mà phải kể đến chính là khoảng không giếng trời và hệ thống máingói âm dương Các trụ cột của ngôi nhà hầu hết được đặt trên một tảng đá vìkhu vực này thường xảy ra thiên tai lũ lụt, người ta kê như vậy để khi nước vàonhà từ ba đến bốn ngày cũng không ảnh hưởng đến chất lượng của trụ cột vàkhông bị mục Trước kia, gạch dùng để lát nền là gạch Bát Tràng nhưng vì nótồn tại rất lâu rồi nên hiện nay một số chỗ đã bị hư hỏng và phải thay thế bằngloại gạch khác Kiến trúc cửa nhà cổ ở Hội An rất thấp bởi thời xưa quan niệmrằng: khi kiệu quan đi ngang qua nhà người dân không thể ngồi từ phía trongnhìn thẳng ra kiệu quan

Trang 10

Chùa Cầu [A3;Tr28]

Chùa Cầu là biểu tượng của Hội An, đây là công trình có tuổi đời lớnnhất, trải qua 400 năm lịch sử, được xây dựng từ thế kỷ XVII và được bảo tồnnguyên vẹn cho đến ngày nay Chùa Cầu là sự kết hợp hai công trình của ngườiNhật và người Hoa, kiến trúc cầu do người Nhật thiết kế và bỏ tiền ra xây, bêntrong có ngôi miếu nhỏ do người Hoa bỏ tiền ra xây nhưng người xây dựngChùa Cầu chính là người dân bản địa

Cầu được xây theo kiến trúc cầu có mái bởi vậy nó được gọi là “thượnggia hạ kiểu” trên là nhà dưới là cầu Móng cầu sử dụng vật liệu chính là đá vôivà kết dính bằng mật mía nhưng rất chắc chắn Nơi đây có thờ hai cặp tượng,phía Đông thờ một cặp tượng Tuất, phía Tây thờ một cặp tượng Thân nhằm ngụý muốn đánh dấu năm khởi đầu và năm hoàn thành cây cầu Năm xây dựngchính xác không được tìm thấy ở bất cứ tài liệu nào nên người ta tương truyềnrằng cầu được xây trong vòng ba năm (năm Thân, năm Dậu, năm Tuất) và xâytheo phương pháp thủ công Người Nhật xây cầu và đặt các tượng thờ ở đây đểbảo vệ cho công trình của họ cũng như bảo hộ cho người dân Nhật Bản sống ởđây Người dân Hội An đã tôn con vật ấy làm thần gọi là Tiên Cẩu và ngày ngàythắp nhang cho các ngài

Cái tên đầu tiên người ta đặt cho công trình này là cầu Nhật Bản bởi côngtrình này do các thương gia người Nhật bỏ tiền ra xây Mặc dù có tên là cầuNhật Bản nhưng người dân Hội An ít khi sử dụng mà đặt cho nó một cái tên mớirất dân gian là Chùa Cầu bởi phía trong có ngôi miếu nhỏ thờ thần trị thủy vìkhu vực Hội An thường xảy ra thiên tai lũ lụt và người ta tương truyền do thủyquái gây ra vì thế phải xây miếu thờ thần Mặc dù miếu thờ thần nhưng họ lạiluôn gọi là chùa bởi người dân nơi đây quan niệm rằng nơi nào thắp nhang thờtự đều gọi là chùa tuy bên trong không thờ Phật

Miếu này được xây dựng sau công trình cầu khoảng năm mươi đến sáumươi năm nhưng người ta vẫn gọi là Chùa Cầu chứ không gọi là Cầu Chùa bởiđối với người dân nơi đây tín ngưỡng luôn luôn đặt lên hàng đầu, chính vì thếcông trình này được gọi là Chùa Cầu

Trang 11

Đối với người dân nơi đây công trình này rất linh thiêng và vị thần đượcthờ trong chùa có ý nghĩa vô cùng to lớn, đem lại bình an cho nơi đây Bởi vậy,khi người ta đi đâu xa hoặc có chuyện gì khó khăn trong cuộc sống họ đều đếnđây cầu nguyện.

2.1.2 Đại Nội

2.1.2.1 Lịch sử hình thành

Từ thời các chúa Nguyễn, Huế đã từng được chọn làm thủ phủ xứ ĐàngTrong Từ năm 1635 đến năm 1687 Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựngphủ ở Kim Long, đến thời Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát đã dời phủvề Phú Xuân trong những năm 1687-1712 và 1739-1774 Đến thời Tây Sơn,Huế vẫn được vua Quang Trung chọn làm thành kinh đô cho vương quốc củaông Năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vươngtriều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô

Kinh thành huế được xây dựng theo kiến trúc Vauban Kinh thành Huế có

3 vòng thành lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành Ngay saukhi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuốicùng ông đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương gồm phần đất của cáclàng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo, ThếLại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và Kim Long làm nơi xây thành.Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét,đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bứcbình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành Hai bên là Cồn Hến và CồnDã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bênphải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền Minh đường thủy

tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cungmang lại sinh khí cho đô thành Kinh thành Huế được đích thân Gia Long chọn

vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ năm

1805 và hoàn chình vào năm 1833 dưới triều vua Minh Mạng Trong lịch sửViệt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trìnhđồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét

Trang 12

khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân,dời mộ, đắp thành, kéo dài trong suốt 30 năm dưới hai triều vua.

2.1.2.2 Mô tả Đại Nội

Đây là trung tâm chính chị hành chính của triều Nguyễn và là nơi ăn ởcủa hoàng gia Được xây dựng hoàn chỉnh vào năm 1833, Đại Nội có mặt bằnggần như vuông mỗi bề khoảng 600m Hoàng thành xung quanh xây dựng bằnggạch cao hơn 4m, dày 1,05m, bên ngoài có hệ thống hồ bao bọc gọi là KimThủy Hồ Hoàng Thành có 4 cửa ra vào nằm theo bốn hướng Đông Tây NamBắc được bố trí rất chặt chẽ: Cửa Hiển Nhân nằm bên trái là cửa dành cho namgiới là quan lại ra vào, cửa bên phải dành cho nữ giới từ nữ tì cho đến hoàng quýphi, cửa Hòa Bình ở phía sau và Ngọ Môn ở phía trước là cửa dành cho vua đivà đoàn ngự đạo Khu vực Hoàng Thành có tổng diện tích gần 38 ha với hơn

147 công trình lớn nhỏ

Mặt bằng Đại Nội chia ra nhiều khu vực và chức năng khác nhau Từ NgọMôn qua cầu Trung Đạo trên hồ Thái Dịch đến điện Thái Hòa nằm trên trục thầnđạo là nơi cử hành các đại lễ Góc Đông Nam của Đại Nội là khu vực TriệuMiếu thờ Nguyễn Kim và Thái Miếu thờ các chúa Nguyễn Phía sau là phủ Nội

Vụ, nơi làm kho cất giữ đồ quý, nằm ở góc Đông Bắc Hoàng thành là ĐiệnKhâm Văn và vườn Cơ Hạ, nơi ở và học tập, chơi đùa của các hoàng tử vàhoàng nữ trước khi xuất phủ Nằm ở Tây Nam Hoàng Thành có Hưng Miếu thờNguyễn Phúc Luân, thân phụ của Gia Long, Thế Miếu thờ các vua nhà Nguyễn.Phía sau Hưng Miếu còn có điện Phụng Tiên cũng là nơi thờ các vua Nguyễnnhưng dành cho các bà trong nội cung cúng tế Tiếp đó là cung Diên Thọ vàcung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng Thái Hậu

Tử Cấm Thành là khu vực quan trọng nhất của Đại Nội có mặt bằng cũnggần như vuông, mỗi cạnh khoảng 300m, thành cao 3,5m dày 1m, là nơi làm việccủa nhà vua, triều đình và sinh hoạt của hoàng gia Đại cung môn là cửa chínhcủa Tử Cấm Thành dẫn Vào Điện Cần Chánh nơi vua làm việc và họp thườngtriều, bàn chuyện quốc sự với đình thần Hai bên có những công trình như Tả

Vu, Hữu Vu, Văn Minh Điện,… là những nơi làm việc của bá quan văn võ

Trang 13

Sau Điện Cần Chánh là bức bình phong giới hạn ngăn cách nội ngoại TửCấm Thành Sau bức bình phong là thế giới riêng của nhà vua với Điện CànThành dùng làm nơi vua ở, Cung Khôn Thái dành cho hoàng hậu, Lục Viện làkhu vực dành cho phi tần, mỹ nữ Ngoài ra còn có nhà hát Duyệt Thị Đường,nơi vua đọc sách Thái Bình Lâu, nhà bếp Thượng thiện Đường, nơi chăm sócsức khỏe của nhà vua là Thái Y Viện, lầu Kiến Trung xây dựng sau này dànhlàm nơi ở của các vua Khải Định, Bảo Đại, vườn Thượng Uyển Thiệu Phương,

Ngọ Môn [A4;Tr28]

Ngọ Môn là cửa chính của hoàng thành nhìn về hướng Nam, được xâydựng năm 1833 dưới thời Minh Mạng thay cho Nam Khuyết đài dưới thời vuaGia Long Nhiều nhà nghiên cứu giải thích rằng ngọ là giờ “Ngọ” là lúc mặt trờilên cao nhất thiên đỉnh Vua là bậc chí tôn nên ví với mặt trời khi đúng ngọ.Nhưng có ý kiến của nhà nghiên cứu cho rằng căn cứ trên la bàn của địa lýphong thủy Đông phương thì hướng Nam thuộc hướng Ngọ trên trục “Tý Ngọ”là trục Bắc Nam Vì vậy Ngọ Môn là cổng phía Nam, hiểu theo ý nghĩa khônggian chứ không phải theo nghĩa thời gian

Ngọ Môn có hai phần gồm phần nền đài phía dưới và phần lầu bên trên,được xây bằng đá và gạch vồ, dưới mỗi cánh cửa có xà đúc bằng đồng lá phẳng.Ngọ Môn có năm cửa ra vào: ba cửa chính diện thì cửa giữa dành cho vua đi, haicửa hai bên dành cho bá quan văn võ theo hầu trong đoàn Ngự đạo Ở trong lòngmỗi cánh chữ U còn trổ một lối đi như đường hầm xuyên suốt từ trong ra ngoàigọi là tả hữu dịch môn dành cho lính tráng và voi ngựa theo hầu Ngày trướcNgọ Môn chỉ mở cửa để vua ra vào khi có đoàn Ngự đạo theo hầu như lễ tếNam Giao, tiếp kiến xứ thần nước ngoài còn thì thường xuyên đóng cửa Phíatrước Ngọ Môn, gần đường cái, hai bên có dựng hai tấm bia “Khuynh cái hạmã” ai đi ngang qua phải xuống ngựa và nghiêng nón, đến thời Khải Định bãibỏ

Trên Ngọ Môn có lầu Ngũ Phụng, lầu chính ba gian hai trái, sơn son thếpvàng, hai bên có hai dực lâu, tả chuông hữu trống Trên lầu có tầng gác, hai bên

Trang 14

gác là nơi dành cho Hoàng Thái Hậu với Hoàng Hậu ngồi xem lễ Lầu NgũPhụng là một trăm cây cột tượng trưng cho trăm họ và chín bộ mái lợp mái ngóiHoàng lưu ly và Thanh lưu ly Sự tính toán tài tình và điêu luyện của các nhàkiến trúc đương thời làm cho kiến trúc Ngọ Môn đạt tỉ lệ vàng Giữa lầu đặt ngựtọa, là nơi nhà vua đến ngự mỗi lần tổ chức lễ duyệt binh, lễ Ban sóc, lễ Truyền

Lô Và cũng chính nơi này vào ngày 30/08/1945, vị vua cuối cùng của triềuNguyễn là Bảo Đại đã thoái vị, kết thúc 143 năm tồn tại của triều đại phong kiếnnhà Nguyễn và hàng nghìn năm chế độ quân chủ Việt Nam

Điện Thái Hòa [A5;Tr29]

Từ Ngọ Môn nhìn vào qua cầu Trung Đạo, sân Đại triều là điện Thái Hòa,ngôi điện lớn nhất và quan trọng nhất trong Hoàng thành dùng để tổ chức lễthiết đại triều hàng tháng vào ngày mùng 1 và 15 âm lịch Mỗi lần thiết triều, tấtcả bá quan văn võ, hưng hào và bà con bên ngoại của nhà vua đều xếp theo thứtự ngoài sân Đại triều (từ nhất phẩm đến cửu phẩm) theo nguyên tắc tả văn, hữu

võ Vua ngự trên ngai vàng ở chính điện Thái Hòa, hai bên nội điện là các hoàngthân và các quan đầu triều

Điện Thái Hòa còn là nơi tổ chức lễ đăng quang vua mới lên ngôi, các lễsinh nhật, lễ vạn thọ của nhà vua Ngôi điện uy nghi này cũng là nơi nhà vuatiếp sứ bộ nước ngoài

“Điện Thái Hòa được xây dựng vào năm 1806 dưới thời Gia Long nhưngđược dịch chuyển đến vị trí hiện nay vào năm 1833 dưới triều Minh Mạng ĐiệnThái Hòa là ngôi điện tiêu biểu của kiến trúc cung đình Huế, được xây dựngtheo kiểu nhà kép, còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” (nhà nối liền nhau, máichồng lên nhau) Mái sau của nhà trước nối với mái trước của nhà sau bằng mái

vỏ cua hay còn gọi là “trần thừa lưu” Bên trên trần có máng xối bằng đồnghứng nước của hai mái nhà này rồi chảy xuống mái hạ hai bên có hai miệngrồng đắp nổi Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt tòa nhà,trang trí theo lối nhất thi, nhất họa (một bài thơ, một bức tranh) nhằm mục đíchnâng cao tòa nhà kép và làm đẹp ngôi điện hơn.” [TL4;Tr26]

Trong nội thất điện Thái Hòa có đến 80 cây cột gỗ lim sơn son thếp vàng

Trang 15

lông lẫy, trên nền điện lát hoa càng làm cho ngôi điện uy nghi, tráng lệ Các liên

ba, đố bản chạm khắc 297 bài thơ với nội dung ca ngợi thiên nhiên, đất nước, cangợi vương triều, niềm vui ngày vui Bài thơ đặt ở chính giữa, dưới bức hoànhphi có 3 chữ Hán “Thái Hòa điện” khẳng định lịch sử, truyền thống, chủ quyềncủa đất nước:

“Văn hiến thiên niên quốc

Xa thư vạn lý đồ

Hồng Bàng khai tịch hậuNam phục nhất Đường Ngu”

Trung tâm điện ở gian giữa là nơi đặt ngai vàng của nhà vua, hiện nay vẫncòn nguyên bản Trải qua 13 đời vua, chiếc ngai vàng này là nhân chứng vềnhững bước thịnh suy của triều đại như sự trang giành quyền lực trong hoànggia Bên trên ngai vàng Là chiếc bửu tán thếp vàng chạm lộng hình chín conrồng Bửu tán này được tu sửa vào thời Khải Định với bàn tay người thợ tài hoabậc thầy Nguyễn Văn Khả Ngôi điện này xứng đáng là bộ mặt quốc gia dướithời nhà Nguyễn

Thế Miếu-Hiển Lâm Các-Cửu Đỉnh

Thế Miếu là một khu vực nằm ở góc Tây Nam của hoàng thành gồmnhiều công trình kiến trúc giá trị và có ý nghĩa quan trọng trong Đại Nội, tiêubiểu là Thế Miếu, Hiển Lâm Các và Cửu Đỉnh

Năm 1821, sau khi vua Gia Long mất, vua Minh Mạng xây dựng ThếMiếu để thờ vua cha nhưng cũng là để thờ các nhà vua Nguyễn sau này Vì vậy,nhà vua đã chọn mặt bằng kiến trúc rất rộng với diện tích 1500m2 Thế Miếucũng xây theo kiểu nhà kép “trùng lương trùng thiềm”, nhà trước có 11 gian, nhàsau có 9 gian Thế Miếu thờ vua Gia Long và các vua Nguyễn kế vị nhưng thật

ra chỉ dành cho các vua sắp mất vẫn còn tại vị, còn những vị vua bị phế đế nhưDục Đức, Hiệp Hòa hay xuất đế như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân thì khôngđược thờ ở đây Vì vậy, triều Nguyễn có 13 đời vua nhưng đến năm 1954, ThếMiếu chỉ có 7 án thờ của các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,Kiến phúc, Đồng Khánh, Khải Định Sự sắp xếp các án thờ ở trong này cũng

Trang 16

được bố trí theo tôn ti trật tự truyền thống Phương Đông với nguyên tắc tả chiêuhữu mục Gian chính giữa là vị trí quan trọng nhất thờ vị vua đầu triều GiaLong, gian tả thứ nhất thờ vua Minh Mạng, gian hữu thứ nhất thờ vua Thiệu Trị,gian tả thứ hai thờ vua Tự Đức,…

Ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân chống Pháp, bị pháp đưa điđầy biệt xứ, là những vị vua xuất đế nên không được thờ ở ngôi miếu này Mãiđến năm 1958, ba án thờ của ba vị vua yêu nước này mới được Nguyễn PhướcTộc đưa vào thờ ở Thế Miếu Sau này, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế đưa

di ảnh các vua vào thờ giúp du khách hiểu thêm về chân dung một số vị vuatriều Nguyễn

Hiển Lâm Các nằm trong khu vực Thế Miếu và xây cùng một lần với ngôiđiện thờ các vua Nguyễn vào các năm 1821 đến năm 1822 Đây được xem nhưmột đài kỷ niệm ghi nhớ công trạng các vua nhà Nguyễn và các triều thần

“Hiển Lâm Các là một tòa nhà ba tầng gồm 24 cột gỗ, trong đó có bốn cộtcao nhất ở gian giữa cao gần 13m làm xương sống cho tòa nhà Để tòa nhà caonày đứng vững với thời gian, những người thợ tài hoa thuở trước đã khéo léotrong thiết kế một hệ thống kết cấu cột kèo giằng néo với nhau, kết chặt các cấukiện gỗ với các đinh sắt dài gia cố Những người thợ đã xử lý thông minh trongthiết kế mặt ngang, mặt dọc chịu đựng được lực tác động từ bất cứ hướng nàonên giữ yên được thế đứng trong một vùng chịu nhiều bão mạnh như Huế, ngaycác cơn bão có cường độ mạnh như các cơn bão vào các năm 1904, năm 1985.”[TL4;Tr26]

Tầng một của Hiển Lâm Các có ba gian, hai trái, ba mặt ngoài xây váchbằng gạch để bao che nội thất và gia cố thêm hàng cột thấp Ngay trên cửa giữatreo bức hoành phi lớn có ba chữ “Hiển Lâm Các”, khung chạm hình chín conrồng trong mây sơn thếp vàng, có một chiếc cầu thang để lên tầng trên với cáchình trang trí chữ “thọ”, chữ “vạn” trong các ô hộc dưới thành tay vịn

Tầng thứ hai có ba gian, hai mặt trước sau dựng cửa lá sách, xung quanhbên ngoài là một hệ thống lan can bằng gỗ với những hàng trau chuốt tỉ mỉ,những con-xơn chạm trổ công phu vừa có giá trị kết cấu, vừa để trang trí Ngày

Ngày đăng: 23/11/2017, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w