1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG tác PHẨM CHỐNG DUYRINH và ý NGHĨA TRONG rèn luyện, PHÁT TRIỂN tư DUY NGƯỜI CỘNG sản HIỆN NAY

17 808 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã thực hiện bước ngoặt cách mạng trong tư tưởng triết học nhân loại, xây dựng nên thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng. Ông đã xây dựng lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học, đặt nền móng cho lý luận quân sự của giai cấp vô sản. Các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại đã và đang chứng minh những khái quát của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về khoa học.

Trang 1

PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH”

VÀ Ý NGHĨA TRONG RÈN LUYỆN, PHÁT TRIỂN TƯ DUY

NGƯỜI CỘNG SẢN HIỆN NAY

MỞ BÀI

Cùng với C.Mác, Ph.Ăngghen đã thực hiện bước ngoặt cách mạng trong

tư tưởng triết học nhân loại, xây dựng nên thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng Ông đã xây dựng lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học, đặt nền móng cho lý luận quân sự của giai cấp vô sản Các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại đã

và đang chứng minh những khái quát của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về khoa học Nhiều nguyên lý được Ph.Ăngghen đề cập trong “Chống Đuyrinh” đã góp phần xây dựng nền tảng thế giới quan và phương pháp luận cho sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn; hướng khoa học vào mục tiêu giải phóng và phát triển con người…“Chống Đuy -rinh” là một trong những tác phẩm lớn, đồ sộ trong hệ thống các tác phẩm của chủ nghĩa Mác -Lênin Tác phẩm này giữ một vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong kho tàng lý luận đồ sộ mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin để lại cho nhân loại Nội dung của tác phẩm bao quát khá toàn diện Đồng thời, nó khái quát một cách sâu sắc những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác Lần đầu tiên, ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác (cả triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học) được đúc kết một cách hệ thống trong tác phẩm Chính

vì vậy, tác phẩm này được đánh giá như là một cuốn sách bách khoa toàn thư của chủ nghĩa Mác Khi nhận xét về tác phẩm, Lênin cho rằng: đây là một trong những cuốn sách gối đầu giường của những người công nhân giác ngộ

Mặc dù nội dung của tác phẩm là sự tổng hợp của ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, nhưng chúng ta thấy trong tác phẩm tư tưởng về triết học là cơ bản, trong đó tư tưởng về phép biện chứng duy vật được trình bày một cách có

hệ thống Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm có ý nghĩa to lớn cả về mặt lịch sử và hiện thực, cả mặt lý luận

và thực tiễn, cả về nội dung khoa học và vấn đề rèn luyện, phát triển tư duy khoa học của cộng sản chân chính hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

1 Về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuy -rinh” được Ph Ăngghen viết từ tháng 9 năm

1876 đến tháng 6 năm 1878, lúc đầu các tư tưởng của tác phẩm chỉ được trình bày dưới dạng các bài báo, về sau này các bài báo được tập hợp lại và in thành sách để xuất bản Khi tác phẩm còn ở dạng bản thảo, Mác đã đọc bản thảo đó và viết thêm chương X của phần II, trình bày một số vấn đề lịch sử kinh tế chính trị học Tuy nhiên, sau khi tác phẩm xuất bản không lâu thì bị chính quyền cấm lưu hành vì lý do chính trị

Bối cảnh chính trị - xã hội, khi Ph Ăngghen viết tác phẩm này (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX), lúc này chủ nghĩa tư bản đã phát triển rộng rãi ở Châu Âu

và đã khẳng định ưu thế cũng như vị trí của nó đối với tiến trình phát triển của lịch

sử Bên cạnh những đóng nhất định đối với tiến trình phát triển của lịch sử, mà đặc biệt là sự phát triển của sản xuất vật chất xã hội, chủ nghĩa tư bản đã ngày càng bộc

lộ rõ bản chất thối nát, phản động, phản tiến bộ Điều này đã làm nảy sinh tính tất yếu đòi hỏi phải thay thế cái chế độ thối nát, bất công, phản tiến bộ đó bằng một chế độ mới về chất, xã hội cộng sản chủ nghĩa

Bản thân nước Đức lúc bấy giờ vẫn ở trong tình trạng một nước phong kiến lạc hậu, chậm phát triển, giai cấp tư sản Đức thì nhỏ lẻ, phân tán, trên thực

tế nó vừa yếu về kinh tế vừa bạc nhược về chính trị Chính vì lẽ đó, giai cấp tư sản Đức chỉ dám làm cuộc cách mạng trong tư tưởng, chứ không dám tiến hành cuộc cách mạng xã hội trên thực tế Hơn nữa, chính giai cấp tư sản Đức cũng tự

ý thức được rằng, nếu như cách mạng thành công, nó sẽ phải trực tiếp đối mặt với một giai cấp mới - giai cấp vô sản, một giai cấp đã thể hiện rõ sức mạnh của mình ở các nước tư bản Châu Âu thời đó Điều này đã phản ánh rõ tính hai mặt của giai cấp tư sản Đức Tuy nhiên, ngay chính giai cấp vô sản Đức lúc này cũng

bị chia rẽ sâu sắc do sự thao túng của các trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại tiểu tư sản đang mọc ra như nấm sau một trận mưa rào, như Ph Ăngghen từng nhận xét

Đặc biệt, vào năm 1875, Đuy -rinh đã viết một loạt bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác Những quan điểm triết học mà Đuy -rinh đưa ra là một món xúp hầm

Trang 3

chiết trung, hổ đốn cả chủ nghĩa duy vật tầm thường, cả chủ nghĩa thực chứng, cũng như chủ nghĩa duy tâm trộn lẫn vào nhau Điều nguy hiểm là cái món triết học hổ đốn, chiết trung ấy lại được một số thành viên của Đảng xã hội - dân chủ Đức vừa mới thành lập đồng tình, cố xuý và thậm chí còn định truyền bá rộng rãi cái học thuyết lộn phèo, phản động, phản khoa học đó

Một đòi hỏi khách quan của thực tiễn lúc bấy giờ đặt ra, đó là: phải thanh toán toàn bộ những quan điểm phản động, ngăn chặn khuynh hướng chia rẽ trong nội bộ Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong tình hình mới Tác phẩm “Chống Đuy -rinh”, một tác phẩm mang tính bút chiến và bách khoa về nội dung ra đời trong hoàn cảnh đó

2 Một số vấn đề phép biện chứng trong tác phẩm “Chống Đuy -rinh”

Như đã trình bày ở trên, đây là một tác phẩm hết sức đồ sộ, nội dung bao quát rộng lớn, trên tất cả ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác Trong nội dung bài thu hoạch này, tác giả chỉ tập trung bàn tới một số vấn đề cơ bản về phép biện chứng mà Ph Ăngghen, trong quá trình luận chiến với Đuy - rinh, đề cập tới trong tác phẩm “Chống Đuy -rinh”

Sự ra đời của phép biện chứng duy vật như là một tất yếu khách quan.

Trước hết, chúng ta tìm hiểu đôi chút về ông Đuy-rinh Đuy Rinh là phó giáo sư vật lý của trường đại học Béclinh, nhưng có nhiều tham vọng về triết học, Ông là một nhà triết học chiết trung chủ nghĩa, nhà kinh tế học tầm thường, nhà siêu hình, duy tâm và đại biểu cho tầng lớp tiểu tư sản phản động ở Đức Đuy -rinh đã từng là phó giáo sư ở trường đại học béclin, ông có kiến thức khá rộng cả về vật lý, toán học, cơ học và nói chung, ông là người khá uyên bác về khoa học tự nhiên

Tuy nhiên, Đuy-rinh là một con người khá kiêu căng, tự cao, tự đạo Chính vì vậy mà Đuy-rinh không coi ai ra gì, kể cả Hêghen và Mác Về lĩnh vực triết học, ông chỉ công nhận có ba người, đó là Cantơ, Hêghen và Mác Trong

đó, ông ta ngạo mạn cho rằng chỉ có Cantơ là tạm được còn sau Cantơ thì cũng chẳng có gì đáng kể, ngay với Mác, ông ta cho rằng cùng lắm cũng chỉ như bác học người Tầu mà thôi

Còn đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, ông ta chỉ công nhận có Đác -uyn

mà thôi Đuy -rinh có tham vọng lớn về chính trị, mong muốn xây dựng một hệ thống lý luận đồ sộ mang tên chủ nghĩa Đuy -rinh để truyền bá vào phong trào sinh viên và công nhân Đức Song hệ thống triết học của Đuy -rinh, về thực chất

Trang 4

là sự sao chép triết học của Hêghen, Cantơ, là chủ nghĩa chiết trung, trộn lẫn giữa chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa duy tâm và

sự kết hợp với phép siêu hình của thế kỷ XVII, XVIII của khoa học tự nhiên

Chính vì vậy, khi nhận trách nhiệm chống lại những quan niệm, tư tưởng phản động, phản khoa học của Đuy -rinh, Ph Ăngghen cho rằng nó giống như người ta ngậm phải, hoặc ngậm vào một thứ quả vừa to, vừa chua và đã chót ngậm phải thì buộc phải ăn cho bằng hết

Trái với quan điểm và tính cách của Đuy -rinh, Ph Ăngghen đã kế thừa

có chọn lọc, phê phán đồng thời phát triển toàn bộ tri thức của nhân loại Từ chỗ chứng minh rằng, quá trình thay thế các thời kỳ của lịch sử triết học là có tính quy luật, nó được biểu hiện thông qua việc các hình thức của phép biện chứng duy vật là một tất yếu khách quan Nó là tất yếu khách quan, bởi vì, nó đã có đầy đủ các tiền đề về lý luận cũng như các tiền đề về khoa học tự nhiên

Về lĩnh vực khoa học tự nhiên, Ph Ăngghen đã chỉ ra những thành tựu vĩ đại, vạch thời đại mà khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đã đạt được Thông qua đó,

Ph ăngghen đã chỉ ra ý nghĩa to lớn của những thành tựu đó đối với sự ra đời của phép biện chứng duy vật Ph Ăngghen viết: “Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại

đã cung cấp cho cuộc thử nghiệm đấy những vật liệu hết sức phong phú và mỗi ngày một tăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải siêu hình”1 Một mặt

đề cao những đóng góp của khoa học tự nhiên hiện đại, mặt khác Ph Ăngghen cũng lưu ý là do thói quen của phương pháp đặc thù của khoa học tự nhiên, nếu đem vào triết học thì sẽ dễ rơi vào phương pháp siêu hình, máy móc Theo Ph Ăngghen, phương pháp đó nếu ở trong bốn bức tường thì ông là bạn già đáng kính, nhưng nó bước vào thế giới bao la thì sẽ là hết sức liều lĩnh

Về phép biện chứng trong lịch sử, mà đặc biệt là phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen; Ph Ăngghen đánh giá các hạt nhân hợp lý trong triết học của Hêghen, đồng thời cũng chỉ ra tính duy tâm, bảo thủ, siêu hình của

hệ thống triết học ấy Việc vạch ra các mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp trong triết học Hêghen đã cho phép Ph Ăngghen chỉ ra: “…chỉ có Mác và tôi đã nghiên cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm”2 Và “đối với

1 Mác-Ăngghen, Toàn tập, Tập 20, Nxb CTQG, sự thật, H.1994, tr 38 - 39.

2 Sđd, t20, tr 22.

Trang 5

tôi, vấn đề là ở chỗ không thể đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới

tự nhiên”3

Mặt khác, thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp lúc bấy giờ, mà trực tiếp là phong trào đấu tranh của giai cấp công Đức đòi hỏi phải có một lý luận khoa học, một phương pháp cách mạng soi đường, dẫn dắt nó thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản do Đuy -rinh khởi xướng và

là đại biểu Như vậy, Ph Ăngghen đã minh chứng hùng hồn cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật như là một tất yếu hợp quy luật Nó chính là thế giới quan, phương pháp luận cách mạng, khoa học của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh nhằm nhận thức và cải tạo thế giới Ph Ăngghen nhận xét: “Như thế là

đã giải thích được tiến trình của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng sự sản xuất

ra chính bản thân tư bản Hai phát hiện vĩ đại ấy - quan niệm duy vật lịch sử và bóc trần bí mật của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nhờ giá trị thặng dư - là công lao của Mác Nhờ hai phát minh ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một khoa học

và giờ đây vấn đề trước hết là phải tiếp tục nghiên cứu nó trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ tượng hỗ của nó”4

Ph Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học và chỉ ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình, sự khác nhau căn bản giữa phép biện chứng mácxít và phép biện chứng duy tâm của Hêghen

Xuất phát từ quan điểm cho rằng, sự ra đời của phép biện chứng duy vật như là một tất yếu khách quan hợp với quy luật phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, Ph Ăngghen coi đó là hình thức phát triển cao nhất của tư duy khoa học và đồng thời vạch ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình Theo Ph Ăngghen, muốn làm rõ sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình thì trước hết, phải chỉ ra cái bản chất của từng phương pháp, trên cơ sở đó mà chỉ ra đặc trưng cơ bản của chúng, rồi sau đó mới có thể chứng minh được về sự đối lập giữa hai phương pháp tư duy ấy Như vậy, để thấy được sự đối lập, chúng ta phải đi từ nội dung bản chất của chúng Và do vậy, thông qua phê phán Đuy -rinh, Ph Ăngghen làm rõ thực chất và những hạn chế của phương pháp siêu hình, khẳng định sự ra đời

3 Sđd, t20, tr 25.

4 Sđd, t20, tr 45.

Trang 6

của thế giới quan siêu hình là tất yếu khách quan, là kết quả hợp quy luật đối với một giai đoạn lịch sử nhất định Ngay trong phần “nhận xét chung” Ph Ăngghen

đã chỉ ra, những thành tựu mà khoa học tự nhiên đạt được từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, đã đi sâu vào phân tích thế giới, bằng cách phân tích, mổ xẻ, phân chia chúng thành từng bộ phận và đã đạt được “những tiến bộ khổng lồ”, giúp chúng ta nhận thức giới tự nhiên một cách rõ ràng, sâu sắc hơn về các sự vật, hiện tượng cụ thể của nó

Phương pháp ấy đã được Bêcơn, Lốccơ…đưa vào triết học và hình thành nên phương pháp tư duy siêu hình Ph Ăngghen cũng chỉ ra đặc trưng cơ bản của phương pháp siêu hình, chỉ ra thực chất của nó để thấy được sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và siêu hình

Ph Ăngghen viết: “Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và sự phản ánh của chúng trong tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia, cái này độc lập với cái kia Nhà nước siêu hình học suy nghĩ bằng sự tương phản hoàn toàn trực tiếp; họ nói: có là có, không là không; ngoài cái đó ra chỉ là trò xảo quyệt”5

Ph Ăngghen cũng cho rằng, quan điểm siêu hình “Chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”6

Trái với quan điểm đó, quan điểm biện chứng không chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại mà còn thấy cả quá trình sinh thành, tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn nhìn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng Ph Ăngghen nêu lên “điều căn bản” của phương pháp biện chứng là “xem xét những sự vật và những phán ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”7

Tóm lại, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng với một tư duy cứng nhắc; còn phương pháp biện

5 Sđd, t20, tr 36,37.

6 Sđd, t20, tr 37.

7 Sđd, t20, tr 38.

Trang 7

chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh hoạt đó chính là sự khác nhau về nguyên tắc giữa phép biện chứng và phương pháp siêu hình

Cùng với việc chỉ ra sự đối lập về nguyên tắc giữa phép biện chứng và phép siêu hình, Ph Ăngghen cũng chỉ ra sự đối lập giữa phép biện chứng của Mác và phép biện chứng của Hêghen Ph Ăngghen đánh giá những thành tựu và công lao to lớn của các nhà triết học trước Mác trong viện xây dựng nên phép biện chứng từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XIX Ph ăngghen cho rằng, các nhà triết học cổ điển Đức đã có công xây dựng nên phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh Đặc biệt, Ph ăngghen đánh giá cao công lao của Hêghen: “Nền triết học mới của Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hêghen, trong đó lần đầu tiên- và đây là công lao to lớn của ông - toàn bộ thế giới tự nhiên,…được trình bày như một quá trình, nghĩa là luôn vận động, biến đổi, biến hoá và phát triển và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và phát triển ấy”8 Bên cạnh đó, Ph Ăngghen cũng chỉ ra điểm hạn chế cốt tử của Hêghen Theo

Ph Ăngghen, sở dĩ có những hạn chế đó là do cái giới hạn không thể vượt qua của những tri thức bản thân, cũng như những quan niệm của chính thời đại của Hêghen Ph Ăngghen cho rằng Hêghen là một nhà duy tâm, vì vậy, mặc dù ông

đã tạo ra bức tranh sống sinh động của thế giới, song bức tranh đó lại bị đặt lộn ngược Ph Ăngghen nhận xét: “Như vậy, tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên

hệ hiện thực của các hiện tượng của thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược”9

Ph Ăngghen cũng cho rằng, phép biện chứng duy vật ra đời, một phần có

sự đóng góp quan trọng của phép biện chứng duy tâm của Hêghen với tư cách là một nguồn lý luận trực tiếp, nhưng phép biện chứng của Mác khác về chất với phép biện chứng duy tâm của Hêghen Ph Ăngghen cho rằng: “chủ nghĩa duy vật hiện đại tổng hợp những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, mà theo

đó thì giới tự nhiên cũng có lịch sử của bản thân nó trong thời gian,những thiên thể cũng nảy sinh và diệt vong giống như tất cả những loài hữu cơ sống trên những thiên thể ấy trong những điều kiện thuận lợi, và những vòng tuần hoàn, trong chừng mực chúng nói chung có thể diễn ra, cũng có những quy mô vô cùng lớn hơn Trong hai trường hợp ấy, chủ nghĩa duy vật hiện đại về bản chất là

8 Sđd, t20, tr 39-40.

9 Sđd, t20, tr 41.

Trang 8

biện chứng, và nó không cần đến bất cứ một triết học nào đứng trên các khoa học khác”10 Theo Ph Ăngghen, mấu chốt của sự đối lập giữa phép biện chứng của Mác với phép biện chứng của Hêghen chính là ở chỗ nó là duy vật hay duy tâm Từ đó, Ph Ăngghen khẳng định: “Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử Song muốn có một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về tự nhiên thì người ta phải biết toán học và khoa học tự nhiên”11

Ph Ăngghen khẳng định phép biện chứng duy vật là khoa học đồng thời vạch ra đối tượng, nhiệm vụ và bản chất của phép biện chứng duy vật

Thứ nhất, Ph Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng và khẳng định phép biện chứng duy vật là khoa học Ph Ăngghen cho rằng, phép biện chứng không chỉ là khoa học về tư duy, mà là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của

tư duy”12 Ph Ăngghen cũng cho là có phép biện chứng tự phát và phép biện chứng tự giác Theo ông, phép biện chứng tự phát là vốn có của hiện thực khách quan khi con người chưa nhận thức đúng được nó Còn phép biện chứng tự giác

là phép biện chứng khoa học, chính là phép biện chứng duy vật, nó được rút ra

từ tự nhiên và lịch sử trên cơ sở con người nhận thức được các quy luật của tự nhiên và xã hội

Thức hai, Ph Ăngghen vạch ra bản chất của phép biện chứng duy vật Theo ông, “điều căn bản” của phép biện chứng duy vật đó là: “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”13 Ph Ăngghen cho rằng, tư duy biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái “vừa là… vừa là…” nữa Chẳng hạn, theo quan điểm biện chứng, một vật hữu hình trong mỗi lúc vừa là nó vừa không phải là nó; một cái tên đang bay trong mỗi lúc vừa

ở vị vị trí A lại vừa không ở vị trí A; cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ lẫn nhau lại vừa không lìa nhau, v.v…Tư tưởng này được Ph Ăngghen trình bày

ở trang 696 của tác phẩm: “Biện chứng tự nhiên”

10 Sđd, t20, tr 42.

11 Sđd, t20, tr 22.

12 Sđd, t20, tr 201.

13 Sđd, t20, tr 38.

Trang 9

Thứ ba, Ph Ăngghen cũng chỉ ra nhiệm vụ của phép biện chứng, đó là phải theo dõi quá trình vận động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông qua cái ngẫu nhiên, bên ngoài, xem xét nó không phải chỉ ở trong tự nhiên mà chủ yếu

là ở trong xã hội để chứng minh tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản Đây

là một tư tưởng hết sức quan trọng, chính tư tưởng này đã trang bị cho giai cấp

vô sản một thứ vũ khí sắc bén, củng cố niềm tin tất thắng vào việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Đồng thời, cũng chính tư tưởng này đã làm cho kẻ thù của chủ nghĩa Mác nói chung, kẻ thù của phép biện chứng duy vật, mà đặc biệt

là chủ nghĩa tư bản hiện đại hết sức run sợ Bởi vì, chính phép biện chứng chứ không phải Mác đã chỉ ra tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản Dù cho hiện nay chủ nghĩa tư bản có tự điều chỉnh thích nghi để củng cố kéo dài sự tồn tại, thì cuối cùng, sớm hay muộn nó cũng phải bị diệt vong để nhường chỗ cho một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn đó là xu thế vận động và phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người

Về những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật được Ph Ăngghen trình bày trong tác phẩm

Trong tác phẩm này, Ph Ăngghen lần đầu tiên, trình bày khá toàn diện và đầy đủ ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn); quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại; quy luật phủ định của phủ định Là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến trong giới tự nhiên và lịch sử “Vậy là từ trong lịch sử của tự nhiên và lịch sử của xã hội loài người mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng…Những quy luật biện chứng là những quy luật thực sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”14

Về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Mặc dù quy luật mâu thuẫn không được Ph Ăngghen xếp vào một chương riêng, độc lập trong tác phẩm, song nội dung của nó lại được trình bày khá sâu sắc Chính sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình được thể hiện rất rõ ràng thông qua nội dung của quy luật này Phê phán quan điểm sai lầm, phản động, phản khoa học của Đuy -rinh, Ph Ăngghen cho rằng: đối với một nhà siêu hình có hạng, cùng với tính cách tự cao, tự đại…Thì ông Đuy -rinh gạt bỏ mâu thuẫn một cách trắng trợn cũng không có gì là lạ lùng cả Với ông

14 Sđd, t20, tr 510-511.

Trang 10

Đuy -rinh: “Nguyên lý đầu tiên và quan trọng nhất về những thuộc tính lôgíc cơ bản của tồn tại là gạt bỏ mâu thuẫn Mâu thuẫn là một phạm trù chỉ có thể thuộc

về sự kết hợp các tư tưởng chứ không thuộc về hiện thực”15

Đuy -rinh cho rằng: trong các sự vật không hề có bất cứ một mâu thuẫn nào, hay nói cách khác, bản thân mâu thuẫn được coi như có thực, là một điều

vô nghĩa hết sức Và như vậy, xét cho cùng Đuy -rinh phủ nhận mâu thuẫn

Như vậy, khi xem xét quy luật mâu thuẫn, Ph Ăngghen đã chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn Ông viết: “Mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình”16 Nếu xem xét sự vật như là đứng im và không có sinh khí, cái nào riêng cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia thì chắc chắn chúng ta không thấy được mâu thuẫn bên trong sự vật Bản thân sự vật là một mâu thuẫn Điều này được ông khẳng định: “Sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và tự giải quyết và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết sảy đến”17 Như vậy, Ph Ăngghen đã đưa ra tư tưởng về mâu thuẫn bắt đầu từ phương pháp xem xét sự vật từ chính bản thân sự vật Và mặc dù, ngay bản thân sự vận động đã là mâu thuẫn, vì ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này vừa ở nơi khác…Nhưng đối với một nhà siêu hình thì không thể từ quan niệm tĩnh mà chuyển sang quan niệm động được, vì cái mâu thuẫn nói trên đã chặn đứng mất đường đi rồi Và như vậy, thì làm sao ông Đuy -rinh thừa nhận mâu thuẫn

Trên cơ sở phê phán Đuy -rinh, Ph Ăngghen đã chỉ ra tính phổ biến của mâu thuẫn Mâu thuẫn là phổ biến, nó diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người Với thế giới quan siêu hình, ông Đuy -rinh không hiểu nổi điều này Theo Ph Ăngghen, vận động có khả năng biểu hiện bằng cách đối lập với nó, tức là thể tĩnh, nhưng cũng chỉ là tương đối Vận động cá biệt thì có

xu hướng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ thăng bằng Còn cái

vô tận, không phải là một trừu tượng trống rỗng Bởi lẽ, “cái vô tận là một mâu thuẫn, và nó chứa đầy những mâu thuẫn…chính vì cái vô tận là một mâu thuẫn nên nó là một quá trình vô tận diễn ra vô tận trong thời gian và không gian”

15 Sđd, t20, tr 171.

16 Sđd, t20, tr 173.

17 Sđd, t20, tr 173-174.

Ngày đăng: 23/11/2017, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w