1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG KINH tế CHÍNH TRỊ tư TƯỞNG KINH tế tự DO TRONG LỊCH sử các học THUYẾT KINH tế

21 247 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 141 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng tự do kinh tế là lý thuyết kinh tế tư sản, coi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là hệ thống hoạt động tự động, do các quy luật kinh tế khách quan tự phát điều tiết. Tư tưởng cơ bản của nó là tự do kinh doanh, tự do tham gia thị trường, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Tư tưởng tự do kinh doanh được đặt nền móng từ các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, bắt đầu từ Wiliam Petty, được Ađam Smith tục phát triển. Sau này được LeonWalras (Trường phái cổ điển mới) kế tục trong lý thuyết “Cân bằng tổng quát”.

Trang 1

Chuyên đề 3

TƯ TƯỞNG TỰ DO KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

1 Tự do kinh tế và sự hình thành tư tưởng tự do kinh tế

Tư tưởng tự do kinh tế là lý thuyết kinh tế tư sản, coi nền kinh tế tưbản chủ nghĩa là hệ thống hoạt động tự động, do các quy luật kinh tế kháchquan tự phát điều tiết Tư tưởng cơ bản của nó là tự do kinh doanh, tự do thamgia thị trường, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế

- Tư tưởng tự do kinh doanh được đặt nền móng từ các nhà kinh tế học

tư sản cổ điển, bắt đầu từ Wiliam Petty, được Ađam Smith tục phát triển Saunày được LeonWalras (Trường phái cổ điển mới) kế tục trong lý thuyết “Cânbằng tổng quát”

Wiliam Petty (1623- 1687) là người đầu tiên đề cập đến tư tưởng tự dokinh doanh Là nhà khoa học tự nhiên đến với kinh tế học, Wiliam Petty chịuảnh hưởng rất nhiều của phương pháp phân tích của khoa học tự nhiên, luôncoi kinh tế là một quá trình phát triển tự nhiên với những quy luật khách quanvốn có của nó, không chấp nhận những hành động can thiệp tư bên ngoài vào,

nhất là sự can thiệp của nhà nước Theo Ông, trong chính sách kinh tế cũng như trong y học cần phải tính đến những quá trình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡng bức riêng của mình để chống lại những quá trình đó.

- Tư tưởng tự do kinh tế tiếp tục được trường phái trọng nông Pháp kếthừa phát triển Chủ nghĩa trọng nông Pháp xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII.Trong thời gian này ở Pháp nông nghiệp bị sa suốt nghiêm trọng do chínhsách của Bộ trưởng tài chính Coobe (hy sinh nông nghiệp để phát triển côngnghiệp”, muốn đưa nước Pháp thành công xưởng của thế giới Trong nôngnghiệp, nông dân phải đóng siêu cao thuế nặng cho địa chủ, nhà thờ, tăng lữ

do đó họ không quan tâm đế sản xuất; ruộng đất bị bỏ hoang, nông dân lìa bỏ

Trang 2

ruộng đồng ra thành thị đi kiếm sống, nông nghiệp suy tàn dẫn đến nền kinh

tế khủng hoảng; đời sống nông dân ngày càng khó khăn Nhà văn Vo te đãmĩa mai: Nông dân bàn tán về lúa mỳ hơn là về thượng đế Từ đó, trường pháitrọng nông ra đời, nhằm khôi phục phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp

ra khỏi tình trạng bế tắc, suy sụp, vạch rõ con đường và các hình thức pháttriển nông nghiệp, giải phóng người nông dân khỏi quan hệ phong kiến Chủnghĩa trọng nông Pháp đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa trọng thương

Những người trọng nông bảo vệ tư tưởng tự do kinh tế, họ cho rằngcác quy luật khách quan chi phối hoạt động của con người Trường phái nàytin tưởng tuyệt đối vào quy luật tự nhiên và tính hơn hẳn của nông nghiệp.Đại biểu xuất sắc nhất của trường phái này là Francois Quesney ( 1694-1774).Ông đã xây dựng lý thuyết về “Trật tự tự nhiên” Theo Francois Quesney, cóhai loại quy luật: Quy luật vật lý tác động trong lĩnh vực tự nhiên và quy luậtluân lý tác động trong lĩnh vực kinh tế Quy luật kinh tế cũng tác động tất yếunhư quy luật vật lý

Ông kêu gọi nên tuân theo quyền tự nhiên và trật tự tự nhiên, đó làquyền chính đáng và tối cao cơ bản Đối lập với quyền tự nhiên là quyền lập

pháp đem lại Chủ nghĩa trọng nông Pháp phủ nhận vai trò của Nhà nước.

Họ cho rằng chính quyền nên để nông dân tự lựa chọn đất đai, cây trồng, phương pháp canh tác, tự do cạnh tranh và hoạt động, tự do trao đổi của cải sản xuất được tuỳ theo lợi ích cá nhân của họ Nhà nước nên tránh can thiệp vào các hoạt động của các cá nhân và của dân chúng, vì sự can thiệp sẽ làm sai lệch trật tự tự nhiên, mà trật tự tự nhiên bao giờ cũng hoàn hảo.

Theo họ tự do hoạt động kinh doanh thực sự phải dựa trên cơ sở: “Con người phải được quyền sở hữu bản thân mình, sở hữu các động sản, bất động sản, tức là có quyền chiếm đoạt các sản nghiệp, cũng giống như quyền của con chim én đối với tất cả con ruồi nhỏ đang bay trong không khí” Họ thừa

Trang 3

nhận vai trò tự do của con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, khôngthể thiếu được.

Tuy nhiên, để tự do của người này không xâm phạm vào quyền tự docủa người khác, cần phải có nhà nước và sự bảo vệ của nó bằng luật pháp Do

đó, tư hữu - an sinh - tự do là nền tảng của một trật tự xã hội đầy đủ

- Tư tưởng tự do kinh tế này được tiếp tục phát triển trong tác phẩm

nghiên cứu về “Nguyên nhân và bản chất giàu có của các dân tộc”, lý thuyết

về “Con người kinh tế" và “Bàn tay vô hình” của Adam Smith (1723-1790)

Học thuyết của A Smith nghiên cứu sâu sắc và ủng hộ tư tưởng tự do

kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế Thuyết “Bàn tay vô hình” là học thuyết chủ đạo của Adam Smith về tư tưởng tụ do kinh tế A.

Smith cho rằng trong quá trình trao đổi sản phẩm thì mọi người đều vì mục

đích của cá nhân mình, song có một “Bàn tay vô hình làm cho mục đích của

xã hội đạt được thậm chí ngoài cả mong đợi của con người Bàn tay vô hình

đó chính là các quy luật kinh tế hách quan

Theo Smith trong kinh doanh, các thực thể kinh tế (Con người kinh tế,doanh nghiệp ), luôn chịu chi phối bởi “bàn tay vô hình” và chịu tác độngbởi lợi ích cá nhân

Điều kiện để quy luật kinh tế hoạt động là nền kinh tế phải được pháttriển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự domậu dịch

A.Smith đề cao vai trò cá nhân, ủng hộ tư hữu tư nhân, ca ngợi cơ chế

tự điều tiết của nền kinh tế thị trường Theo Ông, lợi ích cá nhân là động lựccho cá nhân và cả xã hội phát triển Để bàn tay vô hình hoạt động, cần cho cánhân sở hữu các điều kiện vật chất cho sản xuất (người lao động sở hữu bảnthân, tức tự do thân thể; nhà kinh doanh sở hữu các động sản và bất động

Trang 4

sản ), nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, mà chỉ như “Người línhcanh gác đêm” bảo vệ chế độ tư hữu và giữ gìn trật tự an sinh xã hội.

- Tư tưởng tự do kinh tế của A.Simth được David Ricardo (1772-1823)tiếp tục kế thừa và phát triển Ông tôn trọng, đề cao các quy luật kinh tế và tự

do kinh tế Tư tưởng nêu trên được đề cập trong tác phẩm “Nghiên cứu về bảnchất và nguyên nhân giầu có của các dân tộc” (1776)

- Tư tưởng tự do kinh tế, sau này được LeonWalras b(1834-1910)(trường phái cổ điển mới) tiếp tục trong lý thuyết “Cân bằng tổng quát” Cơ

sở lý luận của tư tưởng này là quan điểm: Do giá cả và tiền công linh hoạtnên các doanh nghiệp chỉ cung ứng ở mức sản lượng tiềm năng và do đó sựcan thiệp của nhà nước là có hại Tư tưởng tự do kinh doanh giữ vị trí thốngtrị cho đến tận những năm 30 của thế kỷ XX

2 Tư tưởng tự do kinh tế

* Tư tưởng tự do kinh tế của A Smith

A Mith là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triển kinh tế chính trị

tư sản cổ điển và được xem như một tiền bối lớn của C Mác Phương pháp luậncủa S Mith dựa trên quan điểm tự do, thể hiện trong tư tưởng “Trật tự tự nhiên”

Nếu trường phái trọng nông ca ngợi trật tự tự nhiên trên cơ sở luật tựnhiên đối lập với luật chế định, thì tư tưởng tự do kinh tế của A Mith lạinhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước Ông xây dựng lýthuyết “Bàn tay vô hình” Về thực chất là lý thuyết về cơ chế thị trường tựđiều tiết

Điểm xuất phát trong nghiên cứu lý luận kinh tế của Ông là nhân tố:

“Con người kinh tế”, những con người này hợp thành xã hội Do đó xã hội làliên minh của những người trao đổi và thông qua việc thực hiện những quan hệtrao đổi thì nhu cầu của người ta mới được thoả mãn “Hãy đưa cho tôi cái màtôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”

Trang 5

A Mith cho rằng, đó là một thiên hướng phổ biến và tất yếu của xã hội.

Nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người Khi trao đổi, conngười chịu sự chi phối bởi lợi ích cá nhân Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếpchi phối con người hoạt động trao đổi Nhưng khi chạy theo lợi ích cá nhân thìcon người kinh tế còn chịu sự tác động của “Bàn tay vô hình” Với sự tác độngnày, con người kinh tế vừa chạy theo tư lợi lại vừa đồng thời thực hiện mộtnhiệm vụ không nằm trong dự kiến đó là đáp ứng lợi ích chung của xã hội

“Bàn tay vô hình” chính là các quy luật kinh tế khách quan, là “Một trật tự

tự nhiên”

Để có hoạt động của “Bàn tay vô hình”, cần phải có những điều kiện nhấtđịnh đó là:

Thứ nhất, tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá

Thứ hai, nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do

sản xuất, tự do liên doanh và tự do mậu dịch

Theo S Mith chỉ có phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới cónhững điều kiện kể trên Vì vậy xã hội tư bản mới là xã hội bình thường đượcxây dựng trên cơ sở trật tự tự nhiên Còn trong xã hội trước đó- xã hội chiếmhữu nô lệ, xã hội phong kiến- là những xã hội không bình thường

Trên cơ sở tự do kinh tế mà hình thành mối quan hệ phụ thuộc vàonhau giữa người và người Trong nền kinh tế hàng hoá, con người luôn luôn

có quan hệ kinh tế với nhau Do vậy, cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôntrọng “Bàn tay vô hình” Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá phải đượcphát triển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình

Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn cóhoạt động riêng của nó Nhà nước chỉ có chức năng bảo vệ quyền sở hữu củacác nhà tư bản, bảo vệ hoà bình, không để nội chiến, ngoại xâm Đôi khi nhànước cũng có nhiệm vụ kinh tế, khi nhiệm vụ đó vượt quá sức của các doanh

Trang 6

nghiệp như xây dựng cầu, cảng, đường xá, đắp đê hay xây dựng các côngtrình kinh tế lớn.

A Mith cho rằng, quy luật kinh tế là vô địch, mặc dù chính sáchkinh tế của nhà nước có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự hoạt động của các quyluật kinh tế Sự hài hoà của tự nhiên tồn tại trong thế giới kinh tế khiến chochính phủ can thiệp vào hầu hết các vấn đề vừa không cần thiết và vừa khôngmong muốn Xã hội muốn giầu có, phải được phát triển theo tinh thần tự do

Tóm lại: Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của A Mith đã đề cao vai trò

của các quy luật kinh tế khách quan trong điều tiết kinh tế thị trường, đề caotính độc lập, tự chủ, sáng tạo và tinh thần tự do kinh doanh, tự do cạnh tranhcủa các chủ thể kinh tế Coi thị trường tự do là lực lượng, là sức mạnh điềutiết sản xuất và tiêu dùng của xã hội

* Lý thuyết tự do kinh tế của L Walras (1834- 1910)

Cũng như các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, các nhà kinh tếthuộc trường phái cổ điển mới ủng hộ tư tưởng tự do kinh doanh Họ chorằng, hoạt động tự do của các doanh nhân theo sự biến động tự phát của quan

hệ cung - cầu và giá cả trên thị trường là điều kiện cơ bản cho sự phát triển vàcân đối trên thị trường Trên cơ sở đó, L.Walras đã đưa ra lý thuyết cân bằngtổng quát giữa các thị trường Lý thuyết này là sự phát triển tư tưởng tự dokinh tế của A Smith

- Lý thuyết này tập trung quan điểm vào cơ chế thị trường tự điều tiếttrong nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa

+ Hoạt động tự do của các doanh nhân theo sự biến động tự phát củaquan hệ cung - cầu và giá cả, là điều kiện cơ bản cho sự phát triển và cân đốicung cầu trên thị trường

+ Tự do kinh tế là sức mạnh của cơ chế thị trường L.Walras tin tưởngvững chắc vào tự điều tiết của cơ chế đó Theo ông, cơ chế tự điều tiết của

Trang 7

“Bàn tay vô hình” làm cho quá trình tái sản xuất đảm bảo được những tỷ lệcân đối và duy trì được sự phát triển bình thường.

- Theo L.Walras, nền kinh tế thị trường có ba loại thị trường:

+ Thị trường sản phẩm (hàng hoá), là nơi mua và bán hàng hoá, giá cả

là tương quan trao đổi giữa các hàng hoá

+ Thị trường vốn (tư bản) là nơi hỏi và vay tư bản, lãi suất cho vay làgiá cả của tư bản

+ Thị trường lao động là nơi thuê mướn công nhân, tiền công là giá cảcủa lao động

Ba loại thị trường này độc lập với nhau, song nhờ hoạt động của doanhnhân mà chúng có quan hệ với nhau Muốn sản xuất, doanh nhân phải vayvốn trên thị trường tư bản, thuê công nhân trên thị trường lao động Trên haithị trường này, doanh nhân biểu thị là sức cầu Sản xuất được hàng hoá, doanhnhân bán trên thị trường sản phẩm Tại đây, doanh nhân là sức cung

- Để vay tư bản, doanh nhân phải trả lợi tức (Z’), để thuê lao độngdoanh nhân phải trả tiền công, Z’ + tiền công = chi phí sản xuất

Nếu giá bán hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất thì doanh nhân có lợi.Doanh nhân sẽ mở rộng sản xuất, vay thêm tư bản, thuê thêm công nhân, sứccầu của doanh nhân tăng Ngược lại, khi mở rộng sản xuất, sức cung hàng hoánhiều hơn, giá hàng hoá giảm, thu nhập của doanh nhân giảm Khi giá cảhàng hoá giảm xuống ngang với chi phí sản xuất thì cung và cầu của hàng hoácân bằng, doanh nhân sẽ dừng việc sản xuất thêm, không vay thêm tư bản vàthuê thêm công nhân Giá hàng hoá ổn định làm cho lãi suất và tiền công ổnđịnh Cả 3 thị trường đều cân bằng cung- cầu Nền kinh tế ở trạng thái cânbằng tổng quát

Trang 8

- Điều kiện để có sự cân bằng thị trường là sự cân bằng giữa giá hàng

và chi phí sản xuất Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, trạng thái cân bằngđược thực hiện thông qua dao động của cung cầu

* Lý thuyết tự do kinh tế của A Marshall

Alfred Marshall (1842 - 1924) là giáo sư trường Đại học tổng hợpCambridge Ông là người đứng đầu trường phái Cambridge Lý thuyết của ông là

sự tổng hợp các lý thuyết đã có trước thế kỷ XIX như: Lý thuyết chi phí sản xuất,cung cầu, năng suất bất tương xứng, với lý thuyết mới của thế kỷ XIX như ích lợigiới hạn, năng suất giới hạn Tư tưởng tự do kinh tế của Ông được biểu hiện tậptrung ở lý thuyết về giá cả

Theo A.Marshall giá cả là quan hệ số lượng mà trong đó hàng hoá và tiền

tệ được trao đổi với nhau Khi nghiên cứu cơ chế thị trường Ông cho rằng, mộtmặt trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì cung - cầu phụ thuộc vào giá cả Mặtkhác, cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung cầu

Ông đưa ra khái niệm “giá cung” và “giá cầu”

Giá cung (hình 2b) là giá mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mứcđương thời Giá cung do chi phí sản xuất quyết định Chi phí sản xuất bao gồm chiphí ban đầu (chi phí mà doanh nghiệp phải chịu bất kể có hay không có sảnlượng) và chi phí phụ thêm (chi phí nguyên liệu, lương công nhân)

Giá cầu (hình 2a) là giá người mua có thể mua số lượng hàng hoá hiện tại,được quyết định bởi ích lợi giới hạn

Trang 9

Hình 2a: Giá cầu Hình 2b: Giá cung

Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì hình thành nên giá cả cân bằng hay

giá cả thị trường Khi đó sẽ chấm dứt cả khuynh hướng tăng lẫn khuynh hướng

giảm, lượng hàng hoá sản xuất, thế cân bằng được thiết lập (hình 2c) Như vậy,

giống L.Walras, A.Marshall tin tưởng vào sự tự điều tiết của kinh tế thị trường

trên cơ sở sự vận động của cung cầu

Đồng thời với lý luận cân bằng tổng quát, các nhà kinh tế phái cổ điển

mới, cũng như phái cổ điển đều thấy khi nền kinh tế phát triển, chức năng của

nhà nước tăng lên Đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương, sự xuất hiện của

các tổ chức độc quyền và những vấn đề tái sản xuất sức lao động

Trang 10

Hình 2c: Giá cả cân bằng

Tuy nhiên, họ cho rằng, tự do kinh doanh là sức mạnh của nền kinh tếthị trường Qui luật kinh tế là vô địch, mặc dù chính sách kinh tế của nhànước có thể kìm hãm hay thúc đẩy hoạt động của các qui luật kinh tế Họ cóniềm tin vững chắc vào cơ chế thị trường và sự tự điều tiết hoạt động cung -cầu và giá cả

3 Lý thuyết của trường phái tự do mới

Với sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

và lý thuyết cuae Keynes về vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước lầnđầu tiên chủ nghĩa tự do cũ mất vị trí thống trị

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 càng chững minh sựsụp đổ của học thuyết tự do kinh tế Hơn nữa những thành tựu nhất định củacác nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý nền kinh tế theo kế hoạch càngchứng tỏ vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước Thực tiễn đó tác động mạnh

Gi¸

Sè l îng

SD

M

Ngày đăng: 23/11/2017, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w