Biểu kinh tế của F.Kene(16941774) “Biểu kinh tế’ được đánh giá là một trong những cống hiến to lớn đối với lịch sử các tư tưởng kinh tế của nhân loại. C.Mác nhận xét: Việc làm này thực hiện vào giữa thế kỷ XVIII thuộc thời kỳ ấu trĩ của kinh tế chính trị, là một tư tưởng hết sức thiên tài, rõ ràng, là một tư tưởng thiên tài nhất trong tư tưởng mà khoa kinh tế chính trị đã đề ra cho đến bây giờ. Mitabeau, một người theo trường phái trọng nông đã ca ngợi biểu kinh tế của F. Kene, xem nó là một trong 3 phát minh quan trọng nhất: Phát minh ra tiền tệ; phát minh ra nghề in; biểu kinh tế của F. Kene.
Trang 1Chuyên đề 2
SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN TÁI SẢN XUẤT TRONG LỊCH SỬ CÁC
HỌC THUYẾT KINH TẾ
1 Lý luận tái sản xuất của các trường phái kinh tế chính trị trước C.Mác
1.1 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển
* Biểu kinh tế của F.Kene(1694-1774)
“Biểu kinh tế’ được đánh giá là một trong những cống hiến to lớn đối với lịch sử các tư tưởng kinh tế của nhân loại C.Mác nhận xét: Việc làm này thực hiện vào giữa thế kỷ XVIII thuộc thời kỳ ấu trĩ của kinh tế chính trị, là một tư tưởng hết sức thiên tài, rõ ràng, là một tư tưởng thiên tài nhất trong tư tưởng mà khoa kinh tế chính trị đã đề ra cho đến bây giờ Mitabeau, một người theo trường phái trọng nông đã ca ngợi biểu kinh tế của F Kene, xem
nó là một trong 3 phát minh quan trọng nhất: Phát minh ra tiền tệ; phát minh
ra nghề in; biểu kinh tế của F Kene
- Những giả định của F.Kene khi nghiên cứu tái sản xuất
+ Chỉ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn Bởi như C.Mác phân tích sau này nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là nghiên cứu yếu tố hiện thực của tích luỹ, của tái sản xuất mở rộng
+ Lấy tư bản hàng hoá làm điểm xuất phát, sau này C Mác cũng đã làm như vậy
+ Không tính đến biến động về giá cả (giá cả bằng giá trị)
+ Không tính đến ngoại thương, đây là giả định cần thiết mà sau này Sismondi và phái dân tuý Nga đã không hiểu khi phân tích lý luận tái sản xuất
+ Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã hội cả về hiện vật và giá trị Quá trình lưu thông sản phẩm gắn với lưu thông tiền tệ, tiền trở
về điểm xuất phát ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất
Trang 2+ Trao đổi tổng sản phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: Giai cấp sở hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất
+ Giá trị tổng sản phẩm xã hội gồm 7 tỷ Frăng, trong đó 5 tỷ là sản phẩm nông nghiệp, 2 tỷ là sản phẩm của giai cấp không sản xuất
+ Trong 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp có: 1 tỷ bù đắp tư bản ứng trước đầu tiên; 2 tỷ để bù đắp khoản ứng ra hàng năm (tư bản lưu động); 2 tỷ sản phẩm thuần tuý nộp cho giai cấp sở hữu
+ Trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp của giai cấp không sản xuất được phân thành: 1 tỷ để bù đắp hao phí nguyên vật liệu; 1 tỷ để bù đắp tư liệu tiêu dùng
- Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiền mặt với tư cách là tiền tô để trả cho giai cấp sở hữu
* Biểu kinh tế của F.Kene phân tích quá trình vận động của tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện thông qua 5 hành vi và
có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau:
* Quá trình tái sản xuất diễn ra như sau:
- Giai cấp sản xuất trả cho giai cấp sở hữu 2 tỷ tiền tô Giai cấp sở hữu không sản xuất gì chỉ tiêu dùng sản phẩm thuần tuý:
+ Hành vi 1: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ mua hàng tiêu dùng ở giai cấp sản xuất Vậy là 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp ra khỏi lưu thông đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu
+ Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền còn lại tiếp tục mua hàng công nghệ của giai cấp không sản xuất Như vậy là 1 tỷ trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu
+ Hành vi 3: Sau khi nhận được 1 tỷ của giai cấp sở hữu, giai cấp không sản xuất đem tiền đó mua tư liệu sinh hoạt của giai cấp sản xuất Như vậy, giai cấp sản xuất đã thực hiện được 2/5 sản phẩm của mình
Trang 3+ Hành vi 4: Giai cấp sản xuất lại dùng 1 tỷ vừa nhận được mua tư liệu sản xuất của giai cấp không sản xuất Vậy là đã thực hiện xong sản phẩm của của giai cấp không sản xuất
+ Hành vi 5: Giai cấp không sản xuất lại đem 1 tỷ vừa nhận được mua nguyên liệu nông nghiệp của giai cấp sản xuất Như vậy, kết quả là giai cấp sản xuất đã bán 3 tỷ sản phẩm, còn 2 tỷ sản phẩm để bù đắp chi phí hàng năm
và số tiền mặt là 2 tỷ
Như vậy có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giản đơn
* Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu biểu kinh tế của F.Kene: những công lao của F Kene là:
- Đã sử dụng khá thành thạo phương pháp trừu tượng hoá khoa học Đưa ra những giả định cơ bản là đúng và chỉ trên cơ sở những giả định đó mới nghiên cứu được quá trình tái sản xuất tư bản xã hội
1 tû mua n«ng s¶n (Hµnh vi 1)
1 tû mua hµng c«ng nghÖ phÈm (Hµnh vi 2)
GCSH
2 tû tiÒn
Mua 1 tû n«ng s¶n (Hµnh vi 3)
1 tû TLSX (Hµnh vi 4)
GCSX
5 tû SP
GCKSX
2 tû SP Mua 1 tû nguyªn liÖu (Hµnh vi 5)
Trang 4- Đã phân tích sự vận động của tổng sản phẩm xã hội trên cả hai mặt giá trị và hiện vật, nghiên cứu sự vận động của sản phẩm kết hợp với sự vận động ngược chiều của tiền tệ
- Phân tích sự lưu thông tiền tệ phải theo quy luật tiền bỏ vào lưu thông phải quay về điểm xuất phát ban đầu, vì nếu tiền không quay về điểm xuất phát ban đầu thì quá trình tái sản xuất sẽ không thể diễn ra
Tuy vậy, trong phân tích biểu kinh tế, F Kene còn có hạn chế là chưa thấy được cơ sở tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản xuất giản đơn trong công nghiệp cũng khó thực hiện được; đánh giá sai vai trò sản xuất công nghiệp
* Lý thuyết tái sản xuất của A.Smith(1723-1790)
A.Smíth dựa trên cơ sở lý luận về giá trị lao động để xây dựng lý luận tái sản xuất, song cho rằng giá trị của hàng hoá bao gồm các thu nhập: tiền -công, lợi nhuận, địa tô Theo ông “tiền -công, lợi nhuận và địa tô là ba cái nguồn ban đầu của bất cứ thu nhập nào tổng giá trị trao đổi hay giá cả của sản phẩm hàng năm, nhất thiết phải chia thành ba bộ phận đó” Như vậy tổng giá trị của hàng hoá chỉ có ( v + m), chỉ bằng giá trị mới sáng tạo ra, còn bộ phận giá trị cũ tham gia vào quá trình sản xuất đã bị A.Smíth loại ra khỏi giá trị của hàng hoá Ông coi giá trị của tư liệu sản xuất nằm trong tiền lương, lợi nhuận và địa tô
Sai lầm của A.Smíth là ông lẫn lộn toàn bộ giá trị của sản phẩm với
giá trị mới sáng tạo ra; ông không thấy được tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, không thấy được sự chuyển dịch giá trị cũ và sự sáng tạo
ra giá trị mới A.Smíth đã vấp phải vấn đề cần phải phân biệt trong lý luận, đó
là hai hình thức lao động, một thứ cung cấp những vật phẩm tiêu dùng, còn một thứ cung cấp những sản phẩm không phải để tiêu dùng (máy móc, công
Trang 5cụ) Lênin cho rằng, chỉ cần tiến một bước nữa là thừa nhận hai hình thức tiêu dùng Tiêu dùng cho cá nhân và tiêu dùng cho sản xuất
Như vậy, A.Smíth đã có một bước tiến dài so với những người trước
ông Ở ông đã có mầm mống thiên tài về sự phân chia nền sản xuất thành hai khu vực Chính K.Marx đã bắt gặp “gợi ý” của A.Smíth và đã phát triển lên thành một lý luận đặc sắc về sự thực hiện sản phẩm xã hội trong xã hội tư bản chủ nghĩa Về tái sản xuất mở rộng, C Mác đánh giá cao A.Smith đã phân biệt được tích luỹ và cất trữ, tích luỹ thì phải giành một phần giá trị thặng dư
để thuê thêm công nhân Luận điểm này của A.Smith nói rõ nguồn gốc của tích luỹ tư bản là lao động Nhưng ông đã phạm sai lầm cho rằng việc tích luỹ
tư bản chỉ là việc biến giá trị thặng dư thành tư bản khả biến phụ thêm, không
có tư bản bất biến phụ thêm
Lý luận tái sản xuất của A.Smith đã đề cập đến sản phẩm - chia làm hai nhóm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng; giá trị sản phẩm gồm có c + v +
m, phân chia nền sản xuất xã hội 2 khu vực, nhưng phân tích lý giải đầy đủ, đúng đắn những vấn đề này phải chờ đến Mác mới giải quyết được
- Đánh giá những sai lầm của A.Smith về lý luận tái sản xuất của C.Mác: A.Smith mắc phải sai lầm mà C.Mác gọi là sai lầm “Tính điều” là đã
bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá Ông xây dựng lý luận tái sản xuất trên cơ sở cho rằng giá trị của hàng hoá gồm các khoản thu nhập: Tiền lương, lợi nhuận, địa tô Đôi lúc ông thấy sự trái ngược sai lầm “Tính điều”, ông đã dùng khái niệm tổng thu nhập “Để lén lút”đưa C vào
Nguồn gốc sai lầm của A.Smith là ông đã lẫn lộn toàn bộ giá trị của sản phẩm với giá trị mới sáng tạo ra, ông không thấy được tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá
* Lý luận tái sản xuất của D.Ricardo(1772-1823)
- Không hiểu được sự phân chia C, V nên đã sai lầm giống như A
Trang 6Smith đã bỏ qua C, không thể hiểu được ảnh hưởng C/V của tư bản.
- D Ricardo cũng không phát triển được lý luận tái sản xuất (V.I.Lênin
đã nhận xét: Các nhà kinh tế học sau A.Smith đã lặp lại sai lầm của A.Smith, nên không tiến thêm được một bước nào cả)
- Tuy nhiên, D.Ricardo cũng đã đưa ra được một số luận điểm đúng, ví
dụ, xem tiêu dùng là do sản xuất quyết định và muốn mở rộng sản xuất thì phải tích luỹ, phải làm cho sản xuất vượt quá tiêu dùng, sản xuất tạo ra thị trường Nhưng ông không nhìn thấy được mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng dưới chủ nghĩa tư bản, D.Ricardo cho rằng, chủ nghĩa tư bản không có hạn chế trở ngại gì trong việc mở rộng sản xuất, trừ phi có sự giảm sút Ông phủ nhận khả năng khủng hoảng sản xuất thừa, trong chủ nghĩa tư bản mua, bán là thống nhất Cho nên nếu có mất cân đối chỉ là mất cân đối cục bộ, D.Ricardo mất 1823, bản thân chưa nhìn thấy được khủng hoảng đầu tiên của chủ nghĩa tư bản vào năm 1825 Đó là lý do lịch sử tha thứ cho quan điểm sai lầm trên của ông
1.2 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường và tiểu
tư sản
Kinh tế Chính trị Tư sản Tầm thường xuất hiện vào những năm 30 của thế kỹ XIX Lúc này, CNTB đã giữ địa vị thống trị ;cách mạng công nghiệp thành công ở hầu hết các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân bị bóc lột thậm tệ, phong trào đấu tranh tăng nhanh, khủng hoảng kinh tế nổ ra Lý luận KTCT tư sản cổ điển không òn phù hợp, khách quan cần có lý luận mới KTCTTS tầm thường ra đời, nó không phát triển tư tưởng kinh tế tư sản cổ điển mà đi vào biện hộ cho chủ nghĩa tư bản C Mác gọi là “Tầm thường hóa kinh tế chính trị tư sản cổ điển”
1.2.1 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tầm thường
Trang 7* Lý luận tái sản xuất của Malthus(1766-1340
Malthes cho rằng khối lượng hàng hóa sản xuất ra nếu chỉ trong chờ vào những người đảm nhiệm sản xuất (giai cấp tư sản và công nhân) thì không thể tiêu thụ hết, không thể tìm ra lượng cầu có khả năng thanh toán phần lượng cung Do đó tình trạng thừa hàng hóa sẽ xuất hiện, dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa Để khắc phục tình trạng khủng hoảng sản xuất thừa phải
có giai cấp thứ ba, tầng lớp không sản xuất như tăng lữ, quân đội, cảnh sát, viên chức nhà nước Ông gọi đó là “người thứ ba” để chống khủng hoảng sản xuất thừa Ông đề nghị tăng thuế cho nhà nước, địa tô cho địa chủ và chi phí cho quân đội và chiến tranh
* Lý luận tái sản xuất của J.B.Say(1766-1832)
J.B.Say muốn chứng minh cho tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhịp nhàng không có khủng hoảng kinh tế, chỉ có sản xuất thừa bộ phận Theo ông trong xã hội TB, sản phẩm bao giờ cũng được trao đổi lấy sản phẩm Lợi ích của tất cả những người sản xuất hình như là trao đổi sản phẩm này lấy sản phẩm khác, tiền chỉ đóng vai trò trung gian nhất thời Cuối cùng hàng hóa chỉ được đổi bằng hàng hóa, vì người ta chỉ mua một hàng hóa nào đó bằng tiền nhận được do bán những hàng hóa khác Một khi sản phẩm được trao đỏi lấy sản phẩm khác thì người bán đồng thời là người mua Do đó mỗi sản phẩm được sản xuất ra không chỉ tạo ra lượng cung mà còn tạo ra lượng cầu, nó tự
mở thị trường tiêu thụ cho sản phẩm khác
Ông thừa nhận là, có thể mất cân đối giữa cung và cầu, xẩy ra ở một vài loại hàng hoá riêng lẻ do những người muốn mua hàng hóa ấy không đủ phương tiện để mua Điều đó có nghĩa họ không đủ vật phẩm để đổi lấy vật phẩm mà họ cần Trường hợp này do có sự sản xuất yếu kém ở một bộ phận hoặc một ngành nào đó Đây là nguyên nhân mất cân đối Có thể giải quyết tình trạng này bằng đẩy mạnh sản xuất ở những ngành yếu kém ấy
Trang 8Cũng như D.Ricardo, việc J.B.Say phủ nhận khủng hoảng kinh tế là một sai lầm Thực tế sản xuất tư bản chủ nghĩa đã bác bỏ quan điểm của Say
Trong lý luận tái sản xuất, J.B.Say đã đánh tráo đối tượng nghiên cứu: Thay quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng sản xuất hàng hoá giản đơn, từ
đó rút ra kết luận cho sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hàng hoá giản đơn thì khủng hoảng sản xuất thừa chỉ là mầm mống, khả năng; nhưng trong sản xuất tư bản chủ nghĩa thì khả năng ấy tất yếu trở thành hiện thực Sản xuất thừa ở đây không phải là sản xuất thừa sản phẩm mà là sản xuất thừa hàng hoá, nghĩa là thừa so với khả năng thanh toán của đa số nhân dân lao động, chứ không phải thừa so với nhu cầu tự nhiên của họ
1.2.2 Lý luận tái sản xuất của kinh tế chính trị tiểu tư sản
Ra đời vào giai đoạn CNTB bắt đầu phát triển mạnh (cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Đại công nghiệp phát triển làm phá sản hàng loạt những người sản xuất nhỏ Lý luận KT tiển tư sản ra đời nhằm khôi phục , bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo vẹ giai cấp tiểu tư sản
Lý thuyết tái sản xuất của Símondi(1773-1842)
Đây là lý thuyết trung tâm của Símondi Ông cho rằng mục đích của sản xuất là tiêu dùng Từ “tín điều” Smith, ông đi đến kết luận là sản xuất phù hợp với thu nhập, mà thu nhập quyết định tiêu dùng, nên sản xuất phải phù hợp với tiêu dùng Đó là điều kiện để thực hiện sản phẩm Nếu sản xuất vượt quá tiêu dùng, hay nói cách khác, là “tiêu dùng không đầy đủ’, thì có một bộ phận sản xuất thừa ra, không thực hiện được giá trị Vì vậy, dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng kinh tế
Theo ông, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thị trường trong nước thường xuyên bị thu hẹp Nguyên nhân của nó là người công nhân bị bần cùng thất nghiệp, nên thu nhập của họ bị giảm sút, nhà tư bản không tiêu dùng hết thu nhập của họ, mà còn tích luỹ lại một phần thu nhập đó Người sản xuất
Trang 9nhỏ bị phá sản, nên cũng bị giảm thu nhập và giảm tiêu dùng Như vậy, sản xuất tăng lên mà tiêu dùng lại không đầy đủ, nên thị trường trong nước không thể thực hiện được “siêu giá trị”
Muốn thực hiện được “siêu giá trị” ông thấy là phải có ngoại thương Ông cho rằng, ngoại thương như “lỗ thông hơi” của chủ nghĩa tư bản Nhờ đó
mà “siêu giá trị” có thể được thực hiện Song, vì nước nào cũng đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, nên việc thực hiện “siêu giá trị” vẫn khó khăn Do vậy, ông cho rằng, phải có tầng lớp “người thứ ba” để tăng sức mua, tăng tiêu dùng “người thứ ba” này không phải là giai cấp công nhân, không phải là nhà
tư bản, mà là giai cấp tiểu tư sản, những người thợ thủ công, nông dân cá thể, tiểu thương
Như vậy, nguyên nhân khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là do giai cấp tiểu tư sản bị phá sản Con đường giải quyết khủng hoảng sản xuất thừa là củng cố phát triển sản xuất nhỏ
Símondi là đại biểu cho lợi ích của giai cấp tiểu tư sản Lý luận tái sản xuất của ông có nhiều sai lầm: đã đồng nhất sản xuất với thu nhập nên không phân biệt được sự khác nhau giữa tư bản và thu nhập quốc dân (theo A.Smith, ông cho sản xuất hàng năm và thu nhập quốc dân bằng nhau và hơn nữa ông cho rằng thu nhập quyết định sản xuất); không phân biệt được tiêu dùng cho sản xuất
và tiêu dùng cá nhân và do đó không thấy được vai trò của tích luỹ sản xuất
1.3 Lý luận tái sản xuất của C.Mác và Ph.Ănghen
Lý luận tái sản xuất của C.Mác đã vạch rõ quy luật vận động của tổng sản phẩm xã hội, mâu thuẫn của quá trình tái sản xuất và những nguyên lý của một nền sản xuất lớn
Về mặt nội dung, tái sản xuất có những nội dung chủ yếu: Tái sản xuất của cải vật chất, tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất quan hệ sản xuất và tái sản xuất môi trường Về mặt quy mô, tái sản xuất được chia thành 2 loại: Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Trang 10* Những giả định theo phương pháp trừu tượng hoá khoa học của C.Mác
Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, C.Mác đã nêu ra 5 giả định sau:
Thứ nhất: Toàn bộ nền kinh tế trong nước là nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa thuần tuý, nghĩa là nền kinh tế tư bản chỉ có hai giai cấp cơ bản là tư bản và công nhân
Thứ hai: Hàng hoá được mua và bán theo đúng giá trị, giá cả phù hợp
với giá trị
Thứ ba: Cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) không đổi.
Thứ tư: Toàn bộ tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm
trong một năm
Thứ năm: Không xét đến ngoại thương.
Nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội là nghiên cứu điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội, do đó C Mác đã sử dụng phương pháp trừu tượng hoá với năm giả định trên
Ví dụ: C.Mác đã chứng minh quy luật cấu tạo hữu cơ c/v nâng cao, nhưng ở đây C.Mác lại giả định c/v không đổi để cho vấn đề không trở nên phức tạp
Chính C.Mác đã khẳng định không thể hình dung nổi chủ nghĩa tư bản
mà không có ngoại thương, thị trường dân tộc tất yếu gắn với thị trường thế giới Nếu đưa ngoại thương vào chỉ làm cho vấn đề thêm phức tạp hơn, còn bản chất vẫn không đổi
* Điều kiện thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
- Điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn + Sơ đồ của C Mác:
Khu vực I: 4000 c + 1000v + 1000m = 6000 (TLSX)