+ Thứ nhất: Hiểu tri thức với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với khoa học và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi tri thức chủ yếu là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới (có người còn đề cập thêm công nghệ không gian vũ trụ). Cách hiểu này khá phổ biến ở Mỹ cách đây khoảng 7, 8 năm thấy được qua các tài liệu của Thượng nghị viện Mỹ (2000). Các nước như Ấn Độ, Philippin cũng đã có lúc chấp nhận cách hiểu này.
Trang 1- Cần nắm vững những lý luận chung về CNH,HĐH của kinh tế chính trị
Mác - Lênin và sự vận dụng của ĐCSVN vào hoạch định đường lối phát triểnkinh tế - xã hội nước ta làm cơ sở cho nhận thức kinh tế tri thức
3 Nội dung: Gồm 2 nội dung lớn
I Những vấn đề chung về kinh tế tri thức
II Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
4 Phương pháp
- Đi sâu trình bày những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức và sự vận dụngcủa Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH kết hợp với gợi mở nêu vấn
đề để các đồng chí tự nghiên cứu, liên hệ vận dụng vào thực tiễn
- Kết hợp sự hỗ trợ của phương tiện trình chiếu với thuyết trình, phân tíchdiễn giải của giáo viên
5 Thời gian: 6 tiết
6 Tài liệu tham khảo
1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (Năm 1991 và bổsung phát triển 2011)
2 Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 (Văn kiện Đại hội đại biểu Đảngtoàn quốc lần thư IX, XI, Nxb CTQG, H, 2001, 2011)
Trang 23 Văn kiện Hội nghị lần thứ VII, BCHTW Khóa VII, Nxb CTQG, HN,1994.
4 Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến XI và một số Nghịquyết chuyên đề như Nghị quyết TW 2 Khóa VIII, TW 5, TW 6, TW 9 Khóa IX
5 Giáo trình KTCT Mác – Lênin, Tập II, Nxb QDND, HN, 1995, ChươngXVIII
6 Giáo trình kinh tế học chính trị Mác – Lênin, Nxb CTQG, HN, 1999,
2008, 2009, Chương XIX
7 Đặng Hữu, “Báo cáo đề dẫn kinh tế tri thức với chiến lược phát triển củaVN”, trong “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với VN”, Kỷ yếu hộithảo khoa học, Ban khoa giáo Trung ương, Bộ KH CNMT, Bộ Ngoại giao, HàNôi 21, 22?6/2000
8 Hội đồng Lý luận Trung ương, “Những vấn đề và thực tiễn mới đặt ratrong tình hình hiện nay”, Nxb CTQG, HN, 2011
9 “Một số vấn đề về kinh tế tri thức”, Thông tin chuyên đề, PhòngKHCNMT, HVCTQS, 2001
I Những vấn đề chung về kinh tế tri thức
1 Khái niệm kinh tế tri thức
* Về thuật ngữ tên gọi “Kinh tế tri thức”
- Do sự phát triển như vũ bão của cuộc CM KH - CN hiện đại vào nhữngthập niên cuối của thế kỷ XX, một hiện tượng kinh tế mới trên thế giới xuấthiện, giải thích hiện tượng đó dưới các góc độ tiếp cận khác nhau người ta dùngnhiều thuật ngữ với những tên gọi:
+ Kinh tế thông tin (Information economy)
+ Kinh tế số hóa (Digital economy)
+ Kinh tế mạng (Net work economy)
+ Kinh tế học hỏi (Learning economy)
+ Kinh tế dựa vào tri thức ( Knowledge based economy)
+ Kinh tế tri thức (Knowledge economy)
Trang 3Những thuật ngữ trên là các cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu kinh tếtri thức và thuật ngữ kinh tế tri thức được dùng phổ biến hơn.
* Sự xuất hiện của thuật ngữ kinh tế tri thức
- Ngay từ rất sớm KTTT ở dạng phôi thai đã được đề cập tới, năm 1962nhà khoa học Mỹ là Fritz Marklup cho ra đời cuốn sách “Sản xuất và phân phốikiến thức ở Mỹ” Lần đầu tiên ông đưa ra khái niệm “Công nghiệp tri thức”.Theo đó CN tri thức là công nghiệp sản xuất, phân phối tri thức, dưới các dạng:+ Sản phẩm nghiên cứu khoa học;
+ Giáo dục, đào tạo;
+ Thông tin;
Ông còn nêu khái niệm “Ngành trí tuệ” và đem các vấn đề như nghiên cứu,
mở mang giáo dục, thông tin môi giới, thiết bị và dịch vụ tin học vào nội dungcủa ngành trí tuệ
- Sau đó, khái niệm ngành tin học và các thuật ngữ: Kinh tế thông tin, kinh
tế học hỏi, kinh tế số hóa lần lượt ra đời Người đưa ra thuật ngữ này làĐainien Ben (Đaniel Bell), sau được nhiều tác giả bổ sung, làm phong phú thêm
- Nhưng theo từ điểm mạng Wikipedia, KTTT lần đầu tiên được đưa ra là
do nhà kinh tế học Hoa Kỳ, giải thưởng Nobel, P.F.Drucker viết trong cuốn sáchcủa mình vào năm 1969
Cùng với việc xuất hiện nền kinh tế mới phủ định nền kinh tế công nghiệpTBCN, nhà tương lai học Alvin Toffler đã gọi đó là “Làn sóng thứ ba” tràn lênlàn sóng thứ hai là “kinh tế công nghiệp cổ điển” (Alvin Tofler chia sự phát triển
xã hội loài người thành: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, vănminh trí tuệ)
- Ban đầu thường có sự hiểu nhầm về kinh tế tri thức, vì cho rằng tri thức là
vô hình nên kinh tế tri thức chỉ là cái gì đó ảo tưởng, không thiết thực với cuộcsống thực tế như danh từ “kinh tế” vốn có
- Thật ra trong kinh tế tri thức người ta có nhiều hơn, phong phú hơn, mới
lạ hơn các SP vật chất hữu hình, rất cần cho mọi mặt của cuộc sống
Trang 4- Xét cho cùng tri thức là sản phẩm cuả LĐ, người ta thường tùy theo nhucầu và năng lực nhận thức mà đưa ra những cách phân loại tri thức khác nhau.Ví
dụ, Đưa chữ “W” của tiếng Anh phân ra các loại tri thức về biết:
+ Biết cái gì? Know what? - Tri thức về sự vật;
+ Biết vì sao? Know why? - Tri thức về nguyên nhân;
+ Biết làm thế nào? Know how? - Tri thức về hành động;
+ Biết ai? Know who? - Tri thức về nhân thân;
+ Biết khi nào? Know when? - Tri thức về thời gian;
+ Biết nơi nào? Know where? Tri thức về vị trí
* Quan niệm chung của thế giới về kinh tế tri thức
- Năm 1990, thuật ngữ kinh tế tri thức được xuất hiện đầu tiên trong một
báo cáo của một tổ chức quốc tế lớn là Liên Hợp Quốc
- Năm 1996, trong báo cáo “Kinh tế dựa vào tri thức”, các nước thuộc Tổ
chức Hợp tác và Phát triển OECD đưa ra định nghĩa: “KTTT là những nền kinh
tế dựa trực tiếp vào việc SX, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin”.
- Năm 2000, các nước APEC đã có sự điều chỉnh lại và đưa ra khái niệm:
“KTTT là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo ra việc làm trong tất cả các ngành kinh tế”.
- Viện Khoa học xã hội TQ đưa ra định nghĩa:
“Nền kinh tế dựa vào tri thức là một loại nền kinh tế được hình thành trên
cơ sở SX, phân phối, áp dụng và sử dụng tri thức và thông tin”.
- Một số học giả đưa ra quan niệm:
Giá trị (GT) của mỗi sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được tính bằng tiền,gồm giá trị của hai thành tố:
+ Giá trị của vật liệu tạo ra sản phẩm (GTvl);
+ Giá trị công sức con người tạo ra sản phẩm (GTcs); giá trị công sức lạibao gồm:
Giá trị lao động chân tay (GTct) và giá trị của công lao động trí tuệ (GTtt)
Trang 5- Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức
Có hai cách:
+ Thứ nhất: Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với khoa học và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới (có người còn đề cập thêm công nghệ không gian vũ trụ) Cách hiểu này
khá phổ biến ở Mỹ cách đây khoảng 7, 8 năm thấy được qua các tài liệu củaThượng nghị viện Mỹ (2000) Các nước như Ấn Độ, Philippin cũng đã có lúcchấp nhận cách hiểu này
+ Thứ hai: Cách tiếp cận ngành: Tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai
bộ phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ.
Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành được gọi
là các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD) Hai khu vực kinh tế này hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau Nền kinh tế
tri thức phát triển tới trình độ càng cao khi các ngành kinh tế dựa trên tri thứcchiếm phần lớn trong nền kinh tế Có hai mốc cho thấy nền kinh tế đã chuyểnsang giai đoạn kinh tế tri thức:
Một là, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và nông nghiệp lên đến điểm cực
Trang 6đại và ngày càng giảm đi Điểm mốc này đã xuất hiện ở các nước tiên tiến nhất cáchđây 30 năm
Hai là, Tỷ trọng của các ngành dựa trên tri thức >70% (theo phân loại của
OECD 1996) Các ngành kinh tế tri thức đóng góp vào GDP ở Mỹ là 55%, ở Nhật là53%, Canada là 51%, Singapo là 57,3%
bộ khoa học - kỹ thuật; nền kinh tế toàn cầu hoá và cạnh tranh quyết liệt; và các biến đ ổi v ă n hoá, chính trị, t ư t ư ởng của chủ nghĩa t ư bản hiện đ ại
Cách này cũng có hai nhánh tiếp cận tương tự nhau:
+ Thứ nhất, từ khía cạnh lực lượng sản xuất: Kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất Cách hiểu này nhấn mạnh kinh tế tri thức chỉ là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, không liên quan tới một hình thái kinh tế - xã hội mới (xem các tài liệu của Đặng Hữu 2001 và Nguyễn
Cảnh Hồ, 2000)
+ Thứ hai, từ khía cạnh sự đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế.
Cách quan niệm này diễn giải định nghĩa của OECD đã nêu ở trên theo đúng
nghĩa đen của nó, tức là tri thức hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức, đã vượt qua vốn và lao động để trở thành nguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải trong nền kinh tế tri thức Trong đó tri
thức là một khái niệm rất rộng bao trùm mọi sự hiểu biết của con người
- Cách tiếp cận bao trùm
Theo đó, người ta cho rằng, kinh tế tri thức thực chất là một loại môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội mới có những đặc tính phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó,
Trang 7tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế và hàm lượng tri thức được nâng cao trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội Do vậy, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức, không chỉ đơn thuần là phát triển khoa học - công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo thể hiện trong cách nghĩ, cách làm của mọi tác nhân kinh tế, xã hội để tạo thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi tri thức, mọi loại hiểu biết của loài người, cũng như xây dựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh.
Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung Cách tiếp cận này ngày càng
dành được nhiều sự ủng hộ (xem các tài liệu của Ngân hàng thế giới 1998, BộCông nghiệp, Giáo dục và Tài nguyên Australia, 1999, 2000)
* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức
Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước vấn đề kinh tế tri thức
đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, các nhàquản lý đưa bàn luận khá nhiều Kinh tế tri thức được nhìn nhận dưới nhiều góc
độ khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau
Trong nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến không ít cácđịnh nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các văn bản chính thứccủa Đảng và Nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh tế tri
thức Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì
"Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống" Mặc dù vậy, trong số các định nghĩa về kinh tế tri thức
được bàn đến ở Việt Nam, dường như có một định nghĩa nổi lên và được nhiềungười công nhận - là định nghĩa của OECD và APEC nêu ra năm 2000, cho
rằng: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc
Trang 8làm trong tất cả các ngành kinh tế" Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản
xuất của thế kỷ 21 Kinh tế tri thức là động lực chủ yếu nhất chứ không phải làchỗ dựa trực tiếp Điều này nhằm tránh tư tưởng cực đoan trước đây chỉ tậptrung phát triển các ngành công nghệ cao dựa nhiều vào tri thức
Các định nghĩa trên đều chỉ ra được vấn đề cơ bản của KTTT là:
+ Dựa vào tri thức để phát triển
+ Công nghệ là động lực cho phát triển kinh tế
- Thống nhất nhận thức khi nghiên cứu về KTTT
+ KTTT là phạm trù kinh tế tổng hợp, phản ánh trình độ phát triển cao củaLLSX, ở đó các hoạt động kinh tế không chỉ dựa vào tri thức mà còn khôngngừng sáng tạo, sử dụng tối ưu tri thức và công nghệ mới
+ Trong KTTT, tri thức ngày càng xâm nhập và gia tăng trong mỗi SPhàng hóa, DV, trong mỗi ngành, lĩnh vực và trong toàn bộ nền kinh tế
+ KTTT không phải là một PTSX, một HTKT - XH mới mà là kết quả củaquá trình xã hội hóa LĐ và SX Nó đại biểu cho giai đoạn phát triển mới củaLLSX xã hội và của nền kinh tế thị trường
+ KTTT tạo ra những thay đổi cơ bản, sâu sắc không chỉ đối với LLSX,QHSX mà còn tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt đời sống XH, cải thiện đờisống, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi QG, dân tộc, nhưng mỗi nước lại
có chế độ CT khác nhau nên mục đích và kết quả của KTTT cũng khác nhau
+ KTTT ra đời trong nòng CNTB hiện đại, nhưng sự phát triển của nó lại
bị giới hạn bởi chính PTSX TBCN, đòi hỏi phải có một QHSX mới, một HT KT
- XH mới thích ứng với nó
- Tiêu chí để một ngành, một quốc gia được gọi là KTTT
Tri thức phải chiếm tỷ lệ áp đảo
+ Một ngành được gọi là ngành KTTT khi giá trị do tri thức tạo ra chiến
tỷ lệ áp đảo, khoảng 70% tổng giá trị sản xuất của ngành đó
Trang 9+ Một nền kinh tế được coi là đã phát triển đến trình độ KTTT khi tổnggiá trị sản phẩm của các ngành KTTT chiếm khoảng 70% tổng SP quốc nộiGDP.
+ Trên thế giới hiện nay, các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triểnOECD, các ngành KTTT đã đóng góp trên 50% GDP; Mỹ 55,3%, Nhật 53%,Canađa 51%
2 Đặc trưng của kinh tế tri thức
Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.
Trong kinh tế tri thức, của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dựa vào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động cơ bắp, tuy nhiên vốn và các nguồn lực khác vẫn là những yếu tố rất cơ bản, không thể xem nhẹ Kinh tế tri thức được đặc trưng bởi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức: đó là các ngành
công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao, các ngành dịch vụdựa vào xử lý thông tin, tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát
triển công nghệ và ứng dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm Do vậy, tổng giá trị sản phẩm tăng nhanh, nhưng tổng tiêu hao nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư hầu như không tăng mấy; số lượng người lao động trong khu vực sản xuất hàng hoá
có xu hướng ngày càng ít đi, trong khi số người làm việc ở các văn phòng hiện đại đa chức năng và làm công việc xử lý thông tin chiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu tổng thể lực lượng lao động xã hội.
Chúng ta thấy, trong kinh tế tri thức, con người là vốn quý nhất, sáng tạo
ra tri thức Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất; sáng tạo, đổi mới là động
lực thúc đẩy sản xuất phát triển Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọnghàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng; công nghệ thông tin được
ứng dụng một cách rộng rãi Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý, truyền bá tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát
triển bền vững
Trang 10Tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, nhưng lại rất khác biệt với các yếu
tố khác của sản xuất (vốn, tài nguyên ) ở những đặc đi ểm cơ bản sau:
- Tri thức không bị hao mòn, giá trị của thông tin và tri thức ngày một tăng
- Khi chuyển giao tri thức cho người khác, người sở hữu tri thức vẫn cònnguyên vốn tri thức của mình
- Khi tri thức chuyển giao cho nhiều người thì vốn tri thức được nhân lêngấp bội với chi phí không đáng kể Do đó, khi nền kinh tế dựa chủ yếu vào trithức thì nền kinh tế sẽ là nền kinh tế dồi dào, dư dật
- Mặt khác, tiếp nhận vốn tri thức lại không dễ như tiếp nhận đồng vốn.Việc chuyển giao, tiếp nhận phải thông qua GD-ĐT GD-ĐT do đó trở thànhngành sản xuất vốn tri thức - ngành sản xuất cơ bản nhất, quan trọng nhất trongnền kinh tế tri thức
- Tri thức, như một tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế thị trườnglại do người lao động sở hữu, không tách khỏi người lao động Như vậy, khi nềnkinh tế dựa chủ yếu vào tri thức thì người lao động - là lao động tri thức - phảithực sự được làm chủ, hợp tác nhau bình đẳng trong tổ chức kinh doanh, tạo ra
và phân phối của cải
- Khi tri thức trở thành vốn chủ yếu của sản xuất thì vấn đề quản lý trithức trở thành yếu tố cần thiết nhất Trong nền kinh tế công nghiệp, khâu quantrọng là quản lý năng suất, rồi đến quản lý chất lượng thì ngày nay chuyển sangquản lý thông tin và quản lý tri thức Quản lý tri thức là quản lý việc tạo ra,truyền tải và sử dụng tri thức sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Hai là, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh.
Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là bằng cách tối ưu hoá, tức là hoàn thiện cái đã có để giảm chi phí sản xuất; còn trong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chủ yếu là sự sáng tạo
ra cái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới tiêu dùng nhanh hơn Kinh tế
phát triển là do sáng tạo, không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm
Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảy sinh phát triển, chín
Trang 11muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mới của các doanh nghiệp
và của toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh Do đó, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rất nhanh Làm việc và kinh doanh theo tốc độ của tư duy Trong kinh
tế tri thức, sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của phát triển
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sáng chế,công nghệ mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học hay doanh nghiệpsáng tạo tăng lên nhanh chóng; số doanh nghiệp không đổi mới bị phá sản rấtnhiều; số chỗ làm việc cũ mất đi nhiều, nhưng số chỗ làm việc mới được tạo ra
còn nhiều hơn và tổng số chỗ làm việc không ngừng tăng lên Như thế nền kinh
tế tri thức là nền kinh tế có rất nhiều biến động và có cả nhiều rủi ro Có người
gọi kinh tế tri thức là nền “kinh tế rủi ro”, “kinh tế mạo hiểm” (dám chấp nhận
mạo hiểm đầu tư vào sản phẩm mới, lĩnh vực mới để phát triển) Kinh tế tri thức không phải chỉ có mầu hồng Tình hình không phải chỉ sôi động một chiều có những cơ hội phất lên hiếm có, mà cũng lắm bước thăng trầm ẩn chứa không ít rủi ro bất trắc Đây không phải là thứ trận địa cứ ào ào xông lên xung phong và chiếm lĩnh được, mà cần có chiến lược thông minh, chuẩn bị kỹ và tổ chức tốt.
Ba là, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất.
Nhờ mạng thông tin mà tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọi người; gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau; rút ngắn thời gian, mở rộng không gian; các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên sôi động, nhanh nhạy, sản xuất gắn chặt với thị trường; tổ chức quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triển dân chủ công khai, minh bạch Mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế Trong nền kinh tế tri thức, thông tin dồn dập, hiệu ứng dây chuyền, hiệu ứng phụ, hiệu ứng cộng năng (như internet) ngày càng tác động mạnh Có xã hội thông tin mới có kinh tế tri thức Nhiều người
gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng, để nhấn mạnh rằng chưa bao giờ thế giớitràn ngập những tổ chức mạng như bây giờ, cho nên cách nghĩ, cách quản lý,cách làm việc theo một hệ thống có trên có dưới, tôn ti trật tự theo kiểu phongkiến hay tư bản thời công nghiệp hiện đại cũng đã lỗi thời
Trang 12Bốn là, Kinh tế tri thức là nền kinh tế học tập (Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức).
Mọi người có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời, không ngừng phát triển tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với sự phát triển, thúc đẩy đổi mới Trong thời đại bùng nổ về thông tin, sự phát triển như
vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải
không ngừng học tập, cập nhật kiến thức, sáng tạo tri thức mới, công nghệ mới,đồng thời phải chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sự đổi
mới Mặt khác, con người phải học và tự học suốt đời mới thích ứng linh hoạt với sự biến đổi hết sức mau lẹ của của môi trường và điều kiện làm việc mới Vì
vậy, xã hội học tập trở thành một đặc trưng, một yếu tố quan trọng của nền kinh
tế tri thức
Năm là, kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế giới và quá trình toàn cầu hoá là những quá trình đi liền với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau phát triển Sự sản sinh ra, truyền bá, sử dụng tri thức không thể chỉ nằm trong biên giới quốc gia Kinh tế tri thức ra đời trong điều kiện nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá; bất cứ ngành sản xuất, dịch vụ nào cũng đều dựa
vào nguồn cung ứng từ nhiều nước và được tiêu thụ trên toàn thế giới Người ta
thường gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức, tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Sáu là, kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững.
Thuật ngữ Phát triển bền vững do Bà Brundland đưa ra (người Na uy làm việc trong Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển (WCED): kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Nam Phi cho
rằng: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý,
Trang 13hài hũa giữa ba mặt phát triển là phỏt triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trờng.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là: sự tăng trởng kinh tế ổn
định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao đợc chất lợng môi trờng sống 1
Trong kinh tế tri thức, cỏc cụng nghệ mới được sử dụng phổ biến, nhất là cỏccụng nghệ sạch, tiờu hao ớt nguyờn liệu, năng lượng, là cỏi bảo vệ, cải thiện mụitrường, cho nờn kinh tế tri thức ớt gõy hại cho mụi trường, bảo vệ được thiờn nhiờn.Nhờ trỡnh độ dõn trớ cao, nhờ sử dụng một cỏch phổ biến cỏc tri thức mới trong mọihoạt động, từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đến cỏc hoạt động sản xuất kinhdoanh, tổ chức quản lý, đời sống hàng ngày, mọi người luụn cú ý thức gỡn giữ, bảo
vệ cỏc giỏ trị của thiờn nhiờn, của truyền thống văn húa, biết kết hợp hài hũa lợi ớchtrước mắt và lợi ớch lõu dài, bảo đảm được yờu cầu phỏt triển bền vững
Cú thể tham khảo sự so sỏnh đặc trưng của kinh tế nụng nghiệp, kinh tế cụngnghiệp và kinh tế tri thức ở bảng dưới đõy:
Đặc trưng ba loại kinh tế
Yếu tố sản xuất
cơ bản
Kinh tếnụng nghiệp
Kinh tếcụng nghiệp
Kinh tếtri thứcYếu tố cơ bản - Đất đai, nước
- Lao động thủ cụng
- Tài nguyờn, tưbản (vốn)
- Lao động làmthuờ
- Tri thức, thụng tin
Trang 14Đầu tư cho GD Dưới 1% GDP 2 - 4% GDP Trên 6% GDPTrình độ VH
Kinh tếcông nghiệp
Kinh tế tri thứcCác quá trình
SX chủ yếu
Trồng trọtChăn nuôi
Chế tạoGia công
Thao tác, điều khiển,
KS xử lý TTĐầu ra của SX Lương thực Của cải, HH tiêu
dùng, các DN, nền
CN
Sản phẩm đáp ứng N/Cngày càng cao của C/S,
yếu
Súc vật, cơ giớihóa đơn giản
Cơ giới, hóa họchóa, ĐK hóa,chuyên môn hóa
CNC, điện tử hóa, tinhọc hóa, xa lộ TT, thực
Kinh tếcông nghiệp
Kinh tế tri thứcTính quan trọng của GD
Trang 153 Chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế tri thức
Sự nghiên cứu cho thấy, các nhà kinh điển Mác - Lênin chưa đề cập trựctiếp đến kinh tế tri thức, nhưng đã có nhận thức và đánh giá rất cao vai trò củanhân tố con người cùng với tri thức của họ với sự phát triển kinh tế - xã hội
* C Mác và Ph.Ăng ghen.
- C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: Chính con người bằng bàntay, khối óc của mình, bằng “sức mạnh đã vật hóa của tri thức” đã tạo ra các sảnphẩm vật chất và tinh thần cho xã hội chứ không phải là thiên nhiên ban tặng + Khi bàn về vai trò của tư bản cố định trong tham gian vào quá trình tạo
ra giá trị và theo đó là giá trị thặng dư cho nhà tư bản, Mác viết: “Thiên nhiênkhông chế tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo Tất cả nhữngcái đó đều là sản phẩm lao động của con người, là vật liệu tự nhiên đã đượcchuyển hóa thành những cơ quan của ý chí con người chế ngự giới tự nhiên hoặccủa hoạt động con người trong giới tự nhiên Tất cả những cái đó đều là những
cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con người tạo ra, đều có sức mạnh đãvật hóa của tri thức Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức
xã hội hóa phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuấttrực tiếp” ( Mác, Ăngghen, Toàn tập, tập 46, PII, tr 372)
Trang 16+ Các ông còn cho rằng lực lượng sản xuất xã hội bao gồm cả yếu tố vậtchất và yếu tố tinh thần, trước hết là tri thức.
Ăngghen viết: “Có hai yếu tố sản xuất hoạt động: giới tự nhiên và conngười; con người đến lượt mình, lại hoạt động với những thuộc tính thể chất vàtinh thần của nó” (Mác, Ăngghen, Toàn tập, tập 1, tr 762)
Mác cũng khẳng định: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo racủa cải thực tế trở lên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lượng laođộng đã hao phí hơn , mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung củakhoa học vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học
ấy vào sản xuất” (Mác, Ăngghen, Toàn tập, tập 46, PII, trang 368)
* V.I Lênin
- Ông đã nhận thức ý nghĩa quyết định của tri thức với sự phát triển kinh tế
- xã hội, đưa nước Nga nông nghiệp lạc hậu thành một nước Nga phát triển Ôngyêu cầu mọi người dân “học nữa, học mãi”
- Trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quền Xô viết” viếttháng 4/1918, Ông cho rằng: “nâng cao năng suất lao động là điều kiện vật chấtthứ hai” của chính quyền Xô viết phải lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng CM thựchiện, để cho xã hội mới chiến thắng xã hội cũ Do đó cần có:
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền đại công nghiệp
+ Để có năng suất lao động điều kiện trước hết là “nâng cao trình độ họcvấn và văn hóa của quần chúng nhân dân”
+ Người yêu cầu phải sử dụng các chuyên gia tư sản để tiếp thu khoa học
kỹ thuật, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến
- Trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại” viết 6/1919 Lênin khẳng định rằng:
“Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới thờinông nô Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa
xã hội tạo ra một năng suất lao động mới cao hơn nhiều” (Lênin, Toàn tập, tập
39, tr 25)
Trang 17- Trong “Chính sách kinh tế mới”, ở tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã”,ông yêu cầu phải xây dựng những xã viên hợp tác xã văn minh, trước hết, họphải có học thức; họ phải được giáo dục và đào tạo để có tri thức, hiểu biết, Ôngcho rằng: “Tất cả sự khôn ngoan mà chúng ta cần lúc này để chuyển sang chủnghĩa xã hội là ở chỗ đó” và “ Cần phải có cả một cuộc cách mạng, cả một thời
kỳ phát triển văn hóa của toàn thể quần chúng nhân dân” (Lênin, Toàn tập, tập
45, M, 1978, tr 424)
* Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Để đất nước phát triển, ngay sau khi CM tháng Tám thành công, Bác yêucầu phải diệt hai loại giặc là: giặc đói và giặc dốt
- Bác cho rằng: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu
- Trong thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiêncủa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 9/1945 Bác đã viết: “Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang đểsánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ phần lớn ởcông học tập của các em”
4 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về kinh tế tri thức
* Trước đây
Tuy chưa trực tiếp đề cập đến kinh tế tri thức, nhưng ngay từ Đại hội Đảng
III và IV Đảng ta đã xác định: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng
tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt” (Văn
Trang 18+ Trong thế kỷ XXI: “Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt KTTT có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển LLSX”.
+ Nước ta thực hiện quá trình CNH,HĐH khi toàn thế giới KTTT đã pháttriển Chúng ta có thể và cần thiết không qua các bước tuần tự từ kinh tế nôngnghiêp lên kinh tế CN rồi mới phát triển KTTT Đó là lợi thế của các nước đisau, tuyệt nhiên không phải là nóng vội, duy ý chí
“Con đường CNH,HĐH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian vừa
có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển KTTT”(VK IX , Tr 25)
* Đại hội X và XI
- Đại hội X chỉ ra đường lối CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là:
“Đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức”
- Đại hội XI tiếp tục khẳng định lại đường lối trên Cương lĩnh xây dựngđất nước trong TKQĐ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011), đẩy mạnhCNH,HĐH gắn với phát triển KTTT là phương hướng đầu tiên trong támphương hướng xây dựng đất nước:
“Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”(VK XI, tr72).
II Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
1 Thực tiễn hành động về phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
* Những việc đã làm được
Đánh giá theo những đặc trưng của kinh tế tri thức, trong hơn 20 năm đổimới vừa qua, Việt nam đã đạt được những kết quả, thể hiện chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo chiều hướng tiến bộ.
Liên tục trong nhiều năm Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn
Trang 19định, đạt trung bình khoảng hơn 8% hàng năm trong giai đoạn 1990 - 2000 và từtrên 6% đến hơn 7% trong giai đoạn từ 2001 đến nay GDP thực tế trên đầu
người đạt trung bình hàng năm khoảng 5,9% trong giai đoạn 1990 - 2002 Tăng trưởng cao và ổn định đã có tác động lan toả tích cực đến các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội.
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm qua đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức ngày càng tăng Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn và tỷ trong công nghiệp, dịch vụ tăng lên tương ứng (bảng1) Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển
dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng công nghiệp trong cơcấu GDP từ 41% năm 2005 tăng lên 41,1% năm 2010; khu vực dịch vụ từ 38%năm 2005 tăng lên 38,5% năm 2010; tương tự, khu vực nông nghiệp từ 21%giản xuống còn 20,6% Một số lĩnh vực như công nghiệp th«ng tin, công nghiệpcông nghệ cao, các lĩnh vực dịch vụ dựa vào sử lý thông tin, tài chính ngânhàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ đã dần dần hình thành
và có bước phát triển đáng kể Những lĩnh vực được chờ đợi này dần trở thànhđầu tàu thúc đẩy đổi mới và phát triển của toàn bộ nền kinh tế
- Thứ hai, xây dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển các thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân
Trang 20Việt Nam đó đạt được những kết quả quan trọng trong việc xõy dựng hệthống phỏp luật kinh tế, cải cỏch tổ chức và hoạt động bộ mỏy nhà nước, tăngcường năng lực, tớnh năng động, tinh thần trỏch nhiệm của đội ngũ, cụng chức,chỳ trọng hỗ trợ cỏc doanh nghiệp mới và tạo cuộc sống tốt hơn cho người dõn;
cơ cấu lao động thay đổi cựng với sự gia tăng từng bước của lực lượng lao động
xử lý thụng tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm, làm văn phũng Đõy chớnh là
sự thể hiện quan điểm xõy dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa bảo đảm cho cỏc quan hệ sản xuất khụng ngừng đổi mới và hoàn thiện (trong đú kinh tế tư nhõn được xỏc định là cú vai trũ quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế)
Đặc biệt, trong những năm gần đõy, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp,
khu vực kinh tế tư nhõn đó cú bước phỏt triển mạnh Trong giai đoạn 2000
-2003, trung bỡnh hàng năm cú khoảng 20.000 doanh nghiệp dõn doanh thành lập mới, với số vốn đăng ký đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động Cỏc doanh nghiệp dõn doanh đó tham gia vào hầu hết
cỏc ngành, cỏc lĩnh vực của nền kinh tế, với tổ chức sản xuất kinh doanh linhhoạt, nỗ lực cải tiến cụng nghệ, tăng năng suất lao động, thõm nhập thị trường
Tỡnh hỡnh đú càng đũi hỏi phỏt triển thị trường hàng hoỏ, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - cụng nghệ gúp phần làm tăng qui mụ thị trường hoỏ nền kinh tế nước ta.
- Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Cỏc quan hệ kinh tế song phương, đa phương của Việt nam khụng ngừngđược mở rộng thụng qua việc ký kết và tham gia vào cỏc hiệp định và diễn đànnhư: ký hiệp định khung với Liờn minh Chõu Âu EU (1992); tham gia Khu vựcThương mại Tự do ASEAN (1994); tham gia Diễn đàn Hợp tỏc Kinh tế Chõu Á
- Thỏi Bỡnh Dương APEC (11/1998); ký hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ (2000) và chớnh thức gia nhập WTO (2007) Đó là kết quả thực hiện NQ số
07 của BCT và Chơng trình hành động thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế của CPtheo QĐ số 37/2002/QĐ TTg
Trang 21Đến nay, đã thiết lập được mối quan hệ bỡnh thường với 167 nước, quan
hệ thơng mại với 160 nớc, thu hút đầu t trực tiếp của các Cty, tập đoàn thuộc 45 nớc và vùng lãnh thổ; tranh thủ viện trợ phát triển của 45 nớc và định chế tài chớnh quốc tế Điều này đó gúp phần đỏng kể cho phỏt triển kinh tế như: tiếp cận một khối lượng lớn vốn FDI (42 tỷ đô, tạo việc làm cho 69 vạn Lđ), ODA (gần 20 tỷ đô); tiếp nhận chuyển giao cụng nghệ; tăng năng suất lao động; cú nguồn vốn để xoỏ đúi giảm nghốo; mở rộng thị trường tiờu thụ (16.200DN trực tiếp XK), tăng kim ngạch xuất khẩu (đến 2003: 23 tỷ đô, vợt trên 50% GDP; năm 2011, đạt khoảng 94 tỷ đụ la), tăng vị thế của nước ta trờn trường quốc tế Nước ta đang từng bước phỏt triển một mắt khõu trong mạng lưới sản xuất -
kinh doanh toàn cầu, trong đú cú những hoạt động liờn quan đến việc sản sinh
và truyền bỏ kinh tế tri thức
- Thứ tư, từng bước hỡnh thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho phỏt triển kinh tế tri thức.
Mạng thụng tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất của xó hội và kinh tế tri thức Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thực hiện
Chương trỡnh quốc gia về cụng nghệ thụng tin từ năm 1995 và chiến lược đẩymạnh phỏt triển lĩnh vực viễn thụng, mạng thông tin ở nước ta đó được mở rộng
và phỏt triển nhanh chúng, viễn thụng được đỏnh giỏ là một trong những lĩnh vực cú tốc độ phỏt triển nhanh nhất của nền kinh tế nước ta hiện nay Hiện nay mạng lưới thụng tin của nền kinh tế đó được tự động hoỏ hoàn toàn, với 100% cỏc hệ thống chuyển mạch số và truyền dẫn số trải rộng trờn toàn quốc và kết nối với quốc tế.
Một loạt cỏc dịch vụ bưu chớnh, viễn thụng và Internet đó được tạo lập và
mở rộng để đỏp ứng nhu cầu của khỏch hàng, phục vụ hoạt động sản xuất kinhdoanh, quản lý nhà nước, giỏo dục, y tế, nghiờn cứu, giải trớ, giao tiếp
Thực tiễn, Chỳng ta đó cú những nhõn tố mới, mụ hỡnh mới phỏt triển dựa vào tri thức: Tổng Cụng ty bưu chớnh viễn thụng; những cỏnh đồng 600 triệu ở xó Đoàn Thượng, Gia Lộc, Hải Dương; Cụng ty hoa HASFARM và cỏc
Trang 22cơ sở khác ở Đà Lạt; Ứng dụng công nghệ mới trong ngành thủy sản, công nghiệp đóng tàu biển; ở Viện máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI); ở một số trường đại học lớn, ở Công ty phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ (APP), ở công ty cổ phần TRAPHACO
* Những việc có thể làm được nhưng chưa làm được
§ánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trong nhữngnăm qua, có những việc chúng ta có thể làm được và làm tốt hơn, nhưng chưalàm được thể hiện chủ yếu là:
Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện nhiều Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nền kinh
tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng lực quản lý điều hành của
bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kể chi phí giao dịch và chi phí đÇu vào sản xuất kinh doanh Việc tiếp tục theo đuổi phương thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh tĩnh, tăng vốn (vốn đầu tư đóng góp vào tăng trưởng là 64%, năng suất tổng hợp chỉ 19%) trong nhiều năm qua khó có
thể bảo đảm được mức tăng trưởng cao trong dài hạn, nhất là trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, nền kinh tế và thể chế thị trường còn yếu, thiếu sót và méo mó.
Hệ thống kinh tế thị trường ở nước ta, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa theo kịp diễn biến thực tế của hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch và nhất là năng lực thực thi pháp luật yếu Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng lực hỗ trợ của nền hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí trong nhiều trường hợp các thủ tục hành chính rườm rà, lạc hậu còn gây cản trở cho công cuộc phát triển Một số thị trường quan trọng chỉ mới được hình thành những đã
có nhiều méo mó như thị trường khoa học - công nghệ Đầu tư cho đổi mới côngnghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ vào khoảng 0,2 - 0,3 doanh thu (Ấn