ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THỊ NGỌC HOÀN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ CHO HỌC SINH QUA BÀI “ TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ ” TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 TẬP
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ NGỌC HOÀN
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ CHO
HỌC SINH QUA BÀI “ TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ ”
TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 TẬP 1
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn
Văn – Tiếng Việt
Mã số : 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Mai Diễn
Thái Nguyên – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Mai Diễn Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phạm Thị Ngọc Hoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
TS Hoàng Mai Diễn - người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học Trường Đại Học Sư phạm – Đại Học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Em xin chân thành cảm ơn Thư viện Trường Đại Học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Trung tâm học liệu và Thư viện Quốc Gia Hà Nội đã giúp
đỡ trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo điều kiện giúp em hoàn thành tốt luận văn này
Hà Nam, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Ngọc Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của đề tài 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9
1.1 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh 9
1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực giao tiếp khẩu ngữ 9
1.1.2 Mục tiêu của dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh 13
1.1.3 Nguyên tắc của dạy học giao tiếp khẩu ngữ 14
1.1.4 Kiểm tra, đánh giá trong dạy học giao tiếp khẩu ngữ 15
1.2 Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang 16
1.2.1 Thực trạng định hướng dạy học của một số giáo án, thiết kế bài “Trình bày một vấn đề” SGK Ngữ văn 10 tập 1 16
1.2.2 Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” tại một số trường trung học phổ thông tại tỉnh Tuyên Quang 21
Trang 6Chương 2:THIẾT KẾ DẠY HỌC BÀI “TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ”
THEO ĐỊNH HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ
CHO HỌC SINH 31
2.1 Định hướng chung về dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh 31
2.1.1 Phương pháp dạy học tích cực với việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh 31
2.1.2 Phương pháp dạy học giao tiếp với việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh 37
2.2 Thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang 42
2.3 Thuyết minh thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 47
2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị lên lớp 48
2.3.3 Giai đoạn sau khi lên lớp 55
Chương 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 57
3.1 Mục đích thực nghiệm 57
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 57
3.3 Phương pháp thực nghiệm 58
3.4 Nội dung thực nghiệm 58
3.5 Kết quả thực nghiệm 59
3.6 KẾT LUẬN CHUNG VỀ THỰC NGHIỆM 66
PHẦN KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Kĩ năng nghe, nói ngày càng quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển hiện nay Trước đây, ở các cơ quan Nhà nước, thông tin được truyền tải chủ yếu bằng văn bản, những sự việc mang tính quốc gia, quốc tế đều phải thông qua văn bản, nhưng ngày nay có thể thay thế một phần bằng lời nói thông qua điện đàm Lợi ích của phương thức này là có thể truyền đi những thông tin chính xác và biết ngay được phản ứng của đối phương để có cách xử lí kịp thời, do đó hiệu quả công việc được cải thiện rõ ràng Trước những đòi hỏi của xã hội hiện nay, con người cần phải rèn luyện, nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ để tự tin trong giao tiếp, trở thành con người năng động tự tin xử lí mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống hàng ngày Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ được đánh giá là phần nào giúp cho con người hòa nhập, biểu lộ trạng thái cảm xúc, ước mơ, niềm hi vọng hay phát biểu những ý kiến, quan điểm của mình trong học tập Vậy nên, việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh là việc làm cần thiết
1.2 Năng lực giao tiếp khẩu ngữ có quan hệ chặt chẽ với năng lực Ngữ
Văn Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện nay của Việt Nam
có đề cập vấn đề rèn luyện đồng bộ bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết như là những kĩ năng cơ bản cần bồi dưỡng cho học sinh trong dạy học Ngữ văn Các kĩ năng này đều được xác định là quan trọng và có ảnh hưởng đến nhau, tuy nhiên nhiều công trình nghiên cứu gần đây khẳng định kĩ năng nghe, nói quan trọng hơn kĩ năng đọc, viết Thực tế dạy học Ngữ văn hiện nay ở trường phổ thông cho thấy vẫn tồn tại tình trạng coi trọng việc rèn luyện kĩ năng đọc, viết mà xem nhẹ kĩ năng nghe, nói “Các kĩ năng này một mặt được phát triển trên cơ sở kiến thức lí luận, mặt khác trở thành công cụ đắc lực để chiếm lĩnh kiến thức và hình thành những kĩ năng, phẩm chất mới của người lao động
Trang 8mới” [1, tr 6] Tập trung vào các năng lực giao tiếp cơ bản nhất là nghe, nói là một trong những con đường đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay
Kĩ năng nghe, nói có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực tư duy Lời nói
là một trong những cơ sở để rèn luyện tư duy Việc rèn luyện kĩ năng nghe, nói không chỉ giúp học sinh phát triển ngôn ngữ mà còn khơi dậy tư duy tích cực, ứng biến nhanh nhẹn và hiệu quả trong giao tiếp Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng sự phát triển trí tuệ của con người phần lớn phụ thuộc vào năng lực ngôn ngữ của người đó Vì vậy, có thể khẳng định, bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ, đặc biệt là rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển trí tuệ của học sinh Kỹ năng trình bày một vấn đề là một kĩ năng giao tiếp quan trọng trong cuộc sống, để nâng cao hiệu quả của kỹ năng nghe, nói cho học sinh lớp
10 qua môn Ngữ Văn, chúng ta phải có kế hoạch cụ thể nhằm bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho các em Là lớp đầu tiên của cấp học trung học phổ thông mang tính định hướng cho tương lai, vì vậy bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trung học phổ thông nói chung và học sinh lớp 10 nói riêng là việc làm cấp thiết
1.3 Nếu như nghe và đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động biểu đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển cho học sinh Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi thấy được môn Ngữ Văn bậc trung học phổ thông đang dành nhiều thời lượng cho kỹ năng đọc, viết Chú trọng đến việc nhận diện những đặc điểm cú pháp dẫn đến việc học sinh ít được rèn luyện kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ và không nắm vững được những chức năng cơ bản của giao tiếp khẩu ngữ Về lí thuyết, năng lực nói bao gồm hai phương diện: phong cách nói hàng ngày và phong cách nói trước công chúng Hiện nay, trọng tâm của chương trình dạy học nói tập trung vào phương diện nói trước công chúng như: diễn
Trang 9thuyết, biện luận, báo cáo, tóm tắt… nhưng nhìn từ góc độ ứng dụng, nhu cầu rèn luyện phong cách giao tiếp hàng ngày cũng cần được quan tâm Học sinh còn diễn đạt lúng túng, không diễn đạt đúng hoặc không diễn đạt hết những điều cần nói, cách lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu tự tin trong giao tiếp Tình trạng này còn phổ biến ở các cấp học Thêm vào đó, trong xã hội phát triển nhanh chóng hiện nay, phương thức sử dụng ngôn ngữ luôn không ngừng thay đổi Giáo viên đứng trước yêu cầu cập nhật thường xuyên, phát huy vai trò định hướng, tạo điều kiện cho học sinh được thực hành đều đặn để ngôn ngữ giao tiếp của các em vừa hiện đại vừa chuẩn mực Rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ tốt sẽ giúp người học có được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống xã hội
Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc bộ, là địa bàn có trên 64% người dân tộc thiểu số sinh sống, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt và bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trung học phổ thông là một việc tương đối khó khăn vì vốn tiếng Việt của học sinh không đồng đều
Chính vì những lí do trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả trong việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp cho học sinh chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang”
2 Lịch sử vấn đề
Giao tiếp khẩu ngữ là một lĩnh vực quan trọng và phổ biến trong dạy học cũng như trong cuộc sống Lênin nhận định: “Hội thoại là một hoạt động rất thường xuyên, rất quen thuộc trong đời sống của mỗi con người, từ khi bập bẹ tập nói cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay Nhu cầu được nói với người khác là một nhu cầu rất căn bản, rất đặc trưng của đời sống con người Vì
Trang 10trong xã hội con người luôn luôn có nhu cầu giao tiếp, mà trong giao tiếp, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất” [34, tr 90] Như vậy định hướng giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường đi theo hướng giao tiếp, nhấn mạnh dạy trong giao tiếp và dạy bằng giao tiếp là đúng đắn Ở các nước phát triển, người ta nhanh chóng nhận ra được sự bất cập của phương pháp dạy học chỉ chú trọng kĩ năng đọc, viết mà ít chú trọng kĩ năng nghe, nói Để giải quyết tình trạng bất cập đó, trong những năm 1940 của thế kỉ XX ở Mĩ các chuyên
đề về phân tích hội thoại của tác giả đáng chú ý như Harvey Sack, Schegloff, Jefferson, Atkinson, Heritage về phương pháp nghe khẩu ngữ đã bắt đầu được hình thành dựa trên những đặc điểm của ngôn ngữ học, cấu trúc và tâm lý học hành vi Theo đó phương pháp này chú trọng vào dạy học nghe nói Bài học tiếng bắt đầu bằng một đoạn hội thoại với trọng tâm kĩ năng theo trật tự dạy học nghe nói trước, sau đó mới dạy học đọc viết, để hướng tới việc hình thành các năng lực giao tiếp cho học sinh Phương pháp này đã nhanh chóng được nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi trong dạy học từ tiểu học đến đại học và trở thành xu hướng phát triển chung của nhiều nước phát triển trên thế giới
Ở Việt Nam, chúng tôi đã tìm được một số tài liệu đề cập đến vấn đề bồi
dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ như cuốn “Một số vấn đề về dạy hội thoại
cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí Ở cuốn sách này, tác giả đã cố
gắng chọn lọc những kiến thức cơ bản, tối thiểu về hội thoại dựa theo chương trình môn Tiếng Việt tiểu học ban hành năm 2006 và lựa chọn cách trình bày các kiến thức dựa trên sự phân tích một số dẫn chứng cụ thể để người mới tiếp cận lí thuyết hội thoại dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các kiểu bài tập dạy học luyện nói trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học Bên cạnh cuốn sách này, tác giả Nguyễn Trí còn một số
bài viết “Kinh nghiệm dạy học ngôn bản theo phương hướng giao tiếp ở một
số nước” đã bàn về cơ cấu hệ thống chương trình dạy ngôn ngữ viết và ngôn
ngữ nói cho học sinh tiểu học Theo tác giả, phương hướng dạy học giao tiếp
Trang 11và để giao tiếp đã làm thay đổi nhiều mặt của nội dung chương trình dạy tiếng
mẹ đẻ của một số nước trên thế giới
Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn kĩ năng giao tiếp trong
các công trình“Một số vấn đề dạy học ngôn bản nói và viết ở tiểu học theo
hướng giao tiếp” và “Rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt” Từ lý thuyết hội
thoại, tác giả đã rút ra một số vấn đề quan trọng là để học sinh làm một bài tập làm văn nói tốt, người giáo viên cần phải chú ý tới một số điểm sau: phải chuẩn bị tốt nội dung bài nói, phải tạo được nhu cầu về hội thoại cho học sinh
và phải tạo được hoàn cảnh giao tiếp tốt Tác giả còn đưa ra một số kinh nghiệm giao tiếp thường dẫn đến thành công cho mỗi người khi tham gia giao tiếp như bình tĩnh, tự tin, chú ý văn hóa trong lời nói và sử dụng ngữ điệu sao cho phù hợp với từng thời điểm nói
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến quan điểm phát triển
kĩ năng giao tiếp theo hai hướng: xu hướng tiếp cận theo tâm lý học giao tiếp
và xu hướng tâm lý học ứng dụng như: Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh Toán),“Vấn đề giao tiếp” (Nguyễn Văn Lê), “Vấn đề giao tiếp trong việc xây dựng nhà trường thân thiện” (Nguyễn
Thị Thu Hiền) Nhìn chung, các tác giả đều có cùng những nhận định: học sinh Việt Nam còn yếu về kỹ năng giao tiếp, chưa tự tin khi nói trước đông người, khi nói thiếu sức thuyết phục do phong cách thể hiện, lập luận, diễn đạt Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là vì các em chưa được học tập rèn luyện kỹ năng nói một cách bài bản Nội dung dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường vẫn chú trọng các kĩ năng đọc, viết hơn là nghe, nói…
Từ việc phân tích nguyên nhân của thực trạng, hay tổng kết kinh nghiệm dạy kĩ năng nghe, nói cho học sinh của nước ngoài, các tác giả đã đề xuất những biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh trong dạy học
Trang 12Ngữ văn, hướng tới việc nâng cao năng lực giao tiếp cho người học Tuy nhiên, những biện pháp này mới có tính chất như những gợi mở ban đầu, chưa có những đề xuất mang tính lâu dài để tập trung giải quyết vấn đề làm thế nào có thể rèn luyện hiệu quả năng lực giao tiếp cho những đối tượng học sinh khác nhau trong nhà trường phổ thông Đi sâu nghiên cứu để tìm ra các phương pháp tăng cường hiệu quả rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh phổ thông gắn với chương trình và sách giáo khoa hiện nay là vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ Do đó vấn đề này rất cần những nghiên cứu chuyên sâu để có thể giúp mọi người thấy rõ được tầm quan trọng của việc phát triển
kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
Để đem lại cái nhìn hệ thống hơn và đưa ra giải pháp bồi dưỡng, tăng cường hiệu quả rèn luyện năng lực giao tiếp khẩu trong dạy học môn Ngữ văn,
chúng tôi quyết định triển khai nghiên cứu đề tài “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp
khẩu ngữ cho học sinh qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang”
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những hoạt động bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh của giáo viên được tiến hành trong bài học “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1
- Phạm vi nghiên cứu là thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tiếp cận những cơ sở lí luận của vấn đề bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn
5.2 Khảo sát thực trạng của việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ qua bài
“Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1
Trang 135.3 Đề xuất giải pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Tổng hợp những công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu, lí luận có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề nghiên cứu của đề tài
5.2 Phương pháp khảo sát, điều tra
Tiến hành khảo sát, điều tra thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 môn Ngữ Văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Tiếp cận, nghiên cứu, phân tích đưa ra những kết luận khoa học, kết luận sư phạm từ đó đề xuất các giải pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
6 Đóng góp của đề tài
Giúp giáo viên và học sinh có thêm hiểu biết về phương pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ, nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh đặc biệt là học sinh lớp 10
Luận văn hướng tới đề xuất một số giải pháp nhằm bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ Văn
1.1 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
1.2 Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
Chương 2: Thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ học sinh
2.1 Định hướng chung về dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
2.1 Thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ học sinh lớp 10 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
2.3 Thuyết minh về thiết kế dạy học bài “Trình bày một vấn đề” theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ học sinh lớp 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm
3.4 Nội dung thực hiện
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.6 Kết luận chung về thực nghiệm
Trang 15NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
1.1 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
Mục tiêu giáo dục phổ thông của nước ta giai đoạn sau 2015 được phát
biểu như sau: Chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người
Việt Nam phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phát huy cao độ tiềm năng của bản thân; có những phẩm chất cao đẹp là: yêu gia đình, quê hương đất nước; nhân ái khoan dung; trung thực, tự trọng, chí công, vô tư; tự lập, tự tin, tự chủ; có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại; nghĩa vụ công dân Đề xuất hình thành 9 năng lực cho học sinh cụ thể là: Tự học; giải quyết vấn đề; sáng tạo; tự quản lý; giao tiếp; hợp tác; sử dụng công nghệ thông tin; sử dụng ngôn ngữ; tính toán [10, tr.11] Chủ trương chuyển
đổi cách tiếp cận chương trình giáo dục định hướng nội dung sang định hướng năng lực là một trong những đổi mới căn bản và tiến bộ Vậy thế nào là năng lực? Năng lực Ngữ văn là gì? Năng lực giao tiếp khẩu ngữ với học sinh có vai trò quan trọng như thế nào ?
1.1.1 Khái niệm năng lực và năng lực giao tiếp khẩu ngữ
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh
“competentia” “Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ
năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác
để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống (học tập và lao động)” [3, tr.3]
Trang 16Năm 1972, nhà ngôn ngữ học D.H.Hymes đã đưa ra khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ Ông cho rằng: “Con người trong hoạt động xã hội, giao tiếp
xã hội dần dần đã phát triển thành một loại năng lực sử dụng ngôn ngữ” bao gồm hai mặt: năng lực ngôn ngữ và vận dụng ngôn ngữ, đó chính là năng lực giao tiếp khẩu ngữ Theo Hymes năng lực giao tiếp khẩu ngữ bao gồm năng lực phán đoán như: nhìn chính xác khẩu hình, hiểu nghĩa của từ, đúng ngữ pháp, tính thích hợp, tính khéo léo, tính thực tế, phát âm chuẩn, mô phỏng giọng điệu
Như vậy năng lực giao tiếp khẩu ngữ là khả năng vận dụng tri thức đã học được vào cuộc sống thực tiễn, năng lực biểu đạt được tư tưởng, tình cảm,
sự hiểu biết của mình cho người khác hiểu, hoặc thông qua lời nói của mình
để thuyết phục, lôi cuốn người khác Năng lực giao tiếp khẩu ngữ bao gồm hai thành tố chính: Năng lực tổ chức bao gồm năng lực ngữ pháp, năng lực diễn ngôn và năng lực ngữ dụng bao gồm năng lực ngôn ngữ xã hội và năng lực tạo lời
Theo Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: “(1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” [37, tr.114]
Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống
Theo định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015, khái niệm năng lực được đề cập đến khá nhiều Các nhà nghiên
Trang 17cứu chia năng lực làm hai loại năng lực: năng lực chung là năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt Đây là loại năng lực mà bất kỳ một học sinh nào cũng cần được hình thành và phát triển để có thể đối mặt với những thay đổi và thách thức khi bước vào cuộc sống thực Bên cạnh đó là các năng lực chuyên biệt do các lĩnh vực, môn học cụ thể mang lại Tuy cách phát biểu về năng lực
có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất của khái niệm này
Đánh giá năng lực là đánh giá khả năng thực hiện, vận dụng; thông qua làm, qua hành động để đo đếm, xác định chứ không chỉ yêu cầu biết và hiểu Tất nhiên thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải thực hiện một cách “máy móc”,“mù quáng”
Trong công trình nghiên cứu: “Đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn
của học sinh theo hướng hình thành năng lực”của nhóm tác giả: Nguyễn Thị
Hồng Vân, Phạm Bích Đào, Nguyễn Tuyết Nga và Nguyễn Thúy Hồng (Viện nghiên cứu Giáo dục Việt Nam) về mặt lí luận có thể xác định hai cách tiếp
cận chính về đánh giá kết quả học tập: 1: Đánh giá dựa theo chuẩn kiến thức,
kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông, cách đánh giá này thiên về đánh giá tiếp nhận nội dung chương trình môn học; 2: Đánh giá dựa vào năng lực: thiên về xác định mức độ năng lực của người học so với mục tiêu đề
ra của môn học Khi đánh giá theo hướng năng lực cũng vẫn phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học để xác định các tiêu chí thể hiện năng lực của người học, tuy nhiên do năng lực mang tính tổng hợp và tích hợp nên các chuẩn kiến thức, kĩ năng cần được tổ hợp lại trong mối quan hệ nhất quán
để thể hiện được các năng lực của người học, đồng thời cần xác định những mức năng lực theo chuẩn và cao hơn chuẩn để tạo được sự phân hóa, nhằm đo được khả năng và sự tiến bộ của tất cả đối tượng người học”[3, tr.3]
Trang 18Năng lực Ngữ văn có thể hiểu là năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất là văn bản văn học Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của hai kĩ năng chính là nghe và đọc Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết viết, nói, biết tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa Đánh giá năng lực tạo lập thường dựa vào kết quả của hai kĩ năng chính là nói và viết Kĩ năng nói gắn liền với nghe như đã nêu ở trên Ngoài việc phản hồi nhanh và chính xác lại các thông tin nghe được, nói phải rõ ràng, rành mạch, lưu loát
Vì vậy, để đánh giá năng lực Ngữ văn cần phải cụ thể hóa các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thành nhiều mức độ khác nhau Theo từng cấp học, phù hợp với tâm lý lứa tuổi mà yêu cầu từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Giao tiếp là sự tiếp xúc, giao lưu giữa người với người trong xã hội, qua
đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với điều được truyền đạt Con người có thể dùng nhiều phương tiện để giao tiếp nhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
“Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực giúp học sinh có thể trình bày được, diễn đạt được những suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc của bản thân dưới hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ
cơ thể một cách phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Năng lực giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở, bày tỏ suy nghĩ cảm xúc nhưng không làm hại hay tổn thương cho người khác” [9, tr 54]
Trang 19Với tư cách là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ có thể tồn tại dưới hai dạng nói và viết Ở giao tiếp khẩu ngữ, ngôn ngữ tồn tại chủ yếu ở dạng nói Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết” [37, tr 89] Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia thành: Phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ gọt giũa Khẩu ngữ là ngôn ngữ mà con người sử dụng trong giao tiếp bằng lời nói Khẩu ngữ được hiểu là cách
sử dụng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chủ yếu của nhân loại trong các mối quan hệ tự nhiên và xã hội Trước khi chữ viết ra đời, loài người giao tiếp với nhau bằng lời nói, sau khi chữ viết ra đời, dựa trên cơ sở của lời nói loài người sáng tạo ra ngôn ngữ viết
Như vậy giao tiếp khẩu ngữ được hiểu ngắn gọn là quá trình sử dụng lời nói để trao đổi thông tin, tình cảm với mục đích giao tiếp nhất định, là sự kết hợp của tri thức lời nói và kĩ năng giao tiếp Trong giao tiếp khẩu ngữ, bên cạnh hai kĩ năng cơ bản là nghe, nói còn cần chú ý đối tượng, hoàn cảnh, mục đích, nội dung giao tiếp
1.1.2 Mục tiêu của dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
Mục đích chính của việc giảng dạy giao tiếp khẩu ngữ là để hướng dẫn học sinh tìm hiểu và nắm vững ngôn ngữ để làm công cụ tư duy và giao tiếp Nói là một phần của ngôn ngữ, nói thể hiện đầy đủ hơn các đặc điểm của các đối tượng ngôn ngữ, là ngôn ngữ trong sự tương tác giữa cá nhân và môi trường, đặc biệt là trong giao tiếp bằng lời nói với mọi người, phát triển trên
cơ sở nhận thức và tính năng thực tế giao tiếp của học sinh trong một bối cảnh thực tế
Mục tiêu dạy học giao tiếp khẩu ngữ là giúp học sinh có khả năng giao tiếp hàng ngày cơ bản trong một loạt các hoạt động giao tiếp, học cách lắng nghe, thể hiện và giao tiếp, tiến hành sơ bộ tìm hiểu thông tin liên lạc giữa các
Trang 20cá nhân và tương tác xã hội, sự phát triển của tinh thần hợp tác Thực hiện mục tiêu này, phù hợp với các khái niệm về chất lượng giáo dục Bản chất của chất lượng giáo dục là để khuyến khích học sinh để có được một sự phát triển toàn diện và nhằm mục đích phát triển giao tiếp chất lượng một cách tổng thể
ở học sinh, không chỉ là lắng nghe mà còn là kỹ năng nói phát triển hợp tác,
và sức khoẻ tinh thần của học sinh, hành vi thích hợp, khả năng thích ứng và
sự hình thành của ý thức Vì vậy, cải thiện năng lực giao tiếp của học sinh có
ý nghĩa thiết thực trong dạy học Ngữ văn
1.1.3 Nguyên tắc của dạy học giao tiếp khẩu ngữ
Nguyên tắc thứ nhất là dạy học khẩu ngữ phải chú ý đến sự chuyển đổi giữa ngôn ngữ và lời nói Bởi vì tư duy và sự biểu đạt ý nghĩ gắn liền với sự lựa chọn từ ngữ và mẫu câu Do đó, nhiệm vụ của bài học về giao tiếp khẩu ngữ là thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ sang lời nói Người dạy học giao tiếp khẩu ngữ trước tiên phải chú trọng đến nội dung luyện tập, những chủ điểm lựa chọn, không chỉ nghĩ tới tính thực dụng, tính giao tiếp mà còn phải thú vị, hấp dẫn
Nguyên tắc thứ hai là dạy học khẩu ngữ phải chú trọng và quán triệt quy tắc hợp tác Mục đích của dạy học khẩu ngữ là rèn luyện và nâng cao năng lực biểu đạt khẩu ngữ cho học sinh Nếu như cá nhân độc thoại chỉ cần chuẩn
bị tốt nội dung của lời nói, thì hội thoại phải chú ý đến sự hợp tác và điều tiết của hai bên Hợp tác ở đây là trình độ tri thức, năng lực tiếp thu thông tin và hoàn cảnh xã hội khi đang giao tiếp Nếu nội dung đàm thoại vượt qua phạm vi kiến thức của đối phương thì rất khó giao tiếp với nhau, lượng thông tin trong một đơn vị thời gian quá nhiều hoặc chủ điểm đề cập đến không phù hợp với hoàn cảnh xã hội của đối phương thì cũng rất khó để tiến hành giao tiếp Trong giao tiếp phải triển khai, phát triển, chuyển đổi theo chủ đề của đối tượng giao tiếp, không nên mỗi người nói một nội dung khác nhau, không có liên quan với nhau Những nguyên nhân trên đã gây ra rất nhiều khó khăn khi giáo viên vận
Trang 21dụng nguyên tắc trong giờ hội thoại Đây là những điều rất quan trọng mà giáo viên dạy khẩu ngữ phải chú ý tới
Nguyên tắc thứ ba là dạy học khẩu ngữ phải có đầy đủ thời gian để luyện tập: Khẩu ngữ có nhiều đặc điểm khác các kĩ năng khác như: thời gian ngắn, vừa nghĩ vừa nói Từ suy nghĩ chuyển thành lời nói, đặc biệt là biểu đạt ngôn ngữ đích phải trải qua trình tự rất nhiều khâu để lựa chọn, nếu không có một thời gian nhất định thì không thể đạt được hiệu quả Do đó, trong dạy học giao tiếp khẩu ngữ, sự luyện tập của học sinh, trong một thời gian nhất định là rất
quan trọng
1.1.4 Kiểm tra, đánh giá trong dạy học giao tiếp khẩu ngữ
Nắm được khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc là bước đi đầu tiên của việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ, thực hiện thành công ý đồ giao tiếp là thước đo thể hiện hiệu quả của dạy học giao tiếp khẩu ngữ
Giao tiếp khẩu ngữ nên được đánh giá dựa trên các mục tiêu giảng dạy, trong ngữ cảnh cụ thể, bằng cách cho phép học sinh thực hiện nhiệm vụ giao tiếp có ý nghĩa, điều chỉnh để cải thiện hành vi Đánh giá ở học sinh các kỹ năng giao tiếp, cần chú ý kiểm tra ý thức tham gia và đánh giá thái độ tình cảm của học sinh phải được thực hiện trong bối cảnh cụ thể của thông tin liên lạc, để học sinh thực hiện nhiệm vụ giao tiếp có ý nghĩa
* Khi thực hiện đánh giá giảng dạy giao tiếp khẩu ngữ phải dựa trên sự phát triển của học sinh với mục đích kiến thức và kỹ năng, quy trình và phương pháp, thái độ và tình cảm, đưa ra các mục tiêu, đánh giá là không chỉ quan tâm đến kĩ năng nghe, nói của cá nhân học sinh, mà còn phải quan tâm đến học sinh trong quá trình giao tiếp được chứng minh bởi khả năng toàn diện Không chỉ quan tâm đến khả năng của học sinh trong giao tiếp, mà còn quan tâm đến mức độ học sinh quan tâm đến giao tiếp, chủ động giao tiếp tích
Trang 22cực, tham gia vào các hoạt động thực tế có ý thức, cảm xúc và thái độ của học sinh trong quá trình giao tiếp
* Đánh giá phải được thực hiện trong các tình huống giao tiếp cụ thể Khả năng giao tiếp khẩu ngữ là một khả năng toàn diện, bao gồm nghe, biểu hiện, nhưng cũng tùy theo hoàn cảnh thể hiện bởi khả năng đáp ứng, theo các dịp
và các đối tượng, nghi thức giao tiếp khác nhau Chúng ta phải tạo ra một tình huống giao tiếp cụ thể cho học sinh, vì vậy đánh giá năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh cần trình bày tổng thể, khách quan và đánh giá toàn diện
* Đánh giá phải được thiết kế để giao tiếp có ý nghĩa Giao tiếp dựa trên nhu cầu tương tác của con người, học sinh chủ động thúc đẩy giao tiếp giữa các cá nhân tích cực và hiệu quả Tuy nhiên, quá trình giao tiếp giữa con người không phải là quá trình đào tạo, mà là một quá trình thông tin liên lạc
có ý thức có mục đích Vì vậy, đánh giá việc giảng dạy giao tiếp khẩu ngữ không thể đánh giá một năng lực duy nhất, mà nên được thiết kế để có một nhiệm vụ giao tiếp có ý nghĩa cho học sinh khi hoàn thành khóa học để chứng minh khả năng giao tiếp của họ một cách chất lượng và toàn diện, nhằm phản ánh tốt hơn cá tính, năng lực cũng như khả năng giao tiếp của học sinh
1.2 Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang 1.2.1 Thực trạng định hướng dạy học của một số giáo án, thiết kế bài
Trang 23bình tĩnh và tự tin khi trình bày một vấn đề đã thể hiện mục tiêu nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ một cách rõ rệt Sau tiết học học sinh sẽ biết cách thức trình bày một vấn đề và khả năng ứng biến linh hoạt trong giao tiếp hằng ngày Tuy nhiên, sách giáo viên đã thiếu về mục tiêu kĩ năng cho học sinh, phải giúp học sinh nhận ra các tình huống cần trình bày một vấn đề và lập được đề cương và trình bày trước tập thể
Về nội dung, sách giáo viên xác định gồm ba đơn vị kiến thức: Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề; Công việc chuẩn bị; Trình bày Phần đầu chỉ lướt qua để tập trung vào hai phần sau, đặc biệt là phần sau cùng Bài học có sự đan xen giữa lí thuyết và luyện tập vậy phương pháp dạy học là thông qua việc hướng dẫn học sinh tiến hành các công việc chuẩn bị và trực tiếp trình bày một đề tài cụ thể trước lớp mà hình thành cho các em nội dung công việc và cách thức tiến thành trình bày Sau khi hình thành các nội dung trên, cần tổ chức cho học sinh luyện tập để củng cố khắc sau kiến thức
và hình thành kĩ năng trình bày một vấn đề Đây là phương pháp phù hợp với một tiết dạy học Làm văn có sự đan xen giữa lí thuyết và luyện tập Ngoài ra
có thể thêm vào một số phương pháp dạy học theo hướng tích cực thông qua các hoạt động của học sinh nhằm nâng cao năng lực Ngữ văn và năng lực giao tiếp khẩu ngữ Tiến trình tổ chức dạy học cuốn sách giáo viên chia ra làm bốn bước: Nhận thức tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề; Nhận biết những công việc chuẩn bị cho việc trình bày một vấn đề; Tiến hành trình bày; Luyện tập Bốn bước trên được thực hiện với từng công việc cụ thể của giáo viên và học sinh kèm theo các phương pháp như diễn giảng, đặt tình huống, phát vấn… Nhìn chung tiến trình tổ chức dạy đưa ra khá phù hợp, tuy nhiên hoạt động của học sinh chưa được chú ý khai thác, thời gian cho các em thực hành trên lớp là rất ít
Phần kiểm tra đánh giá, gợi ý giải bài tập trong sách giáo viên được đưa
ra cụ thể chi tiết, với dàn ý mẫu với đề tài “An toàn giao thông” đã phần nào
Trang 24đáp ứng được yêu cầu luyện tập cho bài học, nhưng các bài tập tạo lập văn bản nói của học sinh này cần quan tâm chú ý hơn nữa, giáo viên cần nhanh chóng phát hiện những biểu hiện, suy nghĩ lệch lạc của học sinh để kịp thời uốn nắn, sửa chữa
Nhìn chung, tiết học “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo viên Ngữ văn 10 được hướng dẫn khá cụ thể, chi tiết, phương phương và tiến trình dạy học phù hợp với một tiết dạy học Làm văn có sự đan xen giữa lí thuyết và luyện tập Tuy nhiên, về lý thuyết học sinh đã có thể nắm được kiến thức bài giảng, nhưng còn yếu về kĩ năng trình bày một vấn đề trước tập thể và năng lực giao tiếp khẩu ngữ vì các hoạt động cho các em thực hành giao tiếp trong lớp còn ít, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ chưa được khai thác sử dụng
b) Định hướng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách “Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10” Nguyễn Văn Đường (chủ biên)
Về cấu trúc, các giáo án này đã đưa ra mục tiêu cần đạt của tiết học bao gồm: kiến thức, kĩ năng, thái độ, trong đó mục tiêu nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh được chú trọng Cách thức tiến hành bài học được trình bày cụ thể: giáo viên hướng dẫn cho học sinh khai thác ngữ liệu, trả lời câu hỏi, thảo luận nhóm để từ đó rút ra những vấn đề quan trọng của bài học, trình bày những vấn đề gần gũi trong thực tế đời sống có hiệu quả… đây cũng
là phương pháp dạy học chủ yếu được sử dụng trong tiết học cung cấp lý thuyết gắn liền với thực hành Tiến trình dạy học được chia thành các hoạt động cụ thể, giáo án được chia cột, hoạt động của giáo viên và học sinh bố trí theo nội dung và phương pháp dạy học Các ví dụ, bài mẫu được trích dẫn phong phú đa dạng Ngoài ra, có các bài đọc tham khảo sau tiết học
Về nội dung, các thiết kế đã bám sát chương trình, hệ thống hóa, cụ thể hóa nội dung kiến thức bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa và
Trang 25sách giáo viên Ngữ văn 10 tập 1 Hệ thống hóa hoạt động dạy học của giáo viên bằng nhiều hình thức phong phú Cả học sinh và giáo viên đều hoạt động liên tục trong suốt 45 phút của giờ học, trong đó giáo viên là người hướng dẫn, định hướng học sinh khám phá, chiếm lĩnh kiến thức bài học Hệ thống câu hỏi về hình thức khá đa dạng, về nội dung đã bám sát lí thuyết nhằm củng
cố cho học sinh khắc sâu lí thuyết, nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt cho học sinh Tuy nhiên, các hoạt động, hệ thống câu hỏi về nội dung lí thuyết vẫn chiếm phần lớn thời gian nên thời gian thực hành giao tiếp cho học sinh trên lớp và thời gian làm bài tập thực hành còn eo hẹp
Bài học “Trình bày một vấn đề” giúp người học có được những kĩ thuật cần thiết để có thể lập dàn ý và tự tin trình bày một vấn đề trước tập thể hoặc người khác Bên cạnh đó chúng ta có thể nhận thấy với những gì mà phần kiến thức này cung cấp đã góp phần rèn giũa cho học sinh biết cách ứng xử linh hoạt trong quá trình giao tiếp và nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ Tuy nhiên, các thiết kế trên còn nặng về hình thành lí thuyết, coi trọng việc truyền thụ các đơn vị kiến thức: tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề; những công việc chuẩn bị cho việc trình bày một vấn đề, chưa chú trọng đầy đủ đến việc luyện tập, rèn luyện thực hành nâng cao khả năng diễn đạt cho các em học sinh Thời gian phần thực hành, luyện tập khả năng giao tiếp cho học sinh còn eo hẹp Các giáo án này hoạt động của học sinh được tiến hành chủ yếu dưới dạng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên chứ chưa tự giác rèn luyện khả năng nói của mình Do vậy, kĩ năng trình bày một vấn đề của các em học sinh lớp 10 chưa đảm bảo độ thành thạo, thuần thục, chưa có ý thức tự giác nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong cuộc sống
Trang 26c) Định hướng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong giáo án ở một
số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
Trong quá trình thực nghiệm, thực hiện luận văn chúng tôi đã sưu tầm được một số giáo án, thiết kế dạy học bài bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1, ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Về ưu điểm: Các giáo án đã thể hiện được đúng, đầy đủ tinh thần của một giáo án bao gồm 5 bước cơ bản trong tiến trình dạy học đó là: Ổn định lớp, Kiểm tra bài cũ; Bài mới; Củng cố dặn dò; Hướng dẫn học bài ở nhà Phần mục tiêu bài học của các giáo án đã đạt chuẩn kiến thức kĩ năng, trong
đó đã đề cao mục tiêu rèn luyện kĩ năng trình bày cho học sinh, giáo án 2 cột thể hiện cụ thể những công việc mà giáo viên và học sinh phải làm đồng thời
đề ra mục tiêu cần đạt ở mỗi nội dung Bài học được chia ra các hoạt động nhỏ phù hợp với yêu cầu của bài học Phần dẫn dắt, chuyển ý của từng phần diễn ra khá chi tiết Qua sự thể hiện của giáo án, các em học sinh phần nào lĩnh hội được kiến thức mới
Về nhược điểm: Những giáo án chưa chú trọng vào hoạt động của học sinh, các em còn thụ động trong việc chiếm lĩnh tri thức mới Những hoạt động nhằm đa dạng hóa hình thức dạy học còn ít, tập trung vào phương pháp phát vấn, diễn giảng Có nhiều giáo án không chia thời gian cụ thể cho từng hoạt động trong bài dạy Phần cho học sinh thực hành chưa được đầu tư quan tâm sáng tạo, học sinh chưa được thực hành nhiều, khả năng các em có thể tự tin trình bày vấn đề trước đám đông là thấp Xét theo yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy hướng tới phát triển năng lực cho học sinh, thì các giáo án trên chưa đáp ứng hoàn toàn các tiêu chí Như phần trên đã nêu, đánh giá năng lực của học sinh là đánh giá khả năng thực hiện, vận dụng; thông qua làm, qua hành động để đo đếm, xác định chứ không chỉ yêu cầu biết và hiểu
Trang 27Và việc vận dụng ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng, chứ không phải thực hiện một cách “máy móc”,“mù quáng”
Bên cạnh đó, thông qua những giáo án này việc hình thành cho học sinh năng lực Ngữ văn là điều khó khăn Học sinh cần phải được hình thành năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản Năng lực tiếp nhận văn bản là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu, những giáo
án trên phần nào đã giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức mới Tuy nhiên, về năng lực tạo lập văn thì học sinh chắc chắn sẽ gặp nhiều lúng túng Đối với bài học này, cách tạo lập một văn bản nói là điều vô cùng quan trọng, nói phải
rõ ràng, rành mạch, lưu loát; từ nói đúng, nói hay đến nói hùng biện…
Xét về mục đích bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 với các tiêu chí: Ngôn ngữ diễn đạt; thái độ biểu cảm; trình bày suy nghĩ, ý tưởng; lắng nghe và phản hồi; đồng cảm và chia sẻ các ý kiến; khả năng ứng xử, tự điều chỉnh thì các giáo án trên chưa thật sự đáp ứng được mục tiêu đề ra
1.2.2 Thực trạng dạy học bài “Trình bày một vấn đề” tại một số trường trung học phổ thông tại tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có tới 70% diện tích là đồi núi, tỉnh với 29 trường trung học phổ thông, là địa bàn có nhiều học sinh dân tộc thiểu số (khoảng 64%), việc bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trung học phổ thông là một việc tương đối khó khăn vì vốn tiếng Việt của học sinh không đồng đều
Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu, dự giờ và khảo sát bằng phiếu điều tra với 16 giáo viên và 100 học sinh về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong giờ dạy môn Ngữ văn ở 2 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang:
Trường trung học phổ thông Chuyên Tuyên Quang, thành phố Tuyên Quang: 8 giáo viên và 65 học sinh
Trang 28Trường trung học phổ thông Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang: 8 giáo viên và 35 học sinh
Kết quả và ý nghĩa rút ra từ cuộc điều tra như sau:
Về phía giáo viên:
Qua khảo sát giảng dạy nội dung giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn
ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang, có thể thấy rằng việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cụ thể là phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ đã và đang được quan tâm chú trọng Các giáo viên bộ môn trước hết cho rằng trong sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông, các bài học về đọc hiểu tác phẩm, tiếng Việt và Làm văn được sắp xếp đan xen nhau, hỗ trợ cho nhau Thông qua tri thức của ba phân môn mà năng lực đọc văn và làm văn của học sinh được hình thành và rèn luyện đồng bộ Đồng thời qua việc rèn luyện kĩ năng đọc văn, làm văn mà củng cố và phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ Các nội dung được đưa vào chương trình dạy học là những nội dung tiêu biểu cho việc rèn luyện các kĩ năng nghe, nói của giao tiếp khẩu ngữ Nhìn chung, giáo viên đã nhận thức rõ những điểm không phù hợp của phương pháp dạy học truyền thống trong dạy học văn, kết hợp với việc được trang bị đầy đủ và khá cơ bản về lý thuyết dạy học theo hướng tích cực, đổi mới… cho nên hầu hết các giáo viên đã tổ chức lớp học khá linh hoạt, đã tránh được lối dạy học đọc chép, thuyết giảng một chiều, đã coi trọng nhu cầu tiếp nhận tri thức của người học; đã vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học để phát huy năng lực giao tiếp khẩu ngữ ở học sinh Người giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, khơi gợi, nêu vấn đề, học sinh chủ động lĩnh hội vận dụng tri thức để giao tiếp Việc dạy học đã có sự đổi mới khá rõ ràng, điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho các em học sinh
Những nội dung giao tiếp khẩu ngữ được giảng dạy là những nội dung tiêu biểu cho tác dụng mở rộng khả năng giao tiếp khẩu ngữ qua các bài học
Trang 29về đất nước, con người, văn hóa, văn học, giúp học sinh có cái nhìn bao quát hơn đối với những đóng góp và vai trò của giao tiếp khẩu ngữ trong hoạt động giao tiếp cũng như trong hoạt động học tập, bồi dưỡng cho các em kĩ năng và năng lực giao tiếp khẩu ngữ, góp phần xây dựng khả năng sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ và phát triển tư duy cho các em
Tuy nhiên, việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ tuy đã được đề cập tới trong chương trình và sách giáo khoa nhưng chưa được hướng dẫn cụ thể về thiết kế hoạt động học tập cũng như sự phổ biến trong các tư liệu tham khảo…làm cho việc dạy học nội dung này trong nhà trường phổ thông gặp một số khó khăn Cô giáo Nguyễn Thị Mến là giáo viên dạy Ngữ văn có trên 10 năm kinh nghiệm giảng dạy tại Trường trung học phổ thông Sơn Nam, huyện Sơn Dương cho rằng, mặc dù chương trình đã giảm tải nhưng khối lượng kiến thức cần truyền thụ trong mỗi tiết học về giao tiếp còn nhiều (có khi trích dẫn ngữ liệu dài như bài 5 phần luyện tập [6, tr 22]), nên họ gặp rất nhiều khó khăn khi giảng dạy, nhất là khi yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy là dạy học hướng tới phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh, chú ý tới năng lực giao tiếp khẩu ngữ” Sở dĩ giáo viên có sự nhìn nhận như vậy đối với nội dung dạy học giao tiếp trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông bởi chưa có sự trình bày cụ thể về lý thuyết trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn nên chưa có sự nhận thức đầy đủ Giáo viên vẫn còn thuyết giảng nhiều, dẫn đến tình trạng học sinh ít được làm việc, ít có cơ hội được bày tỏ ý kiến của mình trong giờ học, có giáo viên sử dụng hình thức trao đổi, thảo luận…nhưng hình thức dạy học này chỉ được vận dụng ở những bài học cụ thể, những suy nghĩ, cách diễn đạt, trình bày vấn đề của cá nhân học sinh ít được giáo viên quan tâm tới Đồng thời, giáo viên gặp khó khăn hơn khi phải dành nhiều thời gian cho việc thực hành của học sinh, nội dung giảng dạy giao tiếp khẩu ngữ được cho rằng là một trong những nội dung khó truyền tải, nội dung chủ đề luyện nói cho học sinh còn hạn hẹp Việc này dẫn đến hiệu
Trang 30quả của dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông chưa đạt hiệu quả cao
Chúng tôi đã quan sát cách thức tiến hành một giờ dạy về bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh thường được tiến hành theo hình thức: giáo viên giới thiệu bài học, nêu mục đích yêu cầu bài học, đọc mẫu từng văn bản hoặc đoạn văn rồi học sinh đọc theo Giáo án yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa về nội dung của văn bản hoặc ngữ liệu và làm một số bài tập ngữ pháp Vì thế vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được tình trạng thầy diễn giảng, còn học sinh nghe và ghi chép theo Do vậy, hiện nay, đối với việc dạy học Ngữ văn nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh, đa phần các giáo viên đang cố gắng truyền tải những nội dung chủ đề có sẵn trong sách giáo khoa cho học sinh mà chưa chủ động tìm ngữ liệu, dẫn chứng từ thực tế cuộc sống gần gũi cho các em, giáo viên chưa
có nhiều sáng tạo để bài học được sinh động, mới mẻ hơn
Về phía học sinh:
Qua quá trình tìm hiểu và dự giờ, bước đầu chúng tôi nhận thấy đa số các em tỏ ra khá hào hứng sôi nổi khi học những bài liên quan tới hoạt động giao tiếp, đặc biệt là với các bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” và bài
“Trình bày một vấn đề” [6, tr 21] Các em cho rằng nội dung bài học có nhiều tình huống thú vị Hầu hết các em có soạn bài trước khi đến lớp, trong giờ học
có ý thức xây dựng bài
Tuy nhiên, khi tìm hiểu kĩ hơn, chúng tôi nhận thấy hạn chế lớn nhất của học sinh là thói quen thụ động trong quá trình học tập: quen nghe, chép, ghi nhớ và tái hiện những gì giáo viên nói, gợi ý Số đông học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học nếu chưa được giao nhiệm vụ hoặc nếu có được giao nhiệm vụ cụ thể thì còn lúng túng khi độc lập giải quyết vấn
đề Phần lớn học sinh khi chuẩn bị soạn bài, đều lệ thuộc vào các tài liệu học tốt, các mẫu có sẵn trên internet hoặc nhờ người khác làm hộ Thói quen dựa vào cách hiểu, cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt… của tài liệu, hay của người khác đã hạn chế rất nhiều năng lực sáng tạo của học sinh Vì vậy, trong
Trang 31giờ học, nhiều em tỏ ra lơ đãng không nghe giảng, nói chuyện với bạn học hoặc nghịch ngầm, khi giáo viên gọi đứng dậy trả lời câu hỏi thì các em trả lời theo lời bạn nhắc, có sẵn trong tài liệu, mới thoạt nghe thì các em trả lời đúng, có hiểu bài nhưng thật sự các em không chú ý vào bài giảng, không suy nghĩ trả lời câu hỏi, mà trả lời như một cái máy đọc những cái có sẵn trong tài liệu Đặc biệt, khi lên bảng kiểm tra bài cũ, đối với những câu hỏi yêu cầu nhắc lại nội dung ghi nhớ của bài học trước thì các em trả lời được, nhưng đến phần yêu cầu trình bày một vấn đề, nói về một chủ đề mà em yêu thích thì rất nhiều em tỏ ra lúng túng, trả lời sai, hoặc làm theo những khuôn mẫu có sẵn đã được cung cấp từ sách giáo khoa, sách tham khảo hoặc bắt trước theo giáo viên
Bên cạnh đó hình thức kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn hiện nay chưa vận dụng hình thức kiểm tra khách quan, hình thức thi nói vào đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn Vì thế, học sinh chưa có được những hoạt động giao tiếp khẩu ngữ một cách cụ thể và sự tự ý thức, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức bài học ở các em còn hạn chế
Kết quả và ý nghĩa rút ra từ cuộc điều tra như sau:
Bảng 1.2: Nhận thức của giáo viên và học sinh về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
STT ĐTKS
Số người khảo sát
Trang 32Số giáo viên và học sinh có nhận thức đầy đủ về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông là: 36/116 chiếm 31,03% Số giáo viên và học sinh có nhận thức không đầy đủ về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông là 33/116 chiếm 30,18%
Bảng 2.2: Các năng lực cơ bản được giáo viên và học sinh quan tâm rèn luyện trong giờ học môn Ngữ văn
và học sinh cho rằng năng lực nghe nói: 18/116 chiếm: 15,55%
Trang 33Bảng 3.2: Khả năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa lớp 10 tập 1 ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
Mức độ
Tiêu chí
Thường xuyên (SL)
Hiếm khi (SL)
Thỉnh thoảng (SL)
Không bao giờ (SL)
Khó khăn khi diễn
Tự tin khi phát biểu,
Từ bảng thống kê, chúng ta thấy khả năng giao tiếp khẩu ngữ của học
sinh lớp 10 qua bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10
được thể hiện qua các tiêu chí như sau:
Tiêu chí: Khó khăn khi diễn đạt ý kiến, cao nhất ở mức độ thỉnh thoảng chiếm 64%
Tiêu chí: Mắc lỗi khi phát âm, cao nhất ở mức độ thỉnh thoảng chiếm 58% Tiêu chí: Tự tin khi phát biểu, thuyết trình, cao nhất ở mức độ hiếm khi chiếm 40%
Tiêu chí: Tích cực tham gia hoạt động ngoại khóa, cao nhất ở mức độ
hiếm khi chiếm 42%
Trang 34Bảng 4.2: Các hoạt động được tổ chức trong giờ học “Trình bày một vấn đề” nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 10
Hoạt động nhóm, thảo luận
Hình thức tổ chức các hoạt động trong giờ học “Trình bày một vấn đề” khá
đa dạng và phong phú, giáo viên có thể kết hợp nhiều hoạt động khác nhau nhằm rèn luyện năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong giờ dạy bao gồm: hoạt động thuyết trình, luyện nói theo chủ đề có 39/116 chiếm 33,62%; hoạt động viết đoạn văn: 38/116 chiếm 32,8%; hoạt động nhóm: 23/116 chiếm 19,83% và hoạt động thuật việc kể chuyện 16/116 chiếm 13,75%
Trang 35Bảng 5.2: Đánh giá của giáo viên và học sinh về nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ của học sinh trong giờ học “Trình bày một vấn đề” sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
2
Không có những kiến thức nền
tảng về ngôn ngữ giao tiếp và thiếu
tài liệu tham khảo
3
Bản thân học sinh chưa tích cực
rèn luyện thường xuyên để nâng
cao khả năng giao tiếp khẩu ngữ
4
Giáo viên chưa dành nhiều thời
gian cho học sinh thực hành giao
tiếp khẩu ngữ
5
Các thành viên trong lớp học chưa
tích cực rèn luyện giao tiếp khẩu
Trang 36Theo số liệu thống kê cho thấy trong số 100 em học sinh được điều tra thì 50% học sinh đến từ thành phố, 20% học sinh đến từ vùng đồng bằng nông thôn và 30% đến từ miền núi, trong đó có 60% học sinh là người dân tộc thiểu
số Từ đó rút ra được kết luận học sinh đến từ những vùng khác nhau trong cùng một tỉnh sẽ có sự khác biệt nhau về khả năng giao tiếp khẩu ngữ
Nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến vấn đề rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ của học sinh một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang là do tâm lý ngại giao tiếp, thiếu tự tin trong giao tiếp khẩu ngữ, nguyên nhân thứ hai là bản thân học sinh chưa tích cực rèn luyện thường xuyên để nâng cao khả năng giao tiếp khẩu ngữ, rồi đến lý do hoạt động ngoại khóa về giao tiếp khẩu ngữ chưa được chú trọng và không có những kiến thức nền tảng về ngôn ngữ giao tiếp và thiếu tài liệu tham khảo Điều đó chứng tỏ: nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến vấn đề rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ của học sinh nhìn chung xuất phát từ chính bản thân các em là tâm lý ngại giao tiếp, chưa quyết tâm, kiên trì và chưa quan tâm thực sự đến học tập…
Thông qua hệ thống phiếu điều tra, chúng tôi đã rút ra được những kết quả sau:
Một là khả năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang là không cao, điều này thể hiện hầu hết học sinh có khả năng giao tiếp khẩu ngữ ở mức trung bình
Hai là hiệu quả của việc dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 nhằm nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông chưa cao
Ba là có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông chưa có hiệu quả cao, nhưng nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ chính bản thân các em học sinh và cách thức dạy học của giáo viên
Trang 37Chương 2 THIẾT KẾ DẠY HỌC BÀI “TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ” THEO ĐỊNH HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ
CHO HỌC SINH
Nếu như chương 1 đã trình bày một số cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ, thì chương 2 của luận văn sẽ đề cập đến việc thiết kế những hoạt động dạy và học trong bài “Trình bày một vấn đề” sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1), nhằm nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh lớp 10 tại một số trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
2.1 Định hướng chung về dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
2.1.1 Phương pháp dạy học tích cực với việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ được dùng ở nhiều nước
để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học, theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa hoạt động, chủ động trái nghĩa với không hoạt động, thụ động Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập trung và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Các đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học theo hướng tích cực có ảnh hưởng không nhỏ tới việc nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho các
em học sinh Phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy cao nhất tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập của người học dưới vai trò tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, việc lựa chọn một phương pháp hay hoạt động
cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu và nội dung bài học cụ thể Nhằm đa dạng hóa
Trang 38hoạt động nhận thức và gây hứng thú cho các em học sinh, giáo viên có thể sử dụng một cách linh hoạt các đặc trưng cơ bản của dạy học theo hướng tích cực để nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ
Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn rất có ích đối với sự phát triển và trưởng thành của học sinh, giúp học sinh phát triển sự nhận thức về thế giới xung quanh Đồng thời, giúp học sinh
tự tin hơn vào bản thân trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai Điểm mấu chốt để giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong giờ học Ngữ văn thì người giáo viên cần phải có những biện pháp huy động vốn kiến thức, kĩ năng học sinh đã tích luỹ, rèn tập được có liên quan đến nội dung bài học sao cho học sinh tự thấy
có nhu cầu bộc lộ, để tạo thế chủ động cho học sinh trong việc tiếp thu bài mới Muốn vậy, giáo viên phải tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh như: thực hành giao tiếp, thảo luận, trần thuật, tranh luận , thuyết trình , quan sát và thực hành theo mẫu , tự tin trình bày một vấn đề trước tập thể hoặc trước người khác để khám phá kiến thức mới, thông qua đó mà rèn luyện đồng thời bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, chú trọng hơn về kĩ năng nghe, nói
để phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh
Dạy học theo hướng tích cực có bốn đặc trưng:
Thứ nhất, dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh Dạy học theo hướng tích cực dựa trên cơ sở của tâm lí học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hoạt động có ý thức Trí thông minh của trẻ phát triển nhờ vào sự đối thoại giữa chủ thể hoạt động với đối tượng và môi trường Trong phương pháp dạy học tích cực, người học là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức
Trang 39và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt sẵn Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không chỉ đối với từng cá nhân
mà cả ở cấp độ cộng đồng toàn địa phương và toàn xã hội
Đối với việc dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10, phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh là cách thức tiến hành hoàn toàn phù hợp Giáo viên đưa ra các tình huống, vấn đề buộc học sinh phải tự mình tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội tri thức mới Đó là các tình huống gần gũi, trong môi trường học tập và sinh sống của học sinh Giáo viên nên yêu cầu học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để tìm tòi, sưu tầm các tư liệu liên quan tới vấn đề được giao một cách chủ động VD: giáo viên đưa ra vấn đề “Giới thiệu cho bạn bè quốc tế về chiếc áo dài Việt Nam”, học sinh sẽ chủ động tìm hiểu thông tin, số liệu để nói lên suy nghĩ của bản thân, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách riêng của mình Cách các em giải quyết vấn đề chính là quá trình các em sáng tạo, tự bộc lộ bản thân Tuy nhiên, vai trò của người giáo viên không chỉ dừng lại ở
đó, giáo viên còn là người dẫn dắt, định hướng cho học sinh biết cách nói ra suy nghĩ của mình và điều chỉnh uốn nắn học sinh theo hướng tích cực
Thứ hai, dạy học chú trọng phương pháp tự học Dạy học theo hướng tích cực xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trang 40Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên Làm được như vậy thì không những kết quả học tập được nhân lên mà người học còn được chuẩn bị tự học khi đã vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống lao động, công tác xã hội Ngày nay, người ta nhấn mạnh hoạt động trong quá trình dạy học, cố gắng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động Chính
vì vậy, trong dạy học bài “Trình bày một vấn đề” trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 phải chú trọng hơn nữa tới phương pháp tự học Nên chăng hãy để chính các em học sinh tự đưa ra vấn đề mà các em yêu thích, quan tâm trong giờ học để học sinh độc lập, chủ động giải quyết vấn đề Từ chỗ học sinh được tự đưa ra vấn đề trình bày, các em sẽ chủ động tự tin trình bày vấn đề cũng như vận dụng linh hoạt những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Thứ ba là tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Dạy học theo hướng tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi cá nhân học sinh trong quá trình tự lực giành lấy kiến thức mới Ý chí và năng lực của học sinh trong một lớp không thể đồng đều tuyệt đối, vì vậy buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ và tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập nhất là bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Việc sử dụng các phương tiện nghe, nhìn, máy tính ngày càng rộng rãi trong nhà trường sẽ