2/Đo Lường Tỉ Lệ, Mức Độ Đô La Hóa : A/CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG TỈ LỆ ĐÔ LA HÓA: tỉ lệ tiền gửi ngoạitệ tổng phương tiện thanhtoán hay FCD M 2 -Trước hết, cần phải thấy rằng đối với các nền kin
Trang 1ĐÔ LA HÓA I/Khái niệm:
-Đô la hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là
đô la hoá toàn bộ hoặc một phần
2/Đo Lường Tỉ Lệ, Mức Độ Đô La Hóa :
A/CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG TỈ LỆ ĐÔ LA HÓA:
tỉ lệ tiền gửi ngoạitệ
tổng phương tiện thanhtoán hay
FCD
M 2 -Trước hết, cần phải thấy rằng đối với các nền kinh tế có mức độ
tiền tệ hoá cao, các khu vực của nền kinh tế có xu hướng gửi tiền vào
hệ thống ngân hàng thì việc đánh giá mức độ đô la hoá của nền kinh
tế nói chung cũng như từng khu vực nói riêng không mấy khó khăn (dựa vào tỷ lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán hoặc tổng tiền gửi; tỷ lệ giữa tín dụng ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán hay tổng tín dụng) Theo tiêu chí đánh giá của IMF, một nước có tỷ
lệ giữa tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30% là nước có mức độ đô la hóa cao khi tỷ lệ này từ 30% trở lên; trung bình khi từ 15% đến dưới 30% và thấp khi dưới 15% Bao gồm : tiền mặt trong lưu thông , tiền gửi không kì hạn ,tiền gửi có kì hạn, tiền gửi ngoại tệ.
-Các nền kinh tế có mức độ tiền tệ hoá thấp, việc đánh giá
mức độ đô la hoá càng trở nên khó khăn, bởi nhiều nền kinh tế vẫn còn hiện tượng sử dụng ngoại tệ tiền mặt cho các thanh toán thường ngày (đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi,đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi, tiền vay, cần đánh giá tình trạng đô la hóa tiền mặt để có những giải pháp phù hợp hơn)
B/ MỨC ĐỘ ĐÔ LA HÓA
Gồm 2 mức độ:
Trang 2 Mức độ đô la hoá cao: tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30%
Mức độ đô la hoá vừa phải: với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng 16,4%
Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ, hiện tại người nước ngoài nắm giữ từ 55 đến 70% tổng số đô la Mỹ đang lưu hành
Ngoài đồng đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được quốc tế hoá như: bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thuỵ Sỹ, euro của EU nhưng vị thế của các đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới) Cho nên người ta thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là "đô la hoá"
Trang 33/Phân loại đô la hóa:
Đô la hoá được phân ra làm 3 loại:
Đô la hoá không chính thức (unofficial Dollarization)
Đô la hoá bán chính thức (semiofficial dollarization)
Đô la hoá chính thức (official dollarization)
A/ Đô la hoá không chính thức: là trường hợp đồng đô la
được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận
Được công nhận chính thức:
Nội tệ
- Trả lương
- Đóng thuế
- Chi trả hàng hóa tiêu
dùng
Không được công nhận chính thức
(được sử dụng rộng rãi)
Ngoại tệ
- Phương tiện cất trữ
- Chi trả hàng hóa đắt
tiền
Trang 4Đô la hoá không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi
Rất khó đánh giá tình trạng này ở các nước do không thể thống kê hết số người bản địa nắm giữ các hình thức ngoại tệ
B/ Đô la hoá bán chính thức: là những nước có hệ thống lưu hành chính thức hai đồng tiền (Ở những nước này, đồng
ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp, và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ.)
Đặc điểm:
Hai đồng tiền lưu hành song song
Ngoại tệ được sử dụng chính thức
Ngoại tệ chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày
VD: Panama sử dụng đồng thời cả đồng nội tệ Balboa (PAB) và dồng ngoại tệ đô la Mỹ (USD)
C/ Đô la hoá chính thức(đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi,hay còn gọi là đô la hoá hoàn toàn): Xảy
ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành( Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong
các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ Thông thường các nước chỉ áp dụng đô la hoá chính
Trang 5thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định
Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp
Đặc điểm:
Đồng tiền nội tệ đóng vai trò thứ yếu,ngoại tệ được lưu hành hợp pháp
Không nhất thiết chỉ lưu hành 1 đồng ngoại tệ
VD: Lúc trước, Andorra sử dụng đồng thời 2 đồng tiền của Pháp và Tây Ban Nha Bây giờ là đồng Euro
Phần lớn các trường hợp là các nước thuộc địa đối với đồng tiền ở mẫu quốc
VD: Đông timor, GreenLand,…
Có thể xảy ra khi các nước thất bại trong việc sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô chống khủng hoảng
VD: Ecuador sử dụng đô la Mỹ là đồng tiền chính thức thay cho đồng nội tệ “Sucre” vào 9/1/2000 do khủng hoảng kinh tế năm 1999 làm ngân sách quốc gia bị thâm hụt nặng nề (GDP giảm 7.3%; lạm phát 52.2%; đồng tiền nội tệ mất giá 65%)
4/ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đô-la hóa trên thế giới:
Do địa vị kinh tế chung của các nước có đồng tiền mạnh:
Xuất phát nhu cầu sử dụng một “đồng tiền quốc tế” trong giao dịch thương mại
Một số nước dựa vào lợi thế kinh tế chủ trương đưa đồng tiền của mình ra thế giới
Tạo ra thế mạnh cạnh tranh
Những lợi thế nhất định
Trang 6VD: USD được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ đầu thế kỉ 20, chiếm 70% kim ngạch giao thương mại thế giới
Do đồng nội tệ có giá trị thấp và không ổn định:
Nhiều nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều thức thách lớn như toàn cầu hóa, thiên tai, dịch bệnh, tham nhũng,… làm cho nền kinh tế kém phát triển và không
ổn định đồng nội tệ bị suy yếu
Do trình độ quản lý nhà nước và chính sách tiền tệ quốc gia:
Quản lý tiền tệ nhà nước lỏng lẻo, thiếu chặt, không kiểm soát được chi tiêu ngoại tệ trên thị trường
Nhiều nước chủ động theo đuổi những lợi ích của việc
đô la hóa
Chính sách tiền tệ làm đồng nội tệ yếu và bất ổn
5/ Những tác động của đô la hoá
Tình trạng "đô la hoá" nền kinh tế có tác động tích cực và tác động
- Đô la hóa tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong
những thời kỳ lạm phát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh
tế vĩ mô không ổn định(Do có một lượng lớn đô la Mỹ trong hệ
thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức) Bên cạnh
đó, USD là đồng tiền đáng tin cậy nhất thế giới(Bất kỳ nước nào chấp nhận đô la hóa cũng sẽ chấp nhận chính sách tiền tệ của FED ( Cục dự trữ liên bang Mỹ)) sẽ giảm thiểu các rủi ro về khả năng
-Ở các nước đô la hoá chính thức:
Bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, họ sẽ duy trì được tỷ lệ lạm
phát gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn, ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và
Trang 7gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách,
kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặtchương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
-Một lượng ngoại tệ lớn được gửi vào các Ngân hàng sẽ tạo thành
nguồn vốn lớn để cho vay, đầu tư vào nền kinh tế, hạn chế việc đi vay nước ngoài ,nhưng cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng gặp khó khăn, thì với lãi suất trên thị trường quốc tế cao, các ngân hàng trong nước đem gửi ở nước ngoài
-Người dân cũng sẽ được hưởng từ lãi suất cao hơn là cất giữ
trong nhà và các ngân hàng cũng có thu nhập về nghiệp vụ tiền gửi và có lợi ích Quốc gia cũng có thêm nguồn dự trữ ngoại tệ.
- Ngân hàng có một lượng ngoại tệ lớn sẽ có điều kiện mở
rộng hoạt động của mình, nhất là hoạt động đối ngoạitạo công
cụ hội nhập thị trường trong nước với thị trường khu vực, thị trường thế giới, giảm thiểu các chi phí giao dịch tài chính quốc tế -Đô la hóa giúp hạ thấp chi phí giao dịch( Ở những nước đô la hoá
chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ Các chi phí
dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể
hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh Với nền kinh tế đô la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài do các nhà đầu tư biết rõ giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ gặp ít rủi ro Đô
la hóa có thể là yếu tố thu hút khách du lịch bởi việc mua bán và trao
-Các nước thực hiện đô la hoá chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán
cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích
tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô la hoá có
thể được chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư -Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi
chính thức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính
Trang 8thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi,bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi,thị trường
Một nền kinh tế bị đô la hóa cao càng dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn với những thay đổi liên quan đến đồng đô la, cũng như các cú sốc kinh tế như sự dao động của giá dầu Ngành xuất khẩu sẽ chịu tác động trực tiếp Do đó, đô la hóa sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô Với một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn thì việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều ảnh hưởng bởi diễn
Đô la hóa làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :
• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện
thanh toánquyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém chính xác và kịp thời.
• Đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài
chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả
• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá (Đô
la hoá có thể thực thi chính sách tỷ giá Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm cho cầu của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá.Khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái)
• Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ
không ổn định (Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ
chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dân giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài
có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
Trang 9(hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và
có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến động làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô la Mỹ
Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ(Trong trường hợp đô la hoá chính thức, chính sách
tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó sẽ do nước Mỹ quyết định Trong khi các nước đang phát triển
và một nước phát triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những chính sách tiền tệ khác nhau)
Nước thực hiện đô la hóa sẽ đánh mất ưu quyền tiền tệ của mình (Về cơ bản, ưu quyền tiền tệ là lợi nhuận thu
được từ phát hành tiền Đây là một hoạt động kinh tế rất có lãi vì chi phì in tiền, phát hành tiền thấp hơn rất nhiều so với giá trị hàng hóa mà giấy bạc phát hành thu mua được Chính phủ Mỹ thu được 25 tỉ USD mỗi năm từ ưu quyền tiền tệ Và khi người dân các nước khác giữ tờ đô la trong tay, họ đang góp phần làm giàu cho Bộ tài chính Mỹ.)
Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng(Trong các nước đang phát triển chưa bị đô la
hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng Nguyên nhân là
do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ Đối
Trang 10với các nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại
bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của Ngân hàng Trung ương đã bị mất Tất nhiên, Ngân hàng Trung ương các nước này có thể đề nghị FED hỗ trợ tài chính khẩn cấp Nhưng trong lịch sử tiền tệ thế giới, FEG chưa hề có sự giúp đỡ hệ thống ngân hàng của nước thực hiện đô la hóa chính thức khi họ gặp cơn
C/ Thực trạng đô la hóa trên thế giới
-Theo đánh giá của IMF năm 1998, 19 nước có mức độ
đô la hoá cao với tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30%, bao gồm các nước: Argentina, Belarus,Bolivia,Cambodia,.v.v 35 nước có mức độ đô
la hoá vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng 16,4%,
Bulgaria,Mexico,Russia,ViệtNam.v.v.
-Ecuador, Campuchia, Zimbabwe, hay Panama là những quốc gia bị đô-la hóa toàn phần khi sử dụng đồng USD làm đồng tiền chính thức Trong khi đó, đã có nhiều quốc gia khác bị đô-la hóa một phần hoặc đô-la hóa phi chính thức Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nếu tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng lượng tiền gửi vào ngân hàng vượt quá 50% thì được coi là đô-la hóa cao, từ 15-30% là mức trung bình và dưới mức này được coi là đô-la hóa thấp
Trang 115/Giải pháp:
-Cần phải xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh, độc lập và một khung pháp lý hoàn chỉnh(đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi, trong đó phát triển đa dạng các dịch vụ ngân hàng, tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế)
-Nâng cao vai trò của NHNN và các cơ quan chức năng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, ổn định thị trường, quản
lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
- Xây dựng niềm tin của người dân vào đồng nội tệ bằng cách duy trì một hệ thống tiền tệ ổn định và vững mạnh(đánh giá mức độ đô la hóa dưới dạng tiền gửi,thực hiện được bằng cách thức phát triển vĩ mô, kiềm chế lạm phát và duy trì ở mức chấp nhận đc từ đó ổn định giá trị của đồng nội tệ )
-Ổn định chính trị , nâng cao chất lượng của bộ máy quản lý nhà nước.
II/ Thực trạng đô la hóa hiện nay ở việt nam:
1/ Đôi nét khái quát về quá trình đô la hoá ở Việt Nam từ những năm 80 đến nay:
a/Diễn biến:
Năm 1988, các ngân hàng VN bắt đầu được phép nhận tiền gửi bằng USD
Trong suốt khoảng thời gian từ 1988 đến 1992, lượng USD gửi vào hệ thống ngân hàng ngày càng tăng nhanh chóng
Cuối năm 1991, lãi suất tiền gửi USD bắt đầu giảm mạnh, các NHTM nhanh chóng rút lượng tiền gửi ở các ngân hàng thương mại về cuối năm này, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng
đã chiếm 41% tổng lượng tiền gửi
Trong những năm 2000 đến 2004 đồng USD giảm giá dần dần