1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước ở việt nam

10 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 68,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình đầu tư từ nguồn vốn nhà nướca Quy mô đầu tư từ nguồn vốn nhà nước: Thực tế trong những năm qua cho thấy, nguồn vốn nhà nước huy động cho đầu tư liên lục gia tăng và chiếm khoản

Trang 1

TIỂU LUẬN CAO HỌC: MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

NGUỒN VỐN NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Trang 2

1 Tình hình đầu tư từ nguồn vốn nhà nước

a) Quy mô đầu tư từ nguồn vốn nhà nước:

Thực tế trong những năm qua cho thấy, nguồn vốn nhà nước huy động cho đầu tư liên lục gia tăng và chiếm khoảng 30%GDP, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo động lực cho phát triển đất nước Đầu tư từ nguồn vốn nhà nước luôn duy trì tốc độ, quy mô phát triển khá cao trong vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, song đã có sự chậm lại trong những năm gần đây

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nguồn vốn đầu tư nhà nước liên tục tăng về quy mô nhưng có xu hướng giảm dần về tỷ trọng:

- Tính bình quân giai đoạn 2005-2014 vốn đầu tư khu vực nhà nước là 303,295 nghìn tỷ đồng Nếu như năm 2005 tổng vốn đầu tư nhà nước chỉ đạt 161,635 nghìn tỷ đồng, đến năm 2014 đã lên đến 486,8 nghìn tỷ đồng (tăng lên 3,01 lần)

- Năm 2005 vốn đầu tư nhà nước chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, đến năm 2014 chỉ còn 39,9% Tính chung giai đoạn 2005-2014 vốn đầu tư nhà nước chiếm 39,48% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, giảm so với giai đoạn 2001 - 2010 là 45,7% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

Nguyên nhân nguồn vốn đầu tư nhà nước có xu hướng giảm dần

về tỷ trọng là một phần do thu hút nguồn tiết kiệm cho tăng trưởng từ nước ngoài tăng sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới những năm gần đây, cùng với việc thực hiện tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011, Chính phủ thực hiện rà soát, cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư nhằm

sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãnh phí và triển khai thực hiện

Trang 3

Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ

b) Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư nhà nước

Nguồn vốn ngân sách nhà nước luôn là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn này được

sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn Trong những năm gần đây, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước luôn tăng và đứng đầu qua các năm, điều này phản ánh thực tế gia tăng chi tiêu công của nhà nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tính chung giai đoạn 2005-2014, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 51% tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước, mặc dù tăng giảm không đều (trong tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước, vốn từ ngân sách nhà nước năm 2009 chiếm 64,3%, năm 2010 là 44,8%, năm 2011 là 52,1%, năm 2012 là 50,4%, năm 2013 là 46,7%, năm 2014 là 42,7%) Về giá trị đầu tư, năm 2005 đầu tư từ ngân sách nhà nước là 87,932 nghìn tỷ đồng, đến năm 2014

là 207,7 nghìn tỷ đồng (tăng gấp 2,36 lần) Trong những năm tiếp theo vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ lệ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước Năm 2005 nguồn vốn đầu tư này còn khiêm tốn là 35,975 nghìn tỷ đồng thì đến năm

Trang 4

2014 lên tới 198,2 nghìn tỷ đồng (tăng gấp lần 5,5 lần) Tỷ trọng vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước trong giai đoạn 2005-2010 bình quân chiếm 20,46% tổng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước, nhưng tính bình quân trong 4 năm gần đây đã lên tới 37,3% tổng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước Tính riêng năm 2014, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chiếm 40,7% tổng nguồn vốn nhà nước, đạt 16,23% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Nguồn vốn tín dụng nhà nước trong thời gian qua đã được tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, xúc tiến đầu

tư, phát triển các ngành then chốt như đóng tàu, điện, nước … nhằm góp phần nâng cao tiềm lực của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cũng có tác dụng trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Và hơn hết, vốn đầu tư từ tín dụng nhà nước có tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, hội nhập sâu rộng kinh tế quốc

tế, tín dụng đầu tư phát triển ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông thường nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đối mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm trong những năm gần đây song vẫn là

Trang 5

nguồn vốn quan trọng Bình quân giai đoạn 2005 - 2014, tổng vốn đầu

tư từ các tập đoàn, doanh nghiệp và tổng công ty Nhà nước chiếm khoảng 19,2% vốn đầu tư của khu vực nhà nước Nhờ đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan trọng

b) Hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước

Trong những năm qua, nguồn vốn nhà nước huy động cho đầu tư liên tục tăng góp phần tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các công trình giao thông then chốt của nền kinh tế như đường

bộ, sân bay, bến cảng, đường sắt, công trình thủy lợi được nâng cấp và làm mới; các công trình điện, thông tin liên lạc, các khu đô thị, khu công nghiệp, các bệnh viện, trường học, công trình văn hóa thể thao được cải tạo và xây dựng đã giúp cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân, làm thay đổi diện mạo cả đô thị và nông thôn

Tuy nhiên, cùng với các kết quả đạt được, trong những năm qua đầu tư công còn bộ lộc nhiều hạn chế, yếu kém, dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, …Theo báo cáo của Chính phủ, tổng số nợ xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ của cả nước đến ngày 30/6/2014 là 44.594 tỷ đồng của 18.376 dự

án, trong đó của địa phương chiếm 87% tổng số nợ xây dựng cơ bản Nhiều dự án, công trình xây dựng, hoàn thành nhưng chưa khai thác một cách hiệu quả, gây lãng phí Vẫn còn nhiều công trình đầu tư quá hoành tráng, gây lãng phí tiền của nhân dân và nhà nước Việc đầu tư

Trang 6

xây dựng không theo quy hoạch, kế hoạch, nếu có thì ở tầm ngắn hạn, không có tầm chiến lược dài hạn, xây rồi đập, đập rồi xây, có công trình xây xong sử dụng không hết công năng, không phát huy được tác dụng, có công trình xây rồi bỏ hoang

Minh chứng rõ nét nhất cho yếu kém trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước là vụ án kinh tế Tập đoàn Vinashin, là vụ án kinh tế lớn nhất hiện nay tại Việt Nam, với thất thoát hàng chục nghìn tỷ VND Theo ước tính, thất thoát từ đầu tư của Vinashin gấp 3 lần tổng mức đầu tư cho các dự án xóa đói giảm nghèo trong cả nước, gấp 4 lần gói kích cầu của Chính phủ nhằm giải cứu kinh tế trong khủng hoảng kinh tế năm 2008 Mặc dù, đến nay Chính phủ đã tái cơ cấu lại Vinashin song những hậu quả nặng nề về kinh tế vẫn còn tồn tại Nợ công tăng cao, tiền lương trong khu vực công bị trì hoãn không cải thiện từ năm

2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm do một phần nguồn vốn không được tiếp tục cho đầu tư phát triển mới Dư âm Vinashin tiếp tục là những điểm nóng trong nghị trường Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 năm 2015

Xét về tổng thể thì thì đầu tư toàn xã hội nói chung hay đầu tư của nhà nước còn chưa xứng với tiềm năng Theo số liệu thống kê, chỉ

số ICOR của Việt Nam từ mức 3,3 giai đoạn 1991 – 1995 đã tăng lên 7,04 trong giai đoạn 2001-2005 và mức 6,18 trong giai đoạn

2006-2010 Nhờ vào các biện pháp tái cơ cấu đầu tư, tập trung và nâng cao hiệu quả đầu tư, hệ số ICOR trong hai năm 2011-2012 đã giảm đáng

kể, đạt mức 4,6 Trong bối cảnh hiệu quả kinh tế thấp nói chung của hoạt động đầu tư toàn xã hội, hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước

ở mức kém nhất: Trong giai đoạn 2000 – 2010, hệ số ICOR của đầu tư

Trang 7

từ nguồn vốn nhà nước lên tới 7,85 so với con số 3,54 của khu vực tư nhân và 7,56 của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Thực tế trong những năm gần đây, kinh tế quốc tế có nhiều biến động nên ảnh hưởng nhiều đến hoạt động đầu tư phát triển trong nước, đặc biệt là ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới vẫn còn nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong nước; nhưng những yếu kém trong đầu tư từ nguồn vốn nhà nước vẫn chủ yếu do các nguyên nhân chủ quan liên quan đến cơ chế chính sách kinh tế và đầu tư phát triển cùng với những khuyết điểm trong quản lý điều hành

Trang 8

2 Một số giải pháp trong thời gian tới

Thời gian gần đây, Chính phủ đã nỗ lực để chấn chỉnh lại hoạt

động đầu tư công từ việc ban hành Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày

15/10/2011 về tăng cường quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ Việc tuân thủ quy trình đầu tư, cân đối khả năng vốn và quy mô xác định điểm dừng kỹ thuật, không khởi công công trình khi chưa rõ nguồn vốn đã giúp vốn đầu tư GDP giảm từ 36,4% năm 2011, còn 33% năm 2012, 30,4% năm 2013

và 30,1% năm 2014 Hiệu quả đầu tư công đã có bước cải thiện, hạn chế được tình trạng phân tán, dàn trải, đã cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ nhiều công trình chưa thật sự cần thiết

Trong thời gian tới, để có thể triển khai và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư công, Chính phủ cần tập trung chỉ đạo quyết liệt các

bộ ngành thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về tái cơ cấu đầu

tư công: Việc ban hành khung pháp lý liên quan lĩnh vực đầu tư công còn chậm, Luật Đầu tư công chỉ mới ban hành gần đây Các luật có liên quan khác như Luật đầu tư (sửa đổi), Luật quy hoạch và một số luật khác chưa được thông qua đã gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện Một số chính sách trong quản lý đầu tư công còn có những chồng chéo, mang tính giải quyết tình thế Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ chỉ mới điều chỉnh nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, phạm vi điều chỉnh, mức độ triển khai chưa nhiều Do vậy, trước mắt ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các luật có liên quan Xây dựng, triển khai đề án tổng thể tái cơ cấu đầu tư công để xác định lộ

Trang 9

trình, bước đi cụ thể, nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý, điều hành

Thứ hai, nghiên cứu cơ chế mở rộng các hình thức đầu tư để huy

động các nguồn vốn từ khu vực tư nhân Khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng, phát triển các ngành lĩnh vực có lợi thế

Thứ ba, xây dựng một cơ chế cụ thể để thực hiện chuyển đổi các

dự án đầu tư dở dang từ ngân sách nhà nước đối với các dự án có khả năng sinh lời sang tiếp tục đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân, thông qua các hình thức bán, chuyển nhượng công trình, coi phần đầu tư của ngân sách là phần góp vốn của nhà nước trong các dự án này Trường hợp các nhà đầu tư tư nhân không tham gia thì mới thực hiện đầu tư công

Thứ bốn, kế hoạch đầu tư trung hạn của Luật đầu tư công, ngoài

các tiêu chí áp dụng chung cần xem xét, tính toán đến đặc thù của từng địa phương nhất là các tiêu chí về tỷ lệ số xã, thôn, bản vùng cao, biên giới, hải đảo, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ độ che phủ rừng cho phù hợp

Thứ năm, Hiện nay, nợ đọng xây dựng cơ bản còn lớn, trong lúc

nguồn ngân sách khó khăn, cần nghiên cứu cơ chế để khuyến khích những địa phương có điều kiện được phát hành trái phiếu để thanh toán các khoản nợ hỗ trợ cho các dự án xây dựng dở dang

Thứ sáu, bảo đảm đầu tư công ở mức hợp lý trên cơ sở tối đa

hiệu quả phân bổ nguồn lực, tập trung vào các dự án cần thiết, cấp bách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những ngành nghề tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 10

Thứ bảy, việc triển khai và quản lý đầu tư công cần phải tuân thủ

các quy chuẩn về trình tự, thủ tục về đầu tư công, thực hiện đấu thầu công khai, minh bạch, tuyên dương những tập cá nhân có thành tích tốt, đồng thời xử nghiêm khắc các vi phạm trong đầu tư công

Thứ tám, tăng cường kỷ cương phân cấp đầu tư công Quyết định

đầu tư phải trên cơ sở cân đối và bố trí được nguồn vốn, áp dụng các chế tài nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư, tránh sai sót, rủi ro ngay

từ chủ trương đầu tư Nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác giám sát các dự án đầu tư nhà nước thông qua việc tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, công tác kiểm toán các dự án đầu tư công cũng như cơ chế giám sát của người dân và các tổ chức xã hội đối với hoạt động đầu tư công

Ngày đăng: 23/11/2017, 07:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w