1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ

12 239 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ Tóm tắt Bài viết trình bày tổng quan những nghi

Trang 1

Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ

Tóm tắt

Bài viết trình bày tổng quan những nghiên cứu về phương thức, quy trình đánh giá kết quả học tập môn học của sinh viên trong giáo dục đại học qua đó đề xuất đổi mới phương thức và quy trình này theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ ở nước ta hiện nay

Từ khóa: đánh giá kết quả học tập, sinh viên, phát triển năng lực, đào tạo theo

tín chỉ

Abstract

The paper presents an overview of researching on methods, procedures assessing students’ learning outcomes at course level in higher education by where proposes innovating those method and process through students’ competence development- oriented in credit-based training system in our country today

Key words: learning outcomes assessment, student, competence development,

credit-based training system

1 Mở đầu

Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam hiện nay, vấn đề nổi lên hàng đầu là đổi mới để từng bước củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo “Đổi mới hiện đại hóa chương trình GDĐH…thực hiện tốt đào tạo theo chế

độ tín chỉ trong hệ thống GDĐH và giáo dục nghề nghiệp” [3, tr 5] Đổi mới về

quản lý giáo dục nói chung, đổi mới về tư duy quản lý chất lượng GDĐH nói

riêng được coi là khâu đột phá trong đổi mới phát triển GDĐH Vì thế, đánh giá

(ĐG) chất lượng giáo dục từ bình diện vĩ mô đến vi mô được coi như là một

trong những giải pháp có ý nghĩa then chốt đối với tiến trình đổi mới này Trong đào tạo đại học, sinh viên (SV) vừa là đối tượng của quá trình đào tạo nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập ở đại học Vì vậy, xét trong quá

trình đào tạo, chất lượng đào tạo trước hết được phản ánh thông qua kết quả học tập (KQHT) đạt được của người học trong quá trình học tập ở cấp độ môn

học (MH)- course level, trong chương trình đào tạo Điều đó cho thấy tầm quan

trọng của hoạt động ĐGKQHT môn học của SV Tuy nhiên, ĐG KQHT môn học

của SV hiện nay đang tồn tại những mâu thuẫn chủ yếu sau:

-Về mặt lý luận, ĐG KQHT môn học của SV đóng vai trò đặc biệt quan trọng

trong quá trình đào tạo nói chung và trong việc đảm bảo, nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập nói riêng nhưng trong xu hướng chuyển sang đào tạo theo tín chỉ hiện nay, những nghiên cứu lý luận về hoạt động ĐG KQHT môn học của

SV ở đại học có tác dụng chỉ đạo, định hướng khả thi trong thực tế GDĐH vẫn còn bỏ ngõ; chưa có những nghiên cứu về mô hình ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL của SV trong đào tạo theo tín chỉ.v.v

-Về mặt thực tiễn, một số trường đại học đã thực hiện đào tạo theo học chế

tín chỉ Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, “đến hạn cuối năm học

2010-2011 các trường đại học, cao đẳng trong cả nước phải áp dụng đào tạo theo tín chỉ” [4, tr 3] Trong lộ trình chuyển đổi ấy đã và đang vướng mắc nhiều

khó khăn về đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở hạ tầng, nguồn học liệu, chương trình đào tạo, phương thức quản lý đào tạo…Trong đó, vấn đề KT, thi cử, ĐGKQHT trong giáo dục nói chung và trong GDĐH nói riêng được cho là còn

Trang 2

“nặng nề, tốn kém” [3, tr 2].

Nhiều chủ trương, phương án, đề xuất cải tiến, đổi mới KT, ĐG, thi cử, tuyển sinh bậc GDĐH được đưa ra trên bình diện vĩ mô lẫn vi mô nhưng khi triển khai thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, lúng túng Thực tế hoạt động ĐGKQHT môn học của SV hiện nay vẫn chưa thật sự làm thay đổi và thúc đẩy theo chiều hướng tích cực việc học tập của SV, việc giảng dạy của giảng viên và việc tổ chức, quản lý, đảm bảo chất lượng đào tạo ở đại học Vì vậy mà một trong những nhiệm vụ, giải pháp cần quan tâm trong trong đổi mới giáo dục- đào tạo

ở nước ta hiện nay là đổi mới căn bản hình thức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục- đào tạo Do đó nhu cầu nghiên cứu đổi mới hoạt động này trong bối cảnh hiện nay của GDĐH Việt Nam là cấp thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn nhất định

Bài viết tập trung làm rõ phương thức và quy trình ĐGKQHT môn học theo định hướng phát triển năng lực (PTNL) sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ ở nước ta hiện nay

2 Nội dung chính

2.1 Tổng quan

2.1.1 Phương thức ĐGKQHT môn học của SV trong giáo dục đại học

Trong quá trình dạy học đại học, các phương pháp, kỹ thuật, công cụ và hình thức tổ chức ĐGKQHT môn học luôn có sự kết hợp chặt chẽ với nhau và đều được thực hiện theo yêu cầu định hướng của mục tiêu cũng như nội dung ĐGKQHT môn học Vì vậy, sự thể hiện về mặt chức năng của các yếu tố có liên quan đến KT-ĐG tùy thuộc chủ yếu vào mục đích của người sử dụng (giảng viên phụ trách MH), mục tiêu, yêu cầu, tính chất của MH, đặc biệt là phù hợp với hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của SV trong các phương án thiết kế dạy học cụ thể

Xuất phát từ mục tiêu, nội dung ĐG nhất định, có khi, cùng một công cụ ĐGKQHT lại được áp dụng thông qua các hình thức khác nhau Đồng thời, trong một số trường hợp, chức năng thể hiện như là công cụ, phương pháp hay hình thức ĐG có thể thay thế nhau, liên kết với nhau hay thậm chí thâm nhập và chuyển hóa cho nhau mà không thể tách rời riêng rẽ được trong thực

tế tổ chức hoạt động ĐGKQHT môn học của SV

Chẳng hạn, các câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong bài KT thường được xem như là một trong những công cụ đo lường- ĐGKQHT MH phổ biến Tuy nhiên, người học có thể thực hiện bài tập này dưới hình thức trực tuyến (online) qua hệ thống internet hoặc dưới hình thức trả lời trên giấy trong phòng thi tập trung; và, dưới các hình thức khác nhau như vậy đòi hỏi những phương pháp tiến hành cũng như những kỹ thuật cần thiết kèm theo tương ứng Do đó, trong phần trình bày này, chúng tôi coi các yếu tố nêu trên trong

hoạt động KT-ĐG được thể hiện như là phương thức ĐGKQHT môn học Hướng tiếp cận này vừa phản ánh logic nội tại giữa các yếu tố của bất kỳ mô hình hay chiến lược nào trong ĐGKQHT của SV đồng thời tạo ra được tính linh hoạt

trong quá trình áp dụng vào thực tế giảng dạy-học tập và ĐGKQHT MH của người học

Phương thức ĐGKQHT MH phản ánh tổng hợp các phương pháp, kỹ thuật, hình thức KT- ĐG thông qua những công cụ đo lường nhất định nhằm thực hiện

có hiệu quả yêu cầu, mục tiêu, nội dung ĐGKQHT môn học đề ra.

Theo hướng tiếp cận như trên, dưới đây sẽ giới thiệu khái quát các yếu tố

hợp thành phương thức ĐGKQHT môn học của SV bao gồm các phương pháp

KT, công cụ kiểm tra (CCKT), hình thức KT-ĐGKQHT chủ yếu trong dạy học

Trang 3

ở Đại học.

Phương pháp đánh giá kết quả học tập MH trong giáo dục đại học

Phương pháp ĐGKQHT MH là tổ hợp cách thức sử dụng các loại công cụ,

kỹ thuật kiểm tra, đo lường khác nhau nhằm thu thập, phân tích, xử lý thông

tin minh chứng về KQHT MH của SV theo mục tiêu ĐGKQHT đặt ra trước đó

Các phương pháp ĐGKQHT MH trong GDĐH thường được xem xét và

phân loại dựa trên các cơ sở và mục tiêu khác nhau Có khi chúng được xem như là những kỹ thuật (techniques) hay như là những công cụ (tools)[2], [8].v.v tùy thuộc vào việc sử dụng các phép đo lường trên những công cụ KT thích hợp để qua đó thu thập bằng chứng khác nhau phục vụ cho các mục tiêu ĐGKQHT MH đề ra Các tài liệu thường phân loại phương pháp ĐGKQHT MH như sau:

- Phương pháp ĐGKQHT MH được hiểu như là “kỹ thuật” dùng để đưa ra

quyết định về thành quả học tập của SV, trong đó có thể dùng các kỹ thuật như: (1) ĐG theo chuẩn (Norm-referenced Assessment)- kết quả đạt được của người học được xem xét trong tương quan chung của cùng nhóm khảo sát; (2)

ĐG theo tiêu chí (Criterion-referenced Assessment)- kết quả đạt được của người học được xem xét so với yêu cầu chuẩn về kiến thức, kỹ năng… do môn học quy định; (3) ĐG theo sự tiến bộ của cá nhân người học (Self-referenced Assessment)- kết quả đạt được của người học được xem xét trong mối tương quan với kinh nghiệm (kiến thức, kỹ năng…) đã có trước đó của họ [5]

- Phương pháp ĐGKQHT MH được coi như là cách thức sử dụng các

“công cụ” theo mục tiêu của ĐG trong quá trình đào tạo như: (1) ĐG xếp lớp

(Placement Assessment)- dùng để xem xét khả năng ban đầu của SV trước khi tiến hành tham gia chương trình MH, loại ĐG này có liên quan đến nhu cầu và mục tiêu khảo sát kiến thức và kỹ năng nền của người học; (2) ĐG chẩn đoán (Diagnostic Assessment)- dùng để xem xét các vấn đề có liên quan đến khó khăn của người học trong quá trình học tập, mục đích chính yếu của loại ĐG này là phát hiện nguyên nhân của các khó khăn trong học tập để qua đó có những biện pháp giúp đỡ, khắc phục và hỗ trợ cần thiết cho SV; (3) ĐG quá trình (Formative Assessment)- được áp dụng để theo dõi sự tiến bộ trong quá trình dạy học nhằm mục tiêu cung cấp sự phản hồi liên tục cho cả giảng viên

và SV, thông tin có được qua loại ĐG này có tác dụng điều chỉnh dạy- học tốt hơn; và (4) ĐG tổng kết (Summative Assessment)- được áp dụng vào thời điểm kết thúc MH nhằm xem xét một cách toàn bộ mức độ đạt KQHT của SV so với mục tiêu học tập đề ra, kết quả của loại ĐG này là xác nhận KQHT thực tế của người học đồng thời còn giúp cho giảng viên nhận thấy được mức độ thích hợp của mục tiêu MH cũng như tính hiệu quả của hoạt động giảng dạy [6]

- Ngoài ra, còn có phân loại phương pháp ĐGKQHT MH căn cứ vào các mục tiêu và nội dung ĐG cụ thể như: (1)ĐG trình độ nắm vững kiến thức, kỹ

năng; (2)ĐG thúc đẩy động cơ học tập; (3)ĐG nhằm dự báo; (4)ĐG nhằm phân loại; (5)ĐG để cấp giấy chứng nhận; (6)ĐG mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng của MH; (7)ĐG tư duy phân tích và phản biện; (8)ĐG tư duy tổng hợp và sáng tạo; (9)ĐG kỹ năng giải quyết vấn đề; (10)ĐG kỹ năng vận dụng và thực hành; (11)ĐG thái độ, giá trị và tự nhận thức; (12)ĐG phản hồi của người học đối với hoạt động giảng dạy [1],[5]v.v

Đối với vệc vận dụng các phương pháp kiểm tra- ĐGKQHT môn học của

SV như nêu trên trong đào tạo theo tín chỉ ở nước ta hiện nay đòi hỏi cơ chế quy định về học vụ và đặc biệt là các quy định đề kiểm tra, tính điếm môn học… của SV phải rõ ràng, thống nhất và chỉ quy định “phần cứng” như là

Trang 4

những yêu cầu chung có tính nguyên tắc; còn “phần mềm” dành cho sự áp dụng linh hoạt và thích hợp trong thực tiễn giảng dạy của giảng viên Chẳng hạn, trong trường hợp nào áp dụng kỹ thuật kiểm tra theo chuẩn, hay theo tiêu chí là do sự xác định của giảng viên phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của môn học và người học miễn sao hoạt động này mang lại hiệu quả trong học tập của SV và góp phần kiểm soát chất lượng đào tạo, đáp ứng mục tiêu, chuẩn đầu ra ở cấp độ môn học một cách tốt nhất

Tóm lại, phương pháp ĐG phản ánh rõ nét nhất tính linh hoạt, linh

động, sinh động và phong phú sự kết hợp hợp lý, chặt chẽ giữa công cụ/kỹ thuật khác nhau bằng các hình thức ĐG thích hợp Tuy nhiên, việc thể hiện chúng dù có đa dạng đến đâu đi chăng nữa thì cũng phải tuân thủ những yêu cầu của nguyên tắc ĐG, góp phần thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nội dung ĐG, đảm bảo quá trình dạy học đại học diễn ra bình thường, thúc đẩy tính tích cực học tập của SV

Công cụ đánh giá kết quả học tập MH trong giáo dục đại học

Các công cụ ĐGKQHT MH ở đại học thường được sử dụng chủ yếu như: Câu

hỏi vấn đáp/phỏng vấn theo chủ đề; Câu hỏi trắc nghiệm (bao gồm trắc nghiệm

tự luận và trắc nghiệm khách quan); Hồ sơ học tập (truyền thống+ điện tử); Dự

án học tập; Bài thi thực hành; Bài tập ĐG năng lực thực hiện; Phiếu ĐG thái độ; Biên bản quan sát (hành vi); Phiếu ĐG theo đề mục (Rubric); Biên bản thảo luận nhóm; Bài tiểu luận; Đồ án nghiên cứu; Bài thuyết trình… Những công cụ ĐG

ấy, đương nhiên, có tác dụng và hạn chế nhất định của chúng Vì vậy, khi áp dụng, đòi hỏi giảng viên cần nắm rõ mục tiêu và nội dung cần đo lường ĐG để trên cơ sở đó mà đưa ra những hình thức ĐG thích hợp qua việc sử dụng linh hoạt các công cụ ĐG trong điều kiện thực tế giảng dạy và học tập của SV

Chúng tôi đưa ra ở đây 3 nhóm công cụ ĐGKQHT MH phổ quát nhất trong mối liên hệ với phương tiện thể hiện thông tin minh chứng về kết quả học tập của SV, đó là (1) công cụ kiểm tra- đánh giá sử dụng ngôn ngữ nói (oral tests); (2) công cụ kiểm tra- đánh giá sử dụng ngôn ngữ viết (written tests); và (3) công cụ kiểm tra- đánh giá sự thể hiện hành vi (thực tiễn) của SV (performance tests)

Hình thức đánh giá kết quả học tập MH trong giáo dục đại học

Hình thức ĐG được thể hiện trong hoạt động ĐGKQHT MH của SV phản ánh

những quy định về mối quan hệ giữa người được ĐG với các công cụ, kỹ thuật

ĐG được sử dụng trong bối cảnh thời gian, không gian nhất định mà SV phải

tuân thủ như là những yêu cầu có tính chất bắt buộc Ramsden & Dodds đưa ra

các hình thức KT-ĐG thường được áp dụng trong các trường đại học với những khả năng mà chúng mang lại cũng như một số ưu và nhược điểm tương ứng [7] Theo ETS (dịch vụ khảo thí giáo dục của Hoa Kỳ), các hình thức ĐGKQHT

MH được phân nhóm căn cứ trên dấu hiệu đặc trưng của công cụ kiểm tra và

sự thể hiện kiến thức, kỹ năng của người học qua các công cụ kiểm tra ấy Theo

đó, bao gồm các hình thức kiểm tra, ĐGKQHT MH như: (1) hình thức người học trả lời theo các phương án cho trước (selected-response assessments), với hình thức này có thể thiết kế các câu hỏi dạng nhiều lựa chọn, đúng- sai, đối chiếu cặp đôi…; (2) hình thức người học tự kiến tạo câu trả lời theo cấu trúc (Constructed-response assessments) như các dạng câu hỏi trả lời ngắn dưới dạng ngôn ngữ nói (oaral) hoặc ngôn ngữ viết (written) hoặc hành động cụ thể (Show your work)…; (3) hình thức người học thể hiện khả năng nhận thức bậc cao qua các chủ đề tiểu luận (essay assessments); và, (4) hình thức đánh giá

KQHT MH phức hợp được mô tả bằng thuật ngữ “complex forms of assessments” cũng có khi được gọi là đánh giá trực tiếp (direct assessment),

Trang 5

theo đó, các công cụ chủ yếu được dùng là qua các bài tập yêu cầu sự thể hiện

(performance) tổng hợp kiến thức- kỹ năng- phẩm chất của người học bằng việc giải quyết một vấn đề có tính thực tế hay kiến tạo một sản phẩm nhất định

và/hoặc qua hồ sơ học tập (portfolio) [10].

Theo chúng tôi, hình thức ĐGKQHT MH của SV trong đào tạo theo tín chỉ có thể kết hợp đa dạng qua các phương diện khác nhau như: kết hợp hình thức kiểm tra, ĐGKQHT nhóm và cá nhân; hình thức kiểm tra, ĐGKQHT trên lớp và trong thực tế; hình thức kiểm tra, ĐGKQHT khả năng trình bày ngôn ngữ nói, viết và thực hành… để qua đó có thể đánh giá bao quát về độ rộng cũng như chiều sâu về phẩm chất và năng lực của SV theo mục tiêu, yêu cầu môn học, ngành học chứ không chỉ tập trung xác nhận mức độ đạt kiến thức, kỹ năng cụ thể, riêng lẻ

2.1.2 Quy trình ĐGKQHT MH của SV trong giáo dục đại học

Một cách khái quát nhất, quy trình ĐGKQHT MH của SV trình bày trong nghiên cứu này được hiểu như là trình tự vận hành một cách hợp lý và triển khai có hệ thống các bước thực hiện hoạt động ĐGKQHT MH của SV từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc quá trình dạy học một MH/chủ đề học tập cụ thể

Có nhiều cách phân loại quy trình ĐGKQHT MH của SV khác nhau, có thể thấy qua một số phân loại sau:

- Quy trình chung của ĐGKQHT MH thường bao gồm các bước

Bước 1: Thiết kế “kết quả đầu ra/chuẩn đầu ra” (develop students’ learning

outcomes) cấp MH Nói cách khác bước đầu tiên trong quy trình ĐG này là dựa trên cơ sở của mục tiêu MH, giảng viên sẽ cụ thể hóa nó bằng các KQHT

kỳ vọng mà SV cần đạt được sau khi kết thúc MH; Bước 2: Lựa chọn “chiến

lược ĐG”, trong đó bao gồm dự kiến tổng thể các công cụ được sử dụng, các kỹ thuật và biện pháp đo lường- ĐGKQHT MH của SV (choose an assessment measure) Đương nhiên, không thể có một hay một ít công cụ, kỹ thuật KT-ĐG

có thể đo lường bao quát hết thảy các KQHT dự kiến của SV trong “chuẩn đầu ra” Vì vậy, chúng được lựa chọn và sử dụng cần phải đa dạng và đáp ứng tốt

so với yêu cầu, mục tiêu, nội dung ĐGKQHT MH của người học; Bước 3: Xác định các tiêu chuẩn và tiêu chí ĐG; Bước 4: Thực hiện việc ĐG; và, Bước 5: Sử

dụng kết quả ĐG [11]

- Quy trình cụ thể đánh giá kết quả học tập môn học

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về KT-ĐG trong dạy-học đại học và thực nghiệm đổi mới ĐGKQHT MH của SV, có tác giả đề xuất quy trình (chứa đựng

cả mặt nội dung và mặt kỹ thuật trong các bước của quy trình) gồm các bước

sau [5]: Bước 1: Phân tích mục tiêu, nội dung KT; Bước 2: Chọn các hình thức

KT phù hợp; Bước 3: Thiết kế các loại câu hỏi KT; Bước 4: Phân tích các câu hỏi KT; Bước 5: Tổ chức KT và chấm bài KT; Bước 6: Phân tích thống kê số liệu kết quả; Bước 7: ĐG lại câu hỏi thông qua kết quả KT; Bước 8: Chuẩn hóa kết quả KT; Bước 9: Công bố kết quả KT; Bước 10: Nhận xét, ĐG, cải tiến

Tuy nhiên, các quy trình ĐGKQHT MH như giới thiệu ở trên thường

được áp dụng trong dạy học ở đại học mang nhiều tính chất của quy trình kỹ thuật hoặc phục vụ cho mục tiêu tổ chức- quản lý hoạt động đào tạo Trong phần trình bày này, chúng tôi tham khảo có cải tiến quy trình ĐGKQHT MH theo quan điểm AA (Authentic Assessmnet) do Mueller, J [9] đề xuất để thiết

kế quy trình ĐGKQHT MH theo định hướng PTNL SV trong đào tạo theo tín chỉ (được thể hiện và trình bày rõ hơn trong nội dung tiếp sau)

2.2 Đề xuất đổi mới

2.2.1 Đổi mới phương thức ĐGKQHT MH theo định hướng PTNL SV

Trang 6

Bên cạnh kết hợp áp dụng phương thức ĐGKQHT MH như nội dung trình bày ở trên thì trong ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV chú trọng hơn các phương pháp, công cụ và hình thức kiểm tra- đánh giá sau:

-Phương pháp/Kỹ thuật đánh giá: chủ yếu là áp dụng kỹ thuật đánh giá

theo tiêu chí (criterion-referenced assessment);

-Công cụ đánh giá: kết hợp công cụ nói (oral), viết (written/essay) cùng với

ba công cụ đặc thù trong ĐGKQHT định hướng PTNL là thực hành (performance); hồ sơ học tập (portfolio) và bảng đề mục (rubric);

- Hình thức đánh giá: thông qua hoạt động thực hiện các công việc, các

NVHT của SV trong quá trình và sau khi kết thúc môn học.

2.2.2 Đổi mới quy trình ĐGKQHT MH theo định hướng PTNL SV

Hướng tiếp cận quan trọng nhằm đổi mới quy trình ĐGKQHT MH theo định hướng PTNL SV chính là tích hợp hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học

tập môn học của SV trong đào tạo theo tín chỉ, phù hợp với các quy định về khảo thí và quản lý đào tạo.Theo đó, các quy trình này bao gồm quy trình giảng dạy

và học tập, quy trình ĐGKQHT MH của SV được chuẩn bị từ giai đoạn thiết kế đến vận hành và tổng kết.

Quy trình giảng dạy và học tập theo định hướng PTNLSV

- Giai đoạn thiết kế, thiết kế các cấu phần quan trọng trong đề cương môn

học, bao gồm:

1 Mục tiêu môn học

- Mục tiêu chung: phát triển năng lực nhận thức, năng lực tự học, năng lực giao tiếp, năng lực làm việc nhóm, và năng lực quản lý thông tin

- Mục tiêu chuyên biệt: năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực thực hành trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan đến ngành học, môn học

2 Chủ đề học tập

Thành phần cơ bản trong một chủ đề học tập bao gồm: Khối tri thức khoa học cốt lõi; Khối tri thức có liên quan; Mối liên hệ và tác dụng của tri thức đối với sự thay đổi nhận thức và thái độ của SV; Mối liên hệ và khả năng vận dụng tri thức vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn

3 Nhiệm vụ học tập

Bao gồm: Nhiệm vụ tích lũy tri thức; Nhiệm vụ rèn luyện năng lực nhận thức và phẩm chất tư duy; Nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng hoạt động cơ bản; Nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng thực hành chuyên môn; Nhiệm vụ rèn luyện phẩm chất nhân cách

4 Kế hoạch tổ chức dạy học: thời gian, địa điểm, chủ đề học tập, nhiệm

vụ học tập tương ứng và công việc của SV, các sản phẩm học tập dự kiến, tiêu chí đánh giá…

- Giai đoạn thực thi, bao gồm sự tương tác và phối hợp công việc của GV

cùng với SV trong tiến trình của môn học, để qua đó đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong hoạt động giảng dạy- học tập Chẳng hạn như:

Công việc của GV: Công việc của SV:

1 Giảng trên lớp

2 Giao nội dung tự học

3 Giới thiệu đề tài thảo luận

4 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu

5 Nêu tình huống

6 Hướng dẫn thực hành;

7 Hướng đẫn làm thí nghiệm

1 Học trên lớp;

2 Tự học, tự nghiên cứu;

3 Làm việc nhóm;

4 Thuyết trình;

5 Giải quyết tình huống;

6 Thực hành mô phỏng;

7 Thí nghiệm;

Trang 7

8 Hướng dẫn khảo sát thực tế

9 Hỗ trợ thông tin, biểu mẫu…

10 Theo dõi, phản hồi, nhận xét quá

trình và kết quả học tập của SV…

1 Học trên lớp;

2 Tự học, tự nghiên cứu;

3 Làm việc nhóm;

4 Thuyết trình;

5 Giải quyết tình huống;

6 Thực hành mô phỏng;

7 Thí nghiệm;

8 Thực hành trong thực tế;

9 Khảo sát thực tiễn;

10 Thực hiện đồ án, dự án…

Có thể kể ra như trên đây một số công việc cụ thể của GV và SV ở khâu vận hành dạy học môn học; đồng thời, các công việc ấy cùng với quá trình và sản phẩm của chúng do SV tạo ra được coi như là các dữ liệu minh chứng (evidences) về KQHT của SV theo mô hình đánh giá này

- Giai đoạn tổng kết, lấy ý kiến phản hồi của SV về môn học nhằm cải tiến

dạy học Công việc này vừa có tác dụng tích cực cho việc xem xét, đánh giá chất lượng giảng dạy môn học vừa cung cấp thông tin cần thiết cho việc điều chỉnh chương trình môn học, đổi mới công tác quản lý đào tạo nói chung Đồng thời, qua đó còn thể hiện được tinh thần dân chủ đại học, gắn kết trách nhiệm và quyền lợi của SV đối với việc học tập môn học trong đào tạo theo tín chỉ

Quy trình đánh giá KQHT môn học theo định hướng PTNLSV

- Giai đoạn thiết kế, tập trung làm rõ chuẩn đánh giá KQHT môn học của

SV theo tiếp cận định hướng PTNL Trong đó, đưa ra các mức độ phát triển năng lực của SV theo năng lực chung (bao gồm năng lực nhận thức; tự học; giao tiếp; làm việc nhóm;và, quản lý thông tin ) và năng lực chuyên biệt (như năng lực nghiên cứu vấn đề chuyên môn; giải quyết vấn đề chuyên môn; và, thực hành chuyên môn- nghiệp vụ) đồng thời có sự chú trọng hài hòa cả năng lực cá nhân (personal competence) và năng lực liên cá nhân (interpersonal competence) trong hai nhóm năng lực ấy Chẳng hạn, trong nhóm năng lực chuyên biệt, có thể thể hiện các năng lực ấy dưới hình thức cá nhân độc lập hay trong sự hợp tác cùng nhau Dưới đây là gợi ý cụ thể hóa ở cấp độ 2 các năng lực ấy theo mức độ từ thấp lên cao

Chuẩn đánh giá mức độ phát triển năng lực chung

1 Năng lực nhận thức: (1)Nắm bắt sự kiện •(2)Giải thích khái niệm •(3)Phân tích bản chất •(4)Áp dụng tri thức •(5)Đánh giá tri thức •(6)Sáng tạo tri thức

2 Năng lực tự học: (1) Tự học có hướng dẫn •(2)Tự học độc lập

3 Năng lực giao tiếp: (1)Tiếp nhận thông tin •(2)Phản hồi•(3)Diễn đạt hiệu quả

4 Năng lực làm việc nhóm: (1) Chia sẻ quan điểm •(2) Chấp nhận sự khác biệt

• (3)Thống nhất mục tiêu và hoạt động chung • (4)Đạt kết quả theo yêu cầu

5 Năng lực quản lý thông tin: (1)Thu thập thông tin •(2)Xử lý thông tin •(3) Sử dụng thông tin

Chuẩn đánh giá mức độ phát triển năng lực chuyên biệt

1 Năng lực nghiên cứu chuyên môn: (1)Nghiên cứu đơn lẻ •(2)Nghiên cứu hệ

thống •(3)Nghiên cứu toàn diện

2 Năng lực GQVĐ chuyên môn: (1)Phát hiện đúng vấn đề • (2)Huy động nguồn

lực hợp lý •(3)Có ý tưởng đề xuất GQVĐ thích hợp •(4)GQVĐ thành công

•(5)GQVĐ sáng tạo

3 Năng lực thực hành chuyên môn-nghiệp vụ: (1)Thực hành đúng quy trình

và thao tác •(2)Thực hành đạt kết quả •(3)Thực hành thành thạo •(4)Thực hành linh hoạt •(5)Thực hành sáng tạo

Như đã trình bày, mô tả chuẩn đánh giá trên đây chỉ dừng lại ở cấp độ hai

và trong thực tế áp dụng cần cụ thể hóa đến cấp độ ba thành các tiêu chí ĐGKQHT của SV trong các môn học cụ thể; đồng thời, tùy thuộc vào yêu cầu thực tế của môn học mà áp dụng một cách linh hoạt chứ không chỉ cứng nhắc như trong phạm vi các năng lực nêu trên, các mức độ chuẩn đánh giá như trên

Trang 8

Trong giai đoạn này, như trên đã đề cập, chính là khâu thiết kế ĐGKQHT môn học nên việc quy hoạch chương trình KT-ĐG KQHT theo tiếp cận năng lực

là rất quan trọng Trong đó, giảng viên cần thiết kế bảng ma trận 2 chiều thể hiện các thông tin cần thiết về : (1) các chủ đề kiểm tra tương ứng với (2) các mức độ kết quả cần đạt qua KT-ĐG theo chuẩn năng lực (rút gọn lại 4 mức từ 2

nhóm năng lực chung và chuyên biệt) Sơ đồ hình 1 minh họa rõ nét hơn về mặt

kỹ thuật trong thiết kế ĐGKQHT môn học

Hình 1: Sơ đồ minh họa bảng ma trận quy định 2 chiều trong quy hoạch

chương trình ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV

- Giai đoạn thực thi, như hướng tiếp cận đề xuất mô hình ĐGKQHT MH đã

xác định trong đề tài này, hoạt động ĐGKQHT của SV được tích hợp, lồng ghép

và gắn kết chặt chẽ với hoạt động dạy học môn học Đặc biệt là thông qua những “sản phẩm học tập” khác nhau từ việc SV thực hiện các công việc, các nhiệm vụ học tập được quy định trong môn học mà GV sẽ theo dõi, thu nhận, phản hồi về “sản phẩm học tập”-đây chính là loại thông tin minh chứng KQHT mang tính đặc thù trong mô hình này Các công cụ kiểm tra có thể áp dụng phổ

biến ở đây như thực hành (performance); hồ sơ học tập (portfolio) và bảng đề mục (rubric).

Việc ĐGKQHT môn học của SV theo mô hình đề xuất ở đây chú trọng cả sản phẩm học tập của cá nhân và của nhóm như: (1) Sản phẩm học tập cá nhân: bài tập cá nhân; bài thu hoạch cá nhân; nội dung tự học, tự nghiên cứu…; (2) Sản phẩm học tập nhóm: Nội dung và kết quả làm việc nhóm; hoạt động mô phỏng; biên bản, các hình ảnh hoạt động kháo sát, thí nghiệm, thảo luận nhóm… Đây chính là các công cụ kiểm tra “đặc thù” được áp dụng trong mô hình đổi mới này

Dựa trên các sản phẩm học tập như nêu trên, SV cũng có thể tự lượng giá

kết quả đạt được theo tiêu chí ĐGKQHT MH đã được giới thiệu, phổ biến trước

đó trong đề cương môn học Đồng thời, GV sẽ căn cứ vào tiêu chí đánh giá ấy cùng với các sản phẩm học tập để xác nhận mức độ đạt KQHT của SV Một cách khái quát nhất, tiêu chí ĐGKQHT MH của SV theo mô hình này được cụ thể hóa theo chuẩn đánh giá nêu trên và được quy định theo thang đo như sau:

Trang 9

Xác nhận kết quả (định lượng) Xác nhận kết

quả (định tính) Năng lực chung và

năng lực chuyên biệt

Nhóm

tiêu chí tối thiểu

BÌNH Nhóm

tiêu chí làm chủ

Đạt trên 50% đến dưới 80% yêu cầu ĐẠT MỨC KHÁ

Nhóm

tiêu chí nâng cao

Đạt từ 80% yêu cầu trở lên ĐẠT MỨC TỐT

- Giai đoạn tổng kết, các bên có liên quan (Giảng viên phụ trách môn học,

Phòng Đào tạo, Khoa/Bộ môn, Phòng Khảo thí…) công bố xác nhận chính thức KQHT của SV phù hợp với quy chế đào tạo theo tín chỉ Hình 2 dưới đây mô tả các yếu tố quan trọng trong các giai đoạn tích hợp giảng dạy, học tập và ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV

Hình 2: Sơ đồ mô tả các yếu tố then chốt trong quy trình tổ chức dạy học

và KT-ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV

Điểm nổi bật của quy trình đánh giá KQHT theo mô hình này là có sự tích hợp và gắn kết với quá trình dạy học môn học trong đào tạo theo tín chỉ Hình

dung một cách khái quát nhất, quy trình đánh giá theo mô hình này gồm 3 giai

đoạn chính, đó là giai đoạn thiết kế (Designing), giai đoạn thực thi (Implementing) và giai đoạn tổng kết (Reviewing), gọi tắt là quy trình DIR Mỗi

giai đoạn nêu trên chứa đựng các khâu, các yếu tố cần đáp ứng trong sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hoạt động dạy học trong đào tạo theo tín chỉ (xem thêm minh họa Hình 3)

Ngày đăng: 23/11/2017, 07:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

nhóm năng lực chung và chuyên biệt). Sơ đồ hình 1 minh họa rõ nét hơn về mặt - Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ
nh óm năng lực chung và chuyên biệt). Sơ đồ hình 1 minh họa rõ nét hơn về mặt (Trang 8)
Hình 2: Sơ đồ mô tả các yếu tố then chốt trong quy trình tổ chức dạy học và KT-ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV - Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ
Hình 2 Sơ đồ mô tả các yếu tố then chốt trong quy trình tổ chức dạy học và KT-ĐGKQHT môn học theo định hướng PTNL SV (Trang 9)
Hình 3: Quy trình tích hợp ĐGKQHT MH theo định hướng PTNLSV vào dạy học trong đào tạo theo tín chỉ - Đổi mới phương thức và quy trình đánh giá kết quả học tập môn học theo định hướng phát triển năng lực sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ
Hình 3 Quy trình tích hợp ĐGKQHT MH theo định hướng PTNLSV vào dạy học trong đào tạo theo tín chỉ (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w