Công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng nhưng hiện nay, việc thực hiện... Đề tài được nghiên cứu nhằm tổng kế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN CÔNG SINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG
TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HẢI CHÂU
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÂM CHÍ DŨNG
Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Người cam đoan
TRẦN CÔNG SINH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục của luận văn 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 8
1.1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay 8
1.1.2 Chức năng của bảo đảm tiền vay 8
1.1.3 Các hình thức bảo đảm tiền vay 10
1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 21
1.2.1 Tiếp nhận, xử lý hồ sơ bảo đảm 21
1.2.2 Thẩm định tài sản bảo đảm và định giá tài sản đảm bảo 22
1.2.3 Thiết lập hợp đồng bảo đảm 24
1.2.4 Quản lý tài sản bảo đảm 25
1.2.5 Xử lý TSBĐ; kết thúc hợp đồng bảo đảm 26
1.3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN 27
1.3.1 Quan điểm về đánh giá kết quả bảo đảm tiền vay 27
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá 27
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO ĐẢM TIỀN VAY 30
Trang 41.4.1 Nhóm nhân tố bên ngoài 30
1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HẢI CHÂU 36
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT CHI NHÁNH HẢI CHÂU 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh 37
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh 38
2.1.4 Khái quát kết quả hoạt động của chi nhánh từ năm 2011-2013 40
2.2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI CHI NHÁNH 45
2.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động BĐTV bằng tài sản tại Chi nhánh 45
2.2.2 Kết quả công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Chi nhánh 46
2.2.3 Thực trạng thực hiện các nội dung của công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản 53
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN 57
2.3.1 Những mặt thành công trong công tác BĐTV bằng tài sản tại Chi nhánh 57
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với hoạt động BĐTV bằng tài sản tại Chi nhánh 59
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH
HẢI CHÂU 71
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BĐTV BẰNG TÀI SẢN CỦA NHNo&PTNT CHI NHÁNH HẢI CHÂU 71
3.1.1 Định hướng chung của NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu 71
Trang 53.1.2 Định hướng hoàn thiện công tác BĐTV bằng tài sản tại
NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu 73
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BĐTV BẰNG TÀI SẢN TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH HẢI CHÂU 74
3.2.1 Hoàn thiện quy trình chuẩn về bảo đảm tiền vay bằng tài sản 74
3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác định giá tài sản bảo đảm 75
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý tài sản bảo đảm 77
3.2.4 Hoàn thiện công tác xử lý tài sản bảo đảm 78
3.2.5 Đa dạng hoá danh mục tài sản bảo đảm 79
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống thông tin về tài sản bảo đảm và khách hàng 81
3.2.7 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ tín dụng, cán bộ định giá tài sản bảo đảm 82
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG BĐTV TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH HẢI CHÂU 83
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước, các bộ ngành 83
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và NHNo & PTNT Việt Nam 84
3.3.3 Kiến nghị với NHNo & PTNT Chi nhánh Hải Châu 87
3.3.4 Kiến nghị đối với khách hàng 88
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGRIBANK : Ngân hàng Nông nghiệp
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
(World Trade Organization)
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức NHNo & PTNT Chi
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu thu nhập của chi nhánh năm 2013 44
Biểu đồ 2.2 Dư nợ cho vay phân theo loại tài sản thế
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong các hoạt động của ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng đồng thời đây cũng là nghiệp vụ ẩn chứa nhiều rủi ro nhất Tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: Quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế Không có gì ngạc nhiên khi ta thấy thanh tra ngân hàng thường xuyên kiểm tra cẩn thận danh mục cho vay Hơn nữa, trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng không thể kiểm soát trực tiếp được các hoạt động Một khoản vay dù được đánh giá tốt nhưng vẫn hàm chứa một mức độ rủi ro nhất định, nằm ngoài khả năng phân tích và giám sát của ngân hàng Chính vì vậy một trong số các nguyên tắc cơ bản của hoạt động cho vay, ngoài việc thẩm định đánh giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án đầu tư là cho vay có tài sản bảo đảm Nguyên tắc có tài sản bảo đảm trong cho vay không những nâng cao ý thức trách nhiệm sử dụng có hiệu quả vốn vay, ý thức trả nợ đúng hạn của khách hàng mà còn đề phòng khi khách hàng xảy ra rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng
Vì vậy hiện nay hoạt động ngân hàng trên thế giới rất phát triển, nhưng nguyên tắc bảo đảm tín dụng vẫn được duy trì và tôn trọng Việc cấp tín dụng
sẽ cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều nếu nó được bảo đảm bằng tài sản, nhất là các loại tài sản có tính thanh khoản và giá trị cao
Công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng nhưng hiện nay, việc thực hiện
Trang 10vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc Vì vậy, việc hoàn thiện công tác này tại các NHTM nói chung cần phải được thực hiện như một biện pháp tạo đà để đẩy nhanh tiến trình lành mạnh hoá hoạt động tài chính của các ngân hàng Việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề về bảo đảm tiền vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hải Châu cũng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và cần phải hoàn thiện
Chính vì lý do đó, việc chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền
vay bằng tài sản tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hải Châu” để nghiên cứu là phù hợp trong thời điểm hiện nay Đề tài
được nghiên cứu nhằm tổng kết lý luận từ thực tiễn thông qua thực trạng hoạt động bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Châu, từ đó đưa ra những giải pháp và khuyến nghị
để góp phần hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Chi nhánh trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về về hoạt động bảo đảm tiền vay tại NHTM
- Phân tích, đánh giá thực trạng BĐTV tại Chi nhánh NHNNo & PTNT Hải Châu, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác BĐTV trong thời gian qua tại Chi nhánh này
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác BĐTV bằng tài sản tại Chi nhánh NHNo&PTNT Hải Châu
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt động tín dụng của NHTM , và thực tiễn bảo đảm tiền vay bằng tài sản tại Chi nhánh NHNo Hải Châu
- Về phạm vi nghiên cứu:
Trang 11+ Luận văn chỉ nghiên cứu hình thức bảo đảm bằng tài sản tại Chi nhánh
+ Về khảo sát, nghiên cứu đánh giá thực trạng luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi thời gian từ năm 2011 đến năm 2013
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là công tác BĐTV? Vai trò của BĐTV trong hoạt động của NHTM là gì? Những tiêu chí nào đánh giá kết quả hoàn thiện công tác BĐTV? Các nhân tố ảnh hưởng đến BĐTV là gì?
- Thực trạng của công tác BĐTV tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu như thế nào? Chi nhánh đã đạt được những kết quả gì trong công tác BĐTV? Những vấn đề tồn tại khi Chi nhánh thực hiện quy trình BĐTV? Nguyên nhân của những vấn đề tồn tại, hạn chế đó là gì? Những vấn đề gì cần phải được giải quyết để hoàn thiện công tác BĐTV tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu ?
- Giải pháp chủ yếu gì cần được triển khai để hoàn thiện công tác BĐTV tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hải Châu?
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Về phương pháp luận nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Xem xét hoạt động BĐTV bằng tài sản trong quá khứ, hiện tại để rút ra các mặt được và chưa được trong công tác BĐTV bằng tài sản Từ đó, đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích diễn giải, thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, tư duy logic, phân tích hệ thống, …, kết hợp giữa lý luận với thực tiển
để giải quyết các vấn đề liên quan của luận văn
Trang 126 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của luận văn được
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản
tại NHNo&PTNT chi nhánh Hải Châu
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
- Trong luận án tiến sĩ kinh tế, với đề tài “Định giá bất động sản thế chấp
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” (bảo vệ năm 2011), tác giả Ngô Thị
Phương Thảo đã tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan với mục tiêu
hoàn thiện định giá bất động sản thế chấp trong các NHTM Việt Nam, luận án
đã đưa ra một số kiến nghị: (1) Cần phải có những thay đổi về quan điểm và
nhận thức trong hoạt động định giá bất động sản thế chấp của các NHTM theo
hướng coi đây là một hoạt động nhằm tạo tính thanh khoản cho hàng hóa bất
động sản trên thị trường tài chính thứ cấp phát triển trong tương lai, để từ đó
có những định hướng đúng đắn cho việc định giá bất động sản thế chấp; (2)
Cần xây dựng qui trình và phương pháp định giá thống nhất theo loại hình
NHTM; (3) Xây dựng tiêu chí đánh giá và điểm đánh giá của từng tiêu chí
trong quá trình điều chỉnh các yếu tố so sánh nhằm khắc phục những hạn chế
của phương pháp định giá so sánh; các NHTM cần tiến hành xây dựng đơn
giá đất thị trường; (4) Cần tạo điều kiện cho việc phát triển hoạt động thế
chấp bất động sản, đặc biệt là sự phát triển của thị trường tài chính bất động sản
Trang 13- Luận văn cao học của tác giả Lưu Thị Hồng Hạnh với đề tài “Thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội” (bảo vệ năm 2011) đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, trong đó nhấn mạnh vào khía cạnh pháp lý của hoạt động này Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân, có nhấn mạnh trọng tâm vào khía cạnh kỹ thuật nghiệp vụ và khía cạnh pháp lý của hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Quân Đội Từ đó tác giả đã đề xuất một số kiến nghị (tập trung vào khía cạnh
kỹ thuật, nghiệp vụ và pháp lý) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
Đề tài :“Bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng”, Luận văn Thạc sỹ tác giả Lương Minh Trí, bảo vệ tại Đại học Đà nẵng năm 2011 Tác giả tập trung nghiên nhữngvấn đề về bảo đảm tiền vay (cả có tài sản và không có tài sản) tại Chi nhánh NHNo&PTNT Quận Sơn Trà nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận
về bảo đảm tiền vay Đồng thời, tác giả còn nghiên cứu thực tế về chất lượng của công tác bảo đảm tiền vay tại Chi nhánh Ngân hàng No &PTNT Quận Sơn Trà để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động BĐTV tại Chi nhánh
Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trương Thị Kim Dung với đề tài
“Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng” (bảo vệ năm 1996) Tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện hợp đồng, thực tiễn việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng, đặc biệt nhấn mạnh và nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh pháp lý của vấn đề này Từ đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm
Trang 14hạn chế rủi ro pháp lý, bảo vệ ngân hàng khỏi những rủi ro này khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng
Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Trần Thị Thu Thủy với đề tài “Chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng – Thực trạng và giải pháp” (bảo
vệ năm 1998) Trong luận văn này, tác giả đã nghiên cứu thực trạng các vấn
đề chuyên sâu về khía cạnh pháp lý về bảo đảm hợp đồng tín dụng Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các chế định bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân hàng
- Ngoài ra, trong thời gian qua cũng đã có nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh khác nhau liên quan đến vấn đề BĐTV như: “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại: một số nhận định từ góc độ pháp lý đến thực tiễn” (ThS Nguyễn Thùy Trang, Tạp chí Ngân hàng, số 23/2010); “Thực tiễn
cơ chế bảo đảm tiền vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (Trần Minh Sơn, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 128 – năm 2008); “Bàn về đánh giá tài sản đảm bảo tiền vay hiện nay”, (ThS Huỳnh Kim Trí , Cổng thông tin điện tử Vietinbank - 2012); “Hoàn thiện pháp luật bảo đảm tiền vay trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Phương, Tạp chí Ngân hàng, số chuyên đề 11/2007); “10 vấn đề pháp lý trong việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất” (Trương Thanh Đức, Tạp chí Ngân hàng, số 4 năm 2005);
Trang 15sản hoặc không có tài sản bảo đảm bằng tài sản; khách hàng vay có thể là khách hàng cá nhân hoặc khách hàng doanh nghiệp Một số vấn đề các đề tài trước chưa tập trung nghiên đó là: Những các tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thiện công tác BĐTV, xác định những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công tác BĐTV…Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu đã được thực hiện khá lâu, đến nay bối cảnh kinh tế - xã hội đã có những thay đổi nhất định, nhất là
kể từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, tác động không ít đến khu vực tài chính - ngân hàng của Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN
TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tín dụng là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay (NHTM) dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc
sở hữu của người đi vay (khách hàng) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Bảo đảm tín dụng còn được hiểu là việc thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện cho Ngân hàng thoả mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định
Như vậy, thực chất BĐTV là một trong những biện pháp để phòng ngừa rủi ro của tổ chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng đưa ra các hình thức bảo đảm thích hợp áp dụng cho từng đối tượng khách hàng và biện pháp xử lý các bảo đảm đó nhằm hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra
1.1.2 Chức năng của bảo đảm tiền vay
- Giảm bớt tổn thất cho Ngân hàng khi khách hàng vì một lý do nào đó không thực hiện thanh toán được nợ cho Ngân hàng Giúp Ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai
+ Bảo đảm tiền vay được xác định như là nguồn thu nợ thứ hai của các ngân hàng Khi cấp tín dụng ngân hàng đã xác định được nguồn thu nợ thứ nhất cho việc thu hồi khoản vay, đối với cho vay vốn cố định thì nguồn này chủ yếu là từ khấu hao và lợi nhuận để lại, đối với cho vay vốn lưu động thì nguồn thu là doanh thu, còn cho vay tiêu dùng thì đó là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí Tuy nhiên vẫn có rất nhiều tình huống mà nguồn thu nợ thứ nhất không thể thực hiện được, khi đó đòi hỏi ngân hàng phải tính đến
Trang 17nguồn thu nợ thứ hai để bảo đảm thu hồi vốn Vì thế khi cấp tín dụng ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải thực hiện BĐTV Đó là biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, giúp ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu thứ nhất không thực hiện được
- Gắn trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá trình sử dụng vốn Làm động lực thúc đẩy khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ Nếu không trả được nợ sẽ mất tài sản và tốn kém chi phí nhiều hơn
+ Bảo đảm tiền vay cũng gắn liền với trách nhiệm vật chất của nguời đi vay, bảo đảm khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả tránh tổn thất cho ngân hàng Nhờ BĐTV mà ngân hàng có thể thu được nợ khi khách hàng cố tình không trả nợ Do đó các tranh chấp được hạn chế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vay vốn của các TCTD cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội
- Bảo đảm tiền vay kích thích hoạt động cho vay của các TCTD
+ Bảo đảm tiền vay là một điều kiện để xét cấp tín dụng, giúp cho ngân hàng có thể mở rộng tín dụng cho khách hàng Nhờ có BĐTV mà ngân hàng
có thể dễ đưa ra quyết định cho vay hơn, góp phần mở rộng thị phần của ngân hàng và tăng năng lực cạnh tranh cho ngân hàng
+ Thực hiện BĐTV giúp cho ngân hàng có thể bảo toàn vốn vay, tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế
Ngoài ra, bảo đảm tiền vay còn có vai trò là giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất đối xứng Sự thành công của một ngân hàng trên thị trường phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thu thập, xử lý cung cấp thông tin để đánh giá khách hàng trước khi cho vay và giám sát hoạt động kinh doanh của khách hàng sau khi cho vay Trên thực tế, nhiều thông tin cần thiết để đánh giá và giám sát khách hàng vay vốn không sẵn có tại ngân hàng Trong trường hợp
Trang 18đó, ngân hàng sẽ đối mặt với 2 hậu quả của vấn đề “thông tin bất đối xứng”,
đó là “sự lựa chọn đối nghịch” và “rủi ro đạo đức” trong hoạt động cho vay Như vậy BĐTV có chức năng vô cùng quan trọng đối đối với hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên trong quá trình cấp tín dụng không nên quá chú trọng vào BĐTV, coi đây là yếu tố quyết định mà không xét đến các yếu tố khác như hiệu quả của dự án, năng lực tài chính như vậy có thể sẽ dẫn đến giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng Do đó chỉ nên coi đây là biện pháp phòng ngừa rủi ro chứ không phải là nguyên tắc cấp tín dụng, là một điều kiện giúp cho khoản cho vay của ngân hàng lành mạnh Thực hiện BĐTV một cách linh hoạt giúp giảm thiểu rủi ro, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển và góp phần tăng uy tín cũng như năng lực cạnh tranh của ngân hàng
1.1.3 Các hình thức bảo đảm tiền vay
NHTM có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt với các quốc gia có thị trường vốn chưa phát triển Do đặc trưng trong kinh doanh tín dụng, các NHTM luôn phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn Những rủi ro này thường xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, gây nên những tổn thất cho các NHTM nói riêng, nền kinh tế nói chung và một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ gây rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM
là việc thực hiện chưa tốt công tác BĐTV, dẫn đến việc không thu hồi được
nợ, tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động NH, gây phương hại đến nền kinh tế Do đó, các hình thức BĐTV ra đời là một đòi hỏi mang tính tất yếu
khách quan, đáp ứng nhu cầu bức xúc của thực tế hoạt động của các NHTM
Thông thường có hai hình thức BĐTV chủ yếu mà các NH áp dụng đối với khách hàng vay là bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân hay còn gọi là bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm bằng tín chấp Tuỳ từng khách hàng mà ngân hàng có thể lựa chọn cho vay theo hình thức nào cho phù hợp, để vừa
Trang 19giữ được khách hàng vừa đảm bảo được mục tiêu kinh doanh của NH là an toàn và sinh lợi
a Bảo đảm tiền vay bằng tài sản
BĐTV bằng tài sản là việc cho vay vốn của NH mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba BĐTV bằng tài sản cho phép NH có được nguồn thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không đủ Do khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng do thu nhập từ hoạt động giảm sút mạnh Vì vậy trừ những khách hàng có uy tín cao
NH thường yêu cầu khách hàng phải có TSBĐ khi vay vốn NH nhằm hạn chế bớt các thiệt hại cho NH khi khách hàng có khó khăn không trả được nợ BĐTV bằng tài sản chỉ là biện pháp phòng ngừa rủi ro, NH không coi đó là nguồn trả nợ chính của khoản vay Vì vậy mà NH phải lựa chọn hình thức hoặc loại bảo đảm nào mà bản thân khách hàng vay vốn cũng không muốn dùng nó như một nguồn trả nợ
Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm BĐTV Tài sản dùng làm BĐTV phải đáp ứng đủ 4 điều kiện dưới đây:
Thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh: Để chứng minh được quyền này, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải xuất trình Giấy chứng nhận sở hữu, quyền quản lý sử dụng tài sản
Thuộc loại tài sản được phép giao dịch: là các tài sản mà pháp luật không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khác
Trang 20Không có tranh chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm: phải có cam kết bằng văn bản về việc tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý tài sản đó và phải chịu trách nhiệm về cam kết của mình
Phải mua bảo hiểm nếu pháp luật qui định
Việc ngân hàng yêu cầu có tài sản cầm cố, thế chấp bằng tài sản nhằm đạt mục tiêu:
Việc cầm cố, thế chấp tài sản ràng buộc người vay phải có trách nhiệm và tích cực hơn trong việc thanh toán các khoản nợ của mình vì thông thường khi cho vay, NH chỉ cho vay số tiền nhỏ hơn giá trị TSBĐ
Trong trường hợp xảy ra rủi ro, NH có được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ hoạt động kinh doanh của khách hàng vay không đảm bảo trả nợ
* Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố của khách hàng vay:
Cầm cố là việc một bên (khách hàng vay hoặc bên thứ 3) gọi là bên cầm
cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình giao cho NH quản lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng
- Đặc điểm của tài sản được sử dụng trong cầm cố:
+ Tài sản được sử dụng trong cầm cố nói riêng và trong giao dịch bảo đảm nói chung được gọi là TSBĐ
+ Tài sản BĐTV là tài sản của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản của bên thứ ba dùng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
+ TSBĐ có thể là tài sản thuộc sở hữu của khách hàng vay hoặc tại thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc có thể là tài sản hình thành trong tương lai và sẽ thuộc sở hữu của khách hàng sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập Thông thường tài sản hình thành trong tương lai là tài sản của khách hàng vay
mà giá trị của tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ vốn của NHTM
Trang 21* Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay
Thế chấp là một bên (khách hàng vay, bên thứ ba) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc quyền sử dụng đất của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ trả nợ với ngân hàng mà không chuyển giao tài sản cho ngân hàng quản lý Như vậy, muốn thế chấp tài sản thì trước hết khách hàng phải có quyền
sở hữu tài sản đó Vì quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản nên nhất thiết chủ sở hữu phải chứng minh được quyền sở hữu tài sản của mình bằng những giấy tờ sở hữu hợp pháp để đảm bảo quyền ưu tiên trong xử lý tài sản sau này của bên cho vay trong trường hợp rủi ro xảy ra Tuy nhiên, không phải bất cứ một loại tài sản nào cũng có thể đem đi thế chấp mà nó phải thoả mãn một số điều kiện nhất định tuỳ thuộc vào quy định của pháp luật
Nhiều tài sản của khách hàng trở thành TSBĐ cho các khoản vay của
NH nhưng vẫn tham gia vào quá trình hoạt động Những tài sản này NH không thể yêu cầu cầm cố như: Máy móc, trang thiết bị, nhà đất mà phải bảo đảm bằng thế chấp, cho phép người vay được sử dụng TSBĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh Đó là một thuận lợi Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng hoặc giảm giá trị tài sản, hơn nữa, do khả năng kiểm soát TSBĐ của NH bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán hoặc làm giảm giá trị TSBĐ
- Những tài sản được thế chấp bao gồm:
(i) Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản gắn liền với đất
(ii) Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp
(iii) Tàu biển theo quy định của bộ luật hàng hải, tàu bay theo quy định của luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp
Trang 22(iv) Tài sản hình thành trong tương lai gồm: Tài sản được hình thành từ vốn vay; tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật ( Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất)
(v) Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
* Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bảo lãnh là việc bên thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với NH (TCTD) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng vay nếu khi đến hạn mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Như vậy, bên bảo lãnh chỉ được phép bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chính mình TCTD và bên bảo lãnh có thể thoả thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Khi nhận tài sản thế chấp, TCTD sẽ tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, cũng như các điều kiện của TSBĐ
Khi xem xét và quyết định cho vay có TSBĐ của bên thứ ba, NH cần quan tâm đến các nguyên tắc bảo lãnh sau:
- Thứ nhất, bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh một cách tự nguyện và chỉ
được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình
- Thứ hai, mỗi lần bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh
của mình
- Thứ ba, NH cần xem xét kỹ lưỡng khả năng tài chính, tình trạng tài sản
và uy tín của bên bảo lãnh
Trong quá trình bảo lãnh, bên thứ ba (tức người bảo lãnh) phải có trách nhiệm trả nợ thay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không trả được nợ cho NH (nợ ở đây bao gồm cả gốc,
Trang 23lãi và phí khác nếu có) và bên bảo lãnh cũng phải đôn đốc người đi vay thanh toán nợ cho NH Mặt khác người bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu NH kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng vay khi cần thiết và khi bên bảo lãnh
đã trả nợ thay cho con nợ thì có nghĩa là họ đã trở thành chủ nợ trực tiếp, lúc này quan hệ giữa NH và bên bảo lãnh được chấm dứt
Đối với các tài sản của bên thứ ba thì phải có đủ các điều kiện bảo đảm tiền vay, còn bên thứ ba thì phải đủ các điều kiện:
- Đối với pháp nhân, cá nhân Việt Nam: Bên bảo lãnh phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo qui định của pháp luật Việt Nam
- Đối với bên bảo lãnh là pháp nhân, cá nhân nước ngoài: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo qui định pháp luật của nước
mà bên bảo lãnh là pháp nhân nước ngoài có quốc tịch hoặc cá nhân nước ngoài là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ luật dân sự của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam qui định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia qui định, trong trường hợp pháp nhân,cá nhân nước ngoài xác lập, thực hiện việc bảo lãnh tại Việt Nam, thì phải có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự theo qui định của pháp luật Việt Nam
* Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai
Bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai là hình thức trong đó khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay ( là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó
Hình thức bảo đảm này tiềm ẩn nhiều rủi ro vì tại thời điểm cho vay tài sản đó chưa hình thành, nó được hình thành trong tương lai, mà trong tương lai thì khó thì khó có thể dự đoán chính xác được các điều xảy ra, liệu tài sản
đó có theo đúng cam kết ban đầu, tính thanh khoản có cao không Do đó để
Trang 24thực hiện hình thức này NH cần hết sức cẩn trọng Do vậy, khi cho vay, NH cũng phải thường xuyên giám sát, kiểm tra và quản lý tốt nguồn tài sản này Pháp luật hiện thời không có quy định chi tiết về điều kiện cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay mà dành quyền tự chủ cho các TCTD Trên tinh thần kế thừa những ưu điểm của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm tiền vay có hiệu lực từ ngày 13 tháng 01 năm 2007 thay thế Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25 tháng
10 năm 2002, hầu hết các TCTD đều quy định các điều kiện sau:
i) Khách hàng phải có nguồn vốn tự có tham gia vào dự án từ 15% trở lên; có phương án, dự án kinh doanh khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật;
ii) Tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay phải xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng; xác định được giá trị, số lượng và được phép ký quỹ, cầm cố, thế chấp Đối với tài sản hình thành từ vốn vay là vật tư hàng hoá, thì ngoài việc có đủ các điều kiện này, đơn vị cho vay phải có khả năng quản lý, giám sát được tài sản bảo đảm;
iii) Đơn vị cho vay có biện pháp thực tế, hữu hiệu bảo đảm quản lý được toàn bộ tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản hình thành từ vốn tự có của khách hàng
- Điều kiện đối với tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay là:
+ Thứ nhất: quyền sở hữu thuộc về khách hàng vay Đối với tài sản của
DNNN phải xác định được quyền quản lý, sử dụng tài sản là bất động sản gắn liền với đất, thì khách hàng vay phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của khu đất trên đó mà tài sản được hình thành và hoàn thành các thủ tục về
đầu tư theo quy định của pháp luật
Trang 25+ Thứ hai:phải xác định danh mục, số lượng, giá trị, đặc điểm của tài sản, việc xác định này dựa vào phương án đầu tư
+ Thứ ba: Tài sản được phép giao dịch không có tranh chấp Đối với tài
sản hình thành từ vốn vay mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm, thì khách hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi
tài sản đã được hình thành và đưa vào sử dụng
+ Thứ tư: Là giao dịch hợp pháp, hợp đồng bảo đảm bằng TSHTTTL và phụ lục của nó phải được công chứng, chứng thực khi có yêu cầu hợp lệ
- Tài sản hình thành thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất
Trên đây là những vấn đề cơ bản về cho vay có bảo đảm bằng tài sản Tuy nhiên, trong thực tế các biện pháp BĐTV bằng tài sản không phải bao giờ cũng tối ưu, vì việc xử lý TSBĐ diễn ra rất phức tạp và có nhiều bất cập Mặt khác các NHTM chỉ coi nó là một trong những biện pháp phòng ngừa rủi
ro chứ không phải là nguyên tắc cấp tín dụng
b Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản
NH không phải lúc nào cũng yêu cầu khách hàng vay phải có TSBĐ nhất
là đối với những khách hàng có uy tín, khách hàng truyền thống Hình thức đảm bảo này chính là đảm bảo đối nhân, tức là NH cho khách hàng vay dựa trên chính uy tín của khách hàng hoặc có sự đảm bảo bằng uy tín và khả năng tài chính của người thứ ba Như vậy có hai biện pháp cho vay trong hình thức bảo đảm thứ hai này
Cho vay theo hình thức này tiềm ẩn rủi ro khá cao đối với NH, vì vậy mà
NH phải rất thận trọng khi cho vay, để bảo đảm an toàn thì khi cho vay NH nên đưa ra một số qui định đối với khách hàng vay hoặc bên thứ ba nếu xét thấy khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hoặc có dấu hiệu kinh doanh không hiệu quả
Trang 26* Điều kiện đối với khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi,
có khả năng hoàn trả; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
* Đối với hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, các TCTD thường thực hiện dưới các hình thức:
- TCTD chủ động lựa chọn khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản
Hiện nay, các TCTD có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản với điều kiện phải tuân thủ các quy định của Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành liên quan Việc áp dụng hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tuy có nhiều rủi ro song lại là phổ biến trong hoạt động tín dụng của các NHTM bởi sự đánh đổi giữa doanh thu, lợi nhuận và tính bấp bênh, mạo hiểm trong kinh doanh Mặt khác, khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản không có nghĩa là dự án đầu tư, phương án kinh doanh của họ không khả thi và hiệu quả Nếu chỉ vì lý do không có BĐTV bằng tài sản mà từ chối những khách hàng vay vốn có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, khả thi thì đồng nghĩa với việc NHTM tự thu hẹp cho hoạt động kinh doanh của mình Do vậy, việc lựa chọn
và áp dụng các biện pháp BĐTV phải vô cùng linh hoạt và thích ứng với từng điều kiện khách hàng cụ thể đồng thời cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, của NHNN và các Bộ, ngành liên quan
Đối với khách hàng được vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định phải thoả mãn các điều kiện sau:
Trang 27+ Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đầy đủ trong quan hệ vay vốn
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy định của pháp luật
+ Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
+ Được xếp hạng tín nhiệm theo tiêu chí phân loại khách hàng của các TCTD
+ Trách nhiệm của TCTD được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ:
TCTD thực hiện đúng các quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ và tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình xem xét cho vay cũng như các trình tự trong quy trình tín dụng, kiểm tra việc sử dụng vốn
và thu hồi nợ của khách hàng Sau đó tiến hành theo dõi riêng các khoản vay theo chỉ định và báo cáo tình hình sử dụng vốn vay, khả năng thu hồi nợ và kiến nghị các biện pháp xử lý những tổn thất trong các trường hợp không thu hồi được nợ
Việc xử lý tổn thất của các khoản vay theo chỉ định Theo đó Chính phủ sẽ xử lý tổn thất cho các TCTD trong trường hợp khách hàng vay vốn không trả được nợ gốc và nợ lãi do các nguyên nhân sau:
Trang 28i Do những biến cố bất khả kháng như: Thiên tai, hoả hoạn và các biến
cố rủi ro khác
ii Khách hàng vay vốn là tổ chức kinh tế bị giải thể theo quyết định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc bị tuyên bố phá sản mà sau khi xử lý theo quy định của pháp luật vẫn không trả đủ nợ cho TCTD
iii Do Nhà nước thay đổi chủ trương, chính sách dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay gặp khó khăn và không trả được nợ cũng như các nguyên nhân khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
+ Trách nhiệm của khách hàng vay gồm:
Thực hiện đầy đủ cam kết trong hợp đồng tín dụng
Thực hiện đúng các quy định của Thủ tướng Chính phủ hoặc Chính phủ khi sử dụng vốn vay đối với các khoản vay theo chỉ định
Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những tổn thất trong việc sử dụng vốn vay do nguyên nhân chủ quan của mình gây ra
Do việc quy trách nhiệm rõ ràng nên hình thức cho vay theo chỉ định
là khá an toàn nhưng bên cạnh đó nó cũng bộc lộ một số hạn chế trong việc
NH khó kiểm soát vốn vay phát ra, khối lượng tín dụng thường lớn, khả năng rủi ro khá cao do các mục tiêu chính trị, xã hội nên tính hiệu quả về kinh tế, tính khả thi đôi khi ít được quan tâm Việc xử lý tổn thất của Chính phủ còn nhiều bất cập, chậm trễ, gây khó khăn, thiệt hại về kinh tế cho hoạt động kinh doanh của NHTM
- Bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ chức chính trị - xã hội
Bảo lãnh bằng tín chấp là việc các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại
cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn tại tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ
Các TCTD được phép chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện
Trang 29các dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
+ Chỉ các tổ chức đoàn thể tại cơ sở của Hội nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng sản, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được thực hiện bảo lãnh bằng tín chấp
+ Việc bảo lãnh này phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ: Số tiền vay, mục đích vay, nghĩa vụ của người vay, người bảo lãnh và của TCTD
+ Người được bảo lãnh phải là cá nhân, hộ gia đình nghèo thuộc một trong những tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên, đồng thời mức vay tối đa của mỗi cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo lãnh bằng tín chấp sẽ do NHNN Việt Nam quy định trong từng thời kỳ nhất định
Với hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nhưng có bảo lãnh của Chính phủ, của các tổ chức xã hội đã góp phần để NH có căn cứ cho vay, mở rộng đối tượng cho vay, trong điều kiện khách hàng không TSBĐ Tạo điều kiện cho những khách hàng có những dự án sản xuất đầu tư hiệu quả, khả thi, có vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh
tế, cải thiện và nâng cao đời sống xã hội
1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.2.1 Tiếp nhận, xử lý hồ sơ bảo đảm
Bộ phận tín dụng là đầu mối tiếp xúc và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ tài sản bảo đảm Trong quá trình này, bộ phận tín dụng có trách nhiệm xác minh sơ bộ tính pháp lý, mức độ khả dụng tài sản có phù hợp với điều kiện nhận bảo đảm tại ngân hàng và quy định pháp luật, trong trường hợp:
+ Tài sản không đủ điều kiện: Thông báo cho khách hàng và đề nghị đổi tài sản khác
Trang 30+ Tài sản đủ điều kiện: Bộ phận tín dụng gửi giấy đề nghị định giá tài sản (kèm bản sao các giấy tờ sở hữu tài sản) cho bộ phận định giá
1.2.2 Thẩm định tài sản bảo đảm và định giá tài sản đảm bảo
Thẩm định tài sản bảo đảm là một khâu hết sức quan trọng, nó là khâu quyết định mức cho vay Căn cứ để thẩm định bao gồm:
- Hồ sơ tài liệu và thông tin do khách hàng cung cấp
- Cán bộ tín dụng khảo sát thực tế, khẳng định lại các thông tin thu thập được từ khách hàng và phát hiện những vấn đề mới cần thẩm định tiếp
- Các cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ liên quan tới tài sản bảo đảm
- Các nguồn thông tin khác: chính quyền địa phương, công an, tòa án, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các ngân hàng khác…
* Nội dung thẩm định:
- Thẩm định giá trị pháp lý của tài sản bảo đảm nợ vay:
+ Xem xét tính hợp pháp của tài sản bảo đảm, có thuộc loại tài sản cấm
hay không?
+ Tài sản có đang cầm cố, thế chấp ở một tổ chức tín dụng khác không?
+ Có bị tranh chấp pháp lý hay không?
- Thẩm định về tính sở hữu của tài sản: Phải trả lời được câu hỏi, tài sản thuộc sở hữu của ai?
Đối với loại có đăng ký quyền sở hữu thì việc thẩm định tính sở hữu của tài sản bảo đảm thông qua việc kiểm tra giấy tờ sở hữu tài sản Còn đối với những loại tài sản bảo đảm không đăng ký quyền sở hữu thì ngân hàng cần xem xét tính sở hữu của tài sản bảo đảm từ các nguồn thông tin khác như: tham khảo ý kiến của trung tâm phòng ngừa rủi ro, các người cư trú gắn với tài sản bảo đảm tiền vay…
Trang 31- Thẩm định tính hiện hữu của tài sản: Tài sản có thực sự tồn tại hay không? Về số lượng, chất lượng như thế nào?
- Thẩm định giá trị của tài sản: Giá trị tài sản là bao nhiêu? Bộ phận định giá thông báo cho bộ phận tín dụng thời gian đi định giá và yêu cầu bổ túc hồ
sơ tài sản (nếu có) Bộ phận tín dụng hẹn khách hàng thời gian định giá và đề nghị khách hàng chuẩn bị hồ sơ khi cán bộ ngân hàng xuống hiện trường định giá
- Thẩm định khả năng phát mại của tài sản: Tính thanh khoản của tài sản
đó như thế nào? Thị trường tiêu thụ hiện tại như thế nào? Dự đoán trong tương lai, có nhiều loại tài sản khác thay thế hay không?
* Xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay (Định giá tài sản):
Một là, tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm
ký kết hợp đồng bảo đảm; việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ để làm cơ sở xác định mức cho vay của tổ chức tín dụng, không áp dụng khi xử
lý tài sản để thu hồi nợ Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay phải được lập thành văn bản riêng kèm theo hợp đồng bảo đảm
Hai là, đối với tài sản bảo đảm tiền vay không phải là quyền sử dụng đất, thì việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay do các bên thoả thuận, hoặc thuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn xác định trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm xác định, có tham khảo đến các loại giá như giá quy định của nhà nước (nếu có), giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kế toán và các yếu tố khác
Trang 32Năm là, đối với tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ: Căn cứ số tiền của khách hàng còn được thanh toán (quyền đòi nợ gốc) còn trong hạn thanh toán được xác nhận bằng văn bản của các bên liên quan gồm
Sáu là, giá trị tài sản cầm cố, thế chấp được xác định bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản đó nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
Trong trường hợp tài sản thế chấp là toàn bộ bất động sản có vật phụ, thì giá trị của vật phụ cũng thuộc giá trị tài sản thế chấp; nếu chỉ thế chấp một phần bất động sản có vật phụ, thì giá trị vật phụ chỉ thuộc giá trị tài sản thế chấp khi các bên có thoả thuận
Việc đánh giá TSBĐ cho món vay (bao gồm việc thẩm định điều kiện tài sản thế chấp, năng lực pháp lý của người thế chấp tài sản, định giá tài sản, tính thanh khoản của tài sản,…) là cần thiết trong tình hình hiện nay Và như vậy, hơn lúc nào hết NHCV càng phải đề cao vai trò của TSBĐ từ việc tuân thủ tỷ lệ xác định cho vay tối đa do Trụ sở chính (TSC) qui định, chẳng hạn như: thẩm định vị trí, tính thanh khoản của quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, hạn chế hoặc từ chối TSBĐ là hàng hóa, máy móc thiết bị khó quản lý, thanh khoản thấp,
1.2.3 Thiết lập hợp đồng bảo đảm
Sau khi thẩm định, hai bên đã thỏa thuận được các điều kiện về tín dụng,
bộ phận tín dụng có nhiệm vụ soạn thảo hợp đồng bảo đảm tiền vay trình giám đốc hoặc người được ủy quyền ký Hợp đồng được lập thành 04 bản chính, phòng công chứng giữ 01 bản, nơi đăng ký giao dịch bảo đảm giữ 01 bản, khách hàng giữ 01 bản, ngân hàng giữ 01 bản được lưu ở phòng tín dụng Tùy theo từng hình thức và loại tài sản bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm có thể nằm trong hợp đồng tín dụng hoặc có thể lập thành hợp đồng bảo đảm riêng Đối với tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay, khi tài sản đã đưa vào sử dụng
Trang 33các bên phải lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, trong đó mô tả đặc điểm và xác định giá trị tài sản
Hợp đồng cầm cố thế chấp có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân
sự, điều này phụ thuộc vào bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng, vì hành vi cầm cố thế chấp tài sản nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng
Tùy theo hình thức bảo đảm mà hợp đồng bảo đảm tiền vay phải có những thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật như công chứng hợp đồng bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Sau khi hợp đồng cầm cố thế chấp đã được ký kết, các bên tham gia hợp đồng hoặc người được ủy quyền tiến hành đăng ký giao dịch bảo đảm, tiến hành nhập tài sản vào kho
1.2.4 Quản lý tài sản bảo đảm
Việc quản lý TSĐB trong khi cho vay là quan trọng khi giá trị tài sản bảo đảm có thể thay đổi trong suốt thời gian cho vay Vì vậy tái định giá tài sản cầm cố, thế chấp và xử lý sau tái định giá là cần thiết đối với Ngân hàng Tái định giá tài sản được thực hiện định kỳ theo quy định của ngân hàng hoặc đột xuất khi phát hiện tài sản bị dịch chuyển, thay đổi ảnh hưởng lớn đến giá trị tài sản Bộ phận tín dụng chủ động đề xuất việc định giá lại tài sản bảo đảm và kết hợp với bộ phận định giá thực hiện.Việc tái định giá tài sản phải được lập thành biên bản và biên bản định giá lại là một phụ kiện của biên bản định giá Bộ phận tín dụng chịu trách nhiệm báo cáo lại lãnh đạo các trường hợp sau:
- Giá trị tài sản sau định giá lại không đủ bảo đảm tiền vay
- Tài sản bị mất mát hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được nữa
Trang 34Khi đó ngân hàng cần yêu cầu khách hàng bổ sung thêm giá trị tài sản bảo đảm hoặc thu hồi nợ phần thiếu bảo đảm
Nếu tái định giá mà giá trị tài sản bảo đảm tăng thì ngân hàng có thể tăng
dư nợ cho khách hàng nếu khách hàng có nhu cầu
1.2.5 Xử lý TSBĐ; kết thúc hợp đồng bảo đảm
Khi người vay thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, ngân hàng sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc tài sản bảo đảm cho người vay đồng thời lập giấy xác nhận giải tỏa tài sản bảo đảm để gửi tới các đơn vị có liên quan, tiến hành thanh lý hợp đồng bảo đảm, đồng thời tiến hành thông báo giải chấp tới các phòng ban: phòng công chứng, phòng tài nguyên môi trường, trung tâm đăng ký giao dịch động sản
Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ khi đến hạn thì ngân hàng có thể tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm Trường hợp các bên không xử lý được tài sản bảo đảm theo phương thức đã thỏa thuận, các bên buộc phải xử lý tại tòa án
* Về phương thức xử lý: Nếu các bên có thỏa thuận, có thể xử lý theo một trong các phương thức sau:
Trang 35đảm khác (nếu có) Sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn chưa thu hồi đủ khoản vay, thì ngân hàng tiếp tục truy đòi nợ đối với khách hàng vay vốn
1.3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN
1.3.1 Quan điểm về đánh giá kết quả bảo đảm tiền vay
Kết quả của công tác BĐTV thể hiện ở hai mặt tương ứng với hai chức năng của bảo đảm tiền vay:
- Chức năng hạn chế hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng: đó là sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
- Chức năng bảo đảm nguồn thu nợ thứ hai
Cả hai chức năng này đều nhằm tới mục tiêu tối thiểu hóa rủi ro tín dụng Do đó, xét đến cùng, chất lượng BĐTV sẽ được phản ảnh qua khả năng kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng Theo quan điểm quản trị rủi ro, kiểm soát rủi ro tín dụng là việc thực hiện các biện pháp nhằm tối thiểu hóa rủi ro tín dụng trước khi rủi ro xuất hiện như: né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu, chuyển giao, trung hòa rủi ro, đa dạng hoá…; tài trợ rủi ro là việc thực hiện các biện pháp tài chính nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của rủi ro khi rủi ro đã xảy ra; chẳng hạn, tự khắc phục bằng dự phòng rủi ro, bằng nguồn lực có sẵn hoặc chuyển giao rủi ro thông qua hợp đồng bảo hiểm… Như vậy, chức năng thứ nhất là một trong những giải pháp của hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng; chức năng thứ hai là một trong những giải pháp của tài trợ rủi ro tín dụng
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá
a Các tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng
* Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 của các khoản cho vay có BĐTS/tổng
dư nợ CVBĐ TS:
Trang 36Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5 của các khoản cho vay có BĐ bằng tài sản được xác định như sau:
kỳ Tổng dư nợ cho vay có BĐTS trong kỳ
X
x 100%
Tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá RRTD của một NHTM Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng cũng như mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng tổn thất rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao, việc quản lý RRTD của ngân hàng kém hiệu quả
Tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 có BĐTS: Tỷ lệ này càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng bằng tài sản của ngân hàng càng lớn Theo quy định của NHNN cho phép tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 không quá 5% có thể chấp nhận
* Tỷ lệ nợ xấu đối với cho vay có bảo đảm TS :
Nợ xấu theo QĐ 493/2005/QĐ - NHNN là nợ được phân loại vào nhóm
3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ), và nhóm 5 (có khả năng mất vốn) Đây là những khoản nợ rất khó có khả năng hoàn trả Nó thể hiện khả năng mất vốn rất lớn
X
x 100%
Tỷ lệ nợ xấu đối với cho vay có bảo đảm bằng tài sản là một chỉ tiêu phản ảnh khá chuẩn xác mức độ rủi ro tín dụng bảo đảm bằng tài sản hiện tại
Trang 37của một Ngân hàng, vì nó tập trung chú ý các khoản nợ đã có biểu hiện rủi ro tín dụng ở mức cao
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ nguy cơ tổn thất trong hoạt động tín dụng bảo đảm bằng tài sản của NH càng lớn Hai chỉ tiêu Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 – nhóm 5, tỷ lệ nợ xấu (trên dư nợ có bảo đảm bằng tài sản) nếu có xu hướng giảm là biểu hiện tốt trong công tác hạn chế RRTD và ngược lại
Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhược điểm là nó bao gồm cả ba nhóm nợ có mức độ RRTD khác nhau Do đó, cần kết hợp với việc xem xét biến động trong cơ cấu nhóm nợ để thấy cụ thể hơn mức độ RRTD
* Tỷ lệ trích lập dự phòng cho vay BĐ TS/Tổng dư nợ CV BĐTS:
Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ vào các nhóm nợ từ nhóm I đến nhóm V:
cho vay có bảo đảm TS
Trang 38- Tỷ lệ xóa nợ ròng là tỷ lệ giữa những khoản nợ xuất ngoại bảng sau khi trừ đi những khoản thu hồi/ tổng dư nợ
Chỉ tiêu này là chỉ tiêu bổ sung cho chỉ tiêu thứ nhất nhằm đánh giá kết quả tài trợ rủi ro tín dụng từ xử lý tài sản bảo đảm
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẢO ĐẢM TIỀN VAY
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động BĐTV nhưng ta có thể chia các nhân tố này thành hai nhóm nhân tố: Nhân tố bên ngoài và nhân
hệ thống pháp luật
Hơn nữa, trong quá trình thực hiện công tác bảo đảm tiền vay, Ngân hàng phải đối mặt với nhiều vướng mắc phát sinh do các quy định trong các văn bản không phù hợp với thực tế Nhưng qua thời gian, các văn bản này được chỉnh sửa theo hướng ngày càng hoàn thiện, giảm bớt áp lực cho Ngân hàng khi thực hiện bảo đảm tiền vay
* Môi trường kinh tế- chính trị
Trang 39Khi nền kinh tế có bất kỳ biến động nào thì hoạt động ngân hàng cũng sẽ chịu ảnh hưởng nhất là hoạt động BĐTV vì sự biến động của nền kinh tế liên quan chặt chẽ với các tài sản của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế Các nhân tố kinh tế vĩ mô như tỷ giá, mức lãi suất biến động ảnh hưởng không nhỏ đến các tài sản bảo đảm mà ngân hàng nắm giữ như là biến động
về giá mang lại cho ngân hàng nhiều khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm và do đó ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động BĐTV
Môi trường chính trị ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm cho các hoạt động của cả khách hàng và ngân hàng
Đó là trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nhưng lại cố tình gây khó khăn và cản trở ngân hàng thanh lý tài sản để thu hồi vốn Vì thế khi cho vay ngân hàng còn phải xét đến đạo đức của khách hàng để có quyết định hợp lý và nâng cao hiệu quả của BĐTV
- Năng lực của khách hàng
Năng lực của khách hàng xét cả về phương diện tài chính lẫn quản lý Nếu khách hàng có năng lực tài chính thấp thì họ không có khả năng thanh toán nợ hoặc như doanh nghiệp sản xuất có ít vốn, khi vay nợ quá nhiều có
Trang 40thể lâm vào tình trạng nợ đến hạn thiếu khả năng thanh toán ngay ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Vì thế ngân hàng phải nhận thấy được rằng khách hàng có đủ khả năng trả nợ thì mới xét cấp tín dụng Cũng như khi doanh nghiệp có phương án SXKD không hiệu quả, năng lực quản lý thấp dễ dẫn đến tình trạng thua lỗ và không có khả năng trả nợ Với những khách hàng có
đủ tiềm năng về tài chính, doanh nghiệp có trình độ quản lý cao và chuyên nghiệp thì việc thu hồi vốn của ngân hàng được bảo đảm hơn Do đó ngân hàng phải hết sức coi trọng thông tin về năng lực khách hàng nhằm nâng cao hiệu quả BĐTV cũng như tối thiểu rủi ro
* Mức độ an toàn của các tài sản bảo đảm:
Các tài sản có mức độ an toàn cao sẽ dễ được ngân hàng chấp nhận hơn
để bảo đảm cho khoản vay vì khi đó ngân hàng có nguy cơ rủi ro thấp hơn và như thế hiệu quả của BĐTV sẽ cao hơn Những tài sản có mức độ an toàn cao
là những tài sản có thị trường tiêu thụ rộng, dễ xác định quyền sở hữu Khi gặp rủi ro ngân hàng có thể bán được dễ dàng với chi phí thấp, nhờ đó có thể thu hồi vốn nhanh hơn Do đó thì mức độ an toàn của tài sản cũng là nhân tố ảnh hưởng khi xem xét hiệu quả của BĐTV
* Thị trường của các tài sản bảo đảm
Khi quyết định thanh lý tài sản bảo đảm thì thị trường tiêu thụ của tài sản cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hồi khoản vay cũng như hiệu quả BĐTV Tài sản nào càng dễ tiêu thụ thì ngân hàng càng có khả năng thu hồi vốn cao để bù đắp cho khoản vay Chính vì thế mà trước khi quyết định cấp tín dụng thì ngân hàng phải tính đến cả thị trường thanh lý tài sản Có những tài sản mà thị trường tiêu thụ rất lớn như hàng hoá tuy nhiên thì việc cho vay bảo đảm bằng các tài sản này lại chưa được phát triển Còn đối với tài sản là bất động sản thì trước tình trạng biến động của thị trường BĐS cũng làm cho việc thanh lý các tài sản này gặp nhiều khó khăn