1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hoạch định chiến lược công ty cổ phần cơ khí xây dựng 623 thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6.

110 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 489,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Là một đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kinh tế vào một tổ chức cụ thể, vì vậy các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luậnvăn gồm: phương pháp duy vật bi

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạch định chiến lược đã và đang trở nên hết sức quan trọng cho sự sống còn của doanh nghiệp, khi mà môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp “Các công ty cần có một dự định chiến lược – có khát vọng được chia sẻ rộng rãi, có một mục tiêu rõ ràng và có một nỗi ám ảnh về chiến thắng – đó là nhiên liệu để chạy cỗ máy”

Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623 cũng như tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam đang bị thúc ép phải chấp nhận luật chơi trong môi trường kinh doanh toàn cầu, đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt

Để tồn tại và phát triển, buộc tổ chức phải hoạch định cho mình một chiến lược phù hợp với nguồn lực, nhằm tạo dựng một lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức Hoạch định chiến lược là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của tổ chức Trong điều kiện chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang Công ty Cổ phần thì việc xây dựng một hệ thống chính sách

là một tất yếu khách quan Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Hoạch định chiến lược Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623 thuộc Tổng công ty Xây dựng Công trình giao thông 6” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn

liên quan đến công tác hoạch định chiến lược tại Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623

Trang 2

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tình hình

hoạt động kinh doanh và chiến lược hiện tại của Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623, từ đó hoạch định chiến lược cho công ty trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

Là một đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kinh tế vào một tổ chức cụ thể,

vì vậy các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luậnvăn gồm: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê; so sánh tổng hợp…Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo Quyết định của Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh chiến lược phát triển ngành giao thông vận tải đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 theo công văn số 35/2009/QĐ-TTg ngày 3/3/2009

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của

đề tài bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược và hoạch định chiến lược cấp Công ty.

Chương 2: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng công tác hoạch định lược của Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623

Chương 3: Hoạch định chiến lược Công ty Cổ phần Cơ khí Xây dựng Công trình 623 thuộc Tổng công ty Xây dựng Công trình giao thông 6

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠCH ĐỊNH

CHIẾN LƯỢC CẤP CÔNG TY1.1 Chiến lược và các cấp chiến lược trong tổ chức kinh doanh

1.1.1 Khái niệm chiến lược và hoạch định chiến lược

1.1.1.1 Khái niệm chiến lược

Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, nguyên nhân cơ bản

có sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau về chiến lược của tổ chức nói riêng.Về mặt bản thể học, tùy theo quan điểm của chủ nghĩa thực chứng hay theo xu hướng tạo dựng mà bản chất của chiến lược được xác định theo quy luật tự nhiên hoặc có sự tác động có ý nghĩa của chủ thể Trên thực tế, chiến lược thường được định nghĩa theo hướng thực tiễn nhằm làm dễ dàng các quá trình thực hành trong tổ chức

Theo Johnson và Scholes, chiến lược được định nghĩa như sau :

«Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức»

Theo định nghĩa này, chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau:

• Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn? (định hướng)

• Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động)

• Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường? (lợi thế)

• Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ, thương hiệu…) cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực)

• Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp? (môi trường)

Trang 4

Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau… cốt lõi của chiến lược là

“lựa chọn cái chưa được làm”.

Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt

Để có được chiến lược cũng như để tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có ba dạng định vị cơ bản :

• Định vị dựa trên sự đa dạng các hoạt động: Đó là sự lựa chọn một hay một nhóm các hoạt động trong một ngành kinh doanh trên cơ sở việc phân đoạn các hoạt động kinh doanh

• Định vị dựa trên nhu cầu: Đó là việc lựa chọn nhóm khách hàng có nhu cầu đồng nhất trên cơ sở việc phân đoạn thị trường

• Định vị dựa trên khả năng tiếp cận của khách hàng đối với một mặt hàng hay lĩnh vực kinh doanh: Đó là cách định vị dựa trên tiêu chí vị trí địa lý hoặc khả năng thanh toán của khách hàng

Việc kết hợp hài hòa giữa các hoạt động cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh và khả năng bảo vệ lợi thế này trong dài hạn Có ba dạng liên kết cơ bản :

• Sự liên kết giản đơn giữa từng hoạt động đơn lẻ với tổng thể chiến lược

• Sự liên kết khi các hoạt động được củng cố và tăng cường

• Sự liên kết khi tối ưu hóa các nỗ lực

Vị trí chiến lược chỉ có thể được bảo vệ lâu dài khi có sự khác biệt được tạo ra : Chính sự khác biệt trong các hoạt động, trong việc đáp ứng nhu cầu hay trong cách thức tiếp cận khách hàng cho phép doanh nghiệp luôn tìm được những định vị mới

1.1.1.2 Khái niệm hoạch định chiến lược

Hoạch định chiến lược là giai đoạn tập trung nghiên cứu, phân tích các yếu

tố môi trường và nội bộ của doanh nghiệp Từ đó xác định chính xác các cơ hội và

Trang 5

nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu Trên cơ sở đó kết hợp và lựa chọn được những chiến lược thích hợp.

1.1.2 Các cấp chiến lược trong tổ chức kinh doanh

1.1.2.1 Chiến lược cấp bộ phận chức năng

Cấp độ chức năng của tổ chức đề cập đến các bộ phận tác nghiệp Chiến lược

ở cấp độ này liên quan đến các quy trình tác nghiệp của các hoạt động kinh doanh

và các bộ phận của chuỗi giá trị Chiến lược ở các chức năng marketing, tài chính, nguồn nhân lực hay nghiên cứu và phát triển nhằm vào phát triển và phối kết hợp các nguồn lực mà thông qua đó các chiến lược ở cấp đơn vị kinh doanh được thực hiện một cách hiệu quả

Chiến lược bộ phận chức năng của tổ chức phụ thuộc vào chiến lược ở các cấp cao hơn Đồng thời nó đóng vai trò như yếu tố đầu vào cho chiến lược cấp đơn

vị kinh doanh và chiến lược tổng thể của doanh nghiệp Ví dụ như việc cung cấp thông tin về nguồn lực và các năng lực cơ bản mà chiến lược ở các cấp cao hơn cần phải dựa vào; các thông tin về khách hàng, sản phẩm và cạnh tranh Một khi chiến lược ở các cấp cao hơn được thiết lập, các bộ phận chức năng sẽ triển khai đường lối này thành các kế hoạch hành động cụ thể và thực hiện đảm bảo sự thành công của chiến lược tổng thể

1.1.2.2 Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh

Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể là một bộ phận trong doanh nghiệp, một dòng sản phẩm hay một khu vực thị trường, chúng có thể được kế hoạch hóa một cách độc lập

Ở cấp độ đơn vị kinh doanh, vấn đề chiến lược đề cập ít hơn đến việc phối kết hợp giữa các đơn vị tác nghệp nhưng nhấn mạnh hơn đến việc phát triển và bảo

vệ lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ mà đơn vị quản lý

Chiến lược đơn vị kinh doanh liên quan đến :

- Việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh

- Dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ và điều chỉnh chiến lược để thích nghi và đáp ứng những thay đổi này

Trang 6

- Tác động và làm thay đổi tính chất của cạnh tranh thông qua các hoạt động chiến lược như là gia nhập theo chiều dọc hoặc thông qua các hoạt động chính trị.

Michael Porter đã khám phá ba dạng chiến lược cơ bản (chiến lược giá thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung), chúng có thể được áp dụng ở cấp

độ đơn vị chiến lược để tạo ra lợi thế cạnh tranh và phòng thủ chống lại các tác động bất lợi từ năm lực lượng cạnh tranh

1.1.2.3 Chiến lược cấp công ty

Chiến lược ở cấp công ty liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh ở đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau

Chiến lược cấp công ty có các đặc điểm

- Định hướng mục tiêu chung và nhiệm vụ của doanh nghiệp : Bao gồm việc xác định các mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động

- Định hướng cạnh tranh : Đó là việc xác định thị trường hoặc đoạn thị trường mà doanh nghiệp sẽ cạnh tranh

- Quản lý các hoạt động kinh doanh độc lập và mối quan hệ giữa chúng : Chiến lược tổng thể nhằm vào phát triển và khai thác tính cộng hưởng giữa các hoạt động thông qua việc phân chia và phối kết hợp các nguồn lực giữa các đơn vị độc lập hoặc giữa các hoạt động riêng rẽ

- Thực hành quản trị : Chiến lược cấp công ty cho phép xác định cách thức quản lý các đơn vị kinh doanh hoặc các nhóm hoạt động Doanh nghiệp có thể thực hiện công tác quản lý thông qua việc can thiệp trực tiếp (đối với phương thức quản

lý tập quyền) hoặc tạo sự tự chủ quản lý cho các đơn vị kinh doanh (đối với phương thức quản lý phân quyền) trên cơ sở sự tin tưởng

Doanh nghiệp có nhiệm vụ sáng tạo giá trị gia tăng thông qua việc quản lý danh mục tất cả các hoạt động kinh doanh của mình, đảm bảo sự thành công đối với mỗi hoạt động trong dài hạn, phát triển các đơn vị kinh doanh và hơn nữa đảm bảo các hoạt động được phối kết hợp hài hòa với nhau

Trang 7

1.2 Vai trò, nhiệm vụ và nội dung của chiến lược cấp công ty

1.2.1 Vai trò và nhiệm vụ

1.2.1.1 Vai trò

Chiến lược cấp công ty chủ yếu nhằm tìm kiếm lĩnh vực kinh doanh mà công

ty có thể tham gia để cực đại hóa khả năng sinh lợi dài hạn

Về mặt lý luận, và thực tiễn chiến lược cấp công ty có thể giúp công ty tạo ra thu nhập trên trung bình bằng việc sáng tạo giá trị tăng thêm Giá trị của một chiến lược cấp công ty được xác định bởi mức độ sinh lợi của tổ hợp các đơn vị kinh doanh dưới sự quản lý của công ty so với việc chúng có thể tồn tại trong các hình thức sở hữu khác Nghĩa là, chiến lược công ty hữu hiệu làm cho tổng thể các đơn

vị kinh doanh có được thu nhập tổng hợp vượt quá những gì mà nó có thể làm nếu không có chiến lược, nó góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh chiến lược của công ty, và đem lại cho công ty thu nhập trên trung bình

1.2.1.2 Nhiệm vụ

Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường sản phẩm

1.2.2 Các loại chiến lược cấp công ty

1.2.2.1 Tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh đơn lẻ

Chiến lược tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh đơn lẻ nghĩa là tổ chức chủ trương tập trung toàn bộ ưu thế và nguồn lực nhằm cạnh tranh mạnh mẽ trong phạm vi một lĩnh vực kinh doanh nhất định Chiến lược này rất quan trọng đối với những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh, bởi tổ chức cần tập trung mạnh các nguồn lực, đó cũng là nơi sẽ đem lợi nhuận dài hạn rất cao, nếu thiết lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ

Ưu điểm của chiến lược tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh là giúp công

ty có thể tập trung các nguồn lực vật chất, công nghệ, tài chính, quản trị và các năng lực cạnh tranh của mình để cạnh tranh thắng lợi trên một lĩnh vực Chiến lược này

có thể rất quan trọng trong các ngành tăng trưởng nhanh, bởi ở đó công ty cần tập

Trang 8

trung mạnh các nguồn lực, đó cũng là nơi sẽ đem lợi nhuận dài hạn rất cao, nếu thiết lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ.

Lợi thế khác của việc tập trung vào một hoạt động kinh doanh đơn lẻ, đó là, công ty sẽ gắn chặt hơn vào công việc của mình Nghĩa là công ty nên hướng vào

làm điều mà bản thân nó hiểu biết tốt nhất Điều đó giúp công ty tránh được sai lầm khi đa dạng hóa vào các ngành mà nó ít hiểu biết và nơi mà các nguồn lực và năng lực của nó ít có giá trị

Tuy nhiên, việc tập trung vào chỉ một ngành kinh doanh cũng có những bất lợi Hơn nữa, các công ty chỉ tập trung vào một hoạt động kinh doanh đơn lẻ có thể

bỏ mất các cơ hội tạo giá trị và sinh ra lợi nhuận cao hơn nhờ đưa các nguồn lực và năng lực của công ty sang các hoạt động khác

1.2.2.2 Hội nhập dọc

Chiến lược hội nhập dọc nghĩa là công ty đang sản xuất các đầu vào cho chính mình (Hội nhập về phía sau, hay ngược chiều) hoặc phát tán các đầu ra của chính mình (hội nhập về trước hay xuôi chiều) Theo cách khác, hội nhập dọc chính

là cách mà các công ty chọn để cạnh tranh trong các giai đoạn của chuỗi từ nguyên vật liệu đến khách hàng

* Hội nhập xuôi chiều có nghĩa là dịch chuyển đến hoạt động phân phối Trong mỗi giai đoạn của chuỗi là một bước gia tăng giá trị vào sản phẩm Điều đó

có nghĩa là mỗi công ty ở một giai đoạn lấy sản phẩm được sản xuất ở giai đoạn trước và chuyển hóa nó theo những cách thức nhất định để làm tăng giá trị để rồi sau đó chuyển đến các công ty ở giai đoạn sau trong chuỗi và sau cùng là đến người tiêu dùng

* Hội nhập ngược chiều là chiến lược tìm kiếm sự tăng trưởng bằng cách

thâm nhập và thu hút những người cung cấp (các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp)

để cải thiện doanh số, lợi nhuận hoặc kiểm soát thị trường cung ứng nguyên vật liệu

Trang 9

Một công ty theo đuổi hội nhập dọc thường xuất phát từ mong muốn tăng cường vị thế cạnh tranh của hoạt động kinh doanh nguyên thủy hay cốt lõi Lý do để công ty theo đuổi chiến lược hội nhập là:

- Cho phép công ty tạo lập các rào cản với các đối thủ cạnh tranh mới

- Thúc đẩy đầu tư vào các tài sản chuyên môn hóa nâng cao hiệu quả

- Bảo vệ chất lượng

- Làm cho việc lập kế hoạch được cải thiện

Tuy nhiên hội nhập dọc cũng có những bất lợi của nó Đáng kể nhất bao gồm:

- Bất lợi về chi phí

- Bất lợi phát sinh khi công nghệ đang thay đổi nhanh

- Bất lợi khi nhu cầu không dự kiến được

Trang 10

quản trị, nên nó cũng trở thành động lực bên trong của các nhà quản trị Đến một mức độ nào đó nó có thể có tác dụng làm trung hoà hay có thể làm giảm giá trị.

Có hai loại đa dạng hóa chủ yếu, đó là đa dạng hóa liên quan và đa dạng hóa không liên quan:

- Đadạng hóa liên quan là việc đa dạng hóa vào hoạt động kinh doanh mới

mà có liên quan với hoạt động hay các hoạt động kinh doanh hiện tại, bằng sự tương đồng một hay nhiều bộ phận trong chuỗi giá trị của mỗi hoạt động Thông thường, các liên kết này dựa trên sự tương đồng về chế tạo, marketing hay công nghệ

- Đa dạng hóa không liên quan là đa dạng hóa vào lĩnh vực kinh doanh mới,

mà không có liên quan rõ ràng với bất kỳ các lĩnh vực kinh doanh hiện có

1.2.2.4 Chiến lược liên minh liên kết

Các liên minh chiến lược chủ yếu là những thoả thuận giữa hai hay nhiều công ty để chia sẻ rủi ro, chi phí, và lợi ích liên quan đến việc phát triển các cơ hội kinh doanh mới Nhiều liên minh chiến lược được tạo lập như là các liên doanh chính thức trong đó mỗi bên chiếm một phần vốn góp Các liên minh khác được tạo lập theo cách của một hợp đồng dài hạn giữa các công ty trong đó họ chấp nhận thực hiện các hoạt động liên kết mà các bên cùng có lợi

Các liên minh chiến lược là một lựa chọn có thể chấp nhận khi một công ty muốn tạo giá trị bằng việc chuyển giao các năng lực hay chia sẻ nguồn lực giữa các đơn vị kinh doanh đa dạng hoá để thực hiện tính kinh tế của phạm vi Các liên minh tạo ra cho công ty một khuôn khổ có thể chia sẻ các nguồn lực cần thiết để thiết lập một đơn vị kinh doanh mới Các liên minh chiến lược có thể là phương án cho phép các công ty trao đổi các kỹ năng bổ sung để tạo ra một loạt các sản phẩm mới

Tất nhiên, cũng có những sự không hài lòng trong những liên minh như vậy

Vì lợi nhuận phải bị chia sẻ với các đối tác tham gia, trong khi đó đa dạng hoá hoàn toàn một công ty được giữ toàn bộ lợi nhuận Vấn đề khác nữa là khi một công ty tham gia vào một liên minh nó phải chấp nhận rủi ro có thể các mất các bí quyết với

Trang 11

các đối tác liên minh, mà sau này, trong tương lai họ có thể sử dụng các bí quyết như thế để cạnh tranh trực tiếp với công ty.

1.3 Tiến trình hoạch định chiến lược cấp công ty

1.3.1 Xác định sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức

1.3.1.1 Xác định sứ mệnh

Sứ mệnh hay còn gọi là nhiệm vụ của tổ chức là tập hợp những định hướng

về những công việc, những mong muốn và những phương pháp mà các thành viên trong tổ chức cần thực hiện với những nỗ lực tối đa nhằm có được những lợi ích khác nhau

Có thể nói sứ mệnh ví như một bản tuyên bố có giá trị lâu dài về mục đích,

nó mô tả lý do tồn tại của tổ chức, phân biệt tổ chức này với tổ chức khác, đồng thời

là cơ sở quan trọng để các nhà quản trị thiết lập các mục tiêu và lựa chọn chiến lược

có hiệu quả

* Tầm quan trọng của sứ mệnh (bản mô tả nhiệm vụ)

- Đảm bảo sự đồng tâm nhất trí trong nội bộ

- Tạo cơ sở để huy động các nguồn lực

- Cung cấp các cơ sở hoặc tiêu chuẩn để phân phối các nguồn lực

- Hình thành khung cảnh và bầu không khí làm việc thuận lợi

- Giúp các thành viên hiểu biết lẫn nhau và có sự đồng cảm với mục đích và phương hướng của tổ chức đồng thời ngăn chặn được những người không có đủ năng lực để tham gia vào các hoạt động của tổ chức

- Tạo điều kiện để chuyển hóa mục đích của tổ chức thành mục tiêu thích hợp và triển khai các nhiệm vụ và các mục tiêu đến các đơn vị, bộ phận

- Giúp các nhà quản trị có cơ sở để đánh giá các hoạt động của tổ chức trong suốt quá trình quản trị

1.3.1.2 Xác định mục tiêu

Mục tiêu được hiểu khái quát nhất là cái “đích” cần đạt tới Mỗi tổ chức hay từng bộ phận của nó đều có mục tiêu cho mình Mục tiêu của tổ chức có thể được xác định cho toàn bộ quá trình tồn tại và phát triển và cũng có thể chỉ gắn với từng

Trang 12

giai đoạn phát triển của nó Hệ thống mục tiêu chiến lược là các tiêu đích mà tổ chức xác định trong từng thời kỳ nhất định.

Hệ thống mục tiêu của tổ chức mang đặc điểm chung là thể hiện mong muốn phải đạt tới các kết quả nhất định và luôn gắn với một thời kỳ cụ thể nhất định Hệ thống mục tiêu chiến lược thể hiện mong muốn phải đạt tới các kết quả từng thời kỳ

* Vai trò của mục tiêu

- Là cơ sở giúp các nhà quản trị lựa chọn chiến lược và kế hoạch thích nghi

- Là động lực thúc đẩy các thành viên trong tổ chức sớm hoàn thành nhiệm vụ

- Là một trong những tiêu chuẩn quan trọng giúp các nhà quản trị kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức cũng như các bộ phận trong từng thời kỳ

- Là thước đo đánh giá sự tiến bộ của tổ chức trong giai đoạn phát triển

- Mục tiêu cụ thể mô tả các kết quả cụ thể mà tổ chức phải đạt được trong thời kỳ cụ thể như năng suất chất lượng, thị phần và doanh thu

+ Nếu xét theo phạm vi cấp bậc thì sẽ có mục tiêu cấp tổ chức và mục tiêu cấp bộ phận tổ chức

- Mục tiêu cấp tổ chức thường bao gồm các mục tiêu tổng quát và các mục tiêu từng lĩnh vực hoạt động xét cho toàn bộ quá trình phát triển hoặc cho từng thời

kỳ cụ thể

- Mục tiêu cấp bộ phận của tổ chức chỉ bao hàm các mục tiêu trong phạm vi từng đơn vị bộ phận và thường mang tính cụ thể

Trang 13

+ Nếu xét theo thời gian sẽ phân toàn bộ hệ thống mục tiêu thành mục tiêu dài hạn (chiến lược) và mục tiêu ngắn hạn (chiến thuật).

- Mục tiêu dài hạn (chiến lược) gắn với khoảng thời gian dài Đó thường là các mục tiêu như tối đa hóa lợi ích, khả năng và vị thế của tổ chức trên thị trường

- Mục tiêu ngắn hạn hơn (chiến thuật) mô tả các kết quả mà tổ chức muốn đạt được trong khoảng thời gian ngắn hơn so với thời gian dài hạn Do đó mục tiêu ngắn hạn thường cụ thể hơn mục tiêu dài hạn

* Các yêu cầu đối với hệ thống mục tiêu

- Tính nhất quán: Tính nhất quán đòi hỏi các mục tiêu phải thống nhất phù hợp với nhau, việc hoàn thành mục tiêu này không gây cản trở tới việc thực hiện các mục tiêu khác Đây là yêu cầu đầu tiên, đóng vai tṛ quan trọng để đảm bảo rằng

hệ thống mục tiêu phải được thực hiện và phải hướng vào việc hoàn thành các mục tiêu tổng quát của từng thời kỳ chiến lược

Hệ thống mục tiêu phải thống nhất Khi hệ thống mục tiêu không thống nhất

sẽ dẫn đến nhiều tác hại như không thực hiện được mọi mục tiêu đã xác định, gây nên nhiều mâu thuẫn nội bộ

Để đảm bảo tính nhất quán khi xác định hệ thống mục tiêu chiến lược cần phải chú ý lựa chọn giữa các cặp mục tiêu mâu thuẫn Trong đó phải đặc biệt chú ý đến các cặp như mục tiêu lợi nhuận và các mục tiêu phi lợi nhuận, mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu ổn định, mục tiêu tăng trưởng lâu dài và mục tiêu lợi nhuận biên…

Nếu xem xét đến toàn bộ thời kỳ chiến lược, xem xét mối quan hệ giữa các mục tiêu dài hạn (chiến lược) và mục tiêu ngắn hạn hơn (chiến thuật) đòi hỏi phải xác định rõ ràng các mục tiêu trong khoảng thời gian cụ thể, phải đảm bảo tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau giữa các mục tiêu và phải xác định rõ các mục tiêu ưu tiên trong từng thời kỳ cụ thể

- Tính cụ thể: Yêu cầu về tính cụ thể của hệ thống mục tiêu không đề cập tới tính dài ngắn của thời gian, mà nó đòi hỏi khi xác định mục tiêu chiến lược cần chỉ

Trang 14

rõ: mục tiêu liên quan đến những vấn đề gì? Giới hạn thời gian thực hiện? kết quả

cụ thể cuối cùng cần đạt?

Giữa tính cụ thể và định lượng là hai đại lượng tỷ lệ thuận Vì vậy khi hình thành mục tiêu chiến lược phải cố gắng xây dựng các mục tiêu định lượng đến mức cao nhất trong phạm vi có thể

Hệ thống mục tiêu càng cụ thể bao nhiêu càng tạo cơ sở để cụ thể hóa ở các cấp thấp hơn các thời kỳ ngắn hạn hơn Mặt khác mục tiêu không cụ thể thường có tác dụng rất thấp trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược

- Tính khả thi: Mục tiêu chiến lược là các tiêu đích mà tổ chức xác định trong một thời kỳ chiến lược xác định Do đó các “tiêu đích” này đòi hỏi sự cố gắng của người chịu trách nhiệm thực hiện nhưng lại không quá cao mà phải sát thực và có thể đạt được Có như vậy hệ thống mục tiêu mới có tác dụng khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của mọi bộ phận (cá nhân) trong tổ chức và cũng không quá cao đến mức nản lòng người thực hiện Vì vậy, giới hạn của sự cố gắng là “vừa phải” nếu quá đi sẽ làm phản tác dụng

Muốn kiểm tra tính khả thi của hệ thống mục tiêu phải đánh giá các mục tiêu trong mối quan hệ với kết quả phân tích dự báo biến đổi của môi trường hoạt động

- Tính linh hoạt: Môi trường thường xuyên biến đổi nên đòi hỏi hệ thống mục tiêu phải linh hoạt để có thể điều chỉnh khi môi trường thay đổi Tính linh hoạt

là điều kiện đảm bảo để biến các mục tiêu chiến lược thành hiện thực

Mặt khác, do môi trường thường xuyên biến đổi nên tính linh hoạt còn đòi hỏi khi hình thành hệ thống mục tiêu phải tính đến các biến động của môi trường

1.3.2 Phân tích môi trường bên ngoài

1.3.2.1 Môi trường vĩ mô

* Môi trường kinh tế

Trạng thái của môi trường kinh tế vĩ mô xác định sự lành mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, nó luôn gây ra những tác động đến các doanh nghiệp và các ngành

Vì thế, doanh nghiệp phải nghiên cứu môi trường kinh tế để nhận ra các thay đổi, các khuynh hướng và các hàm ý chiến lược của họ Môi trường kinh tế chỉ bản chất

Trang 15

và định hướng của nền kinh tế trong đó doanh nghiệp hoạt động Định nghĩa như vậy về môi trường kinh tế trong điều kiện hiện nay cũng nên hiểu một cách tương đối, bởi vì các quốc gia liên kết với nhau như là kết quả của một nền kinh tế toàn cầu, nên doanhnghiệp ít nhiều cũng phải rà soát, theo dõi, dự đoán, và đánh giá sức khỏe của các nền kinh tế bên ngoài đất nước của họ Thực ra, có thể tìm thấy những ảnh hưởng khá sâu sắc của nền kinh tế

Hoa kỳ, Trung quốc, Nhật bản, và khối cộng đồng châu Âu vào các nền kinh

tế khác.Các ảnh hưởng của nền kinh tế đến một công ty có thể làm thay đổi khả năng tạo giá trị và thunhập của nó Bốn nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế

vĩ mô đó là tỷ lệ tăng trưởng của nềnkinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái, và tỷ lệ lạm phát

Tăng trưởng kinh tế dẫn đến một sự bùng nổ về chi tiêu của khách hàng, vì

thế có thể đem lại khuynh hướng thoải mái hơn về sức ép cạnh tranh trong một ngành Điều này có thể cống hiến chocác công ty cơ hội để bành trướng hoạt động

và thu được lợi nhuận cao hơn Ngược lại, suy giảm kinh tế sẽ dẫn đến sự giảm chi tiêu của người tiêu dùng, và do đó làm tăng sức ép cạnh tranh Nền kinh tế suy giảm thường gây ra các cuộc chiến tranh giá trong các ngành bão hòa

Mức lãi suất có thể tác động đến nhu cầu về sản phẩm của công ty Lãi suất

là một nhân tố quan trọng khi khách hàng phải vay mượn để tài trợ cho hoạt động mua sắm của họ về các hàng hóa này

Tỷ giá hối đoái xác định giá trị đồng tiền các quốc gia với nhau Sự dịch

chuyển của tỷ giá hối đoáicó tác động trực tiếp lên tính cạnh tranh của các công ty trong thị trường toàn cầu

Lạm phát có thể làm giảm tính ổn định của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế

tăng trưởng chậm hơn, lãi suất cao hơn, các dịch chuyển hối đoái không ổn định Nếu lạm phát tăng, việc lập kế hoạch đầu tư trở nên mạo hiểm Đặc tính then chốt của lạm phát là nó gây ra khó khăn cho các dự kiến về tương lai Trong một môi trường lạm phát, khó có thể dự kiến một cách chính xác giá trị thực của thu nhập nhận được từ các dự án 5 năm Sự không chắc chắn như vậy làm cho công ty không

Trang 16

dám đầu tư Tình trạng đầu tư cầm cự của các công ty trong trường hợp lạm phát tăng sẽ làm giảm các hoạt động kinh tế, cuối cùng đẩy nền kinh tế đến chỗ đình trệ Như vậy, lạm phát cao là một đe dọa đối với công ty.

* Môi trường công nghệ

Một lực lượng quan trọng nhất, định hình cuộc sống của con người là công nghệ Sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ đã làm tăng năng suất lao động cũng như cho ra những thế hệ sản phẩm mới với nhiều tính năng độc đáo Điều đó tạo ra sức cạnh tranh lớn cho những doanh nghiệp nào nắm bắt được những công nghệ tiên tiến đó.Đồng thời đi kèm theo sự tiến bộ đó là xu thế phát triển của

xã hội Nó làm biến đổi nhu cầu của người dân từ thấp tới cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực lớn về công nghệ để đáp ứng được những nhu cầu đó…

Mỗi công nghệ đều tạo ra một hậu quả lâu dài quan trọng mà không phải bao giờ cũng có thể thấy trước được Ngày nay các nhà khoa học đang nghiên cứu một loạt những công nghệ mới rất kỳ lạ sẽ tạo nên một cuộc cách mạng đối với các sản phẩm và các quá trình sản xuất

Quy định về thay đổi công nghệ ngày càng chặt chẽ khi sản phẩm ngày càng phức tạp hơn, công chúng cần được bảo đảm an toàn chắc chắn Vì vậy các cơ quan nhà nước đã tăng cường quyền lực của mình đối với việc kiểm tra và nghiêm cấm những sản phẩm có khả năng không an toàn Việc thay đổi công nghệ gặp phải sự chống đối của những người xem đó là một sự đe dọa tự nhiên, cuộc sống riêng tư, tính chất đơn giản và thậm chí cả loài người nữa Nhiều nhóm khác nhau đã phản đối việc xây dựng những nhà máy điện nguyên tử, những ngôi nhà cao tầng và những cơ sở giải trí trong các vườn quốc gia Họ đòi hỏi phải đánh giá các công nghệ mới về mặt công nghệ trước khi thương mại hóa chúng Những người làm Marketing cần hiểu rõ là môi trường công nghệ luôn thay đổi và nắm được những công nghệ mới đó có thể phục vụ nhu cầu của con người như thế nào Họ cần hợp tác chặt chẽ với những người làm công tác nghiên cứu và phát triển để khuyến khích họ nghiên cứu hướng theo thị trường nhiều hơn Họ phải cảnh giác với những

Trang 17

hậu quả không mong muốn của mọi đổi mới có thể gây thiệt hại cho người sử dụng

và tạo ra sự mất tín nhiệm cùng thái độ chống đối của người tiêu dùng

* Môi trường văn hoá xã hội

Phân đoạn văn hóa xã hội liên quan đến các thái độ xã hội và các giá trị văn hóa Bởi vì các giá trị văn hóa và thái độ xã hội tạo nên nền tảng của xã hội, nên nó thường dẫn dắt các thay đổi và các điều kiện công nghệ, chính trị-luật pháp, kinh tế

và nhân khẩu Giống như những thay đổi công nghệ các thay đổi xã hội cũng tạo ra các cơ hội và đe dọa Tác động của nó rất rộng lớn và các công ty mà nhận thức các

cơ hội sớm đã thu hoạch lợi nhuận to lớn Đồng thời khuynh hướng sức khỏe đã tạo

ra đe dọa cho nhiều ngành Một khuynh hướng quan trọng nữa trong nhiều quốc gia

là sự tăng tính đa dạng của lực lượng lao động Số lao động nữ tăng lên cũng là một dấu hiệu của điều này, phụ nữ đang là nguồn có giá trị về lao động năng suất cao

Sự gia tăng tính đa dạng về văn hóa, dân tộc và giới đạng đặt ra hàng loạt các cơ hội

và thách thức liên quan đến các vấn đề như các thức kết hợp tốt nhất các phong cách lãnh đạo truyền thống của nam giới và nữ giới để thúc đẩy sự đóng góp của họ

có lợi cho doanh nghiệp Những thay đổi về thực hành quản trị và cấu trúc tổ chức cần được tiến hành để tránh tồn tại của các rào tinh vi gây bất lợi cho tổ chức

* Môi trường nhân khẩu học

Phân đoạn nhân khẩu học của môi trường vĩ mô liên quan đến dân số, cấu trúc tuổi, phân bố địa lý, cộng đồng các dân tộc, và phân phối thu nhập Phân đoạn nhân khẩu học cần được phân tích trên nền tảng toàn cầu bởi vì các tác động tiềm

ẩn của nó còn vượt qua cả biên giới quốc gia và bởi vì có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu Phân bố dân cư về mặt địa lý có thể gây ra những lợi thế cho công nghệ viễn thông Bằng máy tính con người có thể ở nhà và thực hiện các trao đổi với người khác qua mạng viễn thông Cấu trúc tuổi già đi ở các nước phát triển do tỷ lệ sinh thấp, và tuổi thọ có khuynh hướng tăng Cho thấy các cơ hội của các dịch vụ chăm sóc người già, các dịch vụ bảo hiểm Nhưng cũng tiềm ẩn một

đe dọa với các doanh nghiệp về vấn đề nguồn lao động Đối với những nước đang phát triển cơ cấu dân số trẻ, là cơ hội để các doanh nghiệp dịch chuyển đến tìm

Trang 18

nguồn lao động trẻ Song sự tăng dân số nhanh chóng đang làm xói mòn khả năng phát triển bền vững ở các quốc gia này

Sự thay đổi kết cấu dân số là một nhân tố của môi trường kinh tế vĩ mô mà

nó cũng có thể tạo ra các các cơ hội lẫn đe dọa Ví dụ, do thế hệ bùng nổ trẻ em ở

Mỹ năm 1960 đã lớn lên, nó tạo ra một loạt các cơ hội và đe dọa Trong những năm

1980, nhiều người của thế hệ này lập gia đình và tạo ra nhu cầu đột biến về các máy móc cho các cặp vợ chồng trẻ lần đầu cưới nhau Các công ty như Whirlpool và General Electric đã đầu tư cho sự đột biến của nhu cầu máy giặt, máy rửa chén, máy sấy… Mặt khác, các ngành định hướng vào giới trẻ như ngành đồ chơi đã nhận thấy các khách hàng của họ giảm xuống trong những năm gần đây

* Môi trường chính trị luật pháp

Các nhân tố chính trị và luật pháp cũng có tác động lớn đến mức độ của các

cơ hội và đe dọa từ môi trường Điều chủ yếu trong phân đoạn này là cách thức mà các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến chính phủ, và cách thức chính phủ ảnh hưởng đến họ Thay đổi liên tục, phân đoạn này sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến cạnh tranh Các doanh nghiệp phải phân tích cẩn thận các triết lý, các chính sách liên quan mới của quản lý nhà nước Luật chống độc quyền, luật thuế, các ngành lựa chọn để điều chỉnh hay ưu tiên, luật lao động, là những lĩnh vực trong đó các chính sách quản lý Nhà nước có thể tác động đến hoạt động và khả năng sinh lợi của ngành hay của các doanh nghiệp

Trên phạm vi toàn cầu các công ty cũng phải đối mặt với hàng loạt các vấn

đề đáng quan tâm về chính trị pháp luật Ví dụ các chính sách thương mại, các rào cản bảo hộ có tính quốc gia Ngoài ra, các ngành đặc biệt như dược phẩm, viễn thông, và gần đây vấn đề thực phẩm cũng được các quốc gia chú ý nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và an ninh,vì vậy các qui định chặt chẽ đặt ra cũng là những tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các ngành và doanh nghiệp

* Môi trường toàn cầu

Phân đoạn toàn cầu bao gồm các thị trường toàn cầu có liên quan, các thị trường hiện tại đang thay đổi, các sự kiện chính trị quốc tế quan trọng, các đặc tính

Trang 19

thể chế và văn hóa cơ bản trên các thị trường toàn cầu Toàn cầu hóa các thị trường kinh doanh tạo ra cả cơ hội lẫn đe dọa Ví dụ, các doanh nghiệp có thể nhận diện và thâm nhập vào các thị trường toàn cầu mới đáng giá Nhiều thị trường toàn cầu ( như Nam Mỹ, Hàn quốc, Đài Loan) đang trở nên không biên giới

Cùng với các cơ hội các doanh nghiệp cũng phải nhận ra các đe dọa tiềm ẩn trong các thị trường như vậy Các công ty ở Bắc Mỹ và Châu Âu có thể bị thiệt hại bởi đe dọa khủng bố… Trung quốc hiện ra với nhiều cơ hội và không ít đe dọa với các công ty quốc tế Điều tạo ra nhiều cơ hội chính là Trung quốc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới, làm cho đất nước này tham gia mạnh hơn vào nền kinh tế thế giới Để vào được tổ chức này Trung quốc phải chấp nhận giảm các rào cản thương mại trong nhiều ngành, bao gồm viễn thông, ngân hàng, chế tạo ô tô, điện ảnh, các dịch vụ nghề nghiệp (tư vấn luật, kế toán ) Sự giảm rào cản này làm cho nhiều công ty có cơ hội thâm nhập thị trường rộng lớn đầy tiềm năng này Nhưng cũng đưa đến nhiều đe dọa tiềm ẩn cho các công ty khác bởi đây là thị trường lao động rẻ và khả năng lao động dồi dào Dịch chuyển vào thị trường quốc tế mở ra một tiềm năng và tầm với cho các doanh nghiệp Toyota nhận được trên 50% tổng doanh số từ bên ngoài Nhật bản McDonal’s có hơn 60% từ bên ngoài nước Mỹ Nokia có đến 98% doanh số từ nước ngoài

Bởi vì đi cùng với sự gia tăng doanh số như vậy là sự không chắc chắn, các công ty thường xem sự thâm nhập vào thị trường quốc tế mới như là một dự án mạo hiểm Các doanh nghiệp có thể tăng cơ hội để bán các cải tiến của họ bằng việc thâm nhập vào thị trường quốc tế mới Thị trường càng lớn càng làm tăng khả năng

có được thu nhập tốt cho các cải tiến của nó Chắc chắn, doanh nghiệp thâm nhập vào thị trường mới có thể khuếch tán những kiến thức mới mà họ đã sáng tạo ra cũng như học hỏi nhiều hơn từ thị trường mới

Các doanh nghiệp cần nhận thức về các đặc tính khác biệt văn hóa xã hội và thể chế của các thị trường toàn cầu Các công ty cạnh tranh trong thị trường Hàn quốc phải hiểu về giá trị của mệnh lệnh trực tuyến, chính thức, và tự kiểm soát cũng như bổn phận nhiều hơn là quyền hạn Hơn nữa, hệ tư tưởng của người Hàn quốc

Trang 20

giống như nhiều quốc gia châu Á khác nhấn mạnh vào cộng đồng Mặc dù vậy, cách tiếp cận của Hàn quốc khác so với Nhật bản và Trung Quốc, vì ở đó người ta nhấn mạnh vào sự hòa hợp Sự hòa hợp dựa trên nền tảng của các quan hệ trực tuyến hay tuân thủ với quyền lực Trung quốc thì nhấn mạnh vào quan hệ cá nhân, trong khi Nhật bản lại gắn với quan hệ tập thể Các hãng ở các quốc gia khác nhau cạnh tranh trên các thị trường này có thể học tập lẫn nhau Nhưng dù sao vốn văn hóa vẫn là điều quan trong cho sự thành công trong hầu hết các thị trường trên thế giới.

1.3.2.2 Môi trường ngành và cạnh tranh

Một ngành là một nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có thể thay thế chặt chẽ với nhau Trong quá trình cạnh tranh các công ty này có ảnh

hưởng đến các công ty khác Nóichung, các ngành bao gồm một hỗn hợp và đa dạng các chiến lược cạnh tranh mà các công ty theođuổi để có được mức thu nhập cao hơn trung bình

Sự thay thế một cách chặt chẽ có nghĩa là các sản phẩm hay dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu khách hàng về cơ bản tương tự nhau Ví dụ các tấm vỏ nhựa hay

vỏ kim loại dùng trong chế tạo ô tô cóthể thay thế một cách chặt chẽ cho nhau Mặc

dù các công nghệ sản xuất khác nhau, các công tycung cấp ô tô chế tạo các tấm vỏ

xe kim loại ở trong ngành về cơ bản tương tự như các công ty chếtạo vỏ xe nhựa

Họ đang phục vụ nhu cầu khách hàng tương tự, - nhu cầu của các công ty lắp ráp ôtô về những tấm vỏ xe

Các ngành rất khác nhau về các đặc tính kinh tế, các tình thế cạnh tranh, và triển vọng thu lợi nhuận trong tương lai Các đặc tính kinh tế của ngành biến đổi bởi một số các nhân tố như: qui môvà tốc độ tăng trưởng thị trường, tốc độ thay đổi công nghệ, ranh giới địa lý của thị trường (địaphương hay toàn cầu), số lượng, qui

mô của những người mua và bán, mức độ tác động của tínhkinh tế về qui mô đến sản phẩm của người bán, các kiểu kênh phân phối…

Các lực lượng cạnhtranh có thể vừa phải, dữ dội, thậm chí là tàn khốc trong các ngành khác nhau Hơn nữa, các ngành cũng khác nhau rất lớn về các tiêu điểm

Trang 21

cạnh tranh, có thể là giá, là chất lượng, cải tiến hay rấtnhiều các đặc tính hiệu năng khác.

Diện mạo kinh tế của ngành và các điều kiện cạnh tranh hiện tại cũng như dự kiến tương lai là cơsở để tiên liệu lợi nhuận tương lai là thấp, trung bình hay tuyệt vời Sự khác biệt về các điều kiệnngành và cạnh tranh có thể khiến các công ty trong ngành không hấp dẫn rất khó có thể tìm ra lợinhuận trong khi các công ty yếu

ở trong các ngành hấp dẫn vẫn dễ dàng thể hiện một hiệu năng tốt

* Mô hình năm lực lượng cạnh tranh Của Michael Porter

- Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

Lực lượng này bao gồm các công ty hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng họ có khả năng làmđiều đó nếu họ muốn

Nhận diện các đối thủ mới có thể thâm nhập vào ngành là một điều quan trọng bởi họ có thể đe dọađến thị phần của các công ty hiện có trong ngành Một trong những nguyên nhân để có thể coi cácđối thủ muốn nhập ngành như một đe dọa, đó là, họ sẽ đem vào cho ngành các năng lực sản xuất mới Thông thường, các đối thủ mới thâm nhập ngành có một mối quan tâm mãnh liệt đến việc giành được thị phần lớn Kết quả là, các đối thủ cạnh tranh mới có thể thúc ép các công ty hiện

có trong ngành phải trở nên hữu hiệu hơn, hiệu quả hơn và phải biết cách cạnh tranh với các thuộc tính mới

Sự ganh đua các công tyhiện có

Trang 22

Sức mạnh của lực lượng cạnh tranh do những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là một hàm số với chiềucao của các rào cản nhập cuộc Rào cản nhập cuộc là các nhân

tố sẽ gây khó khăn tốn kém cho cácđối thủ muốn thâm nhập ngành, và thậm chí khi

họ có thể thâm nhập, họ sẽ bị đặt vào thế bất lợi.Chi phí cho việc gia nhập ngành của các công ty mới càng cao, thì rào cản nhập cuộc càng cao Rào cản nhập cuộc cao sẽ giữ các đối thủ tiềm tàng ở bên ngoài ngay cả khi thu nhập trong ngành cao

- Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành

Lực lượng thứ hai trong mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter đó là mức độ ganh đua giữa các công ty trong phạm vi một ngành Bởi vì, các doanh nghiệp trong một ngành cùng lệ thuộc lẫn nhau, các hành động của một công ty thường kéo theo các hành động đáp trả của các công ty khác Sự ganh đua mãnh liệt khi một doanh nghiệp bị thách thức bởi các hành động của doanh nghiệp khác hay khi doanh nghiệp nhận thức được một cơ hội cải thiện vị thế của nó trên thị trường

Hiếm khi có được sự đồng nhất của các doanh nghiệp trong một ngành Bởi chúng luôn khác nhau về các nguồn lực, khả năng và tìm cách gây khác biệt với các đối thủ.Thường thấy các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng cách gây khác biệt giữa sản phẩm của nó với những gì mà đối thủ cung cấp Các công cụ thường

sử dụng trong cuộc chạy đua tạo giá trị cho khách hàng là giá, chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách hàng

Nếu sự ganh đua trong ngành yếu, các công ty sẽ có cơ hội để tăng giá và nhận được lợi nhuận cao hơn Nhưng nếu sự ganh đua mạnh, cạnh tranh giá có thể xảy ra một cách mạnh mẽ, điều này sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh giá cả Cạnh tranh làm giới hạn khả năng sinh lợi do việc giảm lợi nhuận biên trên doanh số Do

đó, cường độ ganh đua giữa các công ty trong ngành tạo nên một đe dọa mạnh mẽ đối với khả năng sinh lợi

- Năng lực thương lượng của người mua

Lực lượng thứ ba trong năm lực lượng của Porter là năng lực thương lượng của người mua Người mua của một công ty có thể là những khách hàng tiêu dùng cuối cùng sản phẩm của nó (người sử dụng cuối cùng), nhưng họ cũng có thể là các

Trang 23

công ty phân phối sản phẩm của nó đến khách hàng cuối cùng, như các nhà bán

buôn bán lẻ Những người mua có thể được xem như một đe dọa cạnh tranh khi họ

ở vị thế yêu cầu giá thấp hơn hoặc khi họ yêu cầu dịch vụ tốt hơn (mà có thể dẫn

đến tăng chi phí hoạt động) Ngược lại, khi người mua yếu, công ty có thể tăng giá

và có được lợi nhuận cao hơn

Người mua có thể ra yêu cầu với công ty hay không tùy thuộc vào quyền lực tương đối của họ với công ty Theo Porter người mua có quyền lực nhất trong các trường hợp sau: Khi ngành cung cấp được tạo bởi nhiều công ty nhỏ và người mua

là một số ít và lớn Trường hợp này cho phép người mua lấn át các công ty cung cấp Khi người mua thực hiện mua sắm khối lượng lớn Trong trường hợp đó người mua có thể sử dụng quyền lực mua sắm như một đòn bẩy thương lượng để giảm giá Khi ngành cung cấp phụ thuộc vào người mua,vì một tỷ lệ % lớn tổng số các đơn hàng là của họ

Khi người mua có thể chuyển đổi giữa các công ty cung cấp với chi phí thấp,

do đó nó kích thích các công ty chống lại nhau để dẫn đến giảm giá Khi đặc tính kinh tế của người mua là mua sắm từ một vài công ty cùng lúc Khi người mua có thể sử dụng đe dọa với các nguồn cung cấp khi họ có khả nănghội nhập dọc, họ sử dụng khả năng này như một công cụ dẫn đến giảm giá

Một vấn đề khác đó là quyền lực tương đối của người mua và nhà cung cấp

có khuynh hướng thay đổi theo thời gian tương ứng với các điều kiện ngành thay đổi Do những thay đổi diễn ra trong ngành dược phẩm và chăm sóc sức khỏe, những người mua chủ yếu của ngành dược phẩm (bệnh viện và các tổ chức bảo vệ sức khỏe) đều có năng lực thương lượng so với nhà cung cấp và có khả năng yêu cầu giá thấp hơn

- Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp

Lực lượng thứ tư trong mô hình năm lực lượng của Porter đó là năng lực thương lượng của các nhà cung cấp Các nhà cung cấp có thể xem như một đe dọa khi họ có thể thúc ép nâng giá đối hoặc phải giảm yêu cầu chất lượng đầu vào mà

họ cung cấp cho công ty, do đó làm giảm khả năng sinh lợi của công ty Ngược lại

Trang 24

nếu nhà cung cấp yếu, điều này lại cho công ty một cơ hội thúc ép giảm giá và yêu cầu chất lượng cao Như đối với người mua, khả năng của nhà cung cấp yêu cầu với công ty tùy thuộc vào quyền lực tương đối giữa họ và công ty Theo Porter các nhà cung cấp có quyền lực nhất khi:

Sản phẩm mà nhà cung cấp bán ít có khả năng thay thế và quan trọng đối với công ty Trong ngành của công ty không phải là một khách hàng quan trọng với các nhà cung cấp Tình huống như vậy khiến sức khỏe của nhà cung cấp không phụ thuộc vào ngành của công ty, và các nhà cung cấp ít có động cơ giảm giá hay nâng cao chất lượng

Các sản phẩm tương ứng của các nhà cung cấp được làm khác biệt đến mức

có thể gây ra tốn kém cho công ty khi chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác Trong những trường hợp đó, công ty phụ thuộc vào các nhà cung cấp của nó và không thể kích họ cạnh tranh lẫn nhau Nhà cung cấp có thể sử dụng

đe dọa hội nhập xuôi chiều về phía ngành và cạnh tranh trực tiếp với công ty Các công ty mua không thể sử dụng đe dọa hội nhập ngược về phía các nhà cung cấp để

tự đáp ứng nhu cầu của mình như là một công cụ gây giảm giá

- Các sản phẩm thay thế

Lực lượng cuối cùng trong mô hình của Porter đó là đe dọa từ các sản phẩm thay thế Những sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các ngành mà phục vụ những nhu cầu khách hàng tương tự như đối với ngành đang phân tích

Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế gần gũi biểu hiện một sự đe dọa cạnh tranh, làm giới hạn khả năng đặt giá cao và do đó giới hạn khả năng sinh lợi của nó Tuy nhiên, nếu sản phẩm của công ty có ít sản phẩm thay thế gần gũi (đó là, trường hợp các sản phẩm thay thế cạnh tranh yếu), và các yếu tố khác là bình thường, công

ty sẽ có cơ hội tăng giá và nhận được lợi nhuận tăng thêm Kết quả là, chiến lược của nó sẽ được thiết kế để giành lợi thế cạnh tranh từ thực tế này

1.3.3 Phân tích môi trường bên trong

1.3.3.1 Phân tích chiến lược hiện tại

Trang 25

Để đánh giá công ty đang thực hiện chiến lược hiện tại tốt đến mức nào, nhà quản trị phải bắt đầutừ chiến lược mà công ty đang theo đuổi Trước hết, cần phải nắm được cách tiếp cận chiến lượccủa công ty, họ đang muốn trở thành người dẫn đạo chi phí, người tạo sự khác biệt, hay chỉ là sự tập trung vào phục vụ tốt một khe

hở thị trường…

Nhà quản trị cũng phải tính đến quan niệm chiến lược của công ty trên cơ sở phạm vi cạnh tranh, để hiểu rằng nó đang tham gia vào bao nhiêu giaiđoạn trong chuỗi phân phối sản phẩm (một, hai, hay toàn bộ chuỗi), phạm vi địa lý, qui mô và cấutrúc khách hàng Tìm hiểu các chiến lược chức năng, như sản xuất, tài chính, marketing, nguồn nhân lực, cải tiến sản phẩm để nhận thức tốt hơn chiến lược hiện tại.Hơn nữa, gần đây công ty có thể đã phát động một vài dịch chuyển chiến lược cần thiết cho chiến lược của nó, (cắt giảm giá, thiết kế các mẫu sản phẩm mới, quảng cáo để thâm nhập vào thị trường mới…) nhằm bảo đảm cải thiện vị thế và lợi thế cạnh tranh một cách tối ưu

Chiến lược đang theođuổi có thể còn gắn chặt hơn nữa bởi các logic đằng sau mỗi dịch chuyển cạnh tranh và cách tiếp cận chức năng.Mặc dù có thể có những đánh giá rất tốt theo quan điểm định tính (tính hành chỉnh, kiên định, hợp lý, phù hợp với tình thế), các bằng chứng định lượng vẫn là chỉ dẫn tốt về sự thực hiện chiến lược.Chúng có thể nghiên cứu một cách định lượng thông qua hiệu suất tài chính chiến lược của công ty.Các con số có thể nói lên nhiều điều.Hai chỉ số quan trọng nhất về thực hiện chiến lược là: Công ty có đạt được trạng thái tài chính và các mục tiêu chiến lược mong muốn không? Công ty có đạt được khả năng sinh lợi trên trung bình hay không? Sự thiếu hụt liên tục trong việc đáp ứng các mục tiêu hiệu suất của công ty, và hiệu suất kém cỏi so với đối thủ là những dấu hiệu cảnh báo đáng tin cậy cho thấy chiến lược vận hành kém hoặc điều hành chiến lược không tốt

Nói chung, để đánh giá hiệu suất của công ty có thể nhìn vào các dấu hiệu sau:Thứ hạng về thị phần của công ty trong ngành tăng lên, ổn định, hay giảm xuống.Lợi nhuận biên của công ty tăng lên hay giảm xuống và độ lớn tương đối của

Trang 26

nó so với đối thủ Các khuynh hướng về lợi nhuận ròng, thu nhập trên vốn đầu tư, giá trị kinh tế tăng thêm, và so sánh điều này với các đối thủ cạnh tranh Sức mạnh tài chính và đánh giá tín dụng của công ty đang được cải thiện hay suy giảm.Doanh

số của công ty tăng nhanh hơn hay chậm hơn tốc độ tăng trưởng thị trường.Hình ảnh, danh tiếng của công ty trước khách hàng.Công ty có được xem như người lãnh đạo về công nghệ, cải tiến sản phẩm, chất lượng sản phẩm hay đáp ứng khách hàng hay không

1.3.3.2 Các nguồn lực, khả năng tiềm tàng và năng lực cốt lõi

* Nguồn lực của công ty

Các năng lực cốt lõi (tạo sự khác biệt) của một tổ chức sinh ra từ hai nguồn,

đó là: các nguồn lực và khả năng tiềm tàng của nó Các nguồn lực, theo nghĩa rộng, bao gồm một loạt các yếu tố tổ chức, kỹ thuật, nhân sự vật chất, tài chính của công

ty Các nguồn lực có thể chia thànhhai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình Các nguồn lực hữu hình có thể thấy được và định lượng được, bao gồm nguồn

lực tài chính, tổ chức, các điều kiện vật chất, và công nghệ Các nguồn vô hình bao gồm nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng

* Các khả năng tiềm tàng

Được xem như nguồn tạo ra khả năng, các nguồn lực vô hình và hữu hình là

bộ phận cơ bản dẫn đến sự phát triển lợi thế cạnh tranh Khả năng tiềm tàng là khả năng của công ty sử dụng các nguồn lực đã được tích hợp một cách có mục đích để đạt được một trạng thái mục tiêu mong muốn Như là sự liên kết chặt chẽ tổ chức lại với nhau, các khả năng sản sinh theo thời gian thông qua những tương tác giữa các nguồn lực vô hình và hữu hình Các kỹ năng này tập trung vào các công việc hàng ngày của tổ chức; đó là, cách thức ra các quyết định, quản trị các quá trình bên trong

để đạt đến mục tiêu của tổ chức Khái quát hơn, các khả năng tiềm tàng của một công ty là sản phẩm của cấu trúc tổ chức và hệ thống kiểm soát Chúng xác định các quyết định được làm bằng cách nào và ở đâu trong tổ chức, các hành vi tưởng thưởng, các giá trị và chuẩn mực văn hoá của công ty

Trang 27

Như là điều cốt yếu để tạo lợi thế cạnh tranh, các khả năng thường dựa trên

sự phát triển, truyền dẫn, và trao đổi thông tin và kiến thức thông qua nguồn vốn nhân sự Bởi vì, một nền tảng kiến thức gây dựng trên các hành động của công ty có thể không được tất cả các nhân viên hiểu một cách rõ ràng, mà chính sự lặp lại và thực hành sẽ làm tăng dần giá trị của các khả năng trong công ty Nền tảng của rất nhiều khả năng của công ty nằm trong các kỹ năng và kiến thức của các nhân viên, thường là các chuyên gia trong các hoạt động chức năng Vì thế, không nên đánh giá quá cường điệu giá trị của nguồn vốn con người trong việc phát triển và sử dụng các khả năng tiềm tàng và rốt cục là các năng lực cốt lõi Các công ty cam kết phát triển các khả năng tiềm tàng của con người bên trong công ty nhằm duy trì được lợi thế cạnh tranh lâu dài so với các công ty không làm được điều này

* Năng lực cốt lõi

Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của công ty được sử dụng như nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh Năng lực cốt lõi làm cho một công ty có tính cạnh tranh và phẩm chất riêng có của nó Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian thông qua quá trình học tập, tích lũy một cách có tổ chức về cách thức khai thác các nguồn lực và khả năng khác nhau Như một khả năng hành động, các năng lực cốt lõi là

"đồ phục sức sang trọng của một công ty", các hoạt động mà công ty thực hiện tốt

so với đối thủ cạnh tranh và thông qua đó nó làm tăng giá trị cho các hàng hóa và dịch vụ trong suốt thời gian dài

Không phải tất cả các nguồn lực và khả năng của công ty đều là các tài sản

có tính chiến lược Các tài sản có tính chiến lược phải có giá trị cạnh tranh và có tiềm năng sử dụng như một nguồn lợi thế cạnh tranh, thậm chí có thể có cả các nguồn lực và khả năng còn gây ra các bất lợi về mặt chiến lược bởi chúng nằm trong vùng mà công ty yếu trong so sánh với đối thủ Do đó, có thể có một số nguồn lực và khả năng không được phát triển thành một năng lực cốt lõi Các doanh nghiệp có sức mạnh tài chính có thể sử dụng nguồn lực này để mua các nhà xưởng thuê thêm nhân viên cần thiết tạo ra các sản phẩm cung cấp giá trị cho khách hàng

Trang 28

Tuy nhiên, các doanh nghiệp không có nguồn lực tài chính đủ mạnh, có thể bộc lộ điểm yếu của họ trong việc mua hay tạo dựng các khả năng mới Để thành công, các doanh nghiệp phải hướng tới các cơ hội của môi trường sao cho khả năng của nó có thể khai thác được, tránh phải đương đầu với những lĩnh vực mà nó có điểm yếu Vấn đề là để có lợi thế cạnh tranh bền vững công ty nên có bao nhiêu năng lực cốt lõi? Cách lời câu hỏi rất khác nhau Việc hỗ trợ và nuôi dưỡng nhiều hơn bốn năng lực cốt lõi có thể gây cản trở cho công ty trong việc tập trung khai thác đầy đủ các năng lực của nó trên thị trường.

* Tạo dựng các năng lực cốt lõi

Có hai công cụ giúp các công ty nhận diện và tạo dựng các năng lực cốt lõi Công cụ thứ nhất bao gồm bốn tiêu chuẩn cụ thể của lợi thế cạnh tranh bền vững mà công ty có thể sử dụng để xác định các nguồn lực và khả năng có tiềm năng trở thành các năng lực cốt lõi hay không Công cụ thứ hai là phân tích chuỗi giá trị Công ty có thể sử dụng công cụ này để chọn ra các năng lực tạo giá trị cần được duy trì, nâng cấp, hay phát triển và các năng lực cần mua từ bên ngoài

Các năng lực cốt lõi phải bảo đảm bốn tiêu chuẩn của lợi thế cạnh tranh bền

vững: đáng giá, hiếm, khó bắt chước, không thể thay thế Các khả năng tiềm tàng

không thỏa mãn bốn tiêu chuẩn của lợi thế cạnh tranh bền vững không phải là năng lực cốt lõi Như vậy, mỗi năng lực cốt lõi là một khả năng, nhưng không phải khả

Các khả năng:

- Tích hợp một nhóm cácnguồn

Khả năng:

- Một nhóm các nguồn lực không chiến

lược

Khả năng có bảo đảm các tiêu chuẩn lợi thế cạnh tranh bền vững không?

không

Nguồn tạo ra

Hình 1.2: Năng lực cốt lõi như một khả năng chiến lược

Trang 29

năng nào cũng trở thành năng lực cốt lõi Trên phương diện điều hành, một khả

năng là một năng lực cốt lõi, nó phải bảo đảm "đáng giá và không thể thay thế nếu đứng trên quan điểm khách hàng, và độc đáo, không thể bắt trước nếu đứng trên quan điểm của các đối thủ"

Chỉ có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững khi các đối thủ cạnh tranh thất bại trong các nỗ lực nhân bản các lợi ích chiến lược của công ty Như vậy trong một khoảng thời gian nhất định công ty có thể thu được một lợi thế cạnh tranh bởi việc sử dụng các khả năng đáng giá, hiếm và khó bắt chước Khoảng thời gian đó dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng bắt chước thành công của đối thủ Lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ khi nó thỏa mãn cả bốn tiêu chuẩn trên

+ Đáng giá: Khả năng đáng giá cho phép tổ chức khai thác các cơ hội và

hòa giải các đe dọa từ môi trường bên ngoài Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội tổ chức có thể tạo nên giá trị cho khách hàng Đôi khi, các khả năng có thể trở thành đáng giá thông qua các sửa đổi để hoàn thiện khả năng đó

+ Hiếm: Các khả năng hiếm nghĩa là khả năng này không có hoặc rất ít đối

thủ cạnh tranh có khả năng đó Câu hỏi cơ bản để các nhà quản trị nhận ra tính hiếm của một khả năng là “các đối thủ của tổ chức có khả năng này không? Và bao nhiêu đối thủ có khả năng như vậy?” Các khả năng có ở nhiều đối thủ cạnh tranh sẽ không phải lợi thế cạnh tranh cho tất cả các đối thủ có được nó Các nguồn lực và khả năng đáng giá nhưng phổ biến là các nguồn làm cân bằng cạnh tranh

+ Khó bắt chước: Các khả năng khó bắt chước là những khả năng mà các

đối thủ không dễ dàng phát triển được nó Có ba nguyên nhân tạo ra khả năng khó bắt chước:

- Khả năng đó được tạo ra từ một điều kiện lịch sử độc đáo

- Sự mơ hồ về quan hệ nhân quả giữa các khả năng của tổ chức và lợi thế cạnh tranh của nó làm cho đối thủ khó bắt chước

- Sự phức tạp xã hội

+ Không thể thay thế: Các khả năng không thể thay thế nghĩa là không có sự

tương đương chiến lược, hay nguồn lực (nhóm nguồn lực) của tổ chức đánh giá

Trang 30

được gọi là tương đương chiến lược nếu mỗi nguồn lực có thể khai thác một cách riêng lẻ vẫn tạo ra cùng một chiến lược Nói chung các khả năng càng khó nhận thấy càng khó bắt chước chiến lược tạo ra giá trị Các kiến thức cụ thể của tổ chức, các mối quan hệ dựa trên sự tin cậy giữa các nhà quản trị và nhân viên, các quan hệ con người là những ví dụ về các khả năng khó nhận diện và khó thay thế.

1.3.4 Xây dựng chiến lược

1.3.4.1 Công cụ xây dựng chiến lược

Là nhà quản lý doanh nghiệp, bạn cần phải có một chiến lược để thành công Chiến lược nhìn về tương lai xa hơn của công ty Các nhà quản lý công ty rất dễ quên và bỏ qua chiến lược bởi vì họ rất bận rộn với công việc hiện tại Trong trường hợp này, bạn không thể biết làm thế nào để định vị được công việc kinh doanh của bạn và hiện nó đang ở vị trí nào Với kỹ năng chiến lược tốt, bạn sẽ đặt ra các mục tiêu thực tế và biết một cách rõ ràng về cách để đạt được chúng trong tương lai Chiến lược quyết định tương lai của doanh nghiệp hoặc là nó sẽ mất đi vị trí trên thị trường vào tay các đối thủ cạnh tranh Nhưng trước khi lựa chọn hay xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp của mình, việc bạn phải làm trước tiên là phân tích lựa chọn một công cụ thích hợp để có thể phân tích và đưa ra chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp

1.3.4.2 Ma trận năng lực cốt lõi

* Ma trận phát triển và khai thác các năng lực cốt lõi

Theo Gary Hamel và C K Prahalad, cách tiếp cận có lợi nhất hướng đến nhận diện các cơ hội kinh doanh khác nhau là nhận thức lại tổ chức như là một danh mục các năng lực cốt lõi - chứ không phải danh mục các đơn vị kinh doanh và sau

đó xem xét cách thức phát triển các năng lực này để duy trì các hoạt động kinh

doanh hiện tại và thúc đẩy tạo ra các cơ hội kinh doanh mới, sử dụng ma trận (hình 1.4) để thiết lập một lịch trình tạo lập và thúc đẩy các năng lực cốt lõi tạo ra cơ hội

kinh doanh mới và giữa các thị trường sản phẩm mới với hiện có

Mỗi góc phần tư trong ma trận có một tiêu đề, hàm ý chiến lược của mỗi góc này được mô tả như sau:

Trang 31

Hình 1.3: Ma trận phát triển và khai thác các năng lực cốt lõi

- Hàng đầu cộng 10: Góc phần tư phía trên bên trái chỉ như là hàng đầu

cộng 10 Thuật ngữ này gợi ý về một câu hỏi quan trọng khác: Các năng lực mới nào phải tạo lập để bảo đảm giữ nguyên vị trí người cung cấp hàng đầu trong 10 năm tới

- Điền vào chổ trống: Đây là góc phần tư phía dưới bên trái thể hiện danh

mục các năng lực và sản phẩm hiện tại của tổ chức Giai đoạn điền vào chổ trống thể hiện cơ hội cải thiện vị thế của tổ chức trong thị trường hiện tại bằng cách thúc đẩy các năng lực cốt lõi hiện tại

- Các cơ hội to lớn: Các cơ hội được thể hiện trong góc phần tư phía trên bên

phải không chồng lên vị thế thị trường hiện tại của tổ chức, hay khả năng hiện tại của nó Tuy nhiên, Công ty có thể theo đuổi các cơ hội như vậy nếu thấy đặc biệt hấp dẫn, có ý nghĩa, hay có liên quan tới các cơ hội kinh doanh hiện tại của tổ chức

- Không gian trống: Góc phần tư phía dưới bên phải là không gian trắng

Vấn đề đặt ra ở đây là làm cách nào để điền vào các không gian trống bằng việc bố trí lại hay kết hợp lại một cách sáng tạo các năng lực cốt lõi hiện tại

1.3.5 Các chính sách triển khai chiến lược

1.3.5.1 Thiết kế cấu trúc chiến lược

Việc triển khai một chiến lược yêu cầu phân công vai trò và trách nhiệm về các hoạt động chiến lược khác nhau cho các nhà quản trị và các bộ phận nhất định trong công ty Cấu trúc tổ chức của công ty chỉ ra các vai trò, trách nhiệm, các quan

Trang 32

hệ báo cáo Nếu cấu trúc tổ chức hiện tại không thích hợp với chiến lược công ty đã lựa chọn, phải thiết kế ra một cấu trúc tổ chức mới.

Chiến lược chỉ có thể triển khai thông qua cơ cấu tổ chức, vì thế, sau khi xây

dựng chiến lược cho công ty các nhà quản trị phải thực hiện ngay bước tiếp theo, đó

là thiết kế cơ cấu tổ chức Các hoạt động tạo giá trị của mỗi thành viên tổ chức sẽ ít

có ý nghĩa trừ khi có một cơ cấu tổ chức để gắn con người với các nhiệm vụ và kết nối các hoạt động của những con người vào bộ phận khác nhau Mỗi một chức năng trong tổ chức cần phải phát triển một năng lực gây khác biệt thông qua một hoạt động tạo giá trị theo hướng tăng hiệu quả, chất lượng, cải tiến, và đáp ứng khách hàng Như vậy, mỗi chức năng cần có trong một cơ cấu phải được thiết kế rõ ràng, qua đó có thể chuyên môn hoá, phát triển các kỹ năng, và đạt năng suất cao hơn Tuy nhiên, khi các chức năng trở nên chuyên môn hoá hơn, mỗi bộ phận lại thường theo đuổi các mục tiêu riêng của mình một cách mù quáng, họ đánh mất khả năng nhìn nhận yêu cầu truyền thông và phối hợp với các chức năng khác

1.3.5.2 Chính sách nhân sự

+ Nhân lực là nguồn vốn quý giá và then chốt

+ Xây dựng nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng được quá trình phát triển kinh doanh của công ty và tham gia ngành

+ Thực hiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực lâu dài bằng các chương trình huấn luyện đào tạo và phân công công việc hợp lý, nhằm tạo môi trường tốt nhất để nguồn nhân lực phát triển đồng hành cùng quá trình phát triển của công ty

+ Chú trọng phát triển nguồn nhân lực nội bộ và đội ngũ kế thừa, đồng thời tuyển dụng bổ sung nguồn nhân lực từ bên ngoài và các chuyên gia nước ngoài có khả năng huấn luyện, đào tạo

+ Nguồn nhân lực hòa nhập văn hóa công ty và đảm bảo tính toàn vẹn giá trí cốt lõi mà công ty đã hình thành trong quá trình phát triển

1.3.5.3 Chính sách tài chính

Tài chính có vai trò trong tạo lập vốn, đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh

Để đạt được những mục đích sản xuất kinh doanh, yếu tố hàng đầu của doanh

Trang 33

nghiệp là phải có vốn Trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay, việc đảm bảo vốn trở thành một nhân tố sống còn của mỗi doanh nghiệp Xuất phát từ nhu cầu vốn của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế, nên thị trường cũng xuất hiện những nhân tố mới của thị trường tài chính cùng những hình thức trong liên doanh liên kết sản xuất và đầu tư…Trong bối cảnh đó các doanh nghiệp cần phải phát huy cao độ các chức năng tài chính để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh.

Hai yếu tố quan trọng trong là việc sử dụng nguồn tài chính như thế nào và các biện pháp huy động tài chính ra sao đòi hỏi doanh nghiệp phải lên kế hoạch và tìm ra những biện pháp cụ thể từ đó mới có thể đưa doanh nghiệp của mình kinh doanh ổn định trên thị trường

Trang 34

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH

VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

TẠI CÔNG TY MECO 623

2.1 Khái quát về Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 (Cienco 6) và công ty cổ phần cơ khí xây dựng công trình 623 (Meco 623)

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

2.1.1.1 Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6

Tổng Công Ty XDCTGT6 là doanh nghiệp nhà nước thuộc bộ GTVT, có trụ

sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam, tiền thân là Ban GTCC miền Nam Sau 30/4/1975 được Bộ GTVT giao nhiệm vụ tiếp nhận và quản lý hệ thống GTCC miền Nam và toàn bộ cơ sở vật chất, cán bộ công nhân viên của công ty VECCO, một công ty chuyên ngành xây dựng GTCC Miền Nam - Việt Nam Trong thực tế,

cơ sở vật chất này được công ty VECCO tiếp quản từ nhà thầu xây dựng Mỹ BRJ trước 1972

RMK-Ngày nay Tổng Công Ty XDCTGT 6 có trên 30 năm trưởng thành phát triển,

là một đơn vị mạnh, phạm vi hoạt động trên cả nước và các nước trong khu vực chuyên ngành thi công các công trình vượt sông, công trình giao thông đường bộ, đường sắt, các hệ thống cảng sông, cảng biển, cảng hàng không, công trình thủy điện, xây dựng, cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, dân dụng Xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư, địa ốc, khách sạn, khai thác mỏ và nhà máy sản xuất vật liệu

TRỤ SỞ CHÍNH

127 Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 84.8.3510 1863 - 3510 1867, Fax: 84.8.3510 1858

Email: cienco6@cienco6.com.vn

GIẤY PHÉP KINH DOANH

Số 102287 ngày 30/11/1995 của Ủy ban Kế hoạch Thành phố Hồ Chí Minh

Số 0300487137 của Sở Kế Hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh

ĐƯỢC THÀNH LẬP

Trang 35

- Theo thông báo phê duyệt 5918/ĐMDN ngày 18/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ.

- Quyết định số 4853 QĐ-TCCB-LĐ ngày 23/11/1995 của Bộ Trưởng Bộ giao Thông Vân Tải

- Quyết định ban hành điều lệ số 5257/QĐ-TCCB-LĐ ngày 25/11/1995 của

Bộ Giao Thông Vận Tải

- Quyết định số 1759/QĐ-BGTVT thành lập Công Ty Mẹ Con - Tổng Công

Ty XDCT GT 6

2.1.1.2 Công ty cơ khí xây dựng công trình 623

Công ty cơ khí xây dựng công trình 623 là thành viên liên kết của TCT XDCTGT6 thuộc Bộ GTVT Tiền thân là Cơ Xưởng Trung Đại Tu xe máy thiết bị thi công cầu đường thuộc Tổng nha kiều lộ (chế độ cũ) được tiếp quản từ 30.4.1975 Công ty đã lần lượt thay đổi tên gọi qua các giai đoạn:

- 1975 - 1980: Nhà máy đại tu thiết bị

- 1980 - 1989: Nhà máy cơ khí giao thông 623

- 1989 - 1993: Công ty cơ khí giao thông 623

- 1994 - 2004: Công ty cơ khí xây dựng công trình 623

- Từ 30.4.2004 đến nay: chuyển đổi từ DNNN thành Công ty cổ phần cơ khí xây dựng Công trình 623.

* Lĩnh vực hoạt động

- Xây dựng các công trình giao thông, công nghiệp, dân dụng, thủy lợi (bao gồm: cầu, đường, sân bay, bến cảng, đường điện dưới 35KV, ) trong và ngoài nước

- Nạo vét, đào đắp, san lắp mặt bằng công trình

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu dân cư, đô thị

- Sản xuất, chế biến vật liệu xây dựng, kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn, bê tông nhựa (không sản xuất chế biến tại trụ sở)

- Mua bán vật tư, phương tiện và thiết bị ngành giao thông vận tải

Trang 36

- Sản xuất, lắp ráp, đóng mới phương tiện vận tải thủy, bộ (không sản xuất đóng mới tại trụ sở).

- Sửa chữa các phương tiện và thiết bị thi công

- Kinh doanh vận tải hàng siêu trường, siêu trọng

- Xuất nhập khẩu phương tiện, vật tư, thiết bị giao thông vận tải

- Kinh doanh thương mại và dịch vụ, tư vấn thiết kế, giám sát các công trình

- Kinh doanh bất động sản

- Thiết kế công trình giao thông

2.1.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Meco 623

Phòng

Kỹ thuật

Kế hoạch

Phòng

Tổ chức hành chính

Phòng hợp tác đầu tư

nghiệp

cơ khí

Xí nghiệp dịch vụ

Xí nghiệp thi công công trình

Xí nghiệp thi công nền móng

Chi nhánh

Đà Nẵng

Công

ty Bình An

Hội đồng quản trị

Đại hội đồng cổ đông

Ban kiểm soát

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Trang 37

- Phòng tổ chứchành chính: có nhiệm vụ tham mýu những mặt công tác nhý:

tổ chức cán bộ, lao ðộng, tiền lýõng, soạn thảo nội dung quy chế pháp lý, các quyết định công văn, chỉ thị, giải quyết các chế độ chính sách, quản lý hồ sơ nhân sự

- Phòng kỹ thuậtkế hoạch: Lập hồ sơ dự thầu, thiết kế biện pháp tổ chức thi công các dự án có tính chất phức tạp, hỗ trợ điều hành thi công các dự án của công

ty, theo dõi và thanh quyết toán các công trình đã và đang thi công ;

- Phòng tài chính kế toán: thực hiện các nghiệp vụ kế toán, tài chính, tính toán chi phí sản xuất, giá thành, lập các chứng từ sổ sách thu chi với khách hàng và nội bộ

- Phòng vật tư thiết bị: Quản lý máy móc, thiết bị và cung ứng vật tư

- Phòng hợp tác đầu tư: Quan hệ khách hàng, nhà cung cấp, tìm kiếm cơ hội đầu tư

* Các xí nghiệp: Phân công theo các lĩnh vực cụ thể riêng.

2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Meco 623

2.2.1 Tình hình hoạt động của công ty qua các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu

2.2.1.1 Xây dựng công trình giao thông

Bảng 2.1 : Sản lượng

ĐVT: Triệu đồng

Tiêu chí Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Trang 38

Ngành nghề chủ yếu của công ty Meco 623 là xây lắp các công trình giao thông trên khắp đất nước Đây là sản phẩm mang lại doanh thu chủ yếu cho công ty Trong ba năm vừa qua công ty Meco 623 vẫn đầu tư mạnh vào hoạt động xây lắp, sản lượng kinh doanh trong ba năm ngày một tăng

Tuy nhiên, trong giai đoạn này giá cả nguyên vật liệu có nhiều biến Sự cạnh tranh giá trong việc đấu thầu của các công ty trong ngành ngày càng gay gắt cũng ảnh hưởng lớn đến việc tìm kiếm cơ hội trúng thầu các công trình xây lắp của công ty

Bên cạnh đó, đây là một loại hình kinh doanh có chiều hướng phát triển ngày càng mạnh, do đó có nhiều tổ chức tham gia lẫn trong nước và nước ngoài chính vì thế công ty Meco 623 có nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ về năng lực cũng như tài chính

2.2.1.2 Cho thuê mặt bằng và máy móc thiết bị

Để có thể mang lại doanh thu cho công ty nhằm đảm bảo được một phần nào

đó trong việc chi trả lương thưởng và các hoạt động mang tính nội bộ khác của công

ty Trong những năm vừa qua công ty đã tận dụng được một số quỹ đất không sử dụng của mình để cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước thuê để tổ chức hoạt động kinh doanh Đây là một nguồn thu góp phần đáng kể trong việc tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty Cụ thể là: 5 Ha đất tại Bình Dương cho các đơn vị sản xuất

đồ thủ công mỹ nghệ, lưu kho bãi, mặt bằng tại 127 Đinh Tiên Hoàng – Q.Bình Thạnh – HCM cho siêu thị Co.op Mart thuê

Ngoài ra, các nguồn máy móc thiết bị của công ty như: giàn khoan đá, giàn khoan cọc nhồi, xe đúc hẫng…Đây là một số máy móc mang tính chất kỹ thuật và công nghệ cao mà công ty đã đầu tư để có thể thi công những công trình có quy mô hiện đại Công ty đã tận dụng những thiết bị máy móc này để cho các tổ chức có nhu cầu thuê trong việc thi công các công trình giao thông Nguồn thu mang lại cho công ty trong hoạt động này cũng chiếm một phần không nhỏ nhằm đảm bảo được hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn khó khăn

Trang 39

2.2.1.3 Gia công cơ khí

Công ty chủ động tìm kiếm, đầu tư các công trình do đó ngoài việc đảm bảo việc làm cho người lao động còn tăng khoản lợi nhuận đáng kể từ hoạt động gia công cơ khí

Bảng 2.2: Gia công cơ khí

Mặt khác do quy mô sản xuất của Công ty còn nhỏ, công tác tiếp thị còn hạn chế nhiều mặt, năng lực cạnh tranh còn kém nên khó tiếp cận với các công trình lớn

và các nguồn công việc ngoài

2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Meco 623

Có thể nói hai năm trở lại đây công ty có kết quả kinh doanh năm sau cao hơn năm trước

Trang 40

Bảng 2.3: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 và năm 2010.

1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 81.156.394.150 109.786.232.706 194.325.795.554

2 Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ 81.156.394.150 109.786.232.706 194.325.795.554

3 Giá vốn hàng bán 72.599.385.111 103.998.610.862 181.767.303.332

4 lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 8.557.009.039 5.787.621.844 12.558.492.222

5 Doanh thu từ hoạt động tài

13 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 429.140.999 1.502.969.084 1.975.209.855

14 Chi phí thuế TNDN hiện hành 60.079.740 210.415.672 268.825.727

15 Chi phí thuế TNDN hoàn lại

16 Lợi nhuận sau thuế 369.061.259 1.292.553.412 1.706.384.128

Nguồn : Số liệu phòng kế toán

Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong ba năm qua

ta có thể thấy được sự tăng trưởng của công ty Meco 623 có xu hướng tăng qua các năm Cụ thể là năm 2008 doanh thu của công ty là 81.156.394.150, năm 2009 là 109.786.232.706 đến năm 2010 doanh thu công ty đạt 194.325.795.554 Điều này thể hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ba năm vừa qua ngày càng được mở rộng và phát triển hơn

Giá vốn hàng bán của công ty cũng tăng cao qua các năm điều này là do trong

ba năm vừa qua giá cả nguyên vật liệu đầu vào trong ngành xây dựng công trình giao thông như: sắt, thép, xi măng…tăng cao và biến động lớn

Ngày đăng: 22/11/2017, 18:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w