1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Giải pháp phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn Tỉnh Bình Định.

97 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, tuy còn mới song những tác dụng và hiệu quả của loại hình siêu thị đã từng bước được khẳng định, đặc biệt là ở các đô thị lớn hoạt động kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế, các hình thức kinh doanh, các mặt hàng trở nên đa dạng và phong phú Khi đời sống của người dân ngày càng cải thiện thì nhu cầu tiêu dùng hàng hoá ngày càng tăng Do đó các hoạt động, các hình thức tổ chức thương mại diễn ra sôi động hơn và ngày càng mở rộng Thời gian qua việc nghiên cứu phát triển hệ thống siêu thị ở Việt Nam được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương quan tâm và được đề cập nhiều trong tất cả các dự án quy hoạch phát triển thương mại

Sự xuất hiện của các loại hình thương mại văn minh hiện đại, trong đó

có siêu thị đã hình thành và phát triển mạnh ở các nước có nền kinh tế thị trường cho thấy đây là loại hình thương mại rất có hiệu quả và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong các hình thức phân phối hàng hóa, góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị, thúc đẩy sản xuất và hình thành tập quán văn minh thương mại Ở nước ta, tuy còn mới song những tác dụng và hiệu quả của loại hình siêu thị đã từng bước được khẳng định, đặc biệt là ở các đô thị lớn hoạt động kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay đổi diện mạo ngành thương mại bán lẻ của khu vực, mở ra một phương thức bán hàng văn minh, hiện đại và tiện nghi cho người tiêu dùng Việt Nam, hơn nữa làm thay đổi cả thói quen mua sắm truyền thống và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung

Bình Định là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, kinh tế có tiềm năng phát triển, dân cư ngày càng đông đúc, du khách đến tham quan ngày càng nhiều Các siêu thị lần lượt hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân địa phương và

Trang 2

du khách từ mọi miền đất nước, bước đầu đã tạo nền móng cho sự phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh

Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh siêu thị vẫn còn là một ngành kinh doanh khá mới đối với người dân Việt Nam Sự hình thành và phát triển hệ thống siêu thị ở nước ta trong thời gian qua còn mang tính tự phát, mô hình tổ chức hoạt động thực chất sao chép ở nước ngoài chưa có sự nghiên cứu, vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và môi trường văn hóa, tập quán mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam, thiếu sự chỉ dẫn về mặt chiến lược, cũng như sự chỉ đạo và thống nhất quản lý của nhà nước nên kinh doanh siêu thị chưa đạt được hiệu quả cao, chưa đảm bảo tính văn minh thương mại

Xuất phát từ những bất cập nêu trên, vấn đề bức thiết đặt ra hiện nay là cần phải định hướng, có những giải pháp để giúp hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh Bình Định phát triển một cách hiệu quả và mang tính bền vững Chính vì

vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2015”

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong thời gian qua, những vấn đề liên quan đến mô hình phát triển hệ thống siêu thị luôn được các tổ chức và cá nhân quan tâm nghiên cứu Điều đó

có thể thấy rõ qua khối lượng các tài liệu về chuyên đề này rất dồi dào, đa dạng đã được công bố, từ các chính sách của Nhà nước, các chiến lược, chương trình phát triển hệ thống siêu thị của quốc gia, đến các sách hướng dẫn, các công trình nghiên cứu và các bài báo về phát triển hệ thống siêu thị Có thể nêu một số công trình và tài liệu chủ yếu như sau:

- Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ trưởng

Bộ Thương mại về việc ban hành Quy chế siêu thị, trung tâm thương

- Văn bản số 0529/TM-TTTN của Bộ Thương mại hướng dẫn thực hiện Quyết định 1371/2004/QĐ-BTM về Quy chế siêu thị, trung tâm thương

Trang 3

- Nguyễn Ngọc Hòa, Kinh nghiệm phát triển hệ thống siêu thị và chuỗi siêu thị Co.op Mart - Tài liệu hội thảo “Chính sách phát triển mô hình phân phối hiện đại”, 2004

- Ngọc Hường, Hệ thống siêu thị Bourbon đang hình thành, Thời báo kinh tế Sài Gòn, 06/2000

- Nhóm ngành khoa học kinh tế BCH Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Nghiên cứu mô hình siêu thị Metro Cash & Carry, Bài học kinh nghiệm và ứng dụng, Công trình dự giải thưởng “Khoa học sinh viên - EUREKA”, năm học 2002 - 2003

- Nguyễn Đình Chính, Môi trường kinh doanh siêu thị, Tạp chí Marketing, số 12/2004

- Nguyễn Thị Nhiễu và những người khác, Nghệ thuật kinh doanh bán

lẻ hiện đại, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, 2000

- Đỗ Văn Toàn, Siêu thị, những bí mật được khám phá, Tài hoa trẻ 2000

- Sở Thương mại thành phố Hồ Chí Minh, Quy hoạch phát triển hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, năm 2003

Tuy nhiên, vấn đề phát triển hệ thống siêu thị đối với tỉnh Bình Định vẫn còn là vấn đề mới, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2015 thì việc nghiên cứu phát triển hệ thống siêu thị vẫn là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

Trên địa bàn tỉnh Bình Định chưa có tác giả, chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu về phát triển hệ thống siêu thị Đây là vấn đề lớn, mới mẻ và

có ý nghĩa thiết thực đối với tỉnh, đang đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể, có hệ thống

Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi lựa chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu, học hỏi những vấn đề về lý luận, đồng thời tiến hành tổng hợp số liệu kết hợp với quá trình khảo sát thực tiễn trên địa bàn, để từ đó đề xuất ý kiến của mình về phát triển hệ thống siêu thị tại tỉnh Bình Định

Trang 4

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Tổng hợp những vấn đề lý luận về phát triển siêu thị để làm khung lý thuyết nghiên cứu đề tài

- Phân tính thực trạng hoạt động kinh doanh và phát triển của hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian qua

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2015

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống siêu thị đã và đang phát triển tại tỉnh Bình Định

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Địa bàn tỉnh Bình Định

+ Về thời gian: Từ nay đến năm 2015

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê;

- Phương pháp mô tả;

- Phương pháp điều tra, phân tích;

- Phương pháp tổng hợp

6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN

Luận văn có những đóng góp quan trọng sau đây:

- Hệ thống hóa về mặt lý thuyết những vấn đề liên quan đến siêu thị, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống siêu thị trong điều kiện kinh tế -

xã hội, môi trường văn hóa và luật pháp tại Việt Nam nói chung và tại Bình Định nói riêng

- Giúp cho các nhà quản lý vĩ mô và vi mô có được cái nhìn tương đối toàn diện về thực trạng phát triển hệ thống siêu thị tại tỉnh Bình Định, nắm được những mặt hạn chế, yếu kém và các yếu tố liên quan đến sự phát triển hệ

Trang 5

thống siêu thị tại Bình Định, trên cơ sở đó tạo cho việc hoạch định các chiến lược phát triển hệ thống siêu thị tại tỉnh Bình Định một cách có hiệu quả

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày theo 3 chương sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hệ thống siêu thị;

- Chương 2: Thực trạng phát triển hệ thống siêu thị tại tỉnh Bình Định;

- Chương 3: Một số giải pháp phát triển hệ thống siêu thị tại tỉnh Bình Định đến năm 2015

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SIÊU THỊ

1.1.1 Khái niệm và phân loại siêu thị

1.1.1.1 Khái niệm về siêu thị

Siêu thị ra đời lần đầu tiên vào năm 1930 tại Hoa Kỳ, với những hình thức mới mẻ và những ưu thế nổi trội của mình, đã tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực thương mại bán lẻ “Siêu thị” là từ được dịch ra từ tiếng nước ngoài “Supermarket” (theo tiếng Anh), là loại hình bán lẻ hiện đại, văn minh phát triển rất mạnh trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển

Có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau nên khái niệm siêu thị được hiểu theo nhiều cách tùy từng quốc gia:

+ Tại Hoa Kỳ: Siêu thị được định nghĩa “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, bảo đảm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa” [10]

+ Tại Pháp: Siêu thị được định nghĩa “Siêu thị là cửa hàng bán lẻ theo phương thức tự phục vụ, có diện tích từ 400m2 đến 2.500m2 chủ yếu bán hàng thực phẩm và vật dụng gia đình”[16]

+ Tại Anh: Siêu thị được định nghĩa “Siêu thị là những cửa hàng bán lẻ thực phẩm lớn, hoạt động trên cơ sở khách hàng tự phục vụ, doanh số hơn 02 triệu USD một năm, với tổng diện tích mặt bằng ít nhất 1.850 mét vuông (2.000 feet vuông)”[17]

+ Tại Việt Nam: Siêu thị được định nghĩa “Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện

Trang 7

tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”[1]

Có thể có rất nhiều khái niệm khác nhau về siêu thị do những quan niệm khác nhau về quy mô, cơ cấu mặt hàng, doanh số, tuy nhiên các khái niệm trên không mẫu thuẫn nhau

Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, luận văn đưa ra khái niệm siêu thị như sau: Siêu thị là cửa hàng bán lẻ hiện đại, kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh với chủng loại hàng hóa rất phong phú, đa dạng, đảm bảo chất lượng và đạt doanh thu cao Có vị trí thuận lợi, đáp ứng tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh nhất định với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, có trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh với phương thức phục vụ văn minh, người mua hàng tự phục vụ chính mình, từ đó tạo khả năng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu mua sắm của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội

1.1.1.2 Phân loại siêu thị

Có nhiều cách phân loại siêu thị dựa trên các tiêu chí khác nhau và tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia, tuy nhiên có hai cách phân loại rất phổ

biến đó là phân loại theo quy mô và phân loại theo hàng hóa kinh doanh:

* Phân loại siêu thị theo quy mô, gồm có:

- Siêu thị nhỏ:

Có thể căn cứ vào diện tích mặt bằng để xác định quy mô cho siêu thị (Theo cách phân loại của Pháp thì những siêu thị có diện tích nhỏ hơn 400m2 được gọi là siêu thị nhỏ), nhưng người ta cũng có thể dựa trên số lượng chủng loại mặt hàng được bán tại siêu thị để xác định quy mô Tuy nhiên, thông thường siêu thị nhỏ chỉ chuyên bán một số loại hàng hóa như: Đồ chơi trẻ em, quần áo dày dép, dụng cụ thể thao

- Siêu thị vừa:

Thường có quy mô, diện tích mặt bằng vừa phải (ở Pháp trung bình có

Trang 8

diện tích khoảng 400m2 đến 2.500m2, còn ở Hoa Kỳ khoảng 1.250m2), hàng hóa gồm các loại dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, khá phong phú, thường từ vài ngàn đến trên 20.000 sản phẩm khác nhau Vì phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày nên siêu thị thường được đặt ở các khu dân cư có đường giao thông thuận tiện

- Đại siêu thị:

Đại siêu thị là đơn vị thương mại bán lẻ với quy mô lớn, kinh doanh tổng hợp với diện tích trên 2.500m2, có khi lên đến vài chục ngàn m2 Ở Anh đại siêu thị là cửa hàng có diện tích trên 50.000 bộ vuông, ở Pháp và Hoa Kỳ thì đại siêu thị có diện tích lên đến 100.000 bộ vuông Đại siêu thị thường thuộc sở hữu một tập đoàn thương mại, được tổ chức như một khu tổ hợp bán

lẻ với đủ các loại hàng hóa, tập hợp danh mục hàng hóa có thể lên tới 50.000 sản phẩm các loại

Ngoài ra, trên thế giới người ta còn phân siêu thị thành các loại tiêu biểu sau:

- Siêu thị thuốc và thực phẩm: Là sự kết hợp giữa siêu cửa hàng và cửa hàng thuốc dưới cùng một mái nhà và các quầy tính tiền chung Tuy nhiên mặt hàng thuốc phải chiếm ít nhất 1/3 diện tích và đạt doanh số tối thiể u 15% doanh số của siêu thị

- Siêu thị chính thống: Là cửa hàng tạp hóa tự phục vụ đáp ứng đầy đủ các loại hàng tạp hóa, thực phẩm và chế phẩm với doanh số hàng năm đạt 2 triệu USD

- Siêu cửa hàng: Một dạng nâng cấp hiện đại của siêu thị chính thống với tổng diện tích ít nhất 30.000 feet vuông, doanh số hàng năm hơn 8 triệu USD Hàng hóa bao gồm thực phẩm, sản phẩm phi thực phẩm và các gian hàng dịch

vụ

* Phân loại siêu thị theo hàng hóa kinh doanh:

Trang 9

Ngày nay siêu thị là những cửa hàng bán lẻ tổng hợp, bán hàng hóa phục

vụ cho nhu cầu tiêu dùng phổ biến của người dân từ thực phẩm đến vật dụng gia đình, quần áo, giày dép, chất tẩy rửa, hàng vệ sinh, dẫu rằng thực phẩm vẫn

là mặt hàng kinh doanh quan trọng nhất tại các siêu thị Tuy nhiên với cách hiểu thông thường thì siêu thị gồm mọi dạng cửa hàng bán lẻ áp dụng phương thức kinh doanh hiện đại, chúng ta có thể chia siêu thị thành hai loại sau đây:

- Siêu thị tổng hợp: Siêu thị tổng hợp là siêu thị bán nhiều loại hàng hóa cho nhiều loại khách hàng Hiện nay siêu thị tổng hợp đang ngày càng thịnh hành, có những siêu thị có danh mục hàng hóa vừa rộng và vừa sâu có thể lên tới hàng chục ngàn loại sản phẩm Tại những siêu thị tổng hợp lớn như vậy, khách hàng có thể mua được hầu hết tất cả các loại hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ cho sinh hoạt và cuộc sống, mà không cần phải bước ra khỏi siêu thị để đến một siêu thị khác, thật là tiện lợi

- Siêu thị chuyên doanh: Theo cách hiểu thông thường thì siêu thị chuyên doanh chính là các cửa hàng áp dụng phương thức bán hàng tự chọn Tập hợp hàng hóa tại siêu thị chuyên doanh hẹp nhưng sâu, có khả năng thỏa mãn cao nhu cầu của người tiêu dùng, đó có thể là các cửa hàng chuyên bán quần áo, giày dép, trang trí nội thất, kim khí điện máy, đồ chơi trẻ em, sách, mỹ phẩm…

1.1.2 Tiêu chuẩn siêu thị

* Siêu thị đạt chuẩn là các siêu thị có địa điểm phù hợp với quy hoạch phát triển thương mại của tỉnh; đáp ứng được các tiêu chuẩn cơ bản theo quy định tại Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) Tiêu chuẩn siêu thị được phân làm 3 hạng [1],

Số lượng tên hàng

Trang 10

Hạng Loại hình

Tiêu chuẩn tối thiểu về

Diện tích kinh doanh (m 2 )

Số lượng tên hàng

Hạng II Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 10.000

- Về quy mô, trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức:

+ Đối với siêu thị hạng I: Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc,

có tính thẩm mỹ cao, thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng; có nơi giữ xe và khu vệ sinh dành cho khách phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị; hệ thống kho và các thiết

bị kỹ thuật bảo quản, sơ chế, đóng gói, bán hàng, thanh toán, quản lý kinh doanh tiên tiến, hiện đại; tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng trong việc lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; các dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, trẻ em; giao hàng tận nhà, bán hàng qua mạng, bưu điện, điện thoại

+ Đối với siêu thị hạng II: Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có tính thẩm mỹ, thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an toàn và thuận tiện cho khách hàng; bố trí nơi giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy

mô kinh doanh của siêu thị; có kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, đóng gói, bán hàng, thanh toán tiền và quản lý kinh doanh hiện đại; bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành

Trang 11

lý cá nhân; có dịch vụ ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật và trẻ em; giao hàng tận nhà, bán hàng qua mạng, bưu điện, điện thoại

+ Đối với siêu thị hạng III: Công trình kiến trúc xây dựng vững chắc, có thiết kế và trang thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy,

vệ sinh môi trường, an toàn, thuận tiện cho khách hàng; bố trí nơi giữ xe và khu

vệ sinh cho khách phù hợp với quy mô kinh doanh của siêu thị; có kho và các thiết bị bảo quản, đóng gói, bán hàng, thanh toán tiền và quản lý kinh doanh hiện đại; tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách khoa học giúp khách lựa chọn, mua sắm, thanh toán thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân và các dịch vụ phục vụ người khuyết tật, giao hàng tận nhà

* Căn cứ quy hoạch thương mại, quy hoạch đô thị của tỉnh; quyết định của Bộ Công Thương quy định về tiêu chuẩn siêu thị để đánh giá tiêu chí phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn tỉnh

1.1.3 Đặc trưng của loại hình kinh doanh siêu thị

Siêu thị là một mô hình phân phối văn minh hiện đại, cho nên có nhiều đặc trưng, đặc thù so với các loại hình kinh doanh thương mại khác Những đặc trưng cơ bản đó bao gồm:

Là một dạng cửa hàng bán lẻ: Siêu thị được tổ chức dưới hình thức những cửa hàng do thương nhân đầu tư và quản lý, được nhà nước cấp phép hoạt động Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ không phải để bán lại

Áp dụng phương thức tự phục vụ: Siêu thị sáng tạo và áp dụng phương thức tự phục vụ, khi đề cập đến siêu thị người ta không thể không nghĩ tới mô hình “tự phục vụ”, một phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội văn minh công nghiệp hóa Siêu thị chính thức ra đời vào những năm 1930, mô hình tự phục vụ đã trở thành công thức chung cho ngành công nghiệp phân phối ở các nước phát triển và

Trang 12

ngày nay hình thức này được áp dụng phổ biến cho tất cả các cửa hàng hiện đại Sự thành công của siêu thị đã khích lệ việc phổ cập mô hình tự phục vụ của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hiện hành nhằm tiết kiệm chi phí lao động Có thể nói rằng phương thức tự phục vụ là sáng tạo diệu kỳ của kinh doanh siêu thị và

là một cuộc đại cách mạng trong lĩnh vực thương mại bán lẻ

Siêu thị sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hóa: Ngoài việc sáng tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ, siêu thị còn sáng tạo ra nghệ thuật trưng bày hàng hóa Siêu thị đã nghĩ đến việc nghiên cứu cách thức vận động của người tiêu dùng khi bước vào cửa hàng, nhằm tối đa hóa hiệu quả của không gian bán hàng Điều đó có nghĩa là hàng hóa trưng bày trong siêu thị phải có khả năng tự quảng cáo và lôi cuốn người mua, siêu thị làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, phân chia không gian, bố trí khu vực thích hợp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật nhằm kích thích tiêu dùng cao nhất Bởi vì nghệ thuật trưng bày hàng hóa có ảnh hưởng rất lớn đối với số lượng hàng hóa bán ra, vì vậy mà các siêu thị đã khai thác tối đa lợi thế này Thông qua việc sắp xếp bố trí hàng hóa, không gian, ánh sáng, phù hợp với đặc tính của sản phẩm sẽ tạo ra trạng thái hấp dẫn, thu hút khách hàng, tạo cho khách hàng hình dung và quan sát tốt được hàng hóa Cũng từ đó dẫn đến việc thúc đẩy mạnh mẻ hành vi mua hàng hóa của khách hàng

Hàng hóa bán tại siêu thị: Chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng hàng ngày từ lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, chất tẩy rửa, hàng vệ sinh, cho đến hàng kim khí điện máy, hàng điện tử gia dụng Hàng hóa được trưng bày trên các giá kệ theo từng chủng loại, giá cả phải chăng và được niêm yết một cách công khai rõ ràng, có hướng dẫn chi tiết về cách thức sử dụng và ghi rõ thời hạn sử dụng

Trang thiết bị và cơ sở vật chất: Siêu thị thường được trang bị cơ sở vật chất tương đối hiện đại Ngoài ra hình thức thanh toán tại các siêu thị rất thuận tiện, hàng hóa được gắn mã vạch, mã số sau khi khách hàng chọn xong thì

Trang 13

được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét scanner để ghi giá, tính tiền bằng máy và tự động in hóa đơn Tạo cảm giác thoải mái, hài lòng, tự tin

và sự thỏa mãn cao nhất cho người tiêu dùng

1.1.4 Vị trí, vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối hiện đại

1.1.4.1 Vị trí của siêu thị

Nền kinh tế xã hội phát triển đã làm thay đổi các hình thức phân phối bán

lẻ sản phẩm dẫn đến thói quen mua sắm của người tiêu dùng cũng thay đổi; bên cạnh đó vị trí, vai trò của các chợ truyền thống ngày một giảm đi trong hệ thống phân phối bán lẻ, vì thế mà vị thế của siêu thị hết sức quan trọng

Siêu thị là một trong các loại cửa hàng bán lẻ có vị trí trung gian cuối cùng trong kênh phân phối hàng hóa Ở vị trí này siêu thị trực tiếp phục vụ nhu cầu người tiêu dùng và đóng vai trò rất quan trọng đối với cả người sản xuất (hoặc người phân phối) lẫn người tiêu dùng

Siêu thị được xếp ở vị trí cao hơn cửa hàng tiện dụng, siêu thị nhỏ và thấp hơn so với đại siêu thị, trung tâm thương mại xét về quy mô và phương thức kinh doanh Tuy nhiên hệ thống siêu thị thường được dùng để chỉ tất cả các loại hình bán lẻ hiện đại áp dụng phương thức kinh doanh tự phục vụ Không tính đến các nước công nghiệp phát triển như Châu Âu, Bắc Mỹ nơi mà thương mại hiện đại chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng doanh số bán lẻ toàn xã hội, thì ngay cả trường hợp của các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, thương mại hiện đại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng

doanh số bán lẻ xã hội

1.1.4.2 Vai trò của siêu thị

Sự xuất hiện của siêu thị là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, siêu thị đóng vai trò là cầu nối đồng thời cũng giải quyết được rất nhiều mâu thuẩn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Khi nền kinh tế phát triển thu nhập của người dân tăng lên, nhu cầu cho tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú Nếu như người tiêu dùng có nhu cầu hàng ngày về nhiều

Trang 14

loại hàng hóa với số lượng nhỏ, thì nhà sản xuất để sản xuất có hiệu quả, bảo đảm lợi nhuận phải sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa với khối lượng lớn Sản xuất khối lượng lớn với một vài chủng loại sản phẩm sẽ mâu thuẫn với nhu cầu số lượng nhỏ nhưng chủng loại sản phẩm lại đa dạng của người tiêu dùng Hệ thống siêu thị sẽ giải quyết tốt mâu thuẫn này bằng cách mua hàng hóa của nhiều nhà sản xuất khác nhau, rồi bán lại tại một địa điểm thuận tiện cho người tiêu dùng Mặt khác hệ thống siêu thị cũng giúp tạo nên sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua hoạt động dự trữ, rồi phân phối hàng hóa Bởi vì nhiều nhà sản xuất tiến hành sản xuất tại nhiều địa điểm khác nhau, còn người tiêu dùng thì cũng sinh sống tại nhiều nơi khác nhau, hơn nữa sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian với nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều loại hàng hóa sản xuất mang tính thời vụ còn tiêu dùng thì xảy ra quanh năm hoặc ngược lại

Hệ thống siêu thị đang ngày càng cũng cố vai trò là động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển và đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng,

hệ thống siêu thị đóng vai trò là một nhân tố kích cầu, với nghệ thuật trưng bày hàng hóa của mình siêu thị có khả năng tự quảng cáo và hấp dẫn người mua Siêu thị có thể thỏa mãn người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hóa mà họ cần, đúng thời gian, tại cùng một địa điểm và với một mức giá mà người tiêu dùng

có thể chấp nhận được Nhu cầu của người tiêu dùng ngày một phong phú, biến đổi không ngừng, siêu thị sẽ có những thông tin phản hồi từ người tiêu dùng rồi từ đó đặt hàng với nhà sản xuất để kịp thời đáp ứng những thay đổi

đó Siêu thị cũng có thể kích thích tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu dùng thông qua việc bổ sung vào tập hợp danh mục hàng hóa của mình những sản phẩm mới, tạo nhiều sự lựa chọn khác nhau nhằm phục vụ người tiêu dùng một cách tốt nhất

Hệ thống siêu thị giúp giảm thiểu các tầng, nấc trung gian trong hệ thống phân phối, hình thành nên một hệ thống phân phối liên kết vững chắc,

Trang 15

giúp giảm thiểu tối đa thời gian và chi phí giao dịch, hạ giá thành sản phẩm bảo đảm kinh doanh hiệu qủa Sự có mặt của siêu thị trong hệ thống bán lẻ hàng hóa tiêu dùng đã làm tăng mức độ cạnh tranh trong ngành thương nghiệp bán lẻ Cũng từ đó, siêu thị sẽ thúc đẩy các loại hình bán lẻ khác phải nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng

Siêu thị còn đóng vai trò như là người san sẻ rủi ro với các nhà sản xuất Nếu như trước kia các nhà sản xuất tự phân phối hàng hóa và tự gánh chịu rủi

ro đối với hàng hóa của mình thì ngày nay một số siêu thị đã bắt đầu tự kinh doanh rủi ro Siêu thị thường mua đứt hàng hóa của các doanh nghiệp với giá đặc biệt, sau đó tự chịu trách nhiệm về khâu bảo hành, vận chuyển hàng hóa đến người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận cao hơn Ngoài ra hệ thống siêu thị còn có một số vai trò khác như: Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân

cư, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia

Tóm lại với hàng loạt vai trò đã nêu trên, siêu thị ngày càng cũng cố tầm quan trọng như là một mắt xích chính yếu của quá trình tái sản xuất mở rộng

xã hội, bảo đảm cho quá trình này diễn ra thông suốt và góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội chung Vì vậy phát triển hệ thống siêu thị là tất yếu, nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới

1.1.5 Quá trình hình thành và phát triển siêu thị tại Việt Nam

Từ khi thực hiện chính sách cải cách kinh tế, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và ổn định Với sự phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, môi trường xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống siêu thị ở Việt Nam hình thành và phát triển

Siêu thị đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là siêu thị Minimart của Công ty XNK nông sản và tiểu thủ công nghiệp Vũng Tàu (Vũng Tàu - Sinhanco) khai

Trang 16

trương vào tháng 10/1993 tại trung tâm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, nhưng quy mô còn nhỏ, số lượng mặt hàng bày bán và doanh thu hàng ngày thấp, phục vụ chủ yếu cho đối tượng là khách nước ngoài Từ năm 1994 tiếp tục ra đời những siêu thị có quy mô lớn hơn về diện tích mặt bằng, chủng loại hàng hoá như Co.opMart (Sài Gòn - Coop), Maximark (Công tyAn Phong), Citimart (Công ty Đông Hưng),… được tổ chức theo hình thức liên hợp bao gồm các khu vực bán hàng hoá, ăn uống, giải trí tại khu vực trung tâm Quận 1, Quận 3, Quận 5 và về sau lan tỏa ra các vùng ven đô của thành phố Hồ Chí Minh như Quận Gò Vấp, Quận Tân Bình

Tại Hà Nội, siêu thị đầu tiên được xuất hiện là siêu thị Minimart Hà Nội (Vũng Tàu - Sinhanco) khai trương tháng 3/1995 ở tầng 2 chợ Hôm, tiếp đến siêu thị số 7 Đinh Tiên Hoàng (Công ty Bách hoá Hà Nội) khai trương tháng 01/1996 Từ đó đến nay các siêu thị xuất hiện ngày càng nhiều với đủ loại quy

mô, thương hiệu khác nhau

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương tính đến cuối năm 2009 thì cả nước có tới 445 siêu thị nhiều gấp 4,7 lần so với cách đây 05 năm Nếu trước đây số lượng siêu thị chỉ tập trung tại các tỉnh, thành phố lớn thì nay số lượng siêu thị đã rãi đều trên khắp cả nước

Hiện nay không những người dân ở các tỉnh, thành phố lớn biết đến siêu thị mà còn có người dân ở các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên như Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai cũng đều biết đến siêu thị, một loại hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, văn minh Siêu thị chính thức ra đời và phát triển tại Việt Nam đã hơn 10 năm, chúng ta đã có một hệ thống siêu thị tương đối hoàn chỉnh, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội c ủ a đất nước nói chung Tuy nhiên nhìn chung trong thời gian qua sự phát triển của hầu hết các siêu thị tại Việt Nam đều mang tính tự phát, thiếu liên kết, thiếu sự chỉ đạo quản lý điều hành của Chính phủ bằng các thể chế và chính sách phù hợp, cũng như sự nhận thức và hiểu biết về siêu thị của các nhà quản lý, các

Trang 17

nhà kinh doanh vẫn còn khá mơ hồ Cho nên hệ thống siêu thị tại Việt Nam trong thời gian qua chưa đạt được hiệu quả như mong đợi

1.2 PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ

1.2.1 Quan niệm về phát triển hệ thống siêu thị

Phát triển là một phạm trù phản ánh sự thay đổi mang tính cấu trúc không những về lượng mà còn về chất Theo đó, phát triển hệ thống siêu thị là một quá trình làm thay đổi theo hướng hoàn thiện nhằm phát triển về qui mô, hoàn thiện về cơ cấu, nâng cao về chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của siêu thị

Với vai trò của hệ thống phân phối hàng hóa nói chung và hoạt động phân phối bán lẻ hàng hóa của siêu thị nói riêng là một lĩnh vực của hoạt động kinh doanh thương mại, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Để phát huy vai trò này, việc phát triển siêu thị phải được tiếp tục theo hướng: Phát triển các siêu thị hiện tại trên cơ sở nâng cao chất lượng phục vụ, nâng cấp sở vật chất kỹ thuật của siêu thị, đồng thời khuyến khích phát triển các siêu thị mới trong tương lai Để đạt được hiệu quả kinh tế cao cần phải có những biện pháp nâng cao về chất lượng phục vụ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động kinh doanh của siêu thị Mặt khác, trong điều kiện hiện nay, phát triển siêu thị không thể mang tính tự phát mà phải xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của thị trường Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ để xác định thị trường, nhu cầu và sự biến động của các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của siêu thị

1.2.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển hệ thống siêu thị

1.2.2.1 Phát triển hệ thống siêu thị về mặt lượng

Phát triển hệ thống siêu thị về mặt lượng là việc gia tăng giá trị sản lượng hàng hóa kinh doanh qua hệ thống siêu thị được thực hiện bằng việc gia tăng tuyệt đối số lượng siêu thị được quy hoạch xây dựng; siêu thị được thành lập,

mở rộng; siêu thị được bổ sung vào quy hoạch

Trang 18

- Siêu thị được quy hoạch xây dựng: Là các siêu thị nằm trong quy hoạch phát triển hệ thống siêu thị hoặc quy hoạch phát triển thương mại của tỉnh đã được UBND cấp tỉnh phê duyệt

- Siêu thị được thành lập, mở rộng: Được tính từ ngày ký quyết định thành lập, mở rộng hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật (và kinh doanh) của cấp có thẩm quyền

- Siêu thị được bổ sung vào quy hoạch: Là siêu thị được tính từ ngày ký văn bản chấp thuận (hoặc đồng ý) bổ sung vào quy hoạch phát triển hệ thống siêu thị của tỉnh do UBND cấp tỉnh phê duyệt

Mặt khác, phát triển hệ thống siêu thị về mặt lượng còn được thực hiện bằng việc gia tăng tuyệt đối qui mô của từng siêu thị thông qua gia tăng qui mô nguồn vốn đầu tư xây dựng siêu thị; gia tăng diện tích kinh doanh, gia tăng số lượng, chủng loại hàng hóa kinh doanh, gia tăng doanh thu của siêu thị, gia tăng lượng khách đến siêu thị…

Sự phát triển của hệ thống siêu thị về mặt lượng được phản ánh bằng các chỉ tiêu sau:

- Số lượng, cơ cấu siêu thị được qui hoạch, xây dựng

- Vốn đầu tư của siêu thị: Tiêu chí này phản ánh tổng vốn đăng ký, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký đầu tư xây dựng siêu thị, vốn đầu tư bình quân của một siêu thị

- Số lượng, chủng loại hàng hóa kinh doanh trong siêu thị: Là số lượng hàng hóa, loại hàng hóa thể hiện trong siêu thị

- Doanh thu của siêu thị: Doanh thu được xem là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng, thông qua doanh thu ta có thể xác định được sức mua của khách hàng Doanh thu bán hàng của siêu thị càng cao thì sức mua của khách hàng đối với siêu thị càng lớn Việc xác định doanh thu còn nhằm đánh giá quy mô hoạt động của siêu thị

- Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa của siêu thị: Là tổng doanh thu bán lẻ

Trang 19

hàng hóa đã thực hiện được tạo ra bởi các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị

- Lượng khách đến siêu thị: Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá kết quả kinh doanh của siêu thị Lượng khách đến mua hàng tại siêu thị càng đông chứng tỏ sức thu hút khách hàng đến với siêu thị càng lớn

1.2.2.2 Phát triển hệ thống siêu thị về mặt chất

Về mặt chất, sự phát triển của hệ thống siêu thị là sự thay đổi về chất lượng hoạt động bên trong của bản thân siêu thị bằng việc hoàn thiện tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thiện tổ chức hệ thống cung ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiết kiệm chi phí… để sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất như mặt bằng, vốn kinh doanh… làm gia tăng tích lũy cho bản thân siêu thị Đồng thời, phát triển về mặt chất là nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của hoạt động kinh doanh siêu thị thông qua mở rộng ảnh hưởng của siêu thị với xã hội; gia tăng mức độ đóng góp của siêu thị về giá trị hàng hóa tiêu thụ phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, góp phần tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của địa phương thông qua thiết lập hệ thống cung cấp với các nhà sản xuất tại địa phương từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của địa phương; gia tăng đóng góp vào ngân sách, đóng góp cho các nhiệm vụ chính trị xã hội như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của hệ thống siêu thị về mặt chất được thể hiện thông qua các chỉ tiêu:

- Khả năng phục vụ của nhân viên: Đội ngũ nhân viên phục vụ có thái

độ cư xử lịch sự, nhã nhặn; có một số vốn hiểu biết nhất định về sản phẩm và các dịch vụ cung cấp, có khả năng đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu của khách hàng: Việc mua sắm của người dân không chỉ vì mục đích tiêu dùng, mà còn là một cách để thư giãn Sự phục vụ tốt của đội ngũ nhân viên sẽ tạo ấn tượng tốt và tâm lý thoải mái cho khách hàng và họ sẽ là những khách hàng trung thành của siêu thị

Trang 20

- Cách thức trưng bày trong siêu thị: Hàng hóa được bố trí theo các gian hàng thích hợp tùy chủng loại, gọn gàng sẽ giúp cho việc mua sắm được thuận tiện hơn và gây được sự chú ý của khách hàng

- Thủ tục thanh toán nhanh gọn: Trong quá trình mua sắm, nếu việc thanh toán buộc khách hàng phải chờ quá lâu sẽ gây tâm lý khó chịu, do đó cần phải đủ số lượng quầy thanh toán phục vụ trong mọi tình huống, đội ngũ nhân viên có trình độ, thao tác phục vụ nhanh chóng sẽ giúp khách hàng tiết kiệm thời gian

- Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng: Siêu thị là một loại hình kinh doanh hiện đại, do đó cần chú trọng trong việc thiết kế xây dựng siêu thị phù hợp và thuận tiện cho không gian mua sắm, đồng thời cần lắp đặt thêm các trang thiết

bị hiện đại như hệ thống màn hình quảng cáo, điều hòa nhiệt độ… nhằm phục

vụ khách hàng một cách tối đa

- Đảm bảo về mặt an ninh: Đây là một vấn đề khá quan trọng nhằm tạo

sự an tâm cho khách hàng trong quá trình mua sắm Do đó, các siêu thị cần làm tốt các công tác an ninh như bảo vệ đồ đạc và xe cộ của khách khi vào siêu thị, tránh để xảy ra tình trạng trộm cắp bên trong siêu thị gây phiền toái cho khách hàng trong quá trình mua sắm

- Gia tăng thị phần của siêu thị: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của siêu thị được hiện rõ qua thị phần của siêu thị trong thị trường bán lẻ nói chung và

hệ thống siêu thị nói riêng Thị phần càng lớn chứng tỏ năng lực cạnh tranh của siêu thị càng cao, thể hiện được chỗ đứng trên thị trường

- Gia tăng tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận là lượng tiền thu được của siêu thị sau khi lấy doanh thu bán hàng trừ chi phí bán hàng Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí như chi phí quản lý, tiền lương cho nhân viên, chi phí vận hành máy móc, trang thiết bị phục vụ bán hàng,… Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng

mà mỗi siêu thị đều hướng tới Thông qua lợi nhuận có thể xác định được mức lãi lỗ của siêu thị, đồng thời đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ

Trang 21

đó người quản lý vạch ra những kế hoạch kinh doanh phù hợp nhằm tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí để lợi nhuận thu được là tối đa.

- Khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng: Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn của siêu thị đối với khách hàng, được thể hiện cụ thể như hàng hóa, chất lượng phục vụ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng

- Gia tăng đóng góp của siêu thị vào ngân sách: Là tổng giá trị đã thực hiện nộp vào ngân sách của các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị Gia tăng quy mô và tỷ lệ thu ngân sách địa phương từ siêu thị

- Giải quyết việc làm cho lao động: Là số lao động đang trực tiếp làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị

- Góp phần thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường: Góp phần làm cho giá

cả ổn định, với số lượng, chủng loại hàng hóa phong phú đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

- Góp phần thay đổi thói quen, tập quán tiêu dùng theo xu hướng hiện đại

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa phương theo hướng CNH - HĐH, góp phần bình ổn thị trường và đóng góp vào ngân sách địa phương

- Gia tăng sản lượng tiêu thụ của các sản phẩm hàng hóa sản xuất tại địa phương qua siêu thị: Tiêu chí này phản ánh tình hình mua bán, trao đổi hàng hóa của các siêu thị với các doanh nghiệp, các nhà sản xuất trong nước và địa phương, từ đó sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước, địa phương mở rộng thị trường, phát triển sản xuất

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ

1.3.1 Môi trường quốc tế

Thị trường dịch vụ bán lẻ của Việt Nam được đánh giá có sức hấp dẫn thứ 3 trên thế giới, vì vậy được nhiều tập đoàn bán buôn và bán lẻ trên thế giới

Trang 22

nhắm tới, trong đó thị trường tỉnh Bình Định với lợi thế riêng nên sẽ thu hút được một số đối tác, điều đó vừa tạo thêm những yếu tố thuận lợi để phát triển thương mại nói chung và siêu thị nói riêng, nhưng cũng đem lại không ít khó khăn, thách thức đối với các doanh nghiệp thương mại của tỉnh trong cạnh tranh với các nhà phân phối nước ngoài

Những cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong nước sẽ gia tăng những tác động của thị trường dịch vụ phân phối thế giới đến sự phát triển của ngành thương mại tỉnh Đến nay, Việt Nam đã mở cửa thị trường dịch vụ phân phối gồm cả 4 phân ngành (đại lý uỷ quyền, bán buôn, bán

lẻ, nhượng quyền kinh doanh) theo cam kết gia nhập WTO Hiện nay, một số tập đoàn, công ty thương mại bán buôn và bán lẻ của Đức, Pháp, Nhật Bản

đã có mặt ở Việt Nam tại một số thành phố lớn Như vậy, cùng với quá trình thực thi các cam kết của Việt Nam, sự tham gia của các nhà phân phối bán buôn, bán lẻ hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh, Hà Lan và sau

là Trung Quốc, Singapore sẽ có ở tỉnh vừa tạo cơ hội hợp tác giữa các nhà phân phối trong nước với các đối tác này, vừa cải thiện cơ cấu thương mại hiện đại, đồng thời tạo sức ép cạnh tranh gay gắt hơn trong ngành

1.3.2 Môi trường vĩ mô

Vì vậy bối cảnh chính trị, luật pháp có tác động rất lớn đến tất cả lĩnh vực phát triển sản xuất kinh doanh nói chung và phát triển hệ thống siêu thị nói

Trang 23

riêng Những yếu tố này có thể làm mất đi hoặc tạo ra cơ hội phát triển kinh doanh vì nó mang lại không khí chính trị có lợi hay bất lợi, ảnh hưởng tới việc khuyến khích đầu tư, tổ chức điều hành, phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp

1.3.2.2 Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế có tác động rất lớn và nhiều mặt đến môi trường phát triển

hệ thống siêu thị, chúng có thể trở thành cơ hội hoặc nguy cơ đối với phát triển

hệ thống siêu thị nói chung Các yếu tố kinh tế chủ yếu gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất ngân hàng, chính sách tiền tệ của Nhà nước, mức độ việc làm

và tình hình thất nghiệp Khi phân tích các yếu tố kinh tế cần lưu ý đến tình hình phân bố thu nhập của dân cư Sự phân bố thu nhập thường không đều, từ

đó kéo theo khả năng tiêu dùng của các tầng lớp dân cư khác nhau, ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả phát triển hệ thống siêu thị của các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị

1.3.2.3 Yếu tố văn hóa

Con người lớn lên trong một xã hội và chính xã hội đó đã hình thành những quan điểm cơ bản của con người về các giá trị và chuẩn mực đạo đức Những giá trị văn hóa cơ bản có tính bền vững cao, được lưu truyền từ thế hệ ông bà cha mẹ sang thế hệ con cái và cháu chắt được củng cố bằng các quy chế

cơ bản của xã hội, pháp luật, tôn giáo, hệ thống kinh doanh, chính quyền Giá trị văn hóa của xã hội được thể hiện qua thái độ của con người đối với bản thân mình và người khác, đối với các thể chế tồn tại trong xã hội, đối với toàn xã hội, tự nhiên

Truyền thống và tập quán tiêu dùng, sự thay đổi nghề nghiệp, sự gia tăng thu nhập, mức chi tiêu, dân số, tình trạng hôn nhân - gia đình, nhân khẩu học… làm ảnh hưởng đến thị hiếu, hành vi, xu hướng mua sắ m của người tiêu dùng Văn hóa và các giá trị xã hội ảnh hưởng tới việc lựa chọn lối sống của mọi cá nhân cũng như cung cách tiêu dùng của họ Chính vì vậy mà các nhà đầu tư

Trang 24

phải chắc chắn một điều rằng, phát triển hệ thống siêu thị không đi ngược lại với chuẩn mực văn hóa của người tiêu dùng

1.3.2.4 Yếu tố khoa học kỹ thuật

Các yếu tố khoa học kỹ thuật và khoa học ứng dụng cũng ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến môi trường phát triển hệ thống siêu thị của doanh nghiệp Mọi kỹ thuật mới đều thay thế vị trí của cái cũ Bất kỳ ngành khoa học

kỹ thuật mới nào cũng gây ra rất nhiều hậu quả to lớn và lâu dài mà không phải lúc nào cũ lường trước được, vì vậy sự gia tăng quá trình đầu tư nghiên cứu để đạt được những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đã tạo ra khả năng cạnh tranh phát triển siêu thị trên thương trường

Ngoài những vấn đề cơ bản trên, còn có các yếu tố như môi trường tự nhiên, vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, các vấn đề giao thông… cũng có tác động đến việc phát triển hệ thống siêu thị

1.3.3 Môi trường vi mô

1.3.3.1 Khách hàng

Nhân tố khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định quy mô, cơ cấu nhu cầu trên thị trường của siêu thị và là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xác định chiến lược phát triển siêu thị Do vậy, khi phát triển hệ thống siêu thị cần nghiên cứu kỹ khách hàng của mình

Việc nghiên cứu nhân tố khách hàng sẽ giúp các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị xác định được nhu cầu nào của người tiêu dùng, lượng khách hàng ra sao, họ đang tìm kiếm loại hàng nào, phương thức phục vụ như thế nào

Từ đó giúp ta đưa ra biện pháp phát triển hệ thống siêu thị sao cho thật phù hợp với từng đối tượng khách hàng

1.3.3.2 Đối thủ cạnh tranh hiện tại và tương lai

Đối thủ cạnh tranh cùng lĩnh vực gồm các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị hiện tại và các doanh nghiệp có khả năng sẽ tham gia trong tương lai Số lượng các đối thủ, đặc biệt là đối thủ có quy mô lớn, trong ngành càng nhiều thì

Trang 25

mức độ cạnh tranh càng gay gắt Đây là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp nhằm đứng vững được trên thị trường và tăng lợi nhuận Quá trình cạnh tranh sẽ tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để giảm chi phí, nâng cao chất lượng bởi đó là cơ sở cho sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp Vì vậy cần phân tích đối thủ cạnh tranh để nắm được các điểm mạnh, yếu của đối thủ, từ đó xác định đối sách của mình nhằm tạo được thế đứng vững mạnh trên thương trường Nhìn chung mức độ cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt giữa hệ thống siêu thị với các loại hình bán lẻ khác như chợ truyền thống, cửa hàng bán lẻ và giữa các hệ thống siêu thị với nhau

1.3.3.3 Các nhà cung ứng

Nguồn hàng hóa cung ứng cho hệ thống siêu thị là do các cơ sở sản xuất, công ty kinh doanh thương mại, đại lý trung gian cung ứng hoặc siêu thị có thể nhập khẩu trực tiếp cho mình Trong nền kinh tế thị trường, quá trình phát triển của hệ thống siêu thị phải có mối quan hệ mật thiết với các nguồn cung ứng hàng hóa Số lượng, chất lượng và giá cả của hàng hóa cung ứng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lựa chọn và xác định phương án phát triển kinh doanh tối ưu của hệ thống siêu thị Phân tích các nguồn cung ứng nhằm xác định khả năng đáp ứng các yếu tố đầu vào cho hệ thống siêu thị để từ đó xây dựng phương án hữu hiệu nhất trong việc tận dụng các nguồn cung ứng này

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SIÊU THỊ CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

Siêu thị ra đời thể hiện sự đổi mới của phương thức bán hàng từ những cửa hàng tổng hợp thông thường vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, được phân biệt với các loại hình bán lẻ khác bằng cách để khách hàng tự chọn lựa hàng hóa, tự phục vụ, không cần nhân viên ghi hóa đơn, hàng đã được đóng gói gọn gàng thay vì phải mang vác cồng kềnh

1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Siêu thị đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là MINIMART của Vũng Tàu -

Trang 26

Sinhanco tại trung tâm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 1994, các siêu thị với đủ loại quy mô, diện tích từ vài trăm đến vài ngàn mét vuông, thuộc mọi hình thức sở hữu, lần lượt ra đời

Kinh nghiệm phát triển siêu thị thành công ở TP.Hồ Chí Minh rút ra một

số yếu tố căn bản để phát triển siêu thị có hiệu quả, nhằm đưa ra định hướng và giải pháp phát triển loại hình bán lẻ hiện đại này trong thời gian tới

- Vị trí thích hợp của siêu thị phải thuận tiện với đường giao thông, tiện lợi cho khách hàng, nơi giữ xe rộng rãi sẽ có khả năng thu hút khách hàng nhiều hơn

- Tự phục vụ là phương thức bán hàng được siêu thị áp dụng, điều này tạo ra tính kinh tế cho hoạt động của siêu thị bởi vì nó giúp giảm các mặt hàng xuống mức giá thấp hơn và hấp dẫn, khêu gợi, kích thích nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng

- Có danh mục hàng hóa đa dạng, phong phú (từ vài ngàn đến vài chục ngàn mặt hàng khác nhau) gồm cả hàng thực phẩm và phi thực phẩm đáp ứng nhu cầu cho nhiều đối tượng tiêu dùng

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm đảm bảo sự tiện nghi phục vụ tốt nhất, tạo sự thoải mái cho khách hàng khi đi mua sắm

- Siêu thị đạt doanh thu cao nhưng giá bán các mặt hàng phải khống chế

ở mức có khả năng hấp dẫn khách

- Làm tốt công tác tổ chức quản lý, sử dụng và đào tạo lực lượng lao động là yếu tố quan trọng có tính chất quyết định sự thành công của siêu thị

1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Ở Hà Nội, siêu thị đầu tiên được ra đời vào năm 1995 với thương hiệu maximark Đến nay các siêu thị được mở ra ngày càng nhiều với đủ loại quy

mô, thương hiệu khác nhau Qua thời gian hoạt động siêu thị đã thể hiện rõ nét một số mặt mạnh hơn hẳn so với các loại hình bán lẻ khác

- Áp dụng phương thức tự phục vụ là phương thức bán lẻ thể hiện sự văn

Trang 27

minh tiến bộ, phù hợp với xu thế mua sắm của người dân trong thời đại công nghiệp, tại điều kiện thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng, khiến họ cảm thấy hài lòng vì tạo được niềm vui khi đi mua hàng

- Hàng hóa đa dạng, phong phú đảm bảo chất lượng gồm đồ hộp, lương thực thực phẩm chế biến, thực phẩm công nghệ và các mặt hàng phục vụ nhu cầu sử dụng hàng ngày

- Tìm cho mình một phong cách riêng trong hoạt động xúc tiến và yểm trợ bán hàng Phấn đấu giảm chi phí bán hàng với giá thấp nhất; nghiên cứu và đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng

- Địa điểm mặt bằng siêu thị phải có vị trí thích hợp, thuận lợi về giao thông, có lợi thế về thương mại và có diện tích đảm bảo

- Trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đảm bảo sự tiện nghi đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng cho khách hàng khi đi mua sắm

- Có chính sách đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng các chương trình tuyển chọn, huấn luyện, nâng cao kỹ năng và tinh thần làm việc cho cán bộ, nhân viên

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra

sẽ trở nên bão hòa

Theo kinh nghiệm của các hệ thống bán lẻ trên thế giới cho thấy mức thu nhập bình quân đầu người là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, để quyết định

có nên phát triển siêu thị tại khu vực đó hay không Theo những tiêu chuẩn quốc tế thì mức thu nhập bình quân đầu người ở một đô thị Châu Á phải đạt từ 1.000 USD/năm trở lên thì một nhà phân phối mới nên nghĩ đến việc đầu tư

Trang 28

phát triển một siêu thị tại đó

Sự phát triển của hệ thống bán lẻ văn minh hiện đại mà tiêu biểu là hệ thống siêu thị, đã góp phần quan trọng giúp hoàn thiện hệ thống phân phối và kích thích phát triển sản xuất, gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng tại các nước đang phát triển

1.4.3.2 Về quản lý của nhà nước

Phát triển hệ thống siêu thị một mặt phải bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế, nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp trong nước so với nước ngoài Kinh nghiệm của các nư ớc tro ng k h u vự c n hư Trung Quốc và Thái Lan cho thấy nhà nước cần ban hành các chính sách quy định về đất đai, về hợp tác liên doanh, tiêu chuẩn về môi trường, tiêu chuẩn về mặt bằng, một khi các siêu thị lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường nước ta

Từ khi Việt Nam mở cửa thị trường bán lẻ có rất nhiều siêu thị nước ngoài vào kinh doanh trên thị trường Việt Nam, đã làm hạn chế sự phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống siêu thị trong nước Vì vậy Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng một đạo luật về phát triển hệ thống bán lẻ nhằm điều chỉnh mọi hoạt động của hệ thống siêu thị và các loại hình bán lẻ khác

Theo kinh nghiệm của các nước như Thái Lan, Trung Quốc thì nhà nước

có thể quản lý phát triển hệ thống siêu thị, thông qua việc quản lý đất đai, mặt bằng xây dựng, giới hạn số lượng siêu thị tại các thành phố, nhằm hạn chế sự bùng nổ của hệ thống siêu thị nước ngoài Đồng thời chính phủ nên có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích hệ thống siêu thị trong nước vốn vẫn còn non trẻ về mọi lĩnh vực, bao gồm hỗ trợ về thông tin, chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ năng quản lý, nghiên cứu thị trường,

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, ở vào thời kỳ đầu thì đa số hệ thống siêu thị đều phát triển tại các thành phố lớn đến mức bão hòa, vì vậy chính phủ cần có các chính sách ưu tiên phát triển siêu thị tại các địa phương hội đủ điều

Trang 29

kiện, nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại cân bằng trên khắp cả nước

Chương I, có một số vấn đề chính như sau:

- Luận văn trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của hệ thống siêu thị

và tác động của hoạt động bán lẻ đối với sự phát triển của sản xuất và nền kinh

tế xã hội Hoạt động của siêu thị là một khâu bán lẻ trong lĩnh vực thương mại, đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường và có ý nghĩa trong việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân

- Tiêu chuẩn siêu thị, đặc trưng của siêu thị và những vấn đề quản lý siêu thị, đặc biệt làm rõ mục tiêu, vai trò quản lý của nhà nước đối với siêu thị

Hệ thống siêu thị được hình thành một cách đa dạng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hàng hóa của từng địa phương Loại hình tổ chức phân phối hàng hóa của siêu thị có ưu điểm, nhược điểm khác nhau, thích ứng với từng nhóm sản phẩm, vùng địa lý, mức sống và tập quán văn hóa của từng vùng, từng địa phương

- Nội dung và tiêu chí đánh giá phát triển hệ thống siêu thị để thấy rõ sự ảnh hưởng, tác động của chúng đối với kinh tế - xã hội của tỉnh, nội dung và tiêu chí đánh giá này được xem xét trên hai hướng: Phát triển hệ thống siêu thị

về mặt lượng và Phát triển hệ thống siêu thị về mặt chất nhằm làm cơ sở để so

Trang 30

sánh, đánh giá hiện trạng siêu thị trong chương II

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển của siêu thị như môi trường quốc tế, môi trường vĩ mô và môi trường vi mô

- Sự phát triển của hệ thống siêu thị ở một số địa phương như ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về sự phát triển của siêu thị, đồng thời trong chương này, luận văn cũng trình bày quá trình hình thành và phát triển siêu thị ở Việt Nam

Tóm lại, tổ chức phân phối hàng hóa thông qua siêu thị là phương thức hoạt động thương mại văn minh, hiện đại, có hiệu quả

Những vấn đề lý luận được trình bày trong chương I sẽ làm cơ sở để nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển hệ thống siêu thị ở Bình Định nhằm đưa ra những giải pháp phát triển loại hình thương mại này đạt hiệu quả cao

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ

TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH

TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH ĐỊNH TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG SIÊU THỊ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Bình Định là tỉnh ven biển thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung bộ với diện tích tự nhiên 6.025 km2 Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông tiếp giáp với biển Đông

Bình Định nằm trên đường giao thông huyết mạch của cả nước: hành lang Bắc - Nam với quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam và và hành lang Đông - Tây với quốc lộ 19 Điều này tạo cho Bình Định gắn liền với các thị trường trung tâm của cả nước Đây là điều kiện thuận lợi để Bình Định phát triển buôn bán, trao đổi hàng hóa không chỉ nội vùng, mà còn trao đổi hàng hóa có tính liên vùng

Bình Định với 134 km bờ biển, có cảng Quy Nhơn là cảng biển quốc tế, được núi Phương Mai che chắn nên tàu có thể ra vào bốc dỡ hàng trong mọi điều kiện thời tiết Cảng Quy Nhơn nối liền với đường hàng hải quốc tế, quan

hệ với hầu hết các cảng biển trong nước và quốc tế Đây là một trong những trung tâm tụ hội hàng hóa của một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và trong tương lai là Hạ Lào, Trung Thái Lan và Đông bắc Campuchia…để xuất khẩu

ra thị trường quốc tế

Sân bay Phù Cát có đường băng dài 3,2 km và không lưu tốt, đảm bảo điều kiện đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế và giao lưu quốc tế của Bình Định trong những năm tới

- Khí hậu: Bình Định nằm trong khí hậu khu vực Trung Trung bộ, có

Trang 32

nền nhiệt độ cao, chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Bình Định có khí hậu nhiệt đới ẩm, có chế độ mưa mưa mùa phong phú, phân bố theo mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô)

- Địa hình: Bình Định thuộc đới chuyển tiếp giữa miền núi cao Trường Sơn và vùng đồng bằng ven biển nên có tiềm năng về tài nguyên gỗ, mây, lá, khoáng sản (vàng, đá xây dựng cao cấp, vật liệu xây dựng…), cây công nghiệp, các loại cây lấy gỗ, phát triển nuôi trồng thuỷ sản

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Bình Định có 01 thành phố, 10 huyện, với 16 phường, 14 thị trấn và

129 xã Tỉnh lỵ là thành phố Quy Nhơn, trung tâm hành chính - kinh tế - văn hóa của tỉnh

Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

2006-2010, tình hình trong nước nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng có nhiều thuận lợi, đan xen với những khó khăn thách thức không nhỏ Đó là: Môi trường chính trị ổn định; Sự chỉ đạo, điều hành kịp thời của Tỉnh ủy và UBND tỉnh qua việc triển khai và vận dụng linh hoạt các chủ trương, chính sách và giải pháp của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn địa phương; Các tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh nêu cao tinh thần tự chủ, khắc phục khó khăn nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII đã đề ra

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, tỉnh Bình Định triển khai thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 trong điều kiện phải đối mặt với những khó khăn, thách thức rất lớn; Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

tế toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008 đến năm 2009 đã tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân; Giá vật tư, nguyên liệu dùng cho sản xuất tăng cao làm tăng chi phí sản xuất Thiên tai, bão lũ xảy ra liên tiếp, đặc biệt là cơn bão số 11 vào tháng 10 năm 2009 đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 33

Đời sống của một bộ phận dân cư vùng có bão lũ đi qua gặp rất nhiều khó khăn

Với những khó khăn và thách thức nêu trên, qua 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ XVII, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đã đạt được kết quả, thể hiện trên những lĩnh vực chủ yếu dưới đây

Trong 5 năm (2006-2010), kinh tế Bình Định tăng trưởng khá nhanh và tương đối ổn định Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân thời

kỳ 2006-2010 đạt 10,9%/năm Trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,2%/năm, công nghiệp và xây dựng tăng 15,4%/năm, dịch vụ tăng 11,6%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 940 USD (tăng gấp 2,5 lần so năm 2005)

Bảng 2.1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)

5 năm (2006-2010)

Đơn vị tính: %

Toàn bộ nền kinh

tế

Chia ra:

nghiệp và thủy sản

Công nghiệp, xây dựng

Dịch vụ

Trang 34

Bảng 2.2: Cơ cấu tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)

phân theo khu vực kinh tế

Môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể, hướng đến đảm bảo một “sân chơi bình đẳng” cho các thành phần kinh tế Số lượng doanh nghiệp Nhà nước từ 58 doanh nghiệp năm

2005, đã giảm xuống còn 39 doanh nghiệp vào năm 2010; trong khi doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng từ 1.381 doanh nghiệp lên 2.566 doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng từ 8 doanh nghiệp năm

2005 lên 17 doanh nghiệp vào năm 2010 Đặc biệt là từ khi Luật doanh nghiệp

ra đời đã đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, khu vực dân doanh đã có những bước phát triển tích cực Hiện tại khu vực dân doanh đã đóng góp trên 83,5% GDP, tạo việc làm cho 94,2% lao động xã hội và đóng 80,9% giá trị xuất khẩu

Trang 35

Bảng 2.3: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn

phân theo thành phần kinh tế

Đơn vị tính: %

“Nguồn: Cục Thống kê Bình Định”[3]

Thời kỳ 2006-2010, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng tích cực Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2006 - 2010 là 10,9%/năm Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,2%/năm, công nghiệp, xây dựng tăng 15,4%/năm, dịch vụ tăng 11,6%/năm

Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2006-2010 đạt thấp hơn 2,1%/năm so

với Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII đề ra (Nghị quyết XVII đề

ra là 13,0%/năm), nhưng cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001 –

2005 tăng 8,9%/năm)

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 7,2%/năm, vượt 1,6%/năm so với Nghị quyết Đại hội VII đề ra (Nghị quyết XVII đề ra là 5,6%/năm) và cao hơn mức tăng trưởng bình quân của thời kỳ 2001 - 2005 là

1,5%/năm (thời kỳ 2000 - 2005 tăng 5,7%/năm)

Sở dĩ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng khá so với 5 năm trước vì các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản đều có bước phát triển tích cực Trong đó, đáng kể là sản lượng lúa 5 năm 2006-2010 đạt 3.059,6 nghìn tấn, tăng 340,1 nghìn tấn so với sản lượng lúa thời kỳ 2001-2005; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 5 năm 2006-2010 đạt 335 nghìn tấn, tăng 148,7 nghìn tấn; sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản 5 năm 2006-

2010 đạt 639,3 nghìn tấn, tăng 159,3 nghìn tấn so với sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản của 5 năm trước

Trang 36

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 15,4%/năm, thấp hơn 6,4%/năm

so với Nghị quyết Đại hội XVII đề ra (Nghị quyết XVII đề ra là 21,8%/năm),

nhưng cao hơn mức tăng trưởng bình quân của 5 năm trước là 2,4%/năm

Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên sản xuất công nghiệp các năm 2008 và 2009 gặp nhiều khó khăn vì giá vật tư, nguyên liệu và giá điện sản xuất tăng cao làm tăng chi phí sản xuất; trong khi đó thị trường xuất khảu bị thu hẹp, sản phẩm tiêu thụ chậm Nhưng nhìn chung sản xuất công nghiệp 5 năm 2006-2010 vẫn duy trì và có bước tiến bộ nhất định

Khu vực dịch vụ tăng 11,6%/năm, thấp hơn 1,9%/năm so với Nghị quyết Đại hội XVII đề ra (Nghị quyết XVII đề ra là 13,5%/năm), nhưng cao hơn mức

tăng trưởng bình quân của 5 năm trước là 1%/năm do giá trị tăng thêm của nhiều ngành kinh tế thuộc khu vực này tăng trưởng khá như thương nghiệp tăng 10,5%/năm, khách sạn nhà hàng tăng 13,4%/năm, vận tải kho bãi, thông tin liên lạc tăng 14,0%/năm, tài chính tín dụng tăng 15,1%/năm…

Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 940 USD, đạt xấp xỉ chỉ tiêu Nghị quyết XVII đã đề ra 938 USD/người và bằng 2,14 lần so với năm

Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tương đối chậm, chưa thật ổn định và thiếu vững chắc vì tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh…

Trang 37

Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế

Đơn vị tính: %

2005

Nghị quyết đến năm

Năm

2010 tăng, giảm so với năm

2005

- Nông, lâm nghiệp và thủy sản 38,3 27 - 28 35,7 +8,2 -2,6

- Công nghiệp, xây dựng 26,7 37 - 38 27,2 -10,3 +0,5

“Nguồn: Cục Thống kê Bình Định”[4]

Tính đến năm 2010 toàn tỉnh có 11 khu công nghiệp, với tổng diện tích 3.120 ha, trong đó có 02 khu công nghiệp đi vào hoạt động (KCN Phú Tài, KCN Long Mỹ), thu hút 191 doanh nghiệp đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư 380.000 tỷ đồng, trong đó 109 doanh nghiệp hoạt động SXKD, giải quyết việc làm 20.800 lao động Các chủ đầu tư tiếp tục đầu tư xây dựng và hoàn thiện kết cấu cơ sở hạ tầng như: xử lý nước thải, hệ thống cấp thoát nước, đường giao thông,… trong đó có Khu công nghiệp trong Khu Kinh tế Nhơn Hội, đang tập trung đẩy mạnh tiến độ giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư, đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, giao thông, hệ thống cấp nước, cấp điện, viễn thông , riêng KCN trong Khu Kinh tế đã thu hút được 12 dự án SXCN đăng ký đầu tư, hiện có 2 DN đã đi vào hoạt động tạo ra giá trị SXCN đạt hơn

18 tỷ đồng, 11 DN đang xây dựng

Hệ thống tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, tài chính, tư vấn trên địa bàn tỉnh Bình Định hoạt động hiệu quả và ngày càng phát triển Hoạt động nội thương được tăng cường, các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ được quan tâm chú trọng nhiều hơn nhằm thúc đẩy hệ thống thương mại của tỉnh ngày càng phát triển Tổng mức bán lẻ đạt 7.968 tỷ đồng năm 2005 tăng lên 22.702 tỷ đồng năm 2010 Từng bước đầu tư xây

Trang 38

dựng mới, nâng cấp sữa chữa hệ thống chợ, hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu theo quy hoạch và quy hoạch phát triển hệ thống kho, hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 Công tác xúc tiến thương mại từng bước hoạt động có hiệu quả trong việc giúp doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, giới thiệu sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ

Hoạt động du lịch được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là hạ tầng du lịch tiếp tục được đầu tư xây dựng, thu hút được lượng khách đến thăm quan du lịch tăng bình quân hàng năm 22,1%, doanh thu du lịch tăng 24,8% Dịch vụ vận tải hàng hóa và vận chuyển hành khách phát triển mạnh, hàng thông qua cảng biển trong 5 năm ước đạt 19,8 triệu TTQ, tăng 75,2% so với 5 năm trước

Các công trình kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế, hạ tầng khu kinh tế và các khu, cụm công nghiệp, cảng biển… tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng Một số công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như cầu đường Quy Nhơn - Nhơn Hội,

hồ Định Bình, đường ven biển Quy Nhơn - Tam Quan, tượng đài Hoàng đế Quang Trung (Bảo tàng Quang Trung),… Đã xây dựng thành phố Quy Nhơn trở thành đô thị loại I trực thuộc tỉnh Từng bước quy hoạch xây dựng các thị trấn Bình Định, Bồng Sơn và Phú Phong lên đô thị loại IV

Tỉnh Bình Định hiện có hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trường đào tạo kỹ thuật, trung tâm dạy nghề và tiếp tục liên kết với các trường đại học trên khắp cả nước góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh nhà

Mục tiêu phát triển của tỉnh đến năm 2015 là: Phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tích cực thu hút đầu tư, liên kết, hợp tác với các địa phương, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà; trong đó tập trung phát huy kinh tế với tốc độ tăng

Trang 39

trưởng cao, hiệu quả và bền vững Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn

đề xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát huy kinh tế

xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái [14]

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SIÊU THỊ TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.2.1 Sự phát triển về số lượng siêu thị

Từ năm 2003, trước yêu cầu của đời sống xã hội, siêu thị đã ra đời, đó là

mô hình văn minh thương mại rất phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội Nếu năm 2003 chỉ mới có 01 siêu thị thì đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 06 siêu thị, bao gồm siêu thị co.opMart Quy Nhơn, siêu thị Metro Cash & Carry Quy Nhơn, siêu thị Intimex Quy Nhơn, siêu thị nhà sách văn hóa, siêu thị nội thất Đài Loan, siêu thị vật liệu xây dựng Xuân Hiếu Qua thời gian hoạt động, hệ thống siêu thị đã thể hiện rõ một số mặt mạnh hơn hẳn so với các loại hình bán

lẻ khác Từ khi xuất hiện loại hình siêu thị vào năm 2003 mang tên Co.opMart Quy Nhơn do Liên hiệp HTX thương mại thành phố Hồ Chí Minh thành lập, đến nay hệ thống siêu thị ở tỉnh Bình Định đã phát triển cả về số lượng và chất lượng [11]

Mặc dù hệ thống siêu thị đã được đầu tư xây dựng và phát triển ở Bình Định nhưng hiệu quả chưa cao, do phần lớn siêu thị mới được đầu tư và thời gian hoạt động chưa nhiều, lượng khách hàng thiếu ổn định Chi phí đầu tư ban đầu của các doanh nghiệp tuy lớn nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện, quản lý và áp lực cạnh tranh quá lớn Tuy nhiên, hoạt động của

hệ thống siêu thị ở Bình Định thời gian gần đây đã có nhiều khởi sắc so với các loại hình bán lẻ khác

Sự ra đời của hàng loạt siêu thị trong những năm gần đây làm cho hoạt động của hệ thống siêu thị sôi động hẳn lên Sự phát triển hệ thống siêu thị là một minh chứng về trình độ tiêu dùng và mức thu nhập của nhiều tầng lớp nhân

Trang 40

dân đã được nâng cao, tuy nhiên có thể thấy còn nhiều nguyên nhân khách quan khác làm cho hệ thống siêu thị có thể thu hút được khách hàng như nói thách quá cao, hàng dỏm, hàng giả, việc mất trật tự an ninh… tại các chợ truyền thống và một số loại hình bán lẻ khác đã tạo ra mặc cảm ở người tiêu dùng và họ đã tìm thấy sự an toàn, thuận tiệ n khi đến hệ thống siêu thị Người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy rằng việc mua sắm ở siêu thị tạo cho họ cảm giác thật thoải mái với những tiện nghi, an ninh, văn minh lịch sự, sạch sẽ, hàng hóa phong phú, trưng bày đẹp mắt, được tự do lựa chọn hàng cẩn thận khác hẳn với không khí oi bức, ồn ào, phức tạp, đông đúc, mất vệ sinh ở các chợ và một số nơi khác

Việc ra đời của hệ thống siêu thị đã tạo nên sự cạnh tranh rất lớn tất yếu

sẽ có sự đào thải Một số siêu thị được thiết lập nhưng còn thiếu kỹ năng quản

lý, kinh nghiệm và chưa có chiến lược, chính sách phát triển kinh doanh phù hợp cùng với một số nguyên nhân khác nên đã không đủ khả năng duy trì, không thể trụ nổi và phải lặng lẽ rút khỏi thương trường như siêu thị Intimex Quy Nhơn Những siêu thị hoạt độ ng có hiệu quả đã tìm được hướng đi phù hợp với đặc điểm môi trường kinh doanh và chú trọng các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Hoạt động của hệ thống siêu thị thu được thành công đã dần dần đi vào nề nếp và mang tính chuyên nghiệp hơn

Metro Cash & Carry (Đức), nhà phân phối lớn thứ 5 trên thế giới cũng là một tập đoàn kinh doanh sớm có mặ t tại Việt Nam, hiện nay họ đang có các trung tâm phân phối ở các thành phố lớn như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hoạt động khá thành công, Metro đã quyết định phát triển hệ thống của mình tại Bình Định, đó là siêu thị Metro Cash & Carry Quy Nhơn đi vào hoạt động tháng 10/2010

Việc các nhà bán lẻ quốc tế xuất hiện với khả năng vốn lớn, kỹ thuật quản lý hiện đại, nhiều kinh nghiệm cũng như được sự hỗ trợ từ mạng lưới kinh

Ngày đăng: 22/11/2017, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w