1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sang kien kinh nghiem DIA LI 7

14 263 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học có khả năng hình thành hiệu quả những tri thức cơ bản và vận dụng chúng vào việc lĩnh hội kiến thức mới, giáo viên có điều kiện để sử dụn

Trang 1

Sáng kiến kinh nghiệm

Sử dụng và khai thác kênh hình trong sách giáo khoa môn Địa Lí lớp 7 để dạy học phần “Thành phần nhân văn của môi trường”.

I Lý do chọn đề tài :

Thực hiện theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 2 khóa III: “Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học và bậc học, nhằm phục vụ cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” và Nghị quyết của kỳ họp thứ 8, Quốc Hội khóa 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa hiện nay đã

có nhiều đổi mới về nội dung, cấu trúc và hình thức thể hiện so với sách giáo khoa trước đây

Việc sử dụng khai thác kênh hình trong quá trình dạy học nói chung và trong dạy học Địa lý nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng Các thiết bị dạy học (ảnh treo tường, tranh ảnh địa lí, bản đồ, lược đồ ) thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xãy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cận trực tiếp được Sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học có khả năng hình thành hiệu quả những tri thức cơ bản và vận dụng chúng vào việc lĩnh hội kiến thức mới, giáo viên có điều kiện để sử dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học đa dạng, hiệu quả nâng cao công tác tự lập của học sinh trong học tập

Trong dạy học Địa lí, kênh hình có chức năng vừa là phương tiện trực quan vừa là nguồn tri thức Địa lí quan trọng đối với học sinh Kênh hình được hiểu không chỉ ở trong sách giáo khoa mà còn bao gồm các bản đồ, sơ đồ, mô hình, tranh ảnh địa lí, các videoclip liên quan đến bài học, hổ trợ cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao Vì vậy, sử dụng và khai thác kênh hình trong dạy Địa lí có

ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình hình thành kiến thức và kỹ năng Địa lý cho học sinh

Để góp phần giúp học sinh thuận lợi trong việc tiếp thu bài học, trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn Địa Lý lớp 7 tôi đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm:

Sử dụng và khai thác kênh hình trong sách giáo khoa và sách giáo viên lớp 7 môn Địa lí để dạy học phần “Thành phần nhân văn của môi trường”, Nhằm

mục đích giới thiệu vai trò kênh hình và cách hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ kênh hình trong sách giáo khoa lớp 7 nói chung và trong dạy học phần “ Thành phần nhân văn của môi trường” nói riêng

II Phạm vị và đối tượng nghiên cứu:

1 Phạm vi nghiên cứu:

Tại Trường Trung Học Cơ Sở Hùng Vương

2 Đối tượng nghiên cứu:

Là học sinh khối 7 Trường Trung Học Cơ Sở Hùng Vương

III Mục đích nghiên cứu và cơ sở lý luận:

1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 2

- Hiểu được ý nghĩa của việc sử dụng và khai thác kênh hình trong dạy học địa lí

- Thấy rõ mối quan hệ tượng hỗ giữa kênh chữ và kênh hình trong sách giáo khoa

- Biết được các loại kênh hình để dạy học phần “ Thành phần nhân văn của môi trường” trong sách giáo khoa Địa lí lớp 7

- Trình bày được nội dung và cách thức hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, rèn luyện kĩ năng Địa lí qua từng kênh hình

- Tập trung được sự chú ý của học sinh

- Giúp cho học sinh dể dàng tiếp thu kiến thức hơn

- Tăng độ tin cậy và khắc sâu kiến thức

- Tạo điều kiện cần thiết cho HS thực hành để hình thành và rèn luyện kĩ năng

2 Cơ sở lý luận:

Phương tiện dạy học là trợ thủ đặc lực giúp giáo viên thực hiện tốt nguyên tắc thống nhất giữa tính cụ thể và trừu tượng trong quá trình dạy học, nguồn gốc sâu xa mà nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định Phương tiện trực quan tạo khả năng cung cấp cho học sinh thông tin đầy đủ hơn và chính xác hơn và đặc biệt là mang tính trực quan về hiện tượng cần nghiên cứu

Việc sử dụng các phương tiện trực quan góp phần tích cực, trước tiên là làm cho học sinh dễ tiếp thu trong quá trình nhận thức, sau đó là giáo dục thẩm mĩ cho các em Một hình vẽ đẹp, một mô hình cân đối, gam màu hợp lí đều tạo nên những rung cảm đa dạng trong tâm hồn trẻ thơ Phương tiện dạy học trực quan giúp cho nhận thức cảm tính được nhanh chóng, đúng bản chất ở nhiều góc cạnh khác nhau Về mặt phát triển tư duy, các phương tiện dạy học hỗ trợ cho học sinh trừu tượng hóa trước một vấn đề cần nghiên cứu Thông qua các phương tiện

và nghệ thuật biểu diễn của giáo viên sẽ góp phần nâng cao hứng thú trong học tập, tập trung mạnh mẽ chú ý vào bài học của học sinh

Nội dung sách giáo khoa đã đảm bảo tỷ lệ hợp lí giữa lí thuyết và thực hành, bám sát yêu cầu, tăng cường tính thực tiễn và kĩ năng thực hành, khắc phục được khuynh hướng “hàn lâm hóa” việc học hành ở phổ thông

Từ tâm lí học tập, chúng ta thấy rằng việc tiếp nhận các thông tin nhờ vào 5 giác quan của con người: nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ

Theo cách dạy trước đây, chỉ có một giác quan duy nhất được huy động đó

là tai để nghe Truyền thụ kiến thức theo hình thức cũ này chỉ thông qua lời nói, còn các giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bài giảng Phần lớn tiềm năng tiếp thu học tập chưa được phát huy

Người ta có thể thấy rằng, chỉ có nghe thôi thì chỉ lưu trữ được 20%, viết chép tiếp thu 30%, song nếu kết hợp cả hai thì tác dụng tăng lên đáng kể Trực quan hóa trợ giúp cho thuyết trình làm tăng mức độ nhớ đến 50%

Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên được sự đòi hỏi phải áp dụng các phương tiện nghe - nhìn vào dàn dựng bài giảng Nhưng cũng còn phải nói tới những điểm quan trọng khác; Ở đây, đứng đầu là hoạt cảnh Giáo viên nói đến đâu, minh họa bằng hình ảnh đến đó thì tất cả học sinh tham dự ai cũng hiểu một cách cụ

Trang 3

thể và rõ ràng hơn Trực quan hóa như vậy bắt buộc phải cụ thể hóa các nội dung

và hạn chế được hiểu sai, nói một đằng, hiểu một nẻo

IV Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp trao đổi nhóm

- Phương pháp khảo sát điều tra

V Nội dung đề tài:

1 Thực trạng của việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa và sách giáo viên của môn Địa lí lớp 7.

Dạy học theo phương pháp tích cực ở nước ta từ những năm 1960, dạy học bằng phương pháp tích cực, chủ động đã được đề cập tới ở cấp độ các chỉ thị và theo phong trào thi đua “ Dạy tốt, học tốt” Nhiều khẩu hiệu quyết tâm đổi mới phương pháp dạy học như :“Học đi đôi với hành” đã có những giáo viên vận dụng dạy học theo phương pháp khai thác kênh hình, kênh chữ như; Quan sát tranh ảnh, mô hình, biểu đồ, lược đồ ) nhưng chủ yếu ở các tiết thao giảng, giờ dạy của giáo viên thi dạy giỏi Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ hiệu quả và nhân rộng ra thì rất hạn chế

* Nguyên nhân:

- Do hiểu biết của học sinh còn hạn chế, kiến thức về khoa học tương đối nhiều và rất trừu tượng, đồ dùng dạy học còn nhiều hạn chế Nên việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy cho học sinh chưa được phổ biến, đặc biệt là học sinh miền núi

- Nhận thức của học sinh về môn Địa Lý chưa đúng đắn, chưa có lòng đam

mê và nhu cầu học hỏi nhiều

- Quá trình giảng dạy của giáo viên chưa gây được hứng thú cho học sinh, một số giáo viên chưa thực sự sáng tạo, chưa linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với từng kiểu bài cụ thể, chưa chú trọng vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy

2 Cách khai thác và sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa và sách giáo viên để dạy học môn Địa lý lớp 7.

a Nguyên tắc trong sử dụng và khai thác kênh hình:

* Nguyên tắc sử dụng đúng lúc:

- Sử dụng kênh hình vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn được quan sát, trong trạng thái tâm lý thuận lợi nhất

- Kênh hình xuất hiện đúng lúc nội dung và phương pháp dạy học cần nói đến

- Tránh đưa ra một lúc nhiều kênh hình hoặc nhiều loại phương tiện trực quan

* Nguyên tắc sử dụng đúng chổ:

- Tìm vị trí để giới thiệu kênh hình hoặc phương tiện trực quan trên lớp hợp lí nhất, giúp học sinh có thể sử dụng nhiều giác quan nhất, tiếp xúc phương tiện một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp

- Đảm bảo cho toàn lớp có thể quan sát kênh hình một cách rõ ràng

- Đảm bảo không làm phân tán tư tưởng của học sinh khi tiến hành các hoạt động học tập tiếp theo

Trang 4

* Nguyên tắc sử dụng cường độ:

- Nguyên tắc này chủ yếu đề cập nội dung và phương pháp dạy học sao cho thích hợp, vừa với trình độ tiếp thu và lứa tuổi của học sinh

- Mỗi loại kênh hình hoặc phương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu kéo dài việc sử dụng một loại phương tiện hoặc lặp đi, lặp lại nhiều lần trong một buổi học, hiệu quả của chúng sẽ giảm sút

- Việc sử dụng nhiều hình thức, nhiều loại phương tiện khác nhau trong một buổi học có ảnh hưởng lớn đến sự tiếp thu của học sinh, đến hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học Theo nghiên cứu của các nhà sinh lý học, nếu một dạng hoạt động được tiếp tục trên 15 phút thì khả năng làm việc sẽ giảm sút rất nhanh

- Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp dẫn đến sự quá tải thông tin đối với học sinh do chưa có đủ thời gian để chuyển hóa lượng thông tin đó Sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 3 - 4 lần trong một tuần

và kéo dài không quá 20 - 25 phút trong một buổi dạy

b Yêu cầu của việc sử dụng kênh hình:

Khi sử dụng kênh hình trong dạy học, giáo viên cần chú ý đảm bảo các yêu cầu sau:

- Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu về nội dung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục

- Tập trung vào việc sử dụng các kênh hình như một nguồn kiến thức, hạn chế dùng chúng theo cách minh họa cho kiến thức

- Để có thể sử dụng tốt các kênh hình, khi lên lớp giáo viên cần:

+ Có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình Nghiên cứu kĩ các kênh hình để hiểu rõ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, trỏnh tình trạng khi lên lớp mới cùng học sinh tiếp xúc với kênh hình

+ Khi soạn bài cũng như khi lên lớp, giáo viên cần phải xây dựng được hệ thống câu hỏi, bài tập tương đối chính xác, rõ ràng để học sinh làm việc với các loại kênh hình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng địa lí

+ Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với từng loại phương tiện, thiết bị dạy học để tìm kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển

tư duy

3 Ý nghĩa của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí:

*Ý nghĩa của trực quan hóa trong dạy học Địa lí:

Trong quá trình dạy học Địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa quan trọng, bởi vì học sinh có thể quan sát được một phần nhỏ các đối tượng ở xung quanh, còn phần lớn các đối tượng khác thì không có điều kiện quan sát trực tiếp Đối với các hiện tượng như: sự hoạt động của núi lửa, băng hà, hay những cảnh quan không có ở nước ta như: thảo nguyên ôn đới, hoang mạc, đài nguyên thì học sinh chỉ có thể hình dung ra được nhờ vào các phương tiện trực quan

+ Mục đích của trực quan:

- Tập trung sự chú ý của học sinh

- Giúp học sinh định hướng tốt hơn

- Làm thông tin trở nên dễ tiếp thu hơn

Trang 5

- Mở rộng và bổ sung những điều đã nói

- Sự sáng tạo cá nhân trong trực quan hóa không có giới hạn, do đó cần xem xét và chú ý đến những điểm cơ bản thể hiện hỡnh ảnh

+ Ưu điểm của trực quan:

- Nội dung được cấu trúc rõ ràng, ai cũng có thể thấy được

- Cấu trúc bắt buộc tập trung vào những thụng tin cốt lõi, hạn chế hiểu sai chủ đề

- Học sinh chú ý vào bài giảng, tập trung vào các điểm thảo luận

- Nội dung học trừu tượng có thể tiếp thu dễ dàng hơn

- Trong các buổi thảo luận, những ý kiến, giải pháp được viết ra giấy nên học sinh đều thấy được các đóng góp, các ý tưởng, giải pháp của những người tham

dự nên dễ thống nhất hơn

Trực quan hóa và việc sử dụng các phương tiện học tập tương ứng bắt buộc phải chuẩn bị các đơn vị học trình và minh họa cho bài giảng một cách chu đáo

và nghiêm túc Càng dành tâm huyết bao nhiêu cho vấn đề này thì chất lượng bài giảng cũng như mức độ nhớ, hiểu bài của học sinh càng được nâng cao

4 Các loại kênh hình và vai trò của chúng trong dạy học phần “Thành phần nhân văn của môi trường”

a Vai trò chung của kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 7

Sách giáo khoa là một tài liệu học tập tổng hợp và quan trọng nhất của môn Địa lí Trong sách đã thể hiện một hệ thống và khối lượng nhất định các kiến thức địa lí của một chương trình giáo dục cụ thể Sách giáo khoa được cả thầy và trò

sử dụng trong quá trình giảng dạy và học tập địa lí Nó có ý nghĩa đặc biệt khi hình thành kiến thức mới, khi cũng cố bài tập, cả khi rèn luyện các kỹ năng kỹ xảo cho học sinh Sách giáo khoa là một nguồn thông tin để học sinh khai thác kiến thức

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, giảm tính trừu tượng của các kiến thức và tăng cường rèn luyện kĩ năng địa lí cho học sinh trong quá trình học tập, số lượng kênh hình trong hệ thống sách giáo khoa Địa lí Trung học cơ sở đã được tăng lên đáng kể

Hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí Trung học cơ sở rất đa dạng bao gồm; các bản đồ, lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh Mỗi bài thường có từ

3 đến 4 hình vừa có tác dụng trực quan hóa các nội dung mang tính trừu tượng, vừa là nguồn cung cấp tri thức quan trọng, là cơ sở để hình thành và rèn luyện các kĩ năng địa lí cho học sinh

- Hổ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của kiến thức

- Tạo điều kiện cần thiết cho học sinh thực hành để hình thành và rèn luyện các kĩ năng

- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

- Giúp cho giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh học kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng

- Hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng và thiết kế bài dạy

b Các loại kênh hình trong phần “ Thành phần nhân văn của môi trường”

Trang 6

+ Các biểu đồ về dân số ( Hình 1.1; 1.2 ; 1.3 ; 1.4 ; 4.2 ; 4.3 , sách giáo khoa) + Lược đồ phân bố dân cư, đô thị trên thế giới (hình 2.1 ;3.3 ; 4.4, sách giáo khoa)

+ Ảnh về chủng tộc và ảnh quang cảnh nông thôn, đô thị ( hình 2.2; 3.1; 3.2) + Các bảng số liệu về dân số

* Vai trò của các kênh hình cụ thể:

+ Các biểu đồ dân số cung cấp những kiến thức cụ thể về dân số như: Độ tuổi, giới tính, tỉ lệ người lao động, sự tăng và giảm dân số

+ Các lược đồ về phân bố dân cư, đô thị cho biết những khu vực đông dân, thưa dân; số lượng các siêu thị và sự phân bố của chúng trên thế giới

+ Ảnh về các học sinh thuộc ba chủng tộc chính trên thế giới giúp học sinh xác định được sự khác nhau về hình thái bên ngoài của ba chủng tộc Môngôlôit, Nêgrôpêôit, Ơrôpêôit ảnh về quần cư nông thôn và đô thị giúp học sinh quan sát

để nêu được sự khác nhau của hai loại quần cư này ( về nhà cửa, dân cư, đồng ruộng, phố xá )

+ Các bảng số liệu về tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên, dân số ở một số quốc gia,

ở các siêu thị giúp học sinh biết và so sánh được tỉ lệ gia tăng dân số ở từng châu lục, từng giai đoạn Học sinh còn có thể rút ra nhận xét về sự thay đổi của

10 siêu đô thị đông dân nhất ở các nước đang phát triển ở châu Á, Nam Mĩ

c Thiết kế hướng dẫn học sinh khái thác kiến thức từ rèn luyện kĩ năng qua kênh hình trong học phần “ Thành phần nhân văn của môi trường”

Để tổ chức cho học sinh học tập, khai thác kiến thức và rèn luyện kĩ năng từ kênh hình có hiệu quả, giáo viên cần lưu ý những điểm sau:

- Đọc kĩ nội dung bài học để biết được kênh hình bổ sung kiến thức cho phần nào, nội dung nào của bài

- Thiết kế các bài tập, câu hỏi yêu cầu học sinh dựa trên quan sát kênh hình để trả lời

- Dự kiến tình huống có thể nẩy sinh khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức

- Cần yêu cầu học sinh trình bày kết quả quan sát, khai thác kiến thức dựa vào lược đồ, bản đồ

- Khi học sinh trình bày xong giáo viên yêu cầu học sinh nhóm khác, cả lớp nhận xét, bổ sung ý kiến

- Đối với ngững nội dung khó, cơ bản giáo viên cần chốt lại kiến thức cho học sinh hoặc đưa ra đáp án đúng của mình đã chuẩn bị sẵn và yêu cầu học sinh chữa lại những nội dung đó

5 Phương pháp tổ chức học sinh khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí.

* Khai thác kiến thức trên bản đồ:

Muốn khai thác kiến thức Địa lí trên bản đồ, học sinh phải có kiến thức và kĩ năng về bant đồ Kĩ năng xuất phát từ tri thức, nếu dạy cho học sinh kĩ năng hiểu, đọc và vận dụng bản đồ, thì việc dạy các tri thức tối thiểu về bản đồ là cần thiết Tri thức bản đồ sẽ giúp học sinh giải mã các kí hiệu bản đồ và biết xác lập các mối quan hệ giữa chúng Tứ đó phát hiện ra các kiến thức Địa lí mới ẩn chứa trờn

Trang 7

bản đồ Tất nhiên, ở đây nếu chỉ có những tri thức bản đồ không là chưa đủ, mà cần phải có cả những tri thức Địa lí

Theo Ghêraximôp : Khi bản đồ là đối tượng học tập thì kiến thức, kĩ năng bản

đồ là mục đích, còn khi bản đồ là nguồn tri thức thì kién thức và kĩ năng bản đồ trở thành phương tiện của việc khai thác tri thức Địa lí mới trên bản đồ

Mối quan hệ này có thể biểu hiện 2 cách qua sơ đồ sau:

Phương pháp

Dạy của thầy

GV hướng dẫn

HS vận dụng kĩ năng

khai thác bản đồ và kết hợp

với kiến thức địa lí đã có

Học sinh đọc bản đồ (khai thác kiến thức địa lí trên bản đồ) cần phải tuân theo các bước của kĩ năng đọc bản đồ đã đề cập đến bài trước

Khi làm việc với bản đồ, lược đồ trong sách giáo khoa, học sinh cần đối chiếu, kết hợp với bản đồ trong tập átlát và bản đồ giáo khoa treo tường để quan sát, phân tích và rút ra nhận xét về các đối tượng, sự vật và hiện tượng địa lí sâu sắc hơn

* Khai thác kiến thức từ tranh ảnh Địa lí:

Tranh ảnh dùng dạy Địa lí có nhiều loại: tranh ảnh treo tường, tranh ảnh địa

lí trong sách giáo khoa, tranh ảnh trong Microsoft Encarta, tranh ảnh địa lí khổ nhỏ cắt ra từ các họa báo, tạp chí

Nhiệm vụ chính của các loại tranh ảnh này là hình thành cho học sinh những biểu tượng cụ thể về địa lí Trong các loại kể trên có ý nghĩa quan trọng hơn cả là các tranh ảnh treo tường in sẵn và các tranh ảnh địa lí trong sách giáo khoa, vì nội

Bản đồ

Đối tượng học tập

Học sinh

Kiến thức

Bản đồ

Học sinh

Trang 8

dung của chúng đều được lựa chọn cẩn thận, phù hợp nội dung các bài dạy trong chương trình

Trong các bài địa lí, tranh ảnh minh họa có thể được sử dụng trong nhiều khâu giảng dạy khác nhau, nhưng nhiều hơn cả là khâu lĩnh hội kiến thức mới của học sinh Thông thường, giáo viên có thể cho học sinh quan sát, đặt một số câu hỏi cho học sinh phân tích tranh ảnh, rồi sau đó mới dùng cách quy nạp trình bày tài liệu, rút ra kết luận

Trong quá trình sử dụng tranh ảnh, giáo viên hay dùng nhất là phương pháp đàm thoại để hướng dẫn học sinh quan sát, tập trung chú ý những chi tiết quan trọng Học sinh trong khi lĩnh hội tri thức, phải vừa quan sát, vừa suy nghĩ, trả lời những câu hỏi của giáo viên

Trong quá trình dạy học, tranh ảnh cũng phải được sử dụng đúng chỗ, đúng lúc thì mới phát huy hết tác dụng, không làm cho học sinh giảm hứng thú hoặc phân tán tư tưởng

Cùng với tranh ảnh giáo khoa về địa lí, người ta cũng còn sử dụng những tranh ảnh nhỏ trong các tạp chí, họa báo Những tranh ảnh đó được cắt ra, lựa chọn, sắp xết lại theo các chủ đề khác nhau như: cảnh vịnh Hạ Long, Đà Lạt hoặc các dạng địa hình trên thế giới

Điều quan trọng và cần thiết là giáo viên phải biết vẽ Trong thực tế, không phải giáo viên nào cũng vẽ được những điều mình muốn vẽ (kể cả vẽ các lược đồ) Khả năng này đòi hỏi người giáo viên phải có ý thức nghề nghiệp và nhất là phải có một quá trình dày công luyện tập

* Khai thác kiến thức từ các lược đồ:

Trong sách giáo khoa Địa lí cấp Trung học cơ sở hiện nay có nhiều loại biểu

đồ khác nhau như; hình cột (đứng, ngang, chồng), hình tròn, đường, miền Mỗi loại biểu đồ đều có nhiều chức năng thể hiện đối tượng, nhưng do đặc tính riêng của mình nên mỗi loại biểu đồ có khả năng tốt hơn cho việc thể hiện một đặc điểm nào đó của đối tượng Ví dụ, biểu đồ đường thể hiện rõ quá trình vận động,phát triển của sự vật; biểu đồ hình tròn có ưu thế về thể hiện cơ cấu; biểu đồ hình cột có nhiều lợi thế trong biểu hiện số lượng và tình hình phát triển của sự vật, hiện tượng

6 Nội dung và cách thức hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, rèn luyện

kĩ năng qua các kênh hình:

a Một số kênh hình và vai trò của chúng trong từng bài học:

* Biểu đồ tháp tuổi dân số hình 1.1 ( ở bài 1 - Dân số)

- Nội dung biểu đồ tháp tuổi này thể hiện dân số về giới tính, độ tuổi

- Vai trò của tháp tuổi giúp học sinh có thể đọc, nhận dạng tháp tuổi và nêu ý nghĩa của chúng trong một tháp tuổi bất kì

+ Biết được dân số mộtt địa phương thường được biểu hiện cụ thể bằng một tháp tuổi

+ Đọc tháp tuổi biết được số lượng người trong từng nhóm tuổi (trẻ, già, tuổi lao động); tổng số nam, nữ

+ Hình dạng tháp tuổi cho biết dân số là trẻ, già

Trang 9

+ Nhận xét và nêu được thuận lợi, khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi loại biểu đồ tháp tuổi dân số của một địa phương, quốc gia

* Lược đồ phân bố dân cư thế giới 9 (hình 2.1).

+ Biểu đồ về số lượng dân cư ở các khu vực trên thế giới

+ Vai trò: Học sinh quan sát lược đồ, qua những chấm biểu đồ số lượng, mật

độ dân cư ở một khu vực, biết được sự phân bố dân cư trên thế giới Kết hợp với quan sát bản đồ tự nhiên thế giới và kiến thức đã học có thể giải thích được sự phân bố đó

* Ảnh học sinh thuộc ba chủng tộc làm việc ở phòng thí nghiệm ( hình 2.2)

Vai trò: Giúp học sinh quan sát về hình thái bên ngoài ( mắt, mũi,tóc, màu

da ) và thấy được sự khác nhau của con người thuộcc 3 chủng tộc

b Hướng dẫn cho học sinh khai thác kiến thức từ một số kênh hình cụ thể:

* Biểu đồ tháp tuổi dân số (hình 1.1) sách giáo khoa.

Có thể yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm để đọc, phân tích tháp tuổi theo những gợi ý sau:

+ Trên mỗi tháp tuổi có bao nhiêu bé trai bao nhiêu bé gái từ 0-4 tuổi? ( A có khoảng 5,4 triệu bé trai và 5,6 triệu bé gái B có khoảng 4,4 triệu bé trai và 4,8 triệu bé gái)

+ Hình dạng hai tháp khác nhau như thế nào?(Tháp A có đáy mở rộng ,lên cao

và thu hẹp nhanh, đỉnh nhọn, là dạng tháp tuổi trẻ.Tháp B có đáy bớt mở rộng, tốc độ thu hẹp trên cao chậm hơn, đỉnh bớt nhọn hơn, so với tháp tuổi A thì tháp

B "già" hơn)

+ Tháp tuổi có hình dạng như thế nào thì số người trong độ tuổi lao động cao hơn?(Tháp tuổi già thì số người trong độ tuổi lao động cao hơn)

+ Dựa vào tháp tuổi, chúng ta có thể biết những gì ?( Số người trong độ tuổi lao động, dưới độ tuổi lao động, ngoài độ tuổi lao động Số nam, nữ ở các độ tuổi,từ đó tính ra số lao động phụ, dự đoán lực lượng lao động trong tương lai,tuổi thọ )

+ Đánh giá được khái quát về những thuận lợi, khó khăn về mức sống, lao động, học hành qua những đặc điểm dân số và liên hệ thực tế ở địa phương

* Biểu đồ dân số thế giới từ đầu công nguyên và dự báo đến năm 2050

+ Quan sát hình 1.2 em hãy nhận xét về tình hình tăng dân số thế giới giai đoạn trước thế kỉ XIX và từ đầu thế kỉ XIXđến cuối thế kỉ XX

-Trước thế kỉ XIX dân số tăng chậm chạp do dịch bệnh đói kém ,chiến tranh.Liên hệ tới Việt Nam

- Dân số thế giới tăng vọt trong hai thế kỉ XIX và XX

+ Dân số thế giới tăng từ 2 đến 3 tỉ người trong 33 năm

+ Dân số thế giới tăng từ 3 đến 4 tỉ người trong 14 năm

→Do đời sống được nâng cao, chăm sóc y tế tốt hơn, số trẻ em chết yểu giảm trong lúc sinh vẫn nhiều , tử ít tuổi thọ tăng liên hệ tới Việt Nam

+ Trong khoảng gần 200 năm từ 1804 đến 1999 dân số thế giới tăng 6 lần, từ 1

tỉ đến 6 tỉ người.)

* Biểu đồ gia tăng dân số tự nhiên ở các nước phát triển(hình 1.3) và biểu

đồ gia tăng dân số tự nhiên ở các nước đang phát triển(hình 1.4)

Trang 10

Quan sát H1.3 và1.4 sgk em hãy:

? Nhận xét chung về tình hình tăng dân số ở hai nhóm nước phát triển và đang phát triển? (Nhóm phát triển có hai giai đoạn dân số tăng nhanh và khoảng năm

1870 và 1950, còn nay sự gia tăng dân số lại giảm Ngược lại, nhóm đang phát triển lại có tỷ lệ gia tăng dân số cao kể từ năm 1950)

? Trong giai đoạn từ 1950 đến năm 2000 nhóm nước nào có tỉ lệ gia tăng dân

số cao hơn, vì sao? (Nhóm nước đang phát triển có tỷ lệ gia tăng dân số cao hơn

Ta thấy tỷ lệ sinh ở các nước đag phát triển ổn định cao trong suốt thời kỳ 1800

-1950, trong giai đoạn này tỷ lệ tử vong cũng rất cao nên dân số tăng ít Sau 1950

tỷ lệ sinh đã giảm nhưng vẫn còn cao trong khi tỷ lệ tử lại giảm nhanh hơn nhiều nên dân số tăng cao Sự tăng dân số ở các nước phát triển góp phần quan trọng

tạo ra sự bùng nổ dân só thế giơí)

Thảo luận nhóm (5phút)

+ Quan sát lược đồ hình 2.1 nêu nhận xét chung về sự phân bố dân cư thế giới ?

+ Cho biết những khu vực nào đông dân cư nhất thế giới ?

+ Đối chiếu bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế thế giới và hình 2.1 sgk hãy cho biết những khu vực có mật độ dân số cao nhất, thấp nhất ?

+ Nơi có mật độ dân số thấp ?

+ Kết hợp quan sát bản đồ tự nhiên thế giới hoặc quả Địa Cầu và kiến thức đã học giải thích sự phân bố đó ?

B 2 Đại diện 1-2 nhóm trình bày các nhóm khác lắng nghe theo dỏi bổ sung

B 3 GV chuẩn xác kiến thức

- Phân bố dân cư không đồng đều

- Dân cư tập trung đông ở Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á,Tây- Trung Âu, và Nam Âu, Tây Nam Á, Tây Phi, Đông Bắc Hoa Kì, Đông Nam Braxin

- Những khu vực có mật độ dân số cao nhất là những nơi có điều kiên sống ,

đi lại thuận tiện như vùng đồng bằng,các vùng có khí hậu ấm áp, mưa nắng thuận hoà hoặc các đô thị thuận lợi buôn bán, các khu công nghiệp

- Nơi có mật độ dân số thấp là những vùng có núi non hiểm trở,vùng sâu đi lại khó khăn hoặc những vùng có khí hậu khắc nghiệt như vùng cực hay hoang mạc

* Ảnh học sinh ba chủng tộc chính trên thế giới làm việc ở phòng thí nghiệm (hình: 2.2)

Quan sát hình 2.2 kết hợp vốn hiểu biết hãy cho biết dân cư trên thế giới chia

làm mấy chủng tộc ? đó là những chủng tộc nào?

Thảo luận nhóm (4phút)

Hãy điền những kiến thức thích hợp vào các cột sau:

Tên chủng tộc Đặc điểm ngoại hình Nơi phân bố

Môn-gô-lô-it

(da vàng)

Ngày đăng: 22/11/2017, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w