Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay (LÀ tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HẠNH
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chưa được công bố bởi bất kỳ tác giả nào hay ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trần Thị Hạnh
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Cán bộ
Cán bộ, công chức
Công chức
CB CBCC
ĐTBD HCNN
Hợp tác xã
Nghiên cứu sinh
Nông thôn mới
HTX NCS NTM
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1 Đánh giá khái quát quy định pháp luật về CCCX
Bảng 3.2 Quy định về tiêu chuẩn đối với CCCX theo Thông tư 06/2012/TT-BNV Bảng 3.3 Thăm dò ý kiến về tiêu chuẩn của CCCX
Bảng 3.4 Nhận xét quy định của pháp luật về tuyển dụng CCCX
Bảng 3.5.Thực hiện chức trách, nhiệm vụ cụ thể của các chức danh CCCX Bảng 3.6 Việc thực hiện công tác đánh giá, phân loại CCCX
Bảng 3.7 Đánh giá việc thực hiện tổ chức ĐTBD CCCX
Bảng 3.8 Thẩm quyền quản lý CCCX
Bảng 4.1 Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn cụ thể đối với từng chức danh CCCX Bảng 4.2 Hoàn thiện quy định về tuyển dụng CCCX
Bảng 4.3 Hoàn thiện quy định về đánh giá, phân loại CCCX
Bảng 4.4 Hoàn thiện quy định về ĐTBD CCCX
Bảng 4.5 Hoàn thiện quy định về chế độ tiền lương, đãi ngộ đối với CCCX
Biểu đồ 3.1 Đánh giá quy định pháp luật về CCCX
Biểu đồ 3.2 Thẩm quyền quản lý CCCX
Biểu đồ 4.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức và xây dựng đội ngũ cán
1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu của đề tài 22
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về công chức cấp xã 29
2.2.1 Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về công chức cấp xã 45 2.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về công chức cấp xã 46 2.2.3 Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về công chức cấp xã 49
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về công chức cấp xã 51
2.3.1 Quá trình phân quyền, phân cấp quản lý ở Việt Nam hiện nay 51 2.3.2 Mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Việt Nam 52 2.3.3 Yêu cầu tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
2.3.4 Quá trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay 54 2.3.5 Năng lực thực thi pháp luật về công chức cấp xã
Trang 62.4 Pháp luật về công chức cấp cơ sở của một số nước trên thế giới và kinh
2.4.5 Pháp luật về công chức cấp cơ sở của Cộng hòa liên bang Đức 62 2.4.6 Pháp luật về công chức cấp cơ sở của Cộng hòa Pháp 65 2.4.7 Một số nhận xét và kinh nghiệm đối với Việt Nam 68
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở VIỆT NAM
3.1 Quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật về công chức cấp xã ở Việt
3.2 Nội dung pháp luật hiện hành về công chức cấp xã 84
3.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay 100
3.3.1 Ưu điểm trong thực hiện pháp luật về công chức cấp xã và nguyên nhân 100 3.3.2 Hạn chế trong thực hiện pháp luật công chức cấp xã và nguyên nhân 104
CHƯƠNG 4 NHU CẦU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
4.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã 116
4.1.1 Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế 116 4.1.2 Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tôn trọng và bảo vệ, bảo
Trang 74.1.3 Yêu cầu của cải cách hành chính nhà nước và đẩy mạnh cải cách chế độ công
4.1.4 Nhu cầu thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 121 4.1.5 Xuất phát từ nhu cầu nội tại của việc hoàn thiện pháp luật về công chức cấp
4.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã 124
4.2.1 Hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp 124 4.2.2 Hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phù hợp với đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã và tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã 125 4.2.3 Hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phải đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh
4.2.4 Hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã phải bảo đảm tính đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan, tính kế thừa và tính hiện đại 128
4.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã 129
4.3.1 Nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của pháp luật về công chức cấp
4.3.2 Đổi mới công tác xây dựng pháp luật về công chức cấp xã 129 4.3.4 Nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức cấp xã 144 4.3.5 Bảo đảm các điều kiện thực hiện pháp luật về công chức cấp xã 145
PHỤ LỤC 4 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ VĂN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính ở nước ta Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với người dân, chính quyền cấp xã có chức năng quản lý nhà nước các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn cơ sở theo thẩm quyền được pháp luật quy định bảo đảm
cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
được triển khai thực hiện trong cuộc sống Thực hiện các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được tăng cường theo hướng phân quyền, phân cấp, giao quyền chủ động cho chính quyền địa phương và cơ sở trong việc quyết định các vấn đề về ngân sách, đầu tư, nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính với Trung ương Điều đó đặt
ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng đội ngũ CBCCCX đủ về số lượng, vững mạnh, trong sạch về chất lượng
Hiện nay, nước ta có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9.064 xã, 1.567 phường, 597 thị trấn với tổng số 222.735 CBCCCX và 317.766 người hoạt động không chuyên trách cấp xã “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”[82] CBCCCX là những người trực tiếp gắn bó với người dân, có nhiệm vụ truyền tải
và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn cơ sở
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX) là dấu mốc quan trọng đối với CBCCCX khi đặt ra vấn đề: Xây dựng đội ngũ CBCC ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác ĐTBD, giải quyết hợp
Trang 9lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở Đây là những quan điểm đặt cơ sở cho việc xác định các chức danh CBCCCX và chuẩn hóa đội ngũ CCCX
Pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước quản lý đội ngũ CBCC, trong đó có CCCX nhằm xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại Quán triệt các quan điểm của Đảng về cải cách chế độ công vụ, CC; kế thừa và bổ sung các quy định của Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003, Luật CBCC năm 2008 đã tạo cơ sở pháp lý cải cách chế
độ công vụ, CC của nước ta Đối với CCCX, Luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã quy định cụ thể số lượng và các chức danh CCCX, nghĩa vụ và quyền của CCCX, tiêu chuẩn, điều kiện CCCX; các nội dung và thẩm quyền tuyển dụng, bố trí, ĐTBD, đánh giá, phân loại và chế độ, chính sách đối với CCCX Đây vừa là cơ sở pháp lý để quản lý đội ngũ CCCX, vừa có tác dụng tạo động lực cho đội ngũ CCCX nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực ĐTBD nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu đối với từng chức danh CCCX, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước
Thực hiện các quy định của pháp luật về CCCX, công tác tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, phân cấp quản lý CCCX đã đạt được những kết quả nhất định Đồng thời việc thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tại địa bàn xã đã góp phần bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về CCCX
đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc nhất định; số lượng và chất lượng đội ngũ CCCX chưa đáp ứng yêu cầu Một trong những nguyên nhân của tình trạng này
là do các quy định pháp luật về CCCX chưa bảo đảm tính đồng bộ, liên thông
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và xây dựng NTM đang đặt đòi hỏi ngày càng cao đối với đội ngũ CBCCCX, trong đó có CCCX về phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tin học, khả năng quản lý, điều hành kinh
tế - xã hội ở cơ sở Điều này đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về
Trang 10CCCX nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CCCX đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XI) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở xác định nhiệm vụ: “Sửa đổi quy định về CBCC cấp xã theo hướng: cán bộ chuyên trách (là cán bộ bầu cử) được bầu, hoạt động theo nhiệm
kỳ, được hưởng lương (phụ cấp), hết nhiệm kỳ, không được bầu vào chức danh mới nếu đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì được bố trí công tác khác theo quy định, nếu không đạt tiêu chuẩn, điều kiện thì được đóng bảo hiểm tự nguyện hoặc hưởng chế độ trợ cấp một lần; CCCX là người làm việc theo các chức danh quy định (có thể là CC cấp huyện được điều động về làm việc tại xã)
Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã đề ra nhiệm vụ: “Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và quy định khung số lượng CBCCCX cho phù hợp theo hướng xác định rõ vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh, đặc thù của địa phương và bảo đảm giảm biên chế” [27]
Với những lý do trên, việc thực hiện đề tài luận án “Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích tổng quát là trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về CCCX, đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 11- Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận pháp luật về CCCX: đặc điểm, vai trò, nội dung của pháp luật về CCCX; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX
- Hệ thống hóa quy định pháp luật về CC cấp cơ sở của một số nước trên thế giới và rút ra một số kinh nghiệm đối với Việt Nam
- Phân tích làm rõ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về CCCX qua các giai đoạn; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về CCCX, chỉ ra những kết quả, hạn chế và xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến xây dựng và thực thi pháp luật về CCCX
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ, quyền của CCCX; số lượng và điều kiện, tiêu chuẩn các chức danh CCCX; tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, đánh giá, phân loại, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, chế
độ đãi ngộ và quản lý CCCX
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học về CCCX và pháp luật về CCCX;
Trang 124 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật, cải cách HCNN, nâng cao chất lượng đội ngũ CCCX Bên cạnh đó, luận án còn dựa trên các lý thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước, về công vụ, CC,
về quản trị địa phương ở Việt Nam
Luận án sử dụng các hướng tiếp cận chủ yếu sau:
Tiếp cận dưới góc độ luật hành chính nhằm xem xét tổng thể các QPPL
hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị là
cơ sở quan trọng để xem xét, nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật CCCX
Tiếp cận hệ thống trong việc phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật về CCCX và các yếu tố ảnh hưởng cũng như tiêu chí hoàn thiện pháp luật đối với CCCX nhằm đề ra các giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng CCCX
Tiếp cận liên ngành để bảo đảm tính chính xác của các nhận định, đánh
giá về thực trạng pháp luật về CCCX, luận án thực hiện tiếp cận liên ngành gồm luật học so sánh, xã hội học pháp luật, hành chính học, chính trị học ; kết hợp nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tế với điều tra xã hội học và kết hợp giữa đánh giá định tính với định lượng
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã
có liên quan đến pháp luật về CC nói chung và CCCX nói riêng (chương 1); quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về CCCX (chương 3)
Phương pháp so sánh để tìm hiểu quy định pháp luật đối với CC địa
phương và cơ sở của một số nước trên thế giới (chương 2); đối chiếu các quy định của pháp luật về CC nói chung và về CCCX nói riêng trong lịch sử và hiện tại ở Việt Nam Từ đó, đánh giá mức độ tương thích của quy định pháp luật về CCCX so với thực tế của các địa phương và cả nước (chương 3)
Trang 13Phương pháp tổng hợp để hệ thống hoá đặc điểm, vai trò và điều chỉnh
pháp luật về CCCX (chương 2)
Phương pháp phân tích để xác định các nội dung điều chỉnh pháp luật và
thực trạng thực hiện pháp luật về CCCX (chương 3) và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX (chương 4)
Phương pháp điều tra xã hội học để đánh giá định lượng thực trạng tổ
chức thực hiện các quy định của pháp luật về CCCX và đề xuất hoàn thiện pháp luật về CCCX (chương 3 và chương 4)
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu để chứng
minh các luận điểm, đánh giá, nhận định trong luận án Đồng thời, luận án kế thừa các công trình nghiên cứu, các số liệu thống kê và tài liệu có liên quan
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về CCCX ở Việt Nam từ sau khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực Kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới về mặt khoa học sau:
- Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan niệm pháp luật về CCCX, luận án xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về CCCX, đồng thời phân tích làm rõ vai trò, đặc điểm của pháp luật về CCCX; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay
- Luận án chỉ ra sự khác biệt quan trọng trong việc điều chỉnh của pháp luật về CCCX so với pháp luật về CC và CBCX trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích các VBQPPL điều chỉnh đối với 7 chức danh CCCX, tức là gồm cả chức danh là Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã và Trưởng công an xã Điều mà từ trước đến nay các công trình nghiên cứu pháp luật về CCCX hầu như còn bỏ trống
- Luận án đã phân tích chỉ ra những hạn chế cơ bản trong hệ thống pháp luật về CCCX Một trong những hạn chế cơ bản nhất là pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay điều chỉnh đồng nhất, cứng nhắc với tất cả các chức danh CCCX cũng như giữa CCCX ở đô thị (phường, thị trấn) và ở nông thôn (xã) nên không phù hợp với thực tiễn; pháp luật về CCCX mới chỉ điều chỉnh về “người”
Trang 14mà chưa chú trọng đến “việc”… Từ đó, luận án đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm giàu thêm những kiến thức lý luận về CCCX và pháp luật về CCCX; cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về CCCX; đề xuất quan điểm hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về CCCX trong thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về quản lý CCCX trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật về CCCX; xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch xây
dựng đội ngũ CCCX ở Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về công vụ, CC nói chung, pháp luật về CCCX nói riêng và cho các nhà quản lý trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật về CCCX
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Những vấn đề lý luận pháp luật về công chức cấp xã
Chương 3 Thực trạng điều chỉnh của pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 Nhu cầu, quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Nghiên cứu về công vụ, CC và xây dựng đội ngũ CBCC ở nước ta được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm với khá nhiều công trình như:
- Sách“Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ CBCC hiện nay” của tác
giả Tô Tử Hạ [36] đã bước đầu làm rõ quan niệm về CC, nghĩa vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn, tuyển dụng, ĐTBD, thi đua, khen thưởng… của CC Trên cơ sở các quy định của Quy chế CC theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp lệnh CBCC năm 1998, tác giả xác định nội hàm của khái niệm CC và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đội ngũ CBCC ở nước ta
- Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.09 “Xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” do TS
Thang Văn Phúc chủ nhiệm [83] đã luận chứng tính tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống về xây dựng đội ngũ CBCC, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chế độ công vụ, CC, góp phần cung cấp luận cứ khoa học xây dựng và quản lý đội ngũ CBCC, bao gồm bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, ĐTBD và chính sách đãi ngộ CBCC Đề tài giành một chương riêng về thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX
- Sách “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ CBCC” do Thang
Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên) [81] phân tích vai trò, đặc điểm của đội ngũ CBCC; hệ thống hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng đội
Trang 16ngũ CBCC; đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC và xác định yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN đối với việc hoàn thiện thể chế quản lý CBCC và xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, vững mạnh
- Sách“Về chế độ công vụ Việt Nam”do Nguyễn Trọng Điều chủ biên [29]
đã khái quát quá trình hình thành, phát triển chế độ công vụ nước ta từ năm 1945 đến 2005 và xác định các quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện chế độ công vụ Theo các tác giả, pháp luật về công vụ là nền tảng của chế độ công vụ,
do đó hoàn thiện chế độ công vụ, trước hết là hoàn thiện pháp luật về công vụ,
CC theo hướng pháp điển hóa bằng việc ban hành Luật công vụ với khung kết cấu gồm các nội dung: Những quy định chung; quyền, nghĩa vụ cơ bản của CC; tuyển dụng, sử dụng CC; quản lý CC, công sở
- Sách “Công vụ, CC nhà nước” của tác giả Phạm Hồng Thái [99] tập
trung giải quyết những vấn đề lý luận và pháp luật về công vụ, CC, trên cơ sở phân tích pháp luật thực định của Nhà nước ta từ năm 1945 đến 2003 và chỉ ra
xu hướng điều chỉnh của pháp luật về công vụ, CC trong những năm tới Tác giả cho rằng, giữa công vụ và CC có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời vì rằng hoạt động công vụ là một dạng lao động đặc biệt do CBCC thực hiện
và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước tùy thuộc vào việc thực thi công vụ của CBCC nhà nước Đáng chú ý là trên cơ sở phân biệt nội hàm các thuật ngữ “định chế”, “chế định”, “thể chế”, tác giả xác định các đặc điểm và nội dung của chế định pháp luật về công vụ và CBCC, gồm quy định về: tuyển dụng,
sử dụng, quản lý CC; điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ về nghĩa
vụ, trách nhiệm của CBCC; địa vị pháp lý của người CBCC; các chế độ đãi ngộ, những bảm đảm về chức vụ, khen thưởng, kỷ luật, truy cứu trách nhiệm CBCC
- Luận án tiến sĩ khoa học quản lý“Hoàn thiện thể chế quản lý CC ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế” của NCS Trần Anh Tuấn,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2007 [118] đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến CC, nội dung của quản lý CC và thể chế quản lý CC trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế, gồm: quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ
Trang 17CC, phân cấp quản lý, quản lý biên chế, quy định chức danh, tiêu chuẩn, tuyển dụng, nâng ngạch, đánh giá, ĐTBD… Trên cơ sở đó, tác giả trình bày các quan điểm, nguyên tắc, nội dung và giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý CC
- Một số bài viết trên các tạp chí như:“Một số giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ CC ở nước ta” của Lê Minh Hương [55] đưa ra các giải pháp cụ thể
nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ CC ở nước ta Một trong những giải pháp được nêu ra là tiếp tục hoàn thiện các văn bản của Chính phủ cụ thể hóa quy định
của Luật về CC; “Xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới [20] của Lương Chiến Công xác định yêu cầu nâng cao
chất lượng đội ngũ CBCC trong thời gian tới và đề xuất các nội dung, giải pháp xây dựng đội ngũ CBCC, trong đó nhấn mạnh đổi mới công tác tuyển dụng CBCC
là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này
Các công trình này chủ yếu nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về công vụ, CC và đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp xây dựng đội ngũ CBCC nói chung, trong đó có đề cập ở mức độ nhất định về thể chế quản lý CBCCCX
và pháp luật về CCCX
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Kiện toàn tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở, trong đó
có chính quyền cấp xã và xây dựng đội ngũ CBCCCX là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Có thể nêu một số công trình tiêu biểu sau:
- Sách “Hệ thống chính trị cơ sở: Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”(2004) của Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ [128]
đã tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt động của các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cấp cơ sở, trong đó có đội ngũ CBCCCX, từ
đó đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở nhằm góp phần kiện toàn, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở
- Sách “Xác định tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá chính quyền xã trong sạch, vững mạnh” do Nguyễn Hữu Đức và Phan Văn Hùng đồng chủ biên
Trang 18[34] đã luận chứng cơ sở khoa học và đề xuất các tiêu chí, phương pháp đánh giá chính quyền xã trong sạch, vững mạnh Đây thực chất là các tiêu chí và phương pháp đánh giá năng lực, chất lượng quản lý, điều hành, thực thi nhiệm vụ của CBCC chính quyền xã ở nước ta
- Sách “Tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ chính sách đối với cán bộ
cơ sở”của tác giả Phạm Kim Dung [23] giới thiệu khái quát về tổ chức bộ máy
chính quyền cấp xã và CBCC xã, phường, thị trấn; phân tích các quy định về bầu
cử cán bộ chuyên trách cấp xã, tuyển dụng CCCX và ĐTBD CBCCCX Đồng thời, hệ thống hóa các quy định về chế độ làm việc của CBCCCX và các chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khen thưởng và xử lý vi phạm; quản
lý CBCCCX
- Sách “Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đối với CBCC cơ sở” do
Nguyễn Thế Vịnh và Đinh Ngọc Giang (đồng chủ biên) [135] đã phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống các chính sách đối với CBCC cơ sở (xã, phường, thị trấn) giai đoạn từ 1954 đến 2008; các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đối với CBCC
cơ sở…; từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách tiền lương, phụ cấp đối với CBCC cơ sở
- Sách“Cẩm nang nghiệp vụ dành cho lãnh đạo và CC chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã” do Nguyễn Minh Phương chủ biên [85] đã phân tích
vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời đề cập đến chức trách, nhiệm vụ và tiêu chuẩn của các chức danh CBCCCX Tuy nhiên, sách mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê, trích dẫn văn bản,
chưa có phân tích, đánh giá thực tiễn của vấn đề nêu ra
- Đề tài cấp nhà nước“Chính quyền xã với quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay”, mã số KX.02.22/11-15 do PGS.TS Nguyễn Minh Phương
chủ nhiệm [84] luận chứng rõ vai trò của chính quyền xã đối với quản lý phát triển xã hội và đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền xã, từ đó
đề xuất các quan điểm, giải pháp phát huy vai trò của chính quyền xã đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, trong đó có đề cập đến nhiệm vụ
Trang 19xây dựng đội ngũ CBCC và những người hoạt động không chuyên trách ở xã đáp ứng yêu cầu quản lý phát triển xã hội Đồng thời đề tài đã đề xuất nhiệm vụ kiện toàn tổ chức và hoạt động của chính quyền xã; các nội dung tiếp tục hoàn thiện pháp luật về CBCCCX như bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, ĐTBD và chế
độ, chính sách đãi ngộ đối với CBCCCX
- Đề tài cấp nhà nước “Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên”, mã số TN3/X03 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ nhiệm [132]
đã làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản liên quan đến xây dựng hệ thống chính trị
ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên; phân tích, đánh giá tiến trình phát triển và thực trạng tổ chức, hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở tại Tây Nguyên từ năm 1986 đến nay; xác định những yêu cầu tiếp tục phát triển hệ thống chính trị ở cơ sở và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030 Trong đó, có đề cập đến giải pháp về đào tạo, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị cơ sở vùng Tây Nguyên và sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về chế độ, chính sách đối với CBCC cơ sở
- Đề tài cấp nhà nước “Đội ngũ cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn: Thực trạng và phương hướng kiện toàn nâng cao năng lực hoạt động” [1] do TS Lê
Thị Thu Ba chủ nhiệm đã xác định rõ vị trí, vai trò của Ban Tư pháp và đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã Trên cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của
tư pháp cấp xã, chỉ ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân, đề tài đã đề xuất phương hướng và giải pháp kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
- Đề tài cấp tỉnh “Nội dung và giải pháp xây dựng quốc phòng địa phương cấp cơ sở xã trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, do Vũ Hồng Mịch -chủ
nhiệm [73] đã điều tra đánh giá thực trạng xây dựng quốc phòng địa phương cấp
xã ở tỉnh Hải Dương; xác định nội dung và giải pháp xây dựng quốc phòng địa
Trang 20phương cấp xã đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ CNH-HĐH đất nước Một trong các giải pháp tác giả đưa ra là nâng cao tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, chính trị và chính sách đối với Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã
- Đề tài cấp Bộ“Nghiên cứu xây dựng quy hoạch ĐTBD đội ngũ CBCC
xã, phường, thị trấn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2007 – 2015”
do Ths Vũ Xuân Khoan chủ nhiệm [59] tập trung phân tích những điều kiện đặc thù của khu vực đồng bằng sông Cửu long có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quy hoạch ĐTBD CBCCCX; đánh giá thực trạng CBCCCX và công tác quy hoạch ĐTBD đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn, từ đó đề xuất mục tiêu, phương hướng, nội dung và các giải pháp xây dựng quy hoạch ĐTBD đội ngũ CBCCCX các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu long giai đoạn 2007 – 2015
- Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở Tây Nguyên”
do TS Hồ Công Dũng chủ nhiệm [24] tập trung phân tích những đặc điểm của đội ngũ CBCC cơ sở và đánh giá thực trạng, dự báo nhu cầu phát triển nguồn CBCC cơ sở tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-2010, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ CBCC cơ sở Tây Nguyên đến năm 2010, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề tạo nguồn, ĐTBD và giải quyết chế độ, chính sách hợp lý cho CBCCCX
- Luận án tiến sỹ luật học“Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay” của NCS Đàm Bích Hiên, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007 [43] tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất quan điểm và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã, trong đó có đề cập đến vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ CBCCCX và yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCCCX trong sạch, vững mạnh
- Luận án tiến sĩ khoa học quản lý “Chính sách tạo động lực cho CBCCCX (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An)” của NCS Lê Đình Lý, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 [69], từ các luận cứ lý thuyết và đánh giá thực trạng chính sách tạo động lực CBCCCX, luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách tạo động lực đối với CBCCCX, bao gồm: chính sách
Trang 21bố trí, sử dụng, đánh giá, đào tạo, khen thưởng, tiền lương; điều kiện, môi trường làm việc…Các nhóm giải pháp luận giải khá rõ sự cần thiết và nội dung, điều kiện thực hiện nhằm tạo động lực duy trì và thúc đẩy động lực làm việc của họ Một trong những điều kiện đảm bảo để thực hiện các giải pháp này chính là yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về CCCX
- Luận án tiến sĩ luật học “Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước phường trong điều kiện cải cách hành chính ở nước ta”
của NCS Phan Văn Hùng, Học viện Khoa học xã hội, 2012 [54] nghiên cứu cơ
sở khoa học, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của UBND phường, trong đó có một số giải pháp liên quan đến xây dựng đội ngũ CC cấp cơ sở phù hợp với đặc thù quản lý hành chính nhà nước ở các đô thị
- Luận án quản lý nhà nước về an ninh, trật tự “Hoạt động quản lý nhà nước về an ninh trật tự của Công an xã trên địa bàn thành phố Hà Nội” của
NCS Đinh Văn Nam, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2016 [77] phân tích làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự của Công an xã Trong đó, tập trung làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò, các nội dung, hình thức, biện pháp quản lý nhà nước về an ninh, trật tự của Công an xã; đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự của Công an xã trên địa bàn thành phố Hà Nội; về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an xã Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự của Công an xã, trong đó có giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật đối với Công an xã như tiêu chuẩn, tuyển dụng, chính sách đãi ngộ
Bên cạnh đó, có nhiều bài viết về xây dựng CCCX đăng trên các tạp chí
Tổ chức Nhà nước, Quản lý Nhà nước như:“Nâng cao năng lực đội ngũ CBCC
xã góp phần phát triển nông nghiệp bền vững”[44] của Phí Văn Hạnh;“Xây dựng đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu của Luật CBCC”[35]
của Nguyễn Văn Đức đưa ra yêu cầu cần thiết nâng cao năng lực đội ngũ
Trang 22CBCCCX và đề xuất 3 giải pháp cơ bản: hoàn thiện công tác tuyển dụng; đổi mới nội dung, hình thức ĐTBD; hoàn thiện chế độ, chính sách đối với CBCCCX
“Giải pháp ĐTBD CBCCCX đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh”[57] của
Hoàng Thị Hoài Hương đã khái quát thực trạng công tác ĐTBD CBCCCX theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐTBD CBCCCX theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh
- Một số bài viết đề cập đến hoàn thiện chế độ, chính sách đối với
CBCCCX như: “Hoàn thiện chính sách bố trí, sử dụng CBCCCX” [66] của Lê Đình Lý; “Góp phần hoàn thiện chính sách với CBCC cấp xã”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 5/2009; “Cơ sở khoa học xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ đối với CBCC cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, chuyên đề cơ sở, số 6/2009 của Nguyễn Minh Phương;“Đổi mới chế độ, chính sách đãi ngộ đối với CBCC xã, phường, thị trấn” của Nguyễn Thế Vịnh đã nghiên cứu các quy định liên quan
đến chế độ, chính sách đối với CBCCCX giai đoạn 1975-2010, chỉ ra những vướng mắc, bất cập về chính sách đối với CBCCCX; từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ CBCCCX
1.1.3 Những công trình liên quan đến pháp luật về công chức và công chức cấp xã
- Sách “Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ” do Phạm Hồng Thái
chủ biên [100] trên cơ sở hệ thống hóa các quan điểm khác nhau về pháp luật và phân tích các đặc trưng, chức năng, vai trò của pháp luật; sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ xã hội, các tác giả nêu ra quan niệm pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ của CBCC; sự cần thiết điều chỉnh đạo đức công vụ bằng pháp luật Khái quát pháp luật về công vụ nước ta qua các giai đoạn lịch sử, các tác giả xác định 9 nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện nay về công vụ, bao gồm: Các nguyên tắc của hoạt động công vụ; phạm vi, đối tượng CBCC; tuyển dụng CC, viên chức; sử dụng, điều động, luân chuyển CBCC, viên chức; ĐTBD, đánh giá CBCC, viên chức; địa vị pháp lý của CBCC, viên chức; kỷ luật và vấn
đề từ chức, thôi việc; trách nhiệm pháp lý của CBCC, viên chức; thanh tra công
Trang 23vụ Những vấn đề lý luận của pháp luật về công vụ được thể hiện trong công trình là cơ sở quan trọng để NCS vận dụng trong triển khai nghiên cứu pháp luật
vi nghiên cứu của công trình là pháp luật về CBCC chính quyền cấp xã từ năm
1945 đến 2007 và đối với CCCX chỉ giới hạn ở 5 chức danh CCCX, vì vậy việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp chưa cụ thể, toàn diện với 7 chức danh CCCX Hơn nữa, các quy định pháp luật về CCCX được đề cập trong công trình này chủ yếu là theo Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003, đã hết hiệu lực sau khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành
- Sách“Một số vấn đề lý luận về chế định pháp luật công vụ, CC” [22]
của tác giả Lương Thanh Cường phân tích khá toàn diện những vấn đề lý luận về chế định pháp luật công vụ, CC; đánh giá thực trạng nội dung và hình thức của chế định pháp luật về công vụ, CC từ năm 1998 đến 2010, so sánh với các giai đoạn từ 1945-1997 để làm rõ quá trình hoàn thiện, phát triển của chế định đó ở nước ta Từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chế định pháp luật công vụ, CC ở nước ta Đây là tài liệu tham khảo hữu ích đối với NCS trong quá trình nghiên cứu về lịch sử phát triển của chế định pháp luật về CC từ năm 1945 đến nay
- Sách “Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về CC, công vụ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Duy Phương [83] đã luận giải cơ sở lý luận và đánh
giá thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp
Trang 24luật về CC, công vụ ở nước ta Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu, công trình này chưa chú ý đến cơ chế điều chỉnh pháp luật về CCCX
- Luận án tiến sĩ luật học“Hoàn thiện pháp luật về tuyển chọn và bổ nhiệm CC ở nước ta” của NCS Nguyễn Quốc Hiệp, Viện Nhà nước và Pháp
luật, năm 2007 [44] phân tích rõ cơ sở lý luận liên quan đến CC như: khái niệm
CC, tuyển chọn, bổ nhiệm CC; yếu tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện pháp luật về tuyển chọn và bổ nhiệm CC; đánh giá thực trạng pháp luật và đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển chọn, bổ nhiệm CC
- Luận án tiến sĩ luật học“Hoàn thiện pháp luật CC, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách HCNN”của NCS Tạ Ngọc Hải, Học viện Khoa học xã hội, 2011
[41] trình bày những vấn đề lý luận về pháp luật CC, công vụ, đánh giá thực trạng pháp lý và đề xuất các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật CC, công vụ đáp ứng yêu cầu CCHC Tác giả tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm, vai trò của pháp luật CC, công vụ; nguyên tắc, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật CC, công vụ; các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến pháp luật CC, công vụ; thực trạng ban hành văn bản và triển khai thực hiện pháp luật CBCC, những khó khăn, thách thức đối với hoàn thiện pháp luật CC, công vụ; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CC, công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách HCNN ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù các công trình, bài viết này nghiên cứu pháp luật về CC nói chung, chưa đề cập nhiều đến pháp luật về CCCX, song đây là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu sinh tham khảo, kế thừa trong quá trình triển khai các nội dung nghiên cứu luận án
1.1.4 Những công trình nghiên cứu về pháp luật công vụ, công chức của các nước trên thế giới
- Hai cuốn sách “Chế độ CC và Luật CC của các nước trên thế giới” [112] và “Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam” [114] do Trung
tâm Nghiên cứu khoa học và Thông tin biên soạn, đã hệ thống hóa các quy định pháp luật CC của một số quốc gia: Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhật Bản và một số
Trang 25nước ASEAN.Theo đó, pháp luật về CC các nước quy định điều chỉnh đối với
CC như: quyền lợi, nghĩa vụ, địa vị, tiêu chuẩn, ngạch, bậc, tiền lương, phụ cấp,… và các quy định này có sự thay đổi và hoàn thiện theo thời gian để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia
- Sách “Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới” của Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền [80]
nghiên cứu hệ thống công vụ và pháp luật về quản lý CC của 8 quốc gia trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Liên bang Đức, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ; đồng thời, tìm hiểu xu hướng cải cách chế
độ tuyển chọn, ĐTBD, đánh giá, tiền lương, phụ cấp, sử dụng nhân tài trong quản lý đội ngũ CC của từng nước
- Sách “Pháp luật về công vụ, CC của Việt Nam và một số nước trên thế giới” [120] do Trần Anh Tuấn chủ biên, giới thiệu những vấn đề cơ bản về công
vụ, CC, trong đó có các nội dung về quá trình cải cách chế độ công vụ, CC ở Việt Nam, nhất là những vấn đề đang được xã hội quan tâm như: vị trí việc làm
và phương pháp xác định vị trí việc làm trong đổi mới cơ chế quản lý CC; tiêu chuẩn CC và vấn đề năng lực trong hoạt động công vụ; đổi mới thi nâng ngạch
CC theo nguyên tắc cạnh tranh; chính sách thu hút, phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong nền công vụ; những định hướng cải cách chế độ công vụ, CC ở Việt Nam đến năm 2020 Đồng thời, cuốn sách giới thiệu pháp luật về công vụ, CC của một số nước trên thế giới như Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản, Vương quốc Thái Lan
Một số bài viết trên tạp chí Tổ chức nhà nước như tác giả Nguyễn Văn
Trung với bài “Công tác ĐTBD CC ở một số nước”[111]; “Công chức và ĐTCC
ở nước Cộng hòa Pháp”của tác giả Ngô Thành Can đã đề cập đến kinh nghiệm
ĐTBD của Hàn Quốc, Thái Lan, Indonexia, Singapore, Cộng hòa Pháp…, từ đó chỉ ra một số nhận xét có thể tham khảo cho Việt Nam
Trang 261.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các vấn đề liên quan đến pháp luật về CC địa phương và CC cơ sở ở các nước trên thế giới được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, ví dụ:
- Công trình nghiên cứu “Enhancing the Quality of Local Governance: Institutionalization, Capacity Buiding and Inter - Governmental Relationships”
(Tăng cường Chất lượng Quản trị địa phương: Thể chế hóa, tăng cường năng lực
và mối quan hệ giữa chính quyền các cấp) [115] so sánh về hành chính công do Trung tâm Chính quyền địa phương EROPA thực hiện tại Tô-ky-ô, Nhật Bản gồm 3 phần nội dung cơ bản về mô hình chính quyền địa phương, tăng cường năng lực quản trị địa phương và những biến chuyển trong mối quan hệ giữa chính quyền các cấp Trong đó có đề cập đến vai trò của CC cấp cơ sở và yêu cầu điều chỉnh các quy định liên quan đến đội ngũ CC này
- Bài viết “The levels, Dimensions and Structure of Local Governance Capacity in China: A Theoretical and Empirical Study” (Các mức độ, thước đo
và năng lực quản lý địa phương ở Trung Quốc: Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm) [147], các tác giả Yifan Yang, Keyu Chen và Xia Chang đã mô tả quá trình đẩy mạnh phân cấp từ Trung ương xuống địa phương tại Trung Quốc, theo
đó, việc phân cấp từ Trung ương xuống địa phương cần được cân nhắc để hài hòa với lợi ích của nhân dân và sự phát triển chiến lược của quốc gia Trong đó
có nội dung về quản lý đội ngũ CC địa phương và cấp cơ sở được trao cho chính quyền địa phương trên một số phương diện nhất định Cụ thể, chính quyền Trung ương nắm lại quyền tổ chức các cuộc thi tuyển CC và giao nhiệm nhiệm đánh giá CC cấp tỉnh và cơ sở cho chính quyền địa phương Đồng thời quy định cải cách hệ thống đánh giá phục vụ thăng tiến cho CC chính quyền cấp cơ sở và chính quyền tỉnh Theo đó, các tiêu chí đánh giá CC địa phương, cấp cơ sở được
bổ sung các thông số về tăng trưởng xanh và mức độ hài lòng của CC ở Trung ương, người dân địa phương đối với tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi công vụ của CC cơ sở
Trang 27- Cuốn sách “Deregulating the Public Service – Can Government Be Improved?” (Bãi bỏ quy định về dịch vụ công - Chính phủ có thể cải thiện được
không?) [139] của tác giả John J DiIulio, Jr, Nxb Brookings Institution tái bản năm 2011, nghiên cứu về nền công vụ các cấp, đã chỉ ra rằng, công vụ ở chính quyền cơ sở (công vụ địa phương) cũng như công vụ của Bang và công vụ Liên bang, đều phải đối mặt với một vấn đề nan giải là: Người CC tài năng, tận tụy nhất, được đào tạo bài bản và trả lương tốt nhất, được quản lý, lãnh đạo phù hợp nhất cũng như những CC bình thường không thể phục vụ sự nghiệp công tốt, nếu
họ phải làm việc dưới quyền những người bảo thủ và theo các quy định cứng nhắc, thiếu sáng tạo và dung túng cho sự thiếu hiệu quả trong hoạt động Đây là những vấn đề thực chất đang ngày ngày hiện diện ở bất kỳ công sở nào, tuy khác nhau về mức độ, tần suất và biểu hiện Và để giải quyết vấn đề này, Ủy ban Nhà nước về nền công vụ Bang và nền công vụ địa phương do Thống đốc Bang Mississippi, ông William F Winter đề xướng là bãi bỏ các quy định cứng nhắc, rập khuôn trong quản lý đội ngũ CC mà cần quản lý theo các giá trị Làm như vậy để có thể loại bỏ những hiện tượng thủ tiêu sự sáng tạo, đi làm đủ giờ hành chính nhưng không đảm bảo năng suất lao động, và qua đó gia tăng sự hấp dẫn của nền công vụ địa phương, cởi mở hơn với những người tài, năng động và tâm huyết cống hiến cho nhân dân, thu hút họ vào làm việc và phát triển sự nghiệp trong nền công vụ địa phương Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được các hạn chế của phương án cải cách theo hướng quản lý không thông qua quy chế này và đồng thời chưa đề cập được đầy đủ các điểm ưu việt của cơ chế quản lý CC nói chung, CC địa phương nói riêng dựa trên giá trị
- Công trình “The Use of Rewards in Civil Service Management” (Việc sử
dụng các hình thức khen thưởng trong quản lý dịch vụ dân sự) [144] của tác giả Richard Boyle đã chỉ ra các kinh nghiệm thành công của Cộng hòa Ai-len trong việc quy định đa dạng các hình thức khen thưởng và việc áp dụng đan xen linh hoạt các hình thức khen thưởng để tăng cường động lực thực thi công vụ Tuy nhiên, công trình chưa làm rõ được những điểm khác biệt trong nền công vụ địa
Trang 28phương và công vụ Nhà nước, từ đó, chưa chỉ ra cụ thể hình thức khen thưởng nào áp dụng có hiệu quả hơn đối với đội ngũ CC địa phương
- Sách “International Handbook on Civil Service Systems” (Sổ tay về Hệ
thống Dịch vụ Dân sự) của tác giả A Massey [136] đã chỉ ra kinh nghiệm của Nhật Bản trong quản lý CC và những vấn đề trong thực hiện chính sách tinh giản biên chế, nhất là tinh giản biên chế CC địa phương Nền công vụ Nhật Bản gồm khối công vụ Nhà nước và khối công vụ địa phương với quy mô khối Trung ương khoảng 1 triệu CC và khối địa phương, cơ sở gồm 3 triệu người Đến năm
2006, trước các áp lực về tài chính công, Nhật Bản đã thực hiện chính sách tinh giảm biên chế, trong vòng 5 năm giảm 4.6% CC ở khối công vụ địa phương, tuy nhiên có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Công trình “The Palgrave Handbook of Decentralisation in Europe”
(Cẩm nang về phân quyền ở Châu Âu) [140] của tác giả José Manuel Ruano và Marius Profiroiu đã tổng hợp các đặc điểm chung của nền công vụ địa phương ở một số quốc gia Châu Âu, trong đó chỉ ra vai trò của người CC địa phương trong quá trình đẩy mạnh phân cấp một số chức năng, nhiệm vụ từ nền công vụ Trung ương xuống công vụ địa phương Đây là một công trình nghiên cứu công phu, tổng hợp được các đặc điểm chung trong quản lý công chức CC địa phương và phát huy giá trị của đội ngũ CC địa phương ở từng quốc gia thành viên để đóng góp chung vào sự phát triển nền công vụ của Liên minh nói chung
- Công trình“Nâng cao năng lực làm việc và năng lực lãnh đạo cho cán
bộ, viên chức cấp cơ sở” [98] của Lý Thạch (Trung Quốc) đề cập đến vai trò của
CBCC cấp cơ sở và đặt vấn đề làm thế nào để nâng cao năng lực và tố chất của đội ngũ CBCC cấp cơ sở trong tình hình mới, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng “chính quyền phục vụ”, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐTBD cán bộ cấp cơ sở
Mặc dù các công trình này không nghiên cứu trực tiếp về pháp luật CC cấp cơ sở một cách tổng thể, toàn diện mà chỉ quan tâm đến các quy định cụ thể như: tiêu chuẩn, tuyển dụng, ĐTBD, chế độ lương, chính sách đãi ngộ, …nhưng
Trang 29nội dung của các công trình này giúp NCS nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn
về pháp luật CCCX ở Việt Nam, từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX của Việt Nam một cách toàn diện hơn
1.3 Nhận xét về tình hình nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã đạt được
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan pháp luật về CCCX, có thể thấy nổi bật một số kết quả sau:
Về lý luận
- Các vấn đề lý luận pháp luật về CCCX như: Khái niệm, vai trò, đặc điểm của CCCX và điều chỉnh pháp luật về CCCX, các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX thường được các nhà nghiên cứu phân tích dựa trên các văn bản quy định của pháp luật về CBCCCX nói chung và trong mối quan hệ giữa pháp luật về CBCCCX với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và đẩy mạnh cải cách HCNN
- Một số nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh đối với CBCCCX được khảo sát, nghiên cứu chỉ ra khá cụ thể trên các phương diện như: địa vị pháp lý, tiêu chuẩn, tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, đánh giá, phân loại, khen thưởng, kỷ luật, chế độ đãi ngộ và phân cấp quản lý
- Luận chứng khá rõ vai trò quan trọng của pháp luật về công vụ, CC đối với xây dựng đội ngũ CCCX nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về CCCX trong giai đoạn hiện nay
Về thực tiễn
- Thực trạng đội ngũ CCCX được nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung cơ bản: số lượng, chất lượng, cơ cấu Từ thực trạng số lượng và chất lượng của đội ngũ CCCX, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của đội ngũ này và xác định nguyên nhân làm cơ sở đề xuất những giải pháp khắc phục
- Thực trạng điều chỉnh pháp luật và tổ chức thực hiện các VBQPPL điều chỉnh đối với CBCCCX, trong đó có CCCX được phân tích, đánh giá một cách khá cụ thể trong giai đoạn trước khi Luật CBCC năm 2008 có hiệu lực Từ đó,
Trang 30các nhà nghiên cứu chỉ ra những kết quả và hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, CCHC và hội nhập quốc tế
- Một số bài viết bước đầu phân tích thực trạng pháp luật về CCCX qua thời gian triển khai Luật CBCC từ năm 2010 đến nay, đã chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định điều chỉnh đối với 5 chức danh Do đó cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống các quy định điều chỉnh đối với 7 chức danh CCCX, từ đó đề xuất những giải pháp xây dựng đội ngũ CCCX trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp
Về giải pháp
- Các công trình nghiên cứu đề xuất quan điểm, phương hướng xây dựng đội ngũ CBCCCX trên cơ sở quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ CBCC và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
- Phần lớn các công trình nghiên cứu về CCCX đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối với đội ngũ này theo hướng sửa đổi, bổ sung các các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, tuyển dụng, ĐTBD, lương và chính sách đãi ngộ đối với từng chức danh CCCX cụ thể
- Một số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về CCCX trên phương diện tổng thể các quy định pháp luật đối với đội ngũ CBCCCX nói chung và đề xuất các giải pháp bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến CBCCCX như; đổi mới cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, tăng cường ĐTBD và nhất là chính sách, chế độ đãi ngộ đối với CCCX
1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Mặc dù vấn đề xây dựng đội ngũ CBCCCX và hoàn thiện pháp luật về CCCX đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên, hầu hết các công trình đều đề cập đến pháp luật về CBCC hoặc CBCCCX nói chung, trong đó có CCCX Hơn nữa, sau khi Luật CBCC năm 2008 có hiệu lực, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách tổng thể, toàn diện hệ thống VBQPPL về CCCX Phần lớn các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chỉ
Trang 31dừng lại nghiên cứu riêng rẽ từng nội dung của các quy định Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về CCCX là rất cần thiết và theo đó, luận án tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
Về lý luận
Thứ nhất, luận án tiếp tục nghiên cứu làm rõ đặc điểm, vai trò của CCCX
trong mối tương quan với CC nói chung và CB cấp xã Đây là một trong những căn cứ quan trọng để hoàn thiện các quy định điều chỉnh của pháp luật phù hợp đối với CCCX nhằm xây dựng đội ngũ CCCX có trình độ, năng lực và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu CCHC nhà nước
Thứ hai, luận án phân biệt rõ các đặc điểm, vai trò của pháp luật về CCCX
so với pháp luật về CC và CBCCCX nói chung; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX Với việc kế thừa các công trình nghiên cứu đã có, luận án tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn, đầy đủ hơn những đặc điểm của pháp luật về CCCX; bổ sung những đặc điểm và yếu tố mới chưa được đề cập trong những công trình nghiên cứu
Thứ ba, về nội dung điều chỉnh pháp luật đối với CCCX: trên cơ sở kế
thừa nội dung điều chỉnh pháp luật về CCCX của các công trình nghiên cứu, luận án tiếp tục xác định các nội dung điều chỉnh căn cứ vào tính liên ngành, tính đồng bộ, tính thống nhất của pháp luật về CCCX
Về thực tiễn
Luận án tiếp tục phân tích cụ thể các nội dung quy định của pháp luật và thực trạng tổ chức thực hiện quy định pháp luật về CCCX, cụ thể:
- Quy định về nghĩa vụ và quyền của CCCX: hiện có các ý kiến khác nhau
về sự cần thiết có quy định riêng về nghĩa vụ và quyền của CB cấp xã được bầu
cử theo nhiệm kỳ và CCCX được tuyển dụng, bổ nhiệm như CC các cấp huyện, tỉnh Mặt khác, các quy định về tính liên thông giữa CBCX và CCCX có điểm chưa hợp lý Hơn nữa, đối với CCCX, cần phân biệt CC phường ở các đô thị với
CC xã, thị trấn để bảo đảm yêu cầu quản lý thống nhất, thông suốt của chính
Trang 32quyền đô thị Luận án phân tích và làm rõ những nội dung bất cập này của pháp luật hiện hành về CCCX
- Quy định về tiêu chuẩn đối với CCCX: công tác chuẩn hoá đội ngũ CC, trong đó có CCCX là một trong những nhiệm vụ quan trọng đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước ở địa phương Tuy nhiên tiêu chuẩn của CCCX theo quy định hiện hành có trình độ chuyên môn tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên là chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã
và khó đảm bảo tính liên thông với CC cấp huyện Vì vậy, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định về tiêu chuẩn trình độ chuyên môn của CCCX khi tuyển dụng theo từng đối tượng chức danh CCCX
- Quy định về tuyển dụng CCCX: có ý kiến cho rằng nên quy định tuyển dụng CCCX không phải là người của địa phương để khỏi bị ảnh hưởng bởi quan
hệ dòng tộc, họ hàng trong quá trình giải quyết công việc; có ý kiến lại cho rằng cần tuyển dụng CCCX là người của địa phương vì họ am hiểu phong tục, tập quán của địa phương đó nên khi giải quyết công việc hợp lý, hợp tình, được người dân đồng thuận cao Mặt khác, theo quy định hiện hành, UBND cấp huyện quản lý và tổ chức tuyển dụng CCCX, nhưng trong thực tế để đảm bảo khách quan và hiệu quả, nhiều địa phương đề nghị giao cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này Vì vậy, luận án nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định này được hiệu quả trong thực tiễn áp dụng
- Với việc kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã có, luận án tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật điều chỉnh về: bố trí, sử dụng; ĐTBD; đánh giá, phân loại; thi đua, khen thưởng; chính sách đãi ngộ; phân cấp quản lý CCCX trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra những hạn chế của các quy định này trong quá trình triển khai, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp
- Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật về CCCX, gồm 7 chức danh CCCX, tức là gồm cả chức danh là Chỉ huy trưởng quân sự cấp xã và Trưởng công an xã Đây là khoảng trống mà từ trước đến nay các công trình nghiên cứu về pháp luật đối với CCCX hầu như chưa đề cập
Trang 33Về giải pháp
- Các công trình nghiên cứu đã có đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX thường chỉ dành cho từng chức danh hoặc gộp chung giải pháp cho CCCX Luận án có nhiệm vụ đề ra các giải pháp cụ thể, phù hợp với đặc điểm của 7 chức danh CCCX
- Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX căn cứ vào đặc điểm, nhiệm vụ của CCCX và chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã theo quy định mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong Nhà nước pháp quyền XHCN
- Mặc dù các công trình nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX, nhưng phần lớn các giải pháp chưa chú trọng tính liên ngành, tính đồng bộ, tính thống nhất của pháp luật điều chỉnh đối với CCCX Luận án cố gắng khắc phục hạn chế này để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX được đồng bộ, khả thi hơn
1.4 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết 1 Pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay điều chỉnh đồng nhất, cứng nhắc với tất cả các chức danh CCCX cũng như giữa CCCX ở đô thị (phường, thị trấn) và ở nông thôn (xã) nên chưa phù hợp với thực tiễn Do đó, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung pháp luật về CCCX theo hướng bảo đảm sự phù hợp với đặc thù chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh CCCX và ở các địa bàn nông thôn, miền núi, đô thị khác nhau
- Giả thuyết 2 Các quy định của pháp luật hiện hành về nghĩa vụ và quyền của CCCX; về tuyển dụng, sử dụng, ĐTBD, đánh giá, phân loại, khen thưởng, kỷ luật, chế độ, chính sách đãi ngộ và phân cấp quản lý CCCX có nhiều điểm bất hợp lý, ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ CCCX trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp Đây là hạn chế, bất hợp lý trong hệ thống pháp luật về CCCX, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện nhằm thực hiện hiệu quả chính sách đối với CCCX ở nước ta hiện nay
Trang 34- Giả thuyết 3 Việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về CCCX ở nhiều địa phương hiện đang gặp phải một số khó khăn, vướng mắc nhất định, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CCCX Do đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế
1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Ở Việt Nam, CCCX có những đặc thù nào so với đội ngũ CC và CBCX? Pháp luật về CCCX của Việt Nam có những đặc điểm, vai trò và nội dung nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến pháp luật về CCCX ở nước ta hiện nay?
- Pháp luật điều chỉnh về CC cấp cơ sở của các nước trên thế giới có giá trị tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật về CCCX ở Việt Nam như thế nào?
- Thực trạng quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về CCCX có những ưu điểm, kết quả và hạn chế, vướng mắc nào? Những nguyên nhân nào ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật về CCCX ở Việt Nam hiện nay?
- Để hoàn thiện pháp luật về CCCX, góp phần xây dựng đội ngũ CCCX trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, cần quán triệt các quan điểm và thực
hiện những giải pháp nào?
Trang 35- Các công trình nghiên cứu pháp luật về CCCX chủ yếu tiếp cận từ các quy định của pháp luật đối với CCCX, chưa chú ý xem xét từ khía cạnh chức năng, nhiệm vụ của CQĐP ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về CCCX
- Sau khi Luật CBCC năm 2008 được ban hành, chưa có công trình nghiên cứu (sách, luận án) chuyên sâu về pháp luật CCCX Phần lớn các bài viết
đề cập đến những quy định cụ thể như: tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền hạn, tuyển dụng và chế độ, chính sách… mà chưa nghiên cứu hệ thống VBQPPL về CCCX trong tính tổng thể của chúng
- Các công trình mà NCS đã nêu trong Chương tổng quan có tác dụng đáng kể cho quá trình thực hiện luận án; là một trong những cơ sở để NCS kế thừa đánh giá, phân tích và đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về CCCX một cách toàn diện và có tính khả thi
Trang 36CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về công chức cấp xã
2.1.1 Khái niệm pháp luật về công chức cấp xã
2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của công chức cấp xã
a) Khái niệm công chức cấp xã
Ở Việt Nam, thuật ngữ “công chức” lần đầu tiên được đề cập trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Quy chế công chức Theo đó, “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là CC theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [19, Điều 1]
Trên cơ sở Pháp lệnh CBCC năm 1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý CC đã cụ thể hóa khái niệm CC “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”
Luật CBCC năm 2008 xác định rõ nội hàm khái niệm CC: “CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng
Trang 37lương từ ngân sách nhà nước; đối với CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [88, Khoản 2, Điều 4]
Như vậy, theo quy định trên, CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập
Khác với đội ngũ CC nhà nước được thừa nhận ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, khái niệm CCCX được chính thức thừa nhận sau khi Pháp lệnh CBCC sửa đổi, bổ sung năm 2003 và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ “Về chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn” Trước thời điểm đó, những người làm việc ở UBND cấp xã được gọi chung là “cán bộ xã, phường, thị trấn”
Căn cứ quy định của pháp luật, có ý kiến cho rằng “CCCX là công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng, được giao giữ một chức trách chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” [122] Hoặc,
“CCCX là công dân Việt Nam đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng về chuyên môn, nghiệp vụ, phù hợp với các điều kiện thực tế của cấp xã theo quy định của pháp luật về CCCX được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [70] Có thể nói, các quan niệm về CCCX thường chỉ ra đặc trưng cơ bản của CCCX là được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã
Theo Luật CBCC năm 2008, CCCX là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Trang 38Cụ thể hơn về chức trách, “CCCX làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm
vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao” [8] Như vậy, CC và CCCX có nét tương đồng bởi cùng là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; chỉ khác nhau chủ yếu bởi vị trí làm việc và chức danh đảm nhiệm Nếu CC làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -
xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện thì CCCX lại làm việc ở UBND cấp xã
và theo 7 chức danh chuyên môn đã được quy định Đây là điểm khác biệt chủ yếu để phân biệt hai đối tượng này
Có thể thấy rằng, khái niệm CCCX phần lớn được các nhà nghiên cứu đưa
ra dựa trên quy định của pháp luật, hoặc trích dẫn quy định của luật để sử dụng làm khái niệm trong các công trình nghiên cứu [63, tr49] Theo quy định của pháp luật hiện hành, CCCX đảm nhận các chức danh chuyên môn sau: Trưởng công an xã; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Quy định như vậy đã hướng đến các chức danh CC theo
vị trí việc làm Bên cạnh đó, khác với CBCC nói chung, CCCX được pháp luật quy định cụ thể về các chức danh và số lượng người theo từng chức danh căn cứ vào đơn vị hành chính cấp xã
Như vậy, có thể hiểu, CCCX là công dân Việt Nam đáp ứng các yêu cầu
về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Trang 39b) Đặc điểm của công chức cấp xã
Là một bộ phận của đội ngũ CBCC, đặc điểm đặc thù của CCCX được quy định bởi vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của cấp chính quyền cơ sở So với đội ngũ CC nói chung, CCCX có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, CCCX là những người gần dân nhất trong đội ngũ CC nhà nước Trong đội ngũ CC nhà nước thì CCCX là những người làm việc trực tiếp
với người dân, gần dân nhất Đội ngũ này thường sống trên cùng địa bàn với người dân và họ tham mưu, giúp chính quyền cấp xã quản lý các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, môi trường, an ninh, quốc phòng trên địa bàn cơ sở
và trực tiếp giải quyết các dịch vụ công liên quan đến đời sống nhân dân Trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ của mình, CCCX là những người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân, góp phần truyền tải pháp luật đến với nhân dân thông qua giải quyết các công việc liên quan tới quyền và lợi ích của nhân dân và do đó, họ là người thấu hiểu nhất những tâm tư, nguyện vọng của người dân, cũng như những vướng mắc, bất cập của chính sách, pháp luật khi áp dụng trong thực tế
Thứ hai, mỗi chức danh CCCX đảm nhiệm nhiều lĩnh vực công tác Theo
quy định của pháp luật, UBND cấp xã phải giải quyết nhiều công việc chuyên môn thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau Mặc dù chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh CCCX đều được quy định khá cụ thể, nhưng trên thực tế do hoạt động của UBND cấp xã, mỗi chức danh CCCX đảm nhận công việc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ chức danh CC Văn phòng - thống kê hoặc chức danh
Tư pháp – hộ tịch, ngoài các nhiệm vụ theo quy định hiện hành, tùy theo từng địa phương, có thể được giao đảm nhiệm thêm công tác văn thư, lưu trữ tại UBND cấp xã
Chính vì mỗi chức danh CCCX kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực công tác nên Chính phủ ban hành quy định về số lượng CCCX đối với chức danh CC địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã) và chức danh văn hoá
- xã hội được bố trí 2 người để đảm bảo có CC theo dõi về các mảng nhiệm vụ
Trang 40này Đồng thời, Chính phủ đã ban hành quy định về phụ cấp kiêm nhiệm với CCCX để tránh thiệt thòi cho các đối tượng này
Thứ ba, CCCX thiếu tính ổn định so với CC nhà nước từ cấp huyện trở lên So với đội ngũ CC hành chính nhà nước, CCCX có nhiều thay đổi hơn do
vừa chịu sự quản lý về ngành dọc của các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn vừa chịu sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp xã CCCX thuộc quyền quản lý của UBND cấp huyện, nhưng do Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp bố trí, phân công nhiệm vụ nên có thể bị điều chuyển công tác, thay đổi nhiệm vụ theo nhiệm kỳ của Chủ tịch UBND cấp xã sau mỗi kỳ bầu cử Mặt khác, trên thực tế, đội ngũ CCCX là nguồn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở nên sau các kỳ bầu cử thường có sự biến động, thay đổi Điều này xuất phát từ đặc thù của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước ta là có sự liên thông, bổ sung giữa CB và CC, nhất là ở cấp xã
Bên cạnh đó, sự thay đổi về đơn vị hành chính cấp huyện, xã và điều chỉnh loại hình đơn vị hành chính từ xã thành phường, thị trấn cũng là một trong những lý do khiến các chức danh CCCX có sự thay đổi nhất định về địa bàn công tác và nhiệm vụ chuyên môn Đặc điểm thiếu ổn định này của CCCX ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ này
Thứ tư, CCCX gồm cả lực lượng vũ trang bán chuyên trách Theo quy
định, CCCX có chức danh Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng quân sự cấp
xã Trưởng Công an xã thuộc lực lượng công an xã và là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã
Khác với công an phường, thị trấn là lực lượng chính quy, Công an xã gồm các chức danh: Trưởng Công an xã, Phó Trưởng Công an xã và công an viên, trong đó chỉ có Trưởng Công an xã là CCCX được hưởng lương và phụ cấp theo ngạch, bậc và chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và phụ cấp thâm niên khi có thời gian công tác liên tục từ đủ 60 tháng trở lên Theo quy định của pháp