1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang.

71 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự nhất trí của nhà trường Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, giảng viên hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở tôi đã tiến hành thực tập tại trại lợn nái sinh sản của bà Ngô Th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

MA THỊ THÙY DƯƠNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÕA, TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

MA THỊ THÙY DƯƠNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÕA, TỈNH BẮC GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Diệu Thùy

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

Trong suốt thời gian học tập ở trên ghế nhà trường và thời gian thực tập tại cơ sở em luôn nhận được sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân tôi dã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y cùng các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Phạm Diệu Thùy đã luôn quan tâm dìu dắt tận tình chỉ bảo đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi xây dựng và hoàn thiện bài khóa luận này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới cô Ngô Thị Hồng Gấm chủ trại Ngô Thị Hồng Gấm 2 tại Hiệp Hòa Bắc Giang cùng cán bộ công nhân viên tại cơ sở

đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Ma Thị Thùy Dương

Trang 4

Để trở thành một kĩ sư, bác sĩ giỏi được xã hội công nhận, mỗi sinh viên khi ra trường cần trang bị cho mình vốn kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và hiểu biết xã hội Do vậy thực tập trước khi ra trường là một việc hết sức quan trọng đối với sinh viên nhằm giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học vận dụng lý thuyết vào thực tế sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc Qua đây sinh viên nâng cao trình độ áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, tính sáng tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết và giỏi tay nghề, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Được sự nhất trí của nhà trường Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, giảng viên hướng dẫn cũng như sự tiếp nhận của cơ sở tôi đã tiến hành thực tập tại trại lợn nái sinh sản của bà Ngô Thị Hồng Gấm tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Giang với đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại ngô thị hồng gấm, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang”

Sau thời gian thực tập với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc do vậy tôi đã hoàn thành xong khóa luận Do trình độ, thời gian, kinh phí có hạn và bước đầu con bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu nên khóa luận của em không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế, em mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô, bạn bè để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 40

Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trong 3 năm từ 2015 – 2017 45

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái 46

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lƣợng lợn con của lợn nái 47

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh sát trùng tại trại 48

Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 49

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 51

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 52

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con 53

Trang 6

Cs : Cộng sự

Kg

G

Ml Nxb

: Kilogam : gam : Mililit : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự

TT : Thể trọng

Trang 7

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 1

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn 5

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 6

2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và những yếu tố ảnh hưởng 10

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 13

2.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 19

2.2.5 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 23

2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 27

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 34

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 34

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 35

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 37

Trang 8

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 37

3.3 Nội dung thực hiện 37

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 37

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 37

3.4.2 Phương pháp thực hiện 37

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 39

4.1 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày 39

4.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con 40

4.3 Các thao tác thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con 42

4.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 43

4.4.1 Quy trình chăm sóc nái nuôi con 43

4.5 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại 45

4.6 Tình hình sinh sản của lợn nái 46

4.7 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 47

4.8 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm 48

4.8.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 49

4.9 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trang trại 50

4.9.1 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản 51

4.9.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 52

4.10 Kết quả thực hiện phẫu thuật trên đàn lợn con tại trại 53

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ÐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

I Tài liệu tiếng Việt 57

II Tài liệu tiếng nước ngoài 59

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc của nước ta và nhiều nước trên thế giới, vì nó cung cấp một nguồn thực phẩm lớn giàu dinh dưỡng cho con người, bên cạnh đó nó còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho cây trồng và các sản phẩm phụ như da, mỡ để phục

vụ cho công nghiệp chế biến Và một vai trò quan trọng nữa của ngành chăn nuôi lợn là mang lại nguồn thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào xóa đói giảm nghèo ổn định đời sống nhân dân.Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi lợn nước ta cũng đang dần phát triển cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế, chăn nuôi lợn nước ta đang chuyển dần từ chăn nuôi quy mô nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại Và các kĩ thuật chăn nuôi tiến bộ cũng đã được người chăn nuôi chú trọng áp dụng nhằm mục đích nâng cao năng suất chăn nuôi

Để có thể phát triển ngành chăn nuôi lợn thì việc chăn nuôi lợn nái là khâu đầu tiên và quyết định đến sự thành công của ngành chăn nuôi lợn, vì chăn nuôi lợn nái quyết định đến việc tăng số lượng chất lượng và tốc độ sinh trưởng phát triển của đàn con nuôi thịt

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập chúng tôi thực hiện chuyên đề:

“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”

1.2.Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái đẻ và lợn nái nuôi Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản

Trang 10

Nắm được khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn đối với từng giai đoạn mang thai

Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 11

Phần 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Trại Ngô Thị Hồng Gấm thuộc huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là trại gia công của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ

Hiệp Hòa là một huyện trung du thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Giang Huyện lỵ là thị trấn Thắng cách thành phố Bắc Giang 30 km và cách thủ đô Hà Nội 50 km theo đường bộ Phía Đông Bắc giáp huyện Tân Yên, phía Đông giáp huyện Việt Yên, phía Nam giáp vùng đồng bằng châu thổ Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh, phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn của Hà Nội, phía Tây Bắc giáp các thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên

Hiệp Hòa cũng là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, độ nghiêng theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam, đồi núi và gò thấp ở một số

xã phía Bắc, vùng đồng bằng tập trung ở phía Đông Nam và giữa huyện Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.110 ha (tức 201 km2

), trong đó đất nông nghiệp là 13.479 ha chiếm 67%, đất lâm nghiệp 190,3 ha chiếm 0,9%, đất chưa sử dụng 1.653,2 ha chiếm 8,2% Ðất đai đa dạng, thích nghi với nhiều loại cây trồng về lương thực, thực phẩm, công nghiệp

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm Nhiệt độ trung bình 23 – 24oC, lượng mưa trung bình mỗi năm 1.650 - 1.700mm, nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm

Trang 12

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại có đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật giỏi giàu kinh nghiệm thực tế,

có ban lãnh đạo nhiệt tình nhiệt tình giàu năng lực Hơn nữa trại có đội ngũ công nhân yêu nghề có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề

Trại gồm có: - 1 quản lí chịu trách nhiệm quản lí thu chi và nhân sự của trại

- 1 kĩ sư diều hành công việc sản xuất

- 1 kĩ thuật chuồng đẻ

- 6 công nhân

- 1 người cấp dưỡng

- 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản của trại

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

- Hệ thống chuồng trại

Hệ thống chuồng trại được xây dựng trên nền đất cao dễ thoát nước được bố trí tách biệt với khu hành chính và hộ gia đình, được xây theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa hè ấm áp về mùa đông, xung quanh khu sản xuất có hàng rào bao bọc và có cổng ra vào riêng Trại có tổng diện tích là 16.779,7 m2

Trang trại được xây dựng với quy mô phù hợp theo hướng chăn nuôi kiểu công nghiệp

ấm áp về mùa đông, có tường bao quanh để ngăn chặn dịch bệnh từ ngoài

Trang 13

vào Nền chuồng được xây nghiêng và có hệ thống cống thoát phân và nước thải Hệ thống nước sạch được đưa về từng ô chuồng, đảm bảo việc cung cấp nước sạch tự động đến từng ô chuồng và nước phục vụ cho việc tắm lợn, xịt chuồng hàng ngày

- Các công trình khác

Gần khu chuồng trại cho xây dựng một nhà ăn nghỉ trưa, một nhà kho chứa đồ, một kho cám, một nhà sát trùng và khu chứa vôi Ngoài ra còn có kho cơ khí chứa các dụng cụ để sửa chữa hay thay thế những thiết bị đã bị hỏng Kho thuốc có chữa đầy đủ các trang thiết bị dụng cụ thú y như dao mổ, panh, kim tiêm, xi lanh, kìm bấm tai, máy cắt đuôi, máy mài nanh, thuốc sát trùng và các loại thuốc thú y khác Trại còn xây dựng một phòng tinh để phục

vụ việc pha tinh trùng và theo dõi một số chỉ tiêu liên quan đến hoạt lực của tinh trùng

Bên cạnh đó trại còn xây dựng 3 giếng khoan và các bể chứa nước để phục vụ cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất, 2 bể biogas

Khu hành chính của trại gồm có 1 phòng quản lí 1 phòng kĩ sư 1 hội trường rộng rãi làm nơi hội họp cho cán bộ công nhân viên

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn

2.1.2.1 Thuận lợi

- Trại được xây dựng với cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi

- Có được một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ và nhiều năm kinh nghiệm trong nghề

- Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại

- Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

Trang 14

- Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi tốt đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại

- Có nhiều lúc trại xảy ra tình trạng thiếu nhân lực

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.1.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết phòng bệnh hơn chữa bệnh nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể ngăn chặn hay hạn chế được bệnh sảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy việc phòng bệnh cũng như chữa bệnh đều phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp

cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [20], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hóa của vật chủ Khi môi

Trang 15

trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm

nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa

to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 – 30oC đối với lợn con sơ sinh và 28 - 30oC đối với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo không ẩm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín đáo, ấm áp vào mùa đông

và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [18] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ chuồng lợn nái đã được co sạch, phu sát trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc bằng các loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng cách là rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần

phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn

Trang 16

trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1- 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.1.2 Ðiều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [7] nguyên tắc điều trị bệnh là:

- Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng

Trang 17

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [7] các để biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện

vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng

Trang 18

kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,

bổ sung thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và những yếu tố ảnh hưởng

2.2.2.1 Sinh lý tiết sữa

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình phức tạp, nó có sự khác biệt rất lớn so với những loài gia súc khác đó là bầu vú của

nó không có bể sữa, nên lợn mẹ không thể tùy tiện tiện tiết sữa và lợn con không phải lúc nào cũng có thể bú được sữa mẹ

Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo khi lợn con thúc

vú mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não vào vùng Hypothalamus, từ kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích tố này đi

Trang 19

vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau, những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn vú ở phần sau

Lợn con thúc vào vú mẹ sau khoảng 5 - 7 phút thì sữa sẽ tiết ra và thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây nên một ngày lợn con cần phải bú khoảng 20 - 25 lần /ngày và mỗi lần sữa tiết ra một lượng khoảng 25 - 30g/con

Lượng sữa của lợn nái tiết tăng dần từ lúc mới đẻ cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng quyết định đến tỷ lệ nuôi sống cũng như sự tăng trưởng của lợn con, nó là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Cho nên sự hiểu biết về thành phần của sữa lợn mẹ có vai trò quan trọng

đó là cơ sở đưa ra quyết định chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái

Để tạo thành 1 lít sữa cần có khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú Sữa đầu được tiết ra trong vòng 2-3 ngày đầu sau đẻ nó có đặc điểm là màu vàng, đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Các thành phần của sữa đầu như prôtein, vitamin đều cao hơn so với sữa thường, lượng vật chất khô đạt 22,30% còn sữa thường là 19,6% tuy nhiên hàm lượng chất béo khoáng và lastoze lại thấp hơn Đặc biệt là chứa nhiều kháng thể ã glucobin và nhiều chất khác bảo vệ lợn con khỏi sự tấn công của các vi trùng gây bệnh Lượng ã glucobin có khoảng 50% tổng số protêin trong sữa đầu sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ ã glucobin chỉ sảy ra trong những giờ đầu sau sinh (24 giờ) Do vậy sữa đầu đóng một vai trò cực kì quan trọng đối với lợn con theo mẹ

Sản lượng sữa của lợn mẹ trong 5 ngày đầu sau khi đẻ là 4,55kg/ngày năng lượng là 1202 Kcal/kg, lượng vật chất khô, khoáng prôtêin, chất béo và đường lastose lần lượt là: 19,2; 0,74; 6,41; 6,88 và 5,16% theo thứ tự

Trang 20

2.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, thức ăn dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng…

- Giống và cá thể:

Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng xuất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví dụ như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg

Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến khả năng suất sữa trong thời

kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có thể trạng trung bình Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn cho lợn

mẹ trong những ngày đầu tiên sau đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn mức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa

- Tuổi và lứa đẻ:

Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, bắt đầu ổn định từ lứa 3 - 8, sau đó giảm dần theo sự tăng của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào phát triển chưa hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú, còn ở những lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng Nghiên cứu về vấn

đề này người ta thường thấy bình quân số ống dẫn sữa của lợn nái đẻ nhiều lứa là 2,1 trong khi đó lợn nái đẻ lứa đầu chỉ có 1,9 mà số ống dẫn sữa nhiều hay ít đều có liên quan đến sản lượng sữa cao hay thấp

- Số con đẻ ra/ lứa:

Khi nghiên cứu về vấn đề này tác giả Smith (1995) [29] cho biết: Nếu

số lượng con đẻ ra/ lứa cao thì sản lượng sữa/chu kỳ cao, song lượng sữa của

1 con bú được trong 8 tuần sẽ ít và ngược lại Ông đã tiến hành nghiên cứu

Trang 21

trên 2 lô lợn nái: Một lô lợn nái đẻ bình quân 4,8 con/ lứa, thì một con trong 8 tuần bú được 33 kg sữa Một lô lợn nái đẻ bình quân 12,4 con/lứa, thì 1 con trong 8 tuần bú được 24,3 kg sữa Nhưng tính cả chu kỳ tiết sữa của lợn nái

đẻ nhiều con sẽ có sản lượng sữa cao hơn lợn nái đẻ ít con, lô đẻ ít con chỉ có 158,4 kg trong khi đó lô đẻ nhiều con đạt 301,32 kg

- Nuôi dưỡng và chăm sóc:

Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng sữa, vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa , do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn Nhưng trong thực tiễn khi sử dụng khẩu phần có tỷ lệ chất béo cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình chế biến

Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến thành phần hóa học của sữa Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình chọn lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp vào máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào

Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa của lợn nái, các tác động không thích hợp như đánh đuổi lợn , gây tiếng động mạnh trong khu vực chuồng lợn nái nuôi con… đều gây ức chế quá trình tiết sữa của lợn nái Ngoài ra, nếu chăm sóc không chu đáo dễ gây cho lợn mẹ các bệnh như viêm vú, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sữa

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa

Nuôi dưỡng lợn nái chửa chúng ta cần cung cấp dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ,

Trang 22

một phần tích lũy cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị

đẻ lứa đầu thì cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn lên nữa Giai đoạn chửa kỳ 1,2 dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14 %, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn Nhưng ở giai đoạn 2, mức ăn cần phải tăng từ 15 - 20 % so với giai đoạn chửa kỳ 1 Giai đoạn chửa kỳ 1 do bào thai chưa phát triển vì vậy nhu cầu dinh dưỡng chủ yếu cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể lợn mẹ, một phần không đáng kể để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ 2, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp

đủ chất dinh dưỡng cho bào thai phát triển ở giai đoạn cuối để lợn con sinh ra đạt được khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau: Giống

và khối lượng nái chửa, giai đoạn chửa, thể trạng của lợn nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ như nái chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn lợn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15°C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25 - 30°C để tăng khả năng chống rét cho lợn

Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15%, vì ngoài cung cấp dinh dưỡng cho bào thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ Lợn chửa cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột và cho ăn thêm rau xanh Trong trường hợp chăn nuôi công nghiệp không có điều kiện cho ăn rau xanh thì thức ăn cần bổ sung đầy đủ các thức ăn, khoáng và vitamin để tăng cường chuyển hóa thức ăn để chống táo bón Trước khi đẻ một tuần cần giảm thức

ăn đạm để phòng bệnh căng vú sau đẻ Số bữa ăn/ngày: Ngày cho ăn hai bữa sáng, chiều Cho ăn thức ăn tinh trước, ăn rau xanh sau nếu có Cung cấp đủ nước sạch cho nái chửa Nguồn thức ăn sử dụng cho lợn nái chửa: Nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn hỗn hợp và bổ sung thêm rau

Trang 23

xanh càng tốt, một ngày từ 3 - 4 kg rau xanh/nái (cho nái chửa kỳ 1), và từ 2 -

3 kg/con/ngày (chửa kỳ 2) Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng (lợn nái nội) có thể cho ăn các thức ăn địa phương có sẵn như ngô, cám gạo, bột sắn, đậu tương, hoặc trộn phối các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ quy định Thức ăn của lợn nái chửa có nhu cầu phối hợp nhiều loại thức ăn, mùi vị phải thơm ngon, không bị hôi thối, hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt Trước lúc lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao

Không cho lợn nái chửa ăn những loại thức ăn có chất độc , thức ăn bị hôi thối, mốc, các chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu , khô dầu bông, hoặc bỗng bã rượu Không nên sử dụng quá nhiều thức ăn khô dầu để nuôi lợn nái có chửa, sẽ tạo cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ nuôi sống kém Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 30 ngày đầu sau khi phối giống có chửa, kể cả lợn nái gầy Vấn đề quan trọng trong công tác chăm sóc quản lý lợn nái chửa là phòng bệnh sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát triển bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc gây sảy thai nhất là trong giai đoan chửa kỳ 2 Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào chuồng quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp,

do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái chửa kỳ 1 chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với lợn nái quá béo

Thực tế đã chứng minh rằng, một cơ sở chăn nuôi khó khăn về tài chính, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng tốt, lợn con có sức sống cao Thời gian

Trang 24

vận động hợp lý là 1 - 2 lần trên ngày với 60 - 90 phút/ lần, lợn nái chửa kỳ 2 thì hạn chế cho vận động, trước khi lợn đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân chơi Chú ý, khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, vận động cho lợn uống nhiều rãnh thì không cho lợn vận động Trước khi nước đầy đủ để lợn không uống nước bẩn ở trên bãi chăn

Tắm chải cho lợn chửa là điều rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để làm tăng cường trao đổi chất , tuần hoàn, tạo cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái, kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn chửa cần tiến hành hàng ngày, đặc biệt là mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn chửa Chuồng trại phải đảm bảo đúng theo quy định cho lợn nái chửa, theo từng thời kỳ chửa Mật độ nhốt: Chửa kỳ 1 mỗi lô từ 3 - 5 con, chửa kỳ 2 nhốt 1 con một lô Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn chửa kỳ 2 có thể nhốt mỗi con một cũi Trước khi đẻ 1 tuần cần chuyển lợn lên cũi đẻ Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Cần tạo không khí yên tĩnh , thoải mái cho lợn chửa nghỉ ngơi, dưỡng thai, không gây tiếng

ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng xấu đến lợn Mỗi nái chửa cần có một phiếu theo dõi về hình thức chửa như thời gian chửa, những biến cố sảy

ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai… để có biện pháp xử lý đề phòng Bên cạnh đó thì chúng ta phải chú trọng đến công tác thú y đối với lợn nái chửa Trước khi chuyển lợn nái sang chuồng đẻ, ô chuồng cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng omidicine hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại

ký sinh trùng cho lợn nái Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện

Trang 25

không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem có nóng, sốt không để có biện pháp can thiệp kịp thời

2.2.3.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái nuôi con

Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt, lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như

bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mì, loại củ quả, đạm động vật, các loại khoáng, vitamin… Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0 %, P 0,7 %.16

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con

- Trong quá trình nuôi con, lợn nái được chăn như sau:

+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức

ăn từ 1- 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho lợn ăn 4 kg TĂHH/nái/ngày + Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho lợn mẹ ăn theo công thức tính: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy, ít sữa thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày

Trang 26

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn thêm từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh, nếu có rau xanh

+ Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30 %

+ Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

+ Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ

- Kỹ thuật cho ăn

+ Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau

+ Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định

+ Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

+ Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần

+ Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời

- Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:

+ Vận động: Là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú

ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin

Trang 27

+ Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24°C, ẩm độ là

70 - 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con

Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5m chuồng/1 lợn nái và 15m sân chơi/1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên chuồng sàn thì kích thước 2,4m x 1,6m, với mỗi cũi cho lợn mẹ trong chuồng

có kích thước từ 2,2 - 2,4m x 0,7m

2.2.4 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ

Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn bú sữa là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và nâng cao được sức sống của lợn con

Trước tiên là khâu trực đẻ phải đảm bảo để tỷ lệ số con sơ sinh còn sống cao nhất, đây là công việc rất cần thiết, lợn con đẻ ra được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng, mũi, đầu, mình, bốn chân Sau đó cắt rốn, sát trùng và cho vào lồng úm, lồng úm phải đảm bảo nhiệt độ để giữ ấm cho lợn con Tiếp theo với tiến hành bấm nanh, bấm số tai, cắt đuôi và thiến lợn đực Cần phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt

Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp

- Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn

về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể

mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt , lợn con dễ bị mắc bệnh , còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Trang 28

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa

đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này

để giảm tỷ lệ chết

- Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn

mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi

đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,

do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo , lợn con rất dễ còi cọc , mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp

Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:

- Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

- Bổ sung sắt cho lợn con

- Tập cho lợn con ăn sớm

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho

Trang 29

những con đẻ trước bú trước Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng ã globulin mà sữa thường không có cung cấp kháng thể cho lợn con Ngoài ra, Mg2+ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg2+

thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây

ỉa chảy sẽ kiến tỷ lệ chết của lợn con cao Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu Theo quy luật tiết sữa của lợn nái, thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn những vú phần bụng,

mà lợn con trong một ô thường có con to con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú ở những vú phần trước ngực có nhiều sữa hơn, dẫn đến tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, trường hợp những con lợn yếu không tranh bú được sẽ bị đói làm cho tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú ở những vú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi kiên trì, tỉ mỉ, bắt từng con cho bú và để chúng quen hẳn với vị trí bú thì mới thôi Cũng có những trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn bú ở những vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen với 2 vú, để tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh teo vú của lợn mẹ

Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 3 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt

10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường

Trang 30

cung cấp thêm 200 mg Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn của bà Ngô Thị Hồng Gấm tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần Triệu chứng điển hình của thiếu sắt chính là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường tiêm ở cổ

Tập cho lợn con ăn sớm:

Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

- Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách

dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị

- Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)

- Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn

Trang 31

sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung Thường bắt đầu tập ăn từ 7 - 10 ngày tuổi, với lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ Với chuồng lợn nái đẻ cũi, máng tập ăn để ở ngăn lợn con Với chuồng lợn nái nuôi con nền truyền thống thì máng tập ăn để vào ô sưởi ấm lợn con Rắc thức ăn vào máng ít một và nhiều lần trong ngày để thức ăn luôn mới, mùi thơm hấp dẫn cho lợn con ăn Nếu tập đều đặn thì 20 ngày tuổi thì lợn con đã biết ăn tốt Nếu không được tập ăn thì đến 30 ngày tuổi lợn con mới ăn thêm được nhiều, nhưng còn tùy thuộc vào lượng sữa của mẹ, nếu sữa lợn mẹ ít thì lợn con tự biết ăn sớm hơn và ngược lại

Nếu cho rằng lợn mẹ là một đơn vị sản xuất lợn thì việc chăm sóc lợn con từ lúc đẻ đến lúc cai sữa được cải thiện, sẽ làm tăng số lợn con cai sữa/lợn mẹ/năm Bình quân người chăn nuôi thiệt hại hơn 25% lợn con còn sống lúc sơ sinh đến trước lúc cai sữa Hơn 42% số lợn con sống bị hao hụt trước cai sữa đã chết vì đói hoặc dẫm đạp Việc quản lý tốt sẽ làm giảm số lợn chết và có thể tăng thêm số lợn con cai sữa/lợn mẹ/năm

2.2.5 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

Sau khi lợn nái sinh sản xong thì bên cạnh việc chăm sóc cho lợn mẹ để đảm bảo sức khỏe tốt thì việc chăm sóc quản lý lợn con là hết sức quan trọng, đây là chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Lợn con theo mẹ sức đề kháng bệnh tật chưa cao, dễ cảm nhiễm bệnh, trong đó hội chứng tiêu chảy lợn

Trang 32

con xảy ra rất phổ biến Chính vì thế mà công tác phòng và trị hội chứng tiêu chảy lợn con rất được chú trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản

2.2.5.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa

Lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh

Lợn con hay gia súc nói chung đều có thời kỳ bào thai phát triển tốt thì

sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Nhìn chung khả năng phát triển của lợn nhanh hơn so với một số loài gia súc khác Khối lượng khi cai sữa của lợn

2 tháng tuổi gấp 10 - 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé chỉ tăng 3 - 4 lần So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần Tuy nhiên tốc độ sinh trưởng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu về sau thì giảm, sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do từ sau 21 ngày khối lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu lợn con thấp

Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng đồng hóa và trao đổi chất của lợn rất mạnh Ví dụ: Lợn con 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích lũy 9 - 10 g protein/kg thể trọng, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy 0,3 - 0,4 g protein/kg thể trọng

Cơ quan tiêu hóa của lợn giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện như sau: Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần

và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lợn lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc

Trang 33

20 ngày tuổi gấp 20 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) Một vấn đề cần được chú ý ở giai đoạn lợn con là trong 25 ngày đầu mới đẻ ra , men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, do dịch vị chưa có HCl tự do nên hệ vi sinh vật trong dạ dày dễ lên men gây tiêu chảy cho lợn con Khi tìm hiểu về hệ thống men tiêu hóa trong đường tiêu hóa của lợn con mới sinh ta thấy:

+ Men pepsin: Đây là men quan trọng để tiêu hóa thức ăn, nhưng nếu không cho lợn con tập ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu mới đẻ ra, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày còn chưa có HCl tự do sẽ không kích hoạt được pepsinogen thành men pepsin hoạt động Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh

+ Men amilaza và mantaza: Có trong nước bọt và dịch tụy của lợn con

từ lúc mới đẻ, nhưng hoạt động kém trước 3 tuần tuổi, chỉ tiêu hóa học được 50% lượng tinh bột ăn vào, sau 3 tuần tuổi hoạt động của men này mới mạnh lên thì khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con mới tốt hơn

+ Men saccaraza: Hoạt lực của men này kém dưới 2 tuần tuổi, nếu cho lợn con ăn saccaraza rất dễ bị tiêu chảy

+ Men tripsin: Là men tiêu hóa protein của thức ăn, ở thai lợn trong hai tháng tuổi đã có men tripsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao Khi mới đẻ ra, men tripsin của dịch tụy rất cao, để bù đắp lại khả năng tiêu hóa kém protein của men pepsin trong dạ dày

+ Men catepsin: Là men tiêu hóa protein trong sữa, lợn con ở 3 tuần tuổi đầu men này có hoạt tính mạnh, sau đó giảm dần

+ Men lactaza: Có tác dụng tiêu hóa đường Lactose trong sữa, men này

có hoạt tính mạnh từ khi lợn mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ hai, sau giảm dần

Trang 34

+ Men lipaza và chymosin: Hai men này có hoạt lực mạnh trong 3 tuần đầu sau đó giảm dần

2.2.5.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch ở lợn con

Lợn con mới đẻ, lượng kháng thể tăng nhanh sau khi bú sữa đầu từ lợn mẹ, cho nên khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lượng sữa đầu của lợn mẹ

Phản ứng miễn dịch là khả năng của cơ thể đáp ứng với vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể Trong giai đoạn lợn con các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể rất dễ dàng, ở giai đoạn này không được bú sữa đầu thì khả năng lợn con mắc hội chứng tiêu chảy rất cao

Lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 30 ngày tuổi mới tự tổng hợp được kháng thể Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là hết sức cần thiết và không thể bỏ qua

2.2.5.3 Nhiệt độ chuồng nuôi đối với lợn con sơ sinh

Yêu cầu về nhiệt độ môi trường: Trong chuồng của lợn nái đẻ nuôi con thì yêu cầu về nhiệt độ đối với lợn mẹ và lợn con trong từng giai đoạn là có sự khác nhau Đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp dao động từ 15 – 24oC khi nhiệt

độ trong chuồng cao hơn 24o

C thì lợn nái sẽ giảm tính thèm ăn giảm năng suất sữa Trong khi đó đối với lợn con đặc biệt là lợn con những ngày đầu mới sinh thì trung tâm điều chỉnh lợn con chưa hoàn chỉnh lợn con chưa thể

tự điều chỉnh được nhiệt độ cơ thể của mình khi nhiệt độ môi trường xuống thấp, do đó nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của lợn con Biên độ dao động nhiệt độ thích hợp đối với lợn con trong thời kì lợn con theo mẹ là từ 21 - 33oC Vì vậy để nhiệt độ trong khu vực chuồng lợn nái đẻ vừa thích hợp cho lợn mẹ vừa thích hợp cho lợn con là một vấn đề không hề đơn giản

Trang 35

Vậy nên để tạo được nhiệt dộ thích hợp cho lợn con trong điều kiện lợn

mẹ không phải chịu nhiệt độ cao thì nhất thiết phải có ô úm trong đó có bóng đèn để sưởi ấm, đặc biệt vào những ngày mùa đông, mùa thu và vào tất cả những ngày mới sinh của tất cả các mùa trong năm Có thể sử dụng bóng đèn hồng ngoại với công suất là 100 W, 175 W, 225 W để sưởi ấm ngoài ra nó còn có tác dụng diệt khuẩn trong ô chuồng lợn con Dưới đây là một khuyến cáo nhiệt độ thích hợp cho lợn con trong thời kì lợn con theo mẹ:

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] viêm tử cung là một quá trình bệnh

lý thường sảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá hủy các tế bào

tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [11], Nguyễn Hữu Phước (1982) [19] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe

Ngày đăng: 22/11/2017, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội, Trang 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội
Năm: 2000
2. Bilken (1994), Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: Bilken
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
3. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
4. Trần Thi ̣ Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con , Nxb Nông nghiê ̣p TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thi ̣ Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p TpHCM
Năm: 2004
5. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nxb Đại học Nông nghiệp
Năm: 2012
9. Dương Mạnh Hùng (2012), Giống vật nuôi, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống vật nuôi
Tác giả: Dương Mạnh Hùng
Năm: 2012
10. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
11. Phạm Sỹ Lăng , Phan Đi ̣ch Lân , Trương Văn Dung (2002), Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biê ̣n pháp phòng tri ̣, tâ ̣p II, Nxb Nông nghiê ̣p Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bệnh phổ "biến ở lợn và biê ̣n pháp phòng tri ̣
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng , Phan Đi ̣ch Lân , Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2002
12. Phạm Sỹ Lăng (2009) Bệnh phổ biến ở lợn tập 2 Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn tập 2
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
13. Phạm Sỹ Lăng , Nguyễn Văn Quang , Bạch Quốc Thắng (2006), 17 bê ̣nh mới của lợn, Nxb Lao Động - Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 17 bệnh mới của lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng , Nguyễn Văn Quang , Bạch Quốc Thắng
Nhà XB: Nxb Lao Động - Xã Hội
Năm: 2006
14. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
16. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
17. Pierre brouillt và Bernarrd farouilt (2003), Điều trị viêm vú lâm sàng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Điều trị viêm vú lâm sàng
Tác giả: Pierre brouillt và Bernarrd farouilt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
18. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2004
19. Nguyễn Hữu Phước (1982), Một số bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh ở lợn
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1982
20. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), “Nghiên cứu chế tạo vacxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, Trang 324 - 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin "E.coli " uống phòng bệnh phân trắng lợn con”," Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
21. Đỗ Quốc Tuấn (2005), Bài giảng sản khoa và bệnh sản khoa gia súc, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản khoa và bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Đỗ Quốc Tuấn
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm