1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại tại trại Ngô Thị Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm một số phác đồ điều trị.

71 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 780,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản của trại .... Bệnh viêm tử cung ở lợn nái gây tổn thương đường sinh dục sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

MÃ THỊ KIỀU

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI

TẠI TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân, em còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể và cá nhân

Trước hết, em gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy

cô giáo đã giúp đỡ em trong sốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Hồ

Thị Bích Ngọc đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để em hoàn thành báo cáo đề

tài tốt nghiệp

Đồng thời em xin chân thành cảm ơn chủ trại nái ngoại bà Ngô Thị

Hồng Gấm, các anh kỹ sư và toàn bộ công nhân viên trong trang trại đã tạo

điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt công việc trong quá trình thực tập của mình

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người thân yêu luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để em được trưởng thành hơn trong cuộc sống sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 4 tháng 06 năm 2017

Sinh viên

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 41

Bảng 4.2 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 42

Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả thú y tại cơ sở 47

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái 49

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng theo dõi 51

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn nái mắc bê ̣nh viêm tử cung theo lứa đẻ 52

Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 54

Bảng 4.8 Ảnh hưởng của hình thức sinh đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung 55

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị 56

Bảng 4.10 Khả năng sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 57

Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 58

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LH: Lutein Hormone

PGF2α: Prostaglandin F2α

MMA: Mastitis - Metritis – Agalactic

(Hội chứng viêm vú, viêm tử cung và mất sữa) FSH: Follicle Stimulating Hormone

ml: Mililite

VNMTC: Viêm nội mạc tử cung

VCTC: Viêm cơ tử cung

VTMTC: Viêm tương mạc tử cung

Nxb: Nhà xuất bản

VTC: Viêm tử cung

VTM: Viêm tương mạc

KHKT: Khoa học kỹ thuật

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 10

2.2.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 10

2.2.2 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái ngoại 17

2.2.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 25

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 27

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

2.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 30

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34

3.3 Nội dung nghiên cứu 34

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 34

3.4.1 Các chỉ tiêu 34

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 35

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

Trang 7

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Công tác chăn nuôi và thú y tại cơ sở thực tập 39

4.1.1 Công tác chăn nuôi 39

4.1.2 Công tác thú y 40

4.1.3 Công tác khác 47

4.2 Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học 49

4.2.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản của trại 49

4.2.2 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng 50

4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 52

4.2.4.Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 54

4.2.5 Ảnh hưởng của hình thức sinh đẻ đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung 55

4.2.6 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 55

4.2.7 Khả năng sinh sản của lợn nái sau khi điều trị 57

4.2.8 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 58

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 8

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái gây tổn thương đường sinh dục sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại không thụ thai, có thể dẫn tới vô sinh, mất khả năng sinh sản ở lợn nái

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà cả về chất lượng của sản phẩm phải đảm bảo về dinh dưỡng, đặc biệt là phải an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu đó ngoài những yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý thì công tác thú y cần được chú trọng để hạn chế bệnh tật, nâng cao chất lượng chăn nuôi

Trong chăn nuôi lợn thì lợn nái có vai trò quan trọng làm tăng số lượng cũng như chất lượng của đàn lợn Tuy nhiên, lợn nái thường mắc một số biến chứng trước và sau đẻ làm giảm năng suất, phẩm chất đàn lợn như: Bệnh viêm vú, viêm tử cung, mất sữa sau khi đẻ là bệnh hay gặp ở lợn nái làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến kinh tế của ngành

Nhằm hạn chế bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Ngô Thị Hồng Gấm huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa

Bình chúng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng bệnh viêm tử cung

Trang 9

trên đàn lợn nái ngoại tại trại Ngô Thị Hồng Gấm, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm một số phác đồ điều trị"

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại

trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

-Thử nghiêm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị bệnh viêm

tử cung ở đàn nái ngoại nuôi tại trại

- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn nâng cao năng suất đàn lợn góp phần vào

sự phát triển kinh tế đất nước

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Tìm hiểu đúng, đầy đủ về thực trạng mắc bệnh viêm tử cung của trang trại

-Số liệu đưa ra dưới dạng bảng biểu

-Thực hành công tác thú y cơ sở và công tác chăn nuôi

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1.Cơ sở vật chất của trang trại

*Điều kiện tự nhiên:

Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau - xã Hợp Thanh - huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Trại được xây dựng xa khu dân

cư, cách quốc lộ 21 khoảng 3km, trại luôn đảm bảo độ thông thoáng, không ảnh hưởng tới môi trường

Trong trại có hệ thống ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, lượng nước được cung cấp chủ yếu thông qua lượng nước mưa tự nhiên Mặt khác qua đánh giá

sơ bộ cho thấy trại có trữ lượng nước ngầm khá phong phú, lượng nước ngầm nông, khả năng khai thác và sử dụng tương đối dễ dàng Hiện nay đã được trại khai thác và sử dụng để phục vụ cho sinh hoạt và chăn nuôi

- Vị trí địa lý

Hợp Thanh là một xã thuộc huyện Lương Sơn, thành phố Hòa Bình Xã nằm ở phía nam của huyện Lương Sơn, cách trung tâm huyện Lương Sơn 40km Xã có tổng diện tích tự nhiên 17,76 km², dân số năm 1999 là 3372 người, mật dộ dân số đạt 197 người/km²

Trại có vị trí tương đối thuận lợi cách quốc lộ 21 khoảng 3km về phía Đông, xa trường, xa chợ, nhưng thuận tiện giao thông

- Lãnh thổ của trại chạy dọc dài theo hướng Đông Tây

Phía Bắc giáp xã: Long Sơn

Phía Nam giáp xã: Thanh Nông

Phía Đông giáp xã: Thanh Lương

Phía Tây giáp xã: Nam Thượng

Trang 11

Tổng diện tích của trang trại khoảng 5 ha, trong đó 1 ha dùng để chăn nuôi, 2,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại

- Thời tiết, khí hậu trong khu vực trại

Trại mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa không điển hình, một năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Nhiệt độ: Trại có nhiệt độ cao, độ chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông

có nhiệt độ trung bình lớn nhất là tháng 7 với nhiệt độ đến 34,60

C Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là: 166 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1400 - 1700mm nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: Từ tháng 4 - tháng 10, lượng mưa chiếm từ 80 - 82% tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa bình quân là 75mm/tháng

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô trùng với các tháng có nhiệt độ thấp trong năm Lượng mưa bình quân là 25mm/tháng

Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao nhất là 88% (tập trung vào các tháng 3 và tháng 4) tháng thấp nhất là: 65% (tập trung vào tháng 12)

Trang 12

- Giao thông thủy lợi

Đoạn đường liên thôn chạy qua trại được đổ hết đường bê tông, lòng

đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào vận chuyển con giống, thức ăn,

vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi

Trại có hệ thống ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài đồng ruộng ảnh hưởng đến người dân và môi trường xung quanh

* Cơ sở vật chất của trại:

- Cơ cấu tổ chức: Gồm 3 nhóm

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán

+ Nhóm công nhân: 13 công nhân, 7 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ trực đêm Có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao hiệu quả công việc, tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

- Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại nằm trên địa bàn xã chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao

thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trang 13

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng ra, cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái

cơ bản bao gồm:

+ 3 chuồng nái đẻ: Mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 2 chuồng nái chửa: Chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1 dãy 1 được thiết kế

để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ 1 chuồng đực giống: Bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh

+ 2 chuồng cách ly: Dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian

3 tháng sau khi đã làm vắc xin đầy đủ và trước khi được đưa lên giống mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè ấm áp vào mùa đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm

Trang 14

tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường

đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài

chuồng nuôi

* Tình hình sản xuất của trang trại

- Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm

Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 9,86 con/đàn Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của công ty

Trong trại có 24 lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorshire Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực

Trang 15

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

Trang 16

Công tác thú y:

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, vệ sinh cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Với phương châm phòng bệnh là chính nên tất cả lợn ở trại đều được cho uống thuốc, tiêm phòng vắc xin đầy đủ

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin được trại thực hiện nghiêm túc, đầy

đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 – 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không

gây thiệt hại lớn về số lượng của đàn lợn

Trang 17

* Thuận lợi và khó khăn

Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý

nước thải của trại còn nhiều khó khăn

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái

2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn nái

Cơ quan sinh dục của lợn nái bao gồm:

- Bộ phận sinh dục ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình

+ Âm môn: Hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có

nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)

Trang 18

+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,

giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng

có các thể hồng như con đực

+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo

Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs., 2003) [10]

- Bộ phận sinh dục bên trong

+ Âm đạo: Âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ là ống thải các chất dịch từ tử cung Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh che

lỗ âm đạo, âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong Trên bề mặt niêm mạc có nhiều thượng bì gấp nếp dọc Âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm

+ Tử cung (dạ con): Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung nằm ở trước xoang chậu, tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung

và được giữ bởi các dây chằng.Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép Gồm hai sừng thông với 1 thân và cổ tử cung

Sừng tử cung: dài 50 - 100 cm, hình ruột non thông với ống dẫn trứng Thân tử cung: dài 3 - 5 cm

Cổ tử cung: dài 10 - 18 cm, có thành dày hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc lớp cơ trơn

và lớp nội mạc

Trang 19

+ Buồng trứng: Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng

Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng

+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng gồm có phễu phần rộng và phần eo Phễu mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để ra tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, nó có thành dầy hơn phần rộng và ít gấp nếp hơn Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để nuôi dưỡng noãn duy trì sự sống và ra tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong mấy ngày trước khi phôi đi vào tử cung, nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung

2.2.1.2 Sinh lý sinh sản của lợn nái

- Sự thành thục về tính

Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết, con vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ, biểu hiện của con vật là lông mượt, tai thính, thường xuyên phá chuồng và nhảy lên lưng những con khác

Trang 20

Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh như chăm sóc nuôi dưỡng

+ Giống: các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003)[4] cho rằng: tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ

20 -25kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần,

ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng

cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý

Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc phát triển tốt, sự thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

+ Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính gia súc, những giống lợn nội nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm

Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái Theo Paul Hughes và Tilton (1996)[36], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ ngày với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái ngoài 90kg động dục là 165 ngày tuổi

Trang 21

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có được tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn

+ Tuổi thành thục về tính của gia súc

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và cs., (2003) [4] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì

ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

- Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp

lý Các biến đổi lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên được gọi là chu kỳ động dục (chu kỳ tính)

Theo Khuất Văn Dũng và cs., (2005) [7], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 18 - 22 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được

Trang 22

chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

Giai đoạn trước khi chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h

Giai đoạn chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi

có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30h

Giai đoạn sau chịu đực: lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

+ Thời điểm phối giống thích hợp

Thời điểm phối giống thích hợp: trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3h Tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ

3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu (Khuất Văn Dũng và cs., (2005) [7])

+ Mang thai: thời gian mang thái của lợn trung bình là 114 ngày (113 -

115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:

Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ

- Sinh lý đẻ

+ Quá trình sinh đẻ

Trang 23

Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2006) [9], gia súc cái mang thai trong một thời gian ngắn tùy từng loại gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống thần kinh- thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

đẻ, đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục, lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài Trước đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bắt đầu có những thay đổi, âm môn phù

to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu căng to, sữa bắt đầu tiết

+ Giai đoạn tiết sữa và nuôi con

Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức

ăn giống lợn và số lượng lợn con, lợn nái thường tiết sữa nhiều nhất vào tuần thứ 2-3 Ở những giống lợn khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào đầu vú gây nên, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa, khi lợn con thúc

bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại chuyển xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên và tuyến yên tiết ra kích tố Oxytocin, kích tố Oxytocin đến tuyến bào kích thích làm cho lợn nái tiết sữa

Qua theo dõi, sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau, các vú phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém hơn Theo Trương Lăng (2000) [12] cho biết: Vú phía trước lượng sữa tiết nhiều hơn (nên cố định cho lợn con sơ sinh

có khối lượng kém bú), vì Oxytocin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn lên vú trước nhiều sữa hơn

Trang 24

Sản lượng sữa của lợn nái phụ thuộc vào số lợn và chất lượng thức ăn

vì thế trong giai đoạn lợn nái nuôi con thì thức ăn cho lợn nái cần đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn nái ăn với khẩu phần đẩy đủ chất dinh dưỡng không những nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn nái

Ở lợn không có bể sữa do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa

mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn nái qua khối lượng đàn con

Theo Trương Lăng (2003) [13] sữa lợn nái là nguồn thức ăn có đầy đủ chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh bằng và thay thế được Do đó để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong thời gian bú sữa

2.2.2 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái ngoại

 Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tốt vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, các khu thực vật ở mỗi vùng là khác nhau Khi gia súc sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn 2005 [27])

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002) [6] viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác g iả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs., (2010) [14], Nguyễn Hữu Phước (1992) [22] bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái

Trang 25

thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và cs., (2002) [5] cho biết nguyên nhân gây viêm tử

cung là do vi khuẩn tu ̣ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết

(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…

Theo Lê Văn Năm và cs , (1999) [16] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như : do thứ c ăn nghèo dinh dưỡng , do can thiê ̣p đỡ đẻ bằng du ̣ng cu ̣ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuâ ̣t dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủ a, kết hợp với viê ̣c chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vâ ̣n đô ̣ng đã làm châ ̣m quá trình thu teo sinh

lý của dạ con (trong điều kiê ̣n cai sữa bình thường da ̣ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ ) Đây là điều kiê ̣n tốt để vi khuẩn xâm nhâ ̣p vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm

Trang 26

nhâ ̣p vào da ̣ con gây lên trong thời gian đô ̣ng đực (vì lúc đó tử cung mở ) và

do thu ̣ tinh nhân ta ̣o sai kỹ thuâ ̣t

Bê ̣nh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein trước , trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử du ̣ng quá nhiều tinh bô ̣t gây đẻ khó , viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

* Các thể viêm tử cung

Theo Đỗ Ngọc Thúy (2011) [30], Trần Tiến Dũng và cs , (2002) [6]

bê ̣nh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nô ̣i ma ̣c tử cung , viêm cơ tử cung và viêm tương ma ̣c tử cung

- Viêm nội mạc tử cung

Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: viêm nội mạc

tử cung thể cata cấp có mủ và viêm nội mạc tử cung có màng giả

- Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ

Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây xát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những mảnh tổ chức chết

Trang 27

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải

ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường (Nguyễn Huy Đăng và cs., (2010) [9]

- Viêm nội mạc tử cung màng giả

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch; dịch viêm, máu, mủ, những mảnh tổ chức hoại tử

và niêm dịch (Nguyễn Huy Đăng và cs., (2010) [9]

- Viêm cơ tử cung

Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs., (2000) [17] viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải

mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Trang 28

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

- Viêm tương mạc tử cung

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất

rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm

có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm thể Parametritis và dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn

mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, kích thích con vật biểu hiện trạng thái đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 420C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

Trang 29

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3] khi

lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để

giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone

giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong

Trang 30

giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có

mặt của vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân

tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF 2α giảm, do đó thể

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự

phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Chẩn đoán lâm sàng bê ̣nh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có

Trang 31

những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì

có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân

Bảng 2.1: Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung

Thể viêm

Chỉ tiêu

Phân biệt

Viêm nội mạc tử cung

Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản ứng

hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Trang 32

 Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002) [6] cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn, không có gấp nếp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về mặt kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây xát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung

Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được

2.2.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài

* Thuốc Hitamox L.A

Thành phần:

Amoxicillin (dưới dạng muối Trihydrate): 20 gam

Công dụng: nhiễm trùng đường tiêu hóa, nhiễm trùng đường hô hấp

(như các bệnh do Pasteurella gây ra), nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm

trùng đường sinh dục, tiết niệu (viêm bàng quang, viêm vú, viêm tử cung), nhiễm trùng sau khi giải phẫu

Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/10 - 15kg thể trọng, tiêm bắp, điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau hạ sốt, trợ sức trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh

Cơ chế tác dụng của Amoxicillin:

Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm  - lactam nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm

Trang 33

Amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn ngừa sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối cùng trong tổng hợp vách

tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy

* Vetrimoxin: Quy cách đóng lọ 20 ml

Thành phần:

Procaine Penicillin G: 20 triệu UI

Dihydrostreptomycin: 20.000 mg

Công dụng: điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết trùng,

lepto, viêm tử cung, đau móng, viêm vú

Cách dùng và liều dùng:

Cách dùng: tiêm bắp thịt, lắc kỹ trước khi sử dụng

Liều chung: 1 ml/10 – 12kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần, tiêm trong 3 – 5 ngày liên tục

Trường hợp nặng có thể sử dụng liều gấp đôi

Cơ chế tác dụng của Penicillin

Penicillin có cơ chế tác dụng gần như Amoxicillin

* Các thuốc khác:

- Anagin: quy cách đóng lọ 20 ml

Thành phần: Anagin: 250 mg

Công dụng: Anagin có tác dụng giảm sốt, giảm đau, an thần, kháng

viêm, cảm cúm, cảm nắng, tăng sức kháng bệnh Đặc biệt khi phối với các kháng sinh làm tăng hiệu quả điều trị

- Oxytocin: quy cách lọ 20 ml

Thành phần: Oxytocin: 10 UI; Tá dược vừa đủ

Công dụng: tăng co bóp tử cung khi đẻ, chống sót nhau, kích thích tiết sữa

Trang 34

Cách dùng và liều dùng: tiêm bắp thịt, tiêm dưới da hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch

Sinh sản: trâu cái, bò cái: 10 ml/con, heo nái: 6 ml/con, cừu cái, dê cái: 5ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con

Kích thích tiết sữa: trâu cái, bò cái: 3 ml/con, heo nái: 2 ml/con, cừu cái, dê cái: 1 ml/con, chó cái, mèo cái: 1 ml/con

Cơ chế tác dụng của oxytocin:

Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung, có tác dụng đẩy thai ra ngoài trong quá trình đẻ

Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của oxytocin là kích thích bài tiết sữa

Oxytocin cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bóng đái và

cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung

2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh viêm tử cung có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs., (2010) [14] thì: Bệnh viêm tử cung do vi

khuẩn Streptococcus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ

khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Trần Tiến Dũng và cs., (2002) [6] cho biết: Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Trang 35

Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như; bệnh xoắn khuẩn

(Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh

truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung Nguyễn Đức Lưu và cs., (2004) [15]

Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: Thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa

đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu

tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung (Đặng Thanh Tùng, 2011) [18]

Hội chứng MMA là một phức hợp bệnh do nhiều loại vi khuẩn gây ra

như: E coli, Pseudomonas, Proteus, Staphylococcus, Streptococcus Đây là

những vi khuẩn cơ hội, có sẵn trong môi trường, khi chuồng trại dơ bẩn sẽ tạo điều kiện gây bệnh Thai lớn, chèn ép làm giảm nhu động ruột gây táo bón và gây ứ đọng nước tiểu trong bàng quang, cổ tử cung mở làm mầm bệnh dễ tấn công Cung cấp thức ăn không cân đối và không đủ nước uống, cho nái ăn nhiều chất đạm và khoáng nhưng ít chất xơ trong giai đoạn cuối thai kỳ hoặc nái quá mập cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh MMA Và cũng đưa ra những

lý do mắc bệnh sản ở nái là do 2 nguyên nhân:

+ Điều kiện nuôi dưỡng : do khẩu phần thức ăn không cân đối (quá thiếu hoă ̣c quá thừa ), không đáp ứng theo nhu cầu phát triển của gia súc theo từng giai đoa ̣n , đă ̣c biê ̣t là trong giai đoa ̣n hâ ̣u bi ̣ làm ảnh hưởng đến việc hoàn thiện chức năng sinh lý sinh sản của heo nái

+ Do sự di truyền từ bố me ̣

Có rất nhiều các nhà khoa học đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh, từ đó đưa ra các phương pháp phòng và trị bệnh cho vật nuôi có hiệu quả

Ngày đăng: 22/11/2017, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo ná i - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội, tr 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo ná i - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2000
2. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Trần Thi ̣ Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con , Nxb Nông nghiê ̣p Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thi ̣ Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p Tp.HCM
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Kim Dung, Lê Thi ̣ Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu , Nxb Nông nghiê ̣p , Hà Nội Nguyễn Huy Đăng, Hoàng Văn Hoan (2010), Sinh lý sinh sản gia súc. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu" , Nxb Nông nghiệp , Hà Nội Nguyễn Huy Đăng, Hoàng Văn Hoan (2010), "Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thi ̣ Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu , Nxb Nông nghiê ̣p , Hà Nội Nguyễn Huy Đăng, Hoàng Văn Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2010
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2006), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
7. Khuất Văn Dũng (2005), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Khuất Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Huy Đăng, Hoàng Văn Hoan (2010), Sinh lý sinh sản gia súc. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Huy Đăng, Hoàng Văn Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2010
10. Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền thống nhân tạo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền thống nhân tạo
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
11. Nguyễn Huy Hoàng (1996), Tự trị bệnh cho heo, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự trị bệnh cho heo
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1996
12. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
13. Trương Lăng (2003), Cai sữa lợn con, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cai sữa lợn con
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
15. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bê ̣nh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội, tr 165 - 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bê ̣nh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2004
16. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong (2002), Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đằng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
19. Lê Hồng Mâ ̣n , Bùi Đức Lũng (2004), Kỹ thuật chăn nuôi lợn , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Lê Hồng Mâ ̣n , Bùi Đức Lũng
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2004
21. Nguyễn Hùng Nguyệt (2007), Châm cứu chữa bệnh vật nuôi, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
22. Nguyễn Hữu Phước (1992), Tạp chí Khoa học Nông nghiệp, Nxb KHKT Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Phước
Nhà XB: Nxb KHKT Nông nghiệp
Năm: 1992
23. Nguyễn Văn Thanh (2000), Điều trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Điều trị bệnh ở lợn
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w