MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề án Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, khái niệm “Dự án” đó và đang được sử dụng ngày càng rộng rãi. Khái niệm “Dự án” không chỉ bao gồm các dự án đầu tư trong sản xuất kinh doanh, mà cũng gồm các dự án không nhằm mục tiêu lợi nhuận và liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội khác. Một cách đơn giản có thể hiểu “Dự án “là một tập hợp các hoạt động cần thiết để tác động vào các nguồn lực hữu hạn, nhằm đạt được một mục tiêu xác định. Để quản lý các hoạt động này nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, từ lâu trên thế giới đó nghiên cứu một mụn khoa học đó là khoa học “Quản lý dự án”. Bản chất của Quản lý dự án nằm trong việc áp dụng các thành tựu trong nghiên cứu và kinh nghiệm trong thực tiễn để tổ chức, điều phối các nguồn lực hữu hạn một cách có hiệu quả nhất, trong một giới hạn nhất định về không gian và thời gian nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đó được xác định. Trong các dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, Dự án đầu tư là loại hình dự án được xã hội quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là trong xã hội theo cơ chế thị trường là mụ hình xã hội phổ biến trên thế giới hiện nay. Thuật ngữ “Dự án đầu tư” là một thuật ngữ đó được sử dụng từ lâu, ngoài ra có thêm thuật ngữ “Dự án đầu tư xây dựng công trình” mới được sử dụng trong các văn bản pháp quy của Việt Nam trong mấy năm gần đây, là để chỉ các dự án đầu tư có xây dựng công trình. Bản chất của dự án đầu tư là việc tập hợp các hoạt động có liên quan đến đầu tư các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp doanh nhân vào một đối tượng xác định để đạt được mục tiêu lợi nhuận. Với chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ hiện nay, các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước đang rất tích cực trong phát triển các dự án đầu tư tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn với thế giới, thông qua việc gia nhập nhiều tổ chức kinh tế lớn, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong đó Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico cũng không nằm ngoài thực tế này. Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam là một trong những Tổng công ty lớn của nhà nước Việt Nam có chức năng nhiệm vụ chính là thăm dò, khai, chế biến và kinh doanh các loại khoáng sản. Tổng công ty có Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico. Trong những năm qua, sự tăng trưởng trong hoạt động đầu tư của công ty đạt được là dựa trên nhiều yếu tố thuận lợi như nguồn vốn, tài nguyên khoáng sản, áp dụng công nghệ mới v.v... Tuy nhiên một đặc thù của các dự án đầu tư trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản là việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản – một loại tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, mà trong đó phần lớn là tài nguyên không tái tạo. Đồng thời với nhiệm vụ được Nhà nước giao là quản lý và tổ chức thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, công ty có một trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhân dân về việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản nhằm đem lại hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế xã hội của đất nước nói chung và về lợi ích của doanh nghiệp nói riêng. Ngoài ra việc đầu tư trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản cũng tác động lớn đến môi trường, tạo ra nhiều việc làm cho nhân dân, góp phần vào đảm bảo an ninh năng lượng và dự trữ nguyên liệu chiến lược cho quốc gia, cung cấp nguyên liệu và tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp khác. Chính vì vậy việc quản lý các dự án đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản có ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với doanh nghiệp mà cũng tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. ý nghĩa của công tác quản lý dự án và sự cần thiết hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nói chung và các dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico nói riêng chính là lý do để từ chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico” làm đề án tốt nghiệp 2. Mục tiêu của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề án là từ cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tư và từ phân tích thực trạng tình hình quản lý các dự án đầu tư tại công ty, đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những điểm yếu, cũng tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico. 3. Nhiệm vụ của đề án Từ thực trạng để đưa ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý dự án được đề án nghiên cứu, đề xuất không chỉ ở công tác quản lý tại cơ quan công ty, mà cũng tại các Ban quản lý dự án, đồng thời đề xuất phương hướng phát triển của các Ban quản lý dự án sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đây cũng là một vấn đề cần giải quyết đối với hầu hết các Ban quản lý dự án hiện nay, sau khi kết thúc dự án bàn giao đưa vào sản xuất 4. Giới hạn của đề án Đề án nghiên cứu các hoạt động của dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico từ năm 2013 2016 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Khi đánh giá một dự án đầu tư của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng như tổ chức quản lý thực hiện dự án, trước hết chúng ta cần hiểu ra những khái niệm cơ bản về dự án đầu tư cũng như phương pháp quản lý dự án. Trên cơ sở những khái niệm đầu tiên này, mỗi dự án lại có những tính chất, đặc điểm riêng mà để phân tích hiệu quả của mỗi dự án đó chúng ta phải dùng những khái niệm cơ bản làm thước đo để đánh giá bản chất của vấn đề. Trước hết ta hãy xem bản chất của đầu tư, dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư. 1.1. khái niện cơ bản về đầu tư Luật đầu tư 2017 số 672014QH13 được Quốc hội ban hành ngày 26112014 sửa đổi một số điều của Luật đầu tư số 592005QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư. Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây: Trước hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án. Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề án
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơchế thị trường ở nước ta hiện nay, khái niệm “Dự án” đó và đang được sử dụngngày càng rộng rãi Khái niệm “Dự án” không chỉ bao gồm các dự án đầu tưtrong sản xuất kinh doanh, mà cũng gồm các dự án không nhằm mục tiêu lợinhuận và liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội khác
Một cách đơn giản có thể hiểu “Dự án “là một tập hợp các hoạt động cầnthiết để tác động vào các nguồn lực hữu hạn, nhằm đạt được một mục tiêu xácđịnh Để quản lý các hoạt động này nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, từ lâu trênthế giới đó nghiên cứu một mụn khoa học đó là khoa học “Quản lý dự án” Bảnchất của Quản lý dự án nằm trong việc áp dụng các thành tựu trong nghiên cứu vàkinh nghiệm trong thực tiễn để tổ chức, điều phối các nguồn lực hữu hạn một cách
có hiệu quả nhất, trong một giới hạn nhất định về không gian và thời gian nhằmđạt được các mục tiêu của dự án đó được xác định Trong các dự án thuộc các lĩnhvực khác nhau của đời sống xã hội, Dự án đầu tư là loại hình dự án được xã hộiquan tâm nhiều nhất, đặc biệt là trong xã hội theo cơ chế thị trường là mụ hình xãhội phổ biến trên thế giới hiện nay Thuật ngữ “Dự án đầu tư” là một thuật ngữ đóđược sử dụng từ lâu, ngoài ra có thêm thuật ngữ “Dự án đầu tư xây dựng côngtrình” mới được sử dụng trong các văn bản pháp quy của Việt Nam trong mấynăm gần đây, là để chỉ các dự án đầu tư có xây dựng công trình Bản chất của dự ánđầu tư là việc tập hợp các hoạt động có liên quan đến đầu tư các nguồn lực hữuhạn của doanh nghiệp /doanh nhân vào một đối tượng xác định để đạt được mụctiêu lợi nhuận Với chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ hiện nay, cácdoanh nghiệp cả trong và ngoài nước đang rất tích cực trong phát triển các dự ánđầu tư tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâuhơn với thế giới, thông qua việc gia nhập nhiều tổ chức kinh tế lớn, trong đó có Tổchức thương mại thế giới (WTO) Trong đó Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền,Lào Cai Vimico cũng không nằm ngoài thực tế này
Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam là một trong những Tổng công ty lớncủa nhà nước Việt Nam có chức năng nhiệm vụ chính là thăm dò, khai, chế biến
và kinh doanh các loại khoáng sản Tổng công ty có Chi nhánh mỏ tuyển đồng SinQuyền, Lào Cai Vimico Trong những năm qua, sự tăng trưởng trong hoạt độngđầu tư của công ty đạt được là dựa trên nhiều yếu tố thuận lợi như nguồn vốn, tàinguyên khoáng sản, áp dụng công nghệ mới v.v Tuy nhiên một đặc thù của các
Trang 2dự án đầu tư trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản là việc khai thác, sử dụngnguồn tài nguyên khoáng sản – một loại tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhànước thống nhất quản lý, mà trong đó phần lớn là tài nguyên không tái tạo.
Đồng thời với nhiệm vụ được Nhà nước giao là quản lý và tổ chức thăm dò,khai thác, chế biến khoáng sản, công ty có một trách nhiệm trước Nhà nước, trướcnhân dân về việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản nhằm đem lại hiệu quảcao nhất về mặt kinh tế xã hội của đất nước nói chung và về lợi ích của doanhnghiệp nói riêng Ngoài ra việc đầu tư trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoángsản cũng tác động lớn đến môi trường, tạo ra nhiều việc làm cho nhân dân, gópphần vào đảm bảo an ninh năng lượng và dự trữ nguyên liệu chiến lược cho quốcgia, cung cấp nguyên liệu và tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp
khác Chính vì vậy việc quản lý các dự án đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản có
ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với doanh nghiệp mà cũng tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội ý nghĩa của công tác quản lý dự án và sự cần thiết hoàn
thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nói chung và các dự án đầu tư tại Chinhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico nói riêng chính là lý do để từ
chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico” làm đề án tốt nghiệp
2 Mục tiêu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề án là từ cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tư
và từ phân tích thực trạng tình hình quản lý các dự án đầu tư tại công ty, đưa ra cácgiải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những điểm yếu, cũng tồn tại trong công tác quản
lý dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico
4 Giới hạn của đề án
Đề án nghiên cứu các hoạt động của dự án đầu tư tại Chi nhánh mỏ tuyểnđồng Sin Quyền, Lào Cai Vimico từ năm 2013 - 2016
Trang 3tư, dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư.
1.1 khái niện cơ bản về đầu tư
Luật đầu tư 2017 số 67/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày
26/11/2014 sửa đổi một số điều của Luật đầu tư số 59/2005-QH11 của Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hoạt động đầu tư (gọi tất là đầu tư) làquá trình sử dụng các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên vàcác tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và táisản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung Xuất phát
từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểukhác nhau về đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành
các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực cóthể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Các kết quả đạtđược có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ vànguồn lực
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đêm lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớnhơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
Trang 4- Trước hết phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác
như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữucông nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trịquyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể lànguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trunghạn, ngắn hạn
- Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm
trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Những hoạtđộng ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư Thời hạnđầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi
là đời sống của dự án
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính
(biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế
xã hội) Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tàichính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnhhưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
1.2 Khái niệm về dự án và dự án đầu tư
1.2.1 Khái niệm về dự án
Ở trên chúng ta đó nhắc đến khái niệm “dự án”, vậy “dự án” là gì và cáckhía cạnh đa dạng và phong phú của công tác điều hành dự án như thế nào? Để trảlời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ đưa ra khái niệm về dự án và xem xét cách triểnkhai dự án
Theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạtđộng đặt thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng,nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới Dự ánkhông chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, dự ánkhông phải là một nghiên cứu trau tượng mà tạo nên một thực thể mới, là một nỗlực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất Trên phươngdiện quản lý, có thể định nghĩa Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ranhững sản phẩm/ dịch vụ duy nhất Nỗ lực có thời hạn có nghĩa là mọi dự án đầu
tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định Một số đặc cơ bản của dự án như sau:
- Dự án có mục đích, kết quả xác định, có chu kỳ phát triển riêng và có thờigian tồn tại hữu hạn
- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ), môitrường hoạt động “va chạm”, tính bất định và độ rủi ro cao
Trang 5- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộphận quản lý chức năng với quản lý dự án Để thực hiện thành công mục tiêu của
dự án, các nhà quản lý dự án cần phải duy trì thường xuyên mối quan hệ với các
bộ phận quản lý khác
Để hiểu một cách đúng đắn ý nghĩa của từ “dự án”, phải lấy của cả hai mặt:
ý tưởng và hành động Do đó chúng ta có thể định nghĩa: thực hiện một dự án làxác định và dẫn dắt đến thành công một tổ hợp các hành động, quyết định và hàngloạt các công việc phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi liên kết nhằm:
Đáp ứng một nhu cầu đó đề ra;
Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực;
Thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn
Chúng ta nói dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đó đề ra bởi vì dự án đượcxuất phát từ một ý tưởng, ý tưởng bắt nguồn từ một cơ hội Cơ hội này cóthể trởthành một hiện thực hay không thì quá trình thực hiện dự án phải được tiến hành Nếukhông có một nhu cầu cụ thể sẽ không có dự án
Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn vì mỗi mục tiêu mỗinhu cầu đều chỉ xuất hiện theo từng thời điểm Có thể trong giai đoạn trước mắttồn tại mục tiêu đó song nếu dự án chỉ được hoàn thành sau thời điểm dự kiến thì
có thể mục tiêu đó không cũng hoặc giảm hiệu quả lợi ích Bất kỳ sự trễ hạn nàocũng kéo theo một chuỗi nhiều biến cố bất lợi như bội chi, khó tổ chức lại nguồnlực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tư…không đáp ứng được nhu cầu sản phẩm vàođúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự án ban đầu
Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực vì khi nhắc đến dự án, người tanhìn thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phương tiện, dụng cụ, thời gian, trớtuệ… Các nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuân khổ của
dự án Vì khối lượng chi phí nguồn lực cho dự án là một thông số then chốt phảnánh mức độ thành công của dự án đối với những dự án có quy mô lớn Hầu hết các
dự án có quy mô lớn đều phải trải qua những thời kỳ khó khăn vì bất kỳ một quyếtđịnh nào cũng bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ: chủ đầu tư, nhà tư vấn và cácnhà thầu bên cạnh các đối tác cung cấp vốn, nhân lực, vật tư và các tổ hợp côngnghệ, kỹ thuật…
Vấn đề ràng buộc cuối cùng của dự án là dự án luôn tồn tại trong một môitrường không chắc chắn Tất cả các loại dự án quy mô nhỏ hay quy mô lớn đềuđược triển khai trong một môi trường luôn biến đổi Công tác điều hành dự án dovậy phải tính đến hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa
Trang 6giải pháp cho một tương lai bất định, đảm nhận và dự kiến những bất lợi có thểảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dừi và có phản ứng kịp thờiđảm bảo cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu.
1.2.2 Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộnghoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng,cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nào đó trong một khoảng thời
gian nhất định Cùng khái niệm này, Luật đầu tư năm 2014 ghi ”Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Hay Luật xây dựng ghi ” Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các
đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạonhững công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượngcông trình hoặc sản phẩm/ dịch vụ trong một thời gian nhất định” Cụ thể là, pháthiện ra một cơ hội đầu tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trướchết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác định điều kiện và khảnăng, xác định phương án tối ưu để xây dựng bản dự án đầu tư mang tính khả thiđược gọi tắt là Dự án đầu tư (Luận chứng kinh tế kỹ thuật)
Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng ”Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định”.
Nói một cách tổng quát “dự án đầu tư” là một tập hợp những đề xuất có liênquan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhấtđịnh nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng caochất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định
Tính chung của định nghĩa này vẫn nằm trong khuôn khổ các yếu tố: mụcđích, nguồn lực và thời gian Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về mục tiêuhay phương tiện cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của bảnchất dự án
1.3 Nội dung quản lý dự án đầu tư
Thực tế nội dung chính của quản lý dự án đầu tư bao gồm các công việchình thành và thực hiện sau khi đó có dự án đầu tư được phê duyệt Tuy nhiên,để
có cái nhìn tổng quát về quản lý dự án đầu tư, chỳng ta sẽ nghiên cứu từ quá trìnhlập dự án, thẩm định dự án và tổ chức thực hiện quản lý dự án
1.3.1 Lập dự án đầu tư
Trang 7Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng cơbản hay cũng gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, gồm hai công việc chính, đó là:
Thứ nhất: Xây dựng ý tưởng dự án: là việc xác định bức tranh toàn cảnh về
mục tiêu, kết quả cuối cùng và phương pháp thực hiện kết quả đó Xây dựng ýtưởng dự án được bắt đầu ngay khi dự án bắt đầu hình thành, trên cơ sở các nguồnlực của nhà đầu tư và mục tiêu đạt được cuối cùng của dự án
Thứ hai: Phát triển dự án: phát triển dự án là giai đoạn chi tiết xem dự án
cần được thực hiện như thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế
và lập kế hoạch Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất củamột dự án Nội dung của giai đoạn này bao gồm những công việc sau:
- Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức dự án
- Lập kế hoạch tổng quan
- Phân tích công việc của dự án
- Lập kế hoạch ngân sách
- Thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất
- Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết
- Lập kế hoạch chi phí và dự báo dũng tiền thu
- Xin phê chuẩn thực hiện
Đối với một dự án lớn, để thực hiện giai đoạn này một cách đầy đủ, đồngthời để tránh những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hình thành dự án và tiếtkiệm nguồn lực, cần phải thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu và phát hiện cơ hội đầu tư (Lập Báo cáo nghiên cứu cơ hộiđầu tư);
- Nghiên cứu tiền khả thi sơ bộ lựa chọn dự án (Lập Báo cáo nghiên cứutiền khả thi);
- Nghiên cứu tính khả thi của dự án (Lập Báo cáo nghiên cứu khả thi)
Trong tất cả các giai đoạn từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựngđưa dự án vào khai thác vận hành thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là quan trọng nhất,
nó tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặcbiệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) là giai đoạn quyết định hành động
hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự án Giai đoạn này mangtính chất nghiên cứu về mọi vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến hình thành dự
án, thực hiện đầu tư xây dựng, vận hành dự án sau khi đưa vào hoạt động Chính
vì vậy giai đoạn này cũng được gọi là giai đoạn lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật
Trang 8Từ ý tưởng xuất hiện do một nhu cầu nào đó đến việc luận chứng về mọi khía cạnh
để biến ý tưởng thành thực tế, hay nói cách khác, giai đoạn chuẩn bị đầu tư bắt đầu
từ khi có ý đồ đầu tư cho đến khi được cấp giấy phép đầu tư Đối với những dự ánđầu tư lớn, giai đoạn này giữ vị trí then chốt Nó đòi hỏi một đội ngũ chuyên giagiỏi, làm việc có trách nhiệm
Kết thúc giai đoạn này là đến giai đoạn thẩm định dự án đầu tư Thành côngcủa dự án phụ thuộc khá lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lượng của các kếhoạch trong giai đoạn này
1.3.2 Thẩm định dự án đầu tư
Trong giai đoạn thẩm định dự án đầu tư, Chủ đầu tư cần thẩm tra, đánh giálại toàn bộ nội dung dự án đầu tư đó được lập, về cả kinh tế và kỹ thuật, trong đóbao gồm cả việc thẩm định tổng mức đầu tư và thông qua quyết định đầu tư Quátrình này đòi hỏi sự phân tích tổng thể để nhận định các phương án đầu tư khả thi,đánh giá các khoản chi phí ban đầu, xác định những đặc điểm riêng biệt của dự án
và kết hợp với trực giác nhạy cảm nghề nghiệp, chủ đầu tư ra quyết định đầu tư.Giai đoạn chuẩn bị đầu tư được kết thúc bằng quyết định cuối cùng về đầu tư bởicác nhà đầu tư hoặc các định chế tài chính
Thông thường công tác thẩm định dự án đầu tư do các cơ quan chuyên môncủa chủ đầu tư thực hiện hoặc có thể hợp đồng với một đơn vị tư vấn để thẩm định
dự án Ngoài ra, theo quy định của Luật Đầu tư 2015, đối với các dự án vay vốntín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được tổ chức cho vay thẩm định vàchấp thuận phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết địnhđầu tư
Theo điều 51 của Luật Xây dựng năm 2014, dự án đầu tư xây dựng côngtrình trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định theo quy định của Chính phủ
Tổ chức, cá nhân thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định của mình Người quyết định đầu tư xâydựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình
1.3.2.1 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
Những yếu tố khác nhau làm nên tổng thể một dự án bao gồm các mặt kỹthuật, thị trường, tài chính, luật pháp đều phải được xem xét đánh giá kỹ lưỡng quaquá trình thẩm định dự án đầu tư
Thứ nhất, thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án Thẩm
định tư cách pháp nhân của chủ đầu tư, hồ sơ trình duyệt có đủ theo quy định của
Trang 9pháp luật, có hợp lệ hay không? Thẩm định mục tiêu của dự án để xem xét tínhphù hợp của dự án đối với các chương trình kinh tế của địa phương, vùng, ngành.
Ngành nghề trong dự án có thuộc nhóm ngành cho phép hoạt động hay ưutiên không?
Thứ hai, thẩm định về thị trường của dự án Cho phép xem xét sản phẩm của
dự án sản xuất ra phục vụ cho đối tượng nào, được kinh doanh trên thị trường địaphương, trong nước hay xuất khẩu
Sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh và ưu thế của dự án… Xem xét thịtrường là cơ sở cho việc lựa chọn quy mô dự án, thiết bị, công nghệ và dự kiến khảnăng tiêu thụ Độ chính xác của công đoạn này thường không lớn nhưng có vai tròrất quan trọng, quyết định mức độ thành công của dự án
Thứ ba, thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án Thông tin về đời sống của
dự án và tính phù hợp của công nghệ đối với dự án là tiêu thức quan trong trongcông đoạn này Nắm được thông tin này sẽ tránh cho dự án không bị hao mòn vôhình quá nhanh
Khía cạnh này thường được quan tâm ngay từ khi lập dự án, vì các chủ đầu
tư phải ra quyết định lựa chọn trang thiết bị máy móc cũng như dây chuyền côngnghệ Khâu thẩm định này đòi hỏi sự chính xác trong khâu tính toán thông số kỹthuật của dự án, kiểm tra sự phù hợp với điều kiện môi trường của các dây chuyềnsản xuất
Thứ tư, thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lý Các dự án đầu tư
muốn hoạt động hiệu quả không thể không tính đến khía cạnh nhân lực và tổ chứcquản lý Rất nhiều dự án dù tính toán chi phí và hiệu quả kinh tế chính xác vẫn thấtbại khi thực hiện trong điều kiện quản lý yếu kém, thiếu nhân lực có trình độ
Hiệu quả về kinh tế và tài chính có đạt được như dự tính hay không phụthuộc nhiều vào năng lực quản lý của cơ quan có trách nhiệm triển khai dự án
Thứ năm, thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án Đánh giá hiệu quả
của việc thực thi dự án đối với toàn bộ nền kinh tế là yêu cầu của công đoạn này
Có những dự án dù hiệu quả về mặt tài chính song cũng có thể bị loại nếu vi phạmlợi ích kinh tế quốc dân
Mặt khác, hiện nay các quốc gia đã chú trọng vào việc phát triển đi đôi vớibảo vệ môi trường Vì vậy, một tác động xấu đến môi trường cũng có thể làm chomột dự án có hiệu quả cao về mặt tài chính bị loại bỏ
Trang 10Thứ sáu, thẩm định khía cạnh tài chính của dự án Phân tích tài chính là
khâu tối quan trọng của thẩm định dự án, đòi hỏi sự tính toán cùng khả năng tổnghợp và dự đoán chính xác những dòng tiền của dự án
Là khâu cung cấp dữ liệu cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án Đặctrưng của hoạt động đầu tư dài hạn là đòi hỏi nguồn lực tài chính to lớn, thời gianthi công và vận hành dự án kéo dài, gắn liền với nhiều rủi ro, bao gồm cả rủi ro vĩ
mô và rủi ro nội tại của doanh nghiệp
Cho nên, trước khi thực hiện đầu tư, doanh nghiệp cần thực hiện tốt hoạtđộng thẩm định, nhất là công tác thẩm định tài chính, nhằm thực sự lựa chọn đượcnhững dự án đầu tư hiệu quả, góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp
2.3.2.2 Thẩn quyền thẩm định dự án đầu tư
Nghị định số 42/2017/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành ngày 5/4, sửađổi, bổ sung một số điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chínhphủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Trong đó, Nghị định 42 đã quy định cụ thể
về thẩm định dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách
Nghị định đã quy định rõ về cơ quan thẩm định đối với dự án đầu tư xây dựng sửdụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, cụ thể như sau:
Một là, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý xây dựng
chuyên ngành chủ trì thẩm định thiết kế cơ sở về các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 58 của Luật xây dựng năm 2014 (trừ phần thiết kế công nghệ) đối với dự
án do Thủ tướng Chính phủ giao, dự án nhóm A;
Dự án nhóm B, dự án nhóm C (trừ các dự án có yêu cầu lập báo cáo kinh tế
kỹ thuật) do các cơ quan ở trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước doThủ tướng Chính phủ quyết định thành lập (sau đây gọi chung là tập đoàn kinh tế,tổng công ty nhà nước) hoặc tổng công ty trực thuộc bộ quyết định đầu tư; dự ánđược đầu tư xây dựng trên địa bàn hành chính từ 02 tỉnh trở lên, trừ các dự án quyđịnh tại điểm c, đ khoản này;
Hai là, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì thẩm định thiết
kế cơ sở về các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 58 của Luật Xây dựng năm
2014 (trừ phần thiết kế công nghệ) đối với các dự án nhóm B, dự án nhóm C đượcđầu tư xây dựng trên địa bàn hành chính của tỉnh, trừ các dự án quy định tại cácđiểm a, d và đ khoản này;
Ba là, Sở quản lý xây dựng chuyên ngành trực thuộc TP Hà Nội, TP Hồ
Chí Minh chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở của dự án do Ủy ban nhân dânthành phố quyết định đầu tư;
Trang 11Bốn là, cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư chủ trì tổ
chức thẩm định thiết kế công nghệ (nếu có) và các nội dung khác của Báo cáonghiên cứu khả thi theo quy định tại Điều 58 của Luật xây dựng năm 2014, tổnghợp kết quả thẩm định, trình phê duyệt dự án; chủ trì thẩm định dự án có nội dungchủ yếu về mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhưng có cấu phần xây dựng gồmcác hạng mục công trình, công việc không quyết định đến mục tiêu đầu tư, an toàntrong vận hành, sử dụng và có giá trị chi phí phần xây dựng dưới 05 tỷ đồng;
Năm là, trường hợp tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có đủ điều kiện
năng lực và có đề nghị được tự tổ chức thẩm định, Bộ trưởng Bộ quản lý xây dựngchuyên ngành quyết định việc phân cấp, ủy quyền cho tập đoàn kinh tế, tổng công
ty nhà nước chủ trì tổ chức thẩm định dự án đầu tư xây dựng đối với dự án nhóm
B, dự án nhóm C có công trình xây dựng từ cấp II trở xuống do tập đoàn kinh tế,tổng công ty nhà nước quyết định đầu tư thuộc chuyên ngành do Bộ quản lý xâydựng chuyên ngành quản lý
Việc phân cấp, ủy quyền phải đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện theo quyđịnh của pháp luật Người được phân cấp, ủy quyền thẩm định chịu trách nhiệm vềkết quả thẩm định do mình thực hiện Kết quả thẩm định phải được gửi đến cơquan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành để theodõi, quản lý theo quy định
1.3.3 Thực hiện đầu tư
Tổ chức thực hiện quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư là nội dungchính của công tác quản lý dự án đầu tư, được thực hiện sau khi dự án đầu tư đóđược hình thành và phê duyệt Cũng ở các giai đoạn lập và thẩm định dự án đầu tưthực chất là công tác chuẩn bị đầu tư, giai đoạn này dự án chưa được hình thànhtrên thực tế (chưa quyết định đầu tư) Do vậy, để ngắn gọn, sau đây chúng ta gọitắt công tác quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư là quản lý dự án đầu tư
Quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồnlực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thànhđúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đóđịnh về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp vàđiều kiện tốt nhất cho phép Mục tiêu của quản lý dự án được mô tả về mặt toánhọc theo công thức C = f(P, T, S) Trong đó, C là chi phí, P là mức độ hoàn thànhcông việc, T là thời gian thực hiện, S là phạm vi dự án
Công thức trên cho thấy, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoànthiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm và phạm vi dự án được mở rộng
Trang 12Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăngcao sẽ phát sinh tăng chi phí, dẫn đến tỡnh trạng làm việc kém hiệu quả do côngnhân mệt mỏi vì chờ đợi, thời gian máy chết tăng theo, chi phí lãi vay ngắn hạntăng, chi phí cho bộ phận gián tiếp tăng Ba mục tiêu quản lý dự án đầu tư có quan
hệ chặt chẽ với nhau
Quản lý dự án là một dạng đặt biệt trong hoạt động quản lý Giữa các hoạtđộng sản xuất liên tục trong các doanh nghiệp và quản lý dự án có nhiều điểmgiống nhau vì đều dựa trên những nguyên tắc quan trọng và các phương pháp củakhoa học quản lý (như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp quản lýtheo mục tiêu, phương pháp quản lý tối thiểu hoỏ chi phớ, phương pháp phân bốđều nguồn lực) Tuy nhiên, có nhiều điểm khác nhau:
- Phương pháp quản lý dự án: theo mục tiêu cần đạt, thường ứng dụng trongviệc lập kế hoạch và giám sát dự án; Tối thiểu hóa chi phí được sử dụng để rútngắn thời gian thực hiện dự án; Phân bố đều nguồn lực trong một thời kỳ sao chochi phí là tiết kiệm nhất mà vẫn đảm bảo thời gian hoàn thành
- Đặc điểm của quản lý dự án: tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạmthời, được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn, quản lý rủi romột cách thường xuyờn, quản lý nhiều sự thay đổi, quản lý nhân sự giữ vị trí quantrọng trong quản lý dự án, Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp sẽ có tác dụng phân
ra trách nhiệm và quyền lực trong quản lý dự án, đảm bảo thực hiện thành công dựán
Bảng 1.1 trình bày những điểm khác nhau chủ yếu giữa quá trình sản xuấtliên tục với hoạt động phát triển và quản lý dự án
Bảng 1.2 trình bày tóm t ắ t những l ĩ n h vực quản lý chính của công tácquản lý dự án đầu tư
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa quản lý sản xuất và quản lý dự án đầu tư
Quá trình quản lý sản xuất Quản lý dự án
Nhiệm vụ có tính lặp lại liên tục Nhiệm vụ luôn có tính chất mới mẻ
Tỷ lệ sử dụng nguồn lực thấp Tỷ lệ sử dụng nguồn lực cao
Một khối lượng lớn hàng hóa dịch
vụ được sản xuất trong một thời kỳ
Tâp trung vào một loại nhất địnhhàng hóa hoặc dịch vụ (đơn chiếc)
Trang 13Thời gian tồn tại của các doanh
nghiệp là lâu dài
Thời gian tồn tại của dự án, Banquản lý dự án là có giới hạn
Các số liệu thống kê sẵn có và hữu
ích đối với việc ra quyết định
Các số liệu thống kê ít có nên khôngđược sử dụng nhiều trong các quyếtđịnh về dự án
Tổ chức theo tổ nhóm là phổ biến Nhân sự mới cho mỗi dự án
Không quá tốn kém khi chuộc lại
sai lầm
Phải trả giá đắt cho các quyết địnhsai lầm
Trỏch nhiệm ra ràng và được điều
chỉnh qua thời gian
Phân chia trách nhiệm thay đổi tuỳthuộc vào tính chất của từng dự ánMôi trường làm việc tương đối ổn
định, lâu dài
Môi trường làm việc thường xuyênthay đổi theo dụ án
Trang 14Bảng 1.2: Các lĩnh vực quản lý, theo dừi của quản lý dự án đầu tư
Chu kỳ dự án: thời gian thực hiện dự án dài và có độ bất định nên các tổ chứcthường chia dự án thành một số giai đoạn để quản lý thực hiện Mỗi giai
Đảm bảo chất lượng
Quản lý chất lượng
Quản lý nhân lực
Lập kế hoạch nhân lực
Tuyển dụng
Quản lý lương, thưởng
Quản lý thông tin
Lập kế hoạch
quản lý thông tin
Phân phối thông tin
Báo cáo tiến độ
Quản lý thời gian
Xác định công việc
Dự tính thời gianQuản lý tiến độ
Quản lý phạm vi
Xác định phạm viLập kế hoạch phạm viQuản lý thay đổi
Trang 15đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một hoặc nhiều công việc Tổng hợp cácgiai đoạn này được gọi là chu kỳ của dự án Chu kỳ dự án xác định thời điểmbắt đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án, xác định những côngviệc nào sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn và ai sẽ tham gia thực hiện Chu
kỳ của một dự án công nghiệp thường được chia thành 4 giai đoạn như trình bàytrên hình 1.1
Xây dựng Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn
ý tưởng phát triển triển khai kết thúc
Hình 1.1: Các giai đoạn của chu kỳ dự án
Quản lý dự án bao gồm ba nội dung chủ yếu thể hiện trên hình 1.2:
Điều phối thực hiện
- Bố trí tiến độ thời gian
- Phân phối nguồn lực
- Phối hợp các hoạt độngKhuyến khích động viên
Chương 2
Nguồn lực
Thời gian
Trang 16PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CHI
NHÁNH MỎ ĐỒNG SIN QUYỀN, LÀO CAI VIMICO
2.1 Giới thiệu về chi nhánh mỏ tuyển đồng Sin quyền, Lào Cai Vimico
17 thân quặng đạt trữ lượng B+C1+C2 = 53.505.028 tấn quặng,hàm lượng trungbình Cu = 1,03% tương đương với 551.254 tấn đồng kim loại,334.000 tấn oxytđất hiếm(R203), 35 tấn Au, 25 tấn Ag
Công ty Mỏ tuyển đồng Sin quyền tiền thân là xí nghiệp mỏ tuyển đồng SinQuyền Lào Cai.Từ năm 1992, xí nghiệp liên doanh đồng Lào Cai được thành lập
là đơn vị liên doanh khai thác, chế biến quặng đồng giữa công ty Kim loại màuThái Nguyên thuộc tổng công ty khoáng sản việt Nam và công ty Khoáng sảnLào cai thuộc Sở công nghiệp tỉnh lào cai Đến hết năm 2003, Liên doanh đãkhai thác được khoảng 500.000 tấn quặng nguyên khai và chế biến được 33.768tấn tinh quặng 18%Cu Ngày 17/09/2003 dự án đồng Sin quyền đã được khởicông xây dựng bao gồm các khu khai thác và nhà máy tuyển quặng, đến hết năm
2005 khu mỏ được xây dựng xong đến tháng 2 năm 2006 tiến hành chạy thử vàsau đó đi vào sản xuất
Xí nghiệp mỏ tuyển đồng Sin quyền Lào Cai được đổi tên thành Công ty
Mỏ tuyển đồng sin quyền từ ngày 01/08/2006 theo quyết định số TCCB của tập đoàn Công nghiệp than –khoáng sản Việt Nam
1960/QĐ-Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền là 1 trong những công ty con của tổngcông ty khoáng sản TKV thuộc tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam Công tythuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước hạng 2 Là 1 doanh nghiệp có tư cáchpháp nhân đầy đủ, có con dấu, hạch toán kinh tế phụ thuộc trực thuộc tổng công
ty khoáng sản TKV, được mở tài khoản chuyển chi tại ngân hàng theo phân cấp
và ủy quyền của Tổng công ty khoáng sản TKV
Trang 17Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền là 1 trong những doanh nghiệp có quy
mô sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh Lào Cai.Ngay sau khi thành lập công ty đãkhông ngừng lớn mạnh và phát triển, công ty luôn đi đầu trong việc chấp hànhnghiêm chỉnh các chính sách và pháp luật của nhà nước, tạo nguồn thu lớn chongân sách nhà nước
-Công ty có tên giao dịch: Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền.
-Tên giao dịch quốc tế: Vimico- Sin Quyen Cooper Mining and Prepration Company.
-Địa chỉ: xã Bản Vược – Huyện Bát Xát – Tỉnh Lào Cai.
-Điện thoại: 020.3898 760 Fax: 020.38987 711
* Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty:
- Thăm dò, khai thác, vận chuyển, tuyển quặng đồng và các khoáng sảnkhác để cung cấp cho công ty luyện đồng của tổng công ty hoặc tiêu thụ ra thịtrường trong và ngoài nước theo hợp đồng của tổng công ty giao
- Thiết kế, gia công, chế tạo, sửa chữa thiết bị, dụng cụ khai thác, tuyểnkhoáng, vận tải, và các thiết bị phục vụ kinh doanh của công ty
2.1.2 Bộ máy tổ chức công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền
Cơ cấu tổ chức công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền
Hiện nay Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền có 566 cán bộ công nhânviên, bao gồm 9 phòng ban chức năng và 3 phân xưởng
* 9 phòng ban chức năng bao gồm:
-Phòng kĩ thuật -Phòng kế hoạch vật tư
-Phòng tài chính kế toán -Phòng KCS
-Phòng cơ điện vận tải -Phòng tổ chức hành chính-Phòng bảo vệ -Phòng đầu tư xây dựng cơ bản-Phòng an toàn môi trường
*3 phân xưởng:
-Phân xưởng khai thác
-Phân xưởng tuyển khoáng
-Phân xưởng Cơ điện – Vận tải
Trong dó:
+ Phân xưởng khai thác: Có nhiệm vụ quản lý và sử dụng toàn bộ thiết bị,
lao động nhà xưởng, công cụ, dụng cụ …của phân xưởng theo các nội quy, quychế, quy định do công ty và tổng công ty ban hành để thực hiện công tác khoan,
Trang 18xúc bốc, vận chuyển đất đá thải, quặng đồng trong khu vực mỏ tuyển đồng sinquyền Có trách nhiệm xây dựng các nội dung, các quy chế chấm công chấmđiểm, quy chế làm việc các cấp trong phân xưởng.
+ Phân xưởng tuyển khoáng: Quản lý và sử dụng toàn bộ thiết bị, lao
động, nhà xưởng, công cụ … của phân xưởng theo các nội quy, quy chế, quyđịnh, do công ty và tổng công ty ban hành để thực hiện công tác tuyển tinh quặngđồng, tinh quặng sắt và các sản phẩm khác trong khu vực mỏ tuyển đồng sinQuyền cũng như các công việc cụ thể khác khi công ty yêu cầu
+ Phân xưởng vận tải cơ điện: có chức năng quản lý và sử dụng toàn bộ thiết
bị, lao động, nhà xưởng…của phân xưởng theo các nội quy, quy chế của công ty đểthực hiện công tác bảo dưỡng,sửa chữa thiết bị khai thác từ cấp 1000h trở lên, thựchiện công tác gia công chế tạo vật tư thiết bị cho phân xưởng tuyển khoáng và phânxưởng khai thác, công tác vận tải các loại sản phẩm tiêu thụ theo phân cấp của côngty
* Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Sơ đồ tổ chức của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến - chức năng, giámđốc là người điều hành chung và mối liên hệ giữa cấp dưới và giám đốc là 1đường thẳng, cách bố trí cơ cấu tổ chức như thế này giúp giám đốc có thể quản lýcông ty 1 cách hiệu quả hơn Cơ cấu tổ chức của Công ty Mỏ tuyển đồng SinQuyền có cơ cấu tổ chức hợp lý,có sự phân cấp rõ ràng về chức năng nhiệm vụcủa các phòng ban và các phân xưởng đã tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất củacông ty ngày càng phát triển dời sống của cán bộ công nhân viên trong công tyngày càng được cải thiện thu nhập của cán bộ công nhân viên trong công ty luôn
ổn định và đạt mức cao
Trang 19Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền
Phòng bảo vệ
Phân xưởng
cơ điện
Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm
Phòng
kế toán tài chính
Phòng
tổ chức hành chính
Phân xưởng khai
Trang 202.1.3 Kết quả kinh doanh của công ty
Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh công ty Mỏ tuyển đồng Sin quyền năm 2007 – 2008
Quặng nguyên khai khai
thác
Tấn
1.166.830 1.276.600Tuyển khoáng tinh quặng
( Nguồn: Phòng kế toán tài chính)
Công ty mỏ tuyển đồng sin quyền là công ty trực thuộc tổng công ty khoáng sảnTKV, hoạt động theo hình thức hạch toán phụ thuộc vào tổng công ty Các sản lượngcông ty khai thác theo định mức dưới tổng công ty yêu cầu Nhìn vaò bảng tổng hợpkết quả kinh doanh của công ty ta thấy 2 năm 2007, 2008 đều là 2 năm kinh doanh cólãi của công ty Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn vào những tháng cuối năm 2008
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới đối với hầu hết các công ty khoángsản, giá bán các tinh quặng khoáng sản trên thị trường thế giới giảm có khi giảmmạnh, dẫn đến nhiều công ty khoáng sản trên cả nước phải nghỉ việc, hoặc cho côngnhân nghỉ sớm,tiến hành giãn thợ…vì sản phẩm làm ra không bán được.Trong tìnhhình đó công ty Mỏ tuyển đồng Sin quyền là 1 trong những công ty vẫn tiếp tục duytrì sản xuất, đảm bảo mức sống cho công nhân Do vậy mà giá trị sản phẩm tinhquặng đồng năm 2008 thấp hơn năm 2007, giá trị sản phẩm tinh quặng sắt có tăngchút ít nhưng không đáng kể mặc dù sản lượng khai thác nhiều hơn Đầu năm 2009tình hình có vẻ được cải thiện hơn, giá bán các sản phẩm tinh quặng khoáng sản trênthị trường thế giới bắt đầu tăng trở lại, công ty lại tiếp tục sản xuất theo đúng tiến độ
Trang 21mà tổng công ty yêu cầu.
+Tinh quặng pyrit 40% S : 17.600 tấn
+Tinh quặng manhetit 65% Fe : 89.300 tấn
+Tinh quặng đất hiếm 60% ReO : 2740 tấn
Các sản phẩm mà nhà máy tuyển đồng Sin quyền làm ra được tiêu thụ chủ yếutheo kế hoạch tiêu thụ, phân bổ của Tổng công ty Than – Khoáng sản Việt NamTKV Trong đó phần lớn các tinh quặng đồng được vận chuyển tới nhà máy luyệnthuộc tổ hợp đồng Sin Quyền tại xã Tằng Loong – Huyện Bảo Thắng –Tỉnh LàoCai.Tại nhà máy luyện các sản phẩm từ tinh quặng đồng được sản xuất ra là: đồngđiện phân 99,95% ,vàng thỏi 99,95% Au, bạc thỏi 99,95% Ag, axit sunfuric 98%.Các sản phẩm tinh quặng đồng và các tinh quặng khác công ty còn giành cho việcxuất khẩu ra thị trường nước ngoài chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường TrungQuốc.Ngoài ra từ quặng thải đồng Sin Quyền công ty còn sản xuất ra hàng trăm tấnquặng manhetit siêu mịn chủ yếu cung cấp cho 2 nhà máy tuyển than Hòn Gai và CửaÔng, chất lượng tương đương manhemit nhập từ CHLB Nga,nhưng giá thành thấphơn Mặt khác manhemit do công ty Mỏ tuyển đồng Sin quyền sản xuất ra có ưu điểnhơn manhemit nhập từ Nga vì hàm lượng quặng có từ tính hơn 400 Gaus đạt trên93%, do đó giảm đáng kể tổn thất manhemit khi sử dụng là chất tạo huyền phù tuyểnthan
2.1.5 Cơ sơ vật chất của công ty
Tổ hợp đồng Sin Quyền được xây dựng với sự giúp đỡ kĩ thuật của Trung Quốc,
đó là 1 hệ thống máy móc nhà xưởng hiện đại được xây dựng,lắp đặt dưới sự giámsát của các chuyên gia Trung Quốc và các công ty xây dựng hàng đầu của Việt Nam.Các công nghệ sử dụng trong sản xuất của công ty:
- Công nghệ khai thác: lộ thiên kết hợp với hầm lò.Nếu mỏ khai thác với sảnlượng 1,0 – 1,5 triệu tấn quặng/năm thì thời gian khai thác là 40 năm, trong đó 16năm khai thác lộ thiên và 24 năm khai thác hầm lò
Trang 22- Công nghệ tuyển khoáng: bao gồm các bước là: đập nghiền – tuyển nổi lấytinh quặng thô – nghiền lại tinh quặng thô – tuyển nổi chọn riêng tinh quặngđồng,tinh quặng pyrit, tinh quặng đất hiếm Quặng đuôi cho qua tuyển từ để thu hồitinh quặng sắt Công nghệ khử nước được thực hiện theo 2 giai đoạn cô đặc và lọc.Tinh quặng đồng được làm khô bằng máy lọc sứ.
- Công nghệ luyện kim: áp dụng phương pháp Thủy Khẩu Sơn ( luyện bể) củaTrung quốc, thổi luyện Sten đồng trong lò để chuyển ra đồng thô rồi tinh luyện bằngđiện phân, xử lý bùn dương cực để thu hồi vàng bạc Thu hồi khí lò luyện kim cóchứa khí SO2 để sản xuất axit sunfuri
2.2 Thực trạng công tác quản lý các dự án tại công ty mỏ đồng Sin Quyền 2.2.1 Phân tích công tác Lập dự án đầu tư
Tuỳ theo mức độ phức tạp của dự án đầu tư Báo cáo nghiên cứu khả thi thườngđược chủ đầu tư lập hoặc thuê các đơn vị tư vấn trong hoặc ngoài Công ty thực hiện Hầuhết các báo cáo đầu tư đều do chủ đầu tư lập, có trường hợp thuê tư vấn lập Các dự
án được lập theo các quy định hiện hành (theo Nghị định 52,12, 07 và các Nghị địnhthay thế như Nghị định 16, 112) Các bản Thiết kế kỹ thuật đều do tư vấn lập Các dự
án thiết kế kỹ thuật do các đơn vị tư vấn lập đầy đủ hơn so với các dự án chủ đầu tưlập do tư vấn có tính chuyên nghiệp cao hơn Các dự án khai thác, tuyển quặng hầuhết đều do Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim lập; Các dự án mở rộng mỏ, bến cảng,đường vận tải… chủ yếu đều do Công ty tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp lập Các dự
án về bảo vệ môi trường do Công ty Phát triển Tin học, Công nghệ và Môi trường lập
Các đơn vị tư vấn của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và
Bộ Công nghiệp trong các năm qua đã có nhiều cố gắng, sắp xếp lại tổ chức, tăngcường lực lượng, đầu tư cơ sở vật chất, trang bị thêm các máy móc thiết bị trợ giúpcông nghệ cao… để thực hiện các nhiệm vụ tư vấn cho các dự án của Công ty, triểnkhai lập và duyệt 5 dự án các loại năm 2015 và trên 10 dự án năm 2016
Các dự án do tư vấn thực hiện đã phần lớn đáp ứng được yêu cầu đầu tư trongcác năm 2014 - 2015 và các năm sau, đặc biệt là các dự án trọng điểm Tuy nhiên, vẫncũng nhiều tồn tại như chất lượng dự án chưa cao, có một số dự án phải sửa đổi, bổsung nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công, thời gian thực hiện công tác tưvấn cũng chậm… Một số đơn vị (chủ đầu tư) chưa thật sự chú trọng nghiên cứuphương hướng phát triển dài hạn về đầu tư xây dựng do đơn vị quản lý để có yêu cầu
Trang 23chính xác cho cơ quan tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi và thẩm định để trìnhduyệt dự án nhất là một số dự án khai thác mở Tư vấn cũng thiếu tính độc lập kháchquan, nhiều trường hợp lập dự án theo ý chí chủ quan của chủ đầu tư, bị gũ ép thiếutính khoa học Nhiều dự án lập theo ý chí chủ quan của các chủ đầu tư do đó mụctiêu chỉ là hiệu quả khai thác mà không xem xét đến các ảnh hưởng khác của dự
án Một số dự án, tư vấn đã cố tìm cách cho dự án có hiệu quả mà không có nhữnggiải pháp tư vấn hữu ích để chứng minh hiệu quả thực của dự án Chưa tập trunglập các dự án dài hạn mà vẫn lập nhiều dự án nhỏ, vì vậy khối lượng dự án nhiềunhưng chất lượng cũng hạn chế, tốn nhiều thời gian
Cần phải chấm dứt các thiếu sót trên, khắc phục nhanh nhất việc chia nhỏ dự
án Công tác tư vấn cần được đổi mới về chất lượng và dần rút ngắn thời gian lập dự
án để đáp ứng được tốc độ đầu tư tăng mạnh của các năm tới Với tốc độ và khốilượng đầu tư như hiện nay và những năm tới, nếu không có những giải pháp quyết liệt
để nâng công tác chuẩn bị đầu tư ngang tầm với yêu cầu tốc độ đầu tư thì chính nó sẽ
là cản trở việc thực hiện các Quy hoạch phát triển ngành khai khoáng mỏ đồng SinQuyền
Vì tầm quan trọng của công tác chuẩn bị đầu tư là một trong những khâu đầutiên của quá trình đầu tư mà tư vấn là người tham gia chủ yếu Các đơn vị tư vấn cầnphải thực hiện những giải pháp cấp bách như đầu tư thêm trang thiết bị tin học, côngcông nghệ thông tin, phần mềm chuyên dụng hữu ích đủ mạnh để phục vụ thiết kế;đào tạo nhân lực, chuyên gia, hợp tác tư vấn giữa các đơn vị tư vấn trong, ngoài ngành
2.2.2 Phân tích công tác thẩm định dự án
Các dự án do đơn vị tư vấn lập đều được chủ đầu tư thẩm định sơ bộ trước khitrình cấp thẩm quyền phê duyệt Tuy nhiên, việc thẩm định của một số chủ đầu tư đốivới một số dự án cũng quá hời hợt, thiếu trách nhiệm nên chất lượng của một số dự ánkhi trình duyệt rất thấp, phải bổ sung giải trình nhiều lần, đặc biệt là các dự án về khaithác quặng và các dự án chế biến sâu, dẫn đến thời gian hoàn tất phê duyệt dự án kéodài Vấn đề này một phần đã được khắc phục so với trước năm 2011 nhưng vẫn là mộttồn tại lớn, cần phải nghiêm khắc rút kinh nghiệm và có các biện pháp khắc phụcnhanh nhất
Trong khoảng 6 năm trở lại đây, Công ty đã tổ chức thẩm định khoảng hơn 30
dự án lớn nhỏ và đã được ban Giám đốc Công ty và Hội đồng quản trị tổng Công ty