Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH HỮU NAM
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Dương Anh Sơn
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH HỮU NAM
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Dương Anh Sơn
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
TÁC GIẢ
Huỳnh Hữu Nam
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI 6
1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam 6
1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 6
1.1.2 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975 7
1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 8
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành Thừa phát lại 8
1.2.1 Vấn đề công pháp và tư pháp 8
1.2.2 Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chế định Thừa phát lại: 9
1.2.3 Thừa phát lại và sự hội nhập cộng đồng thế giới và khu vực: 10
1.2.4 Tiến trình tái lập tổ chức Thừa phát lại: 10
1.3 Khái niệm về Thừa phát lại 12
1.4 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp hiện nay 13
1.4.1 Về vai trò của tổ chức Thừa phát lại 13
1.4.2 Nhiệm vụ của tổ chức Thừa phát lại 20
1.4.3 Quyền hạn của tổ chức Thừa phát lại 21
1.4.4 Trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại 22
1.5 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại của một số nước trên thế giới 23
1.5.1 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Vương quốc Anh 23
1.5.2 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp 24
1.5.3 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa liên bang Đức 26
Kết luận chương 1 28
Trang 5Chương 2: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TẠI
VIỆT NAM 29
2.1 Tổ chức Thừa phát lại tại Việt Nam 29
2.1.1 Văn phòng Thừa phát lại 29
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Văn phòng Thừa phát lại 30
2.1.3 Đoàn Thừa phát lại 31
2.1.4 Tiêu chuẩn để trở thành Thừa phát lại 32
2.2 Các công việc mà Thừa phát lại được làm hiện nay: 33
2.2.1 Thực hiện việc Tống đạt văn bản theo yêu cầu của cơ quan Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự 33
2.2.2 Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức 37
2.2.3 Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự 40
2.2.4 Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự 44
Kết luận chương 2 49
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 50
3.1 Thực trạng về hoạt động của Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh 50 3.1.1.Về thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sư: 51
3.1.2 Về thực hiện lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức: 54 3.1.3 Về thực hiện xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự 58
3.1.4 Về thực hiện trực tiếp tổ chức thi hành các bản án quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự 60
3.2 Những tác động tích cực và hạn chế về hoạt động của tổ chức Thừa phát lại 64
Trang 63.2.1 Những tác động tích cực về hoạt động của tổ chức Thừa phát lại 64
3.2.2 Những hạn chế về hoạt động của tổ chức Thừa phát lại 68
3.3 Đề xuất một số giải pháp 71
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề xã hội hóa một số hoạt động tư pháp nói chung và một số công việc thi hành án dân sự nói riêng nhằm góp phần tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp được Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm Để đáp ứng nhu cầu hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới mà Việt Nam tham gia như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), liên minh châu Âu (EU), Hiệp định đối tác xuyên thái Bình Dương (TPP), thì pháp luật của nước ta cũng phải thay đổi, bổ sung để đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế Khi hội nhập với nền kinh tế quốc tế, sẽ phát sinh rất nhiều các tranh chấp dân sự cần phải có chứng cứ làm bằng chứng, nhằm bảo
vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng giữa các bên khi có tranh chấp xảy ra ở Tòa án hoặc Trọng tài thương mại
Thực tiễn trên thế giới thì Thừa phát lại đã có từ rất lâu và hiện diện ở phần lớn các quốc gia trên thế giới
Chế định Thừa phát lại được thực hiện thí điểm bắt đầu từ năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó mở rộng đến 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Kết quả tổng kết thí điểm cho thấy, chế định Thừa phát lại có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo tiền
đề giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết 39 – NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Bên cạnh đó, hoạt động của Thừa phát lại đã bổ sung nguồn chứng cứ, tạo thêm công cụ
Trang 8pháp lý để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong giải quyết tranh chấp; đồng thời, người dân cũng có thêm sự lựa chọn phù hợp trong việc yêu cầu thi hành án, quyết định của Tòa án
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên 2.094 km2, dân số trên 10 triệu dân, là một thành phố năng động, việc giao dịch dân sự diễn ra rất lớn và các tranh chấp dân sự cũng tỷ lệ thuận với việc giao dịch dân sự
Qua nghiên cứu tình hình từ mô hình thí điểm văn phòng Thừa phát lại đầu tiên, đến năm 2016 thực hiện đề án quy hoạch mạng lưới văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn Thành phố đến năm 2020; hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh có 11 Văn phòng Thừa phát lại hoạt động có hiệu quả Qua tổng kết hàng năm của thanh tra Sở Tư pháp cho thấy, vẫn còn nhiều hạn chế trong các hoạt động về tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án Nhằm chỉ ra thực trạng các ưu điểm, hạn chế và đề xuất những giải pháp mang tính đòn bẩy tạo động lực cho các văn phòng Thừa phát lại phát triển và hoạt đồng nền nếp, tuân thủ pháp luật đem lại lợi ích cho nhân dân, giảm tải cho hoạt động của các cơ quan tư pháp, giúp tăng cường công tác quản lý Nhà nước theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược cải cách tư pháp trong tình hình mới Tiếp cận tình hình nêu trên, đã đặt
ra nhu cầu bức thiết cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống vấn đề Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Vấn đề Thừa phát lại đã và đang là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là những năm gần đây, từ mô hình thí điểm thành công các Văn phòng Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh, Chính phủ đã ban hành các văn bản
Trang 9pháp luật nhằm triển khai thực hiện, phát triển, nhân rộng các Văn phòng Thừa phát lại trên toàn quốc Cụ thể đã triển khai các văn bản dành riêng cho
tổ chức này như: Nghị định 61/2009/NĐ – CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh, được sữa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ –
CP ngày 18 tháng 10 năm 2013, các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ,
ra còn có các đề tài, luận văn nghiên cứu của thạc sĩ, tiến sĩ; các bài viết, tham luận đăng trên các tạp chí chuyên ngành sẽ là nguồn tham khảo, hỗ trợ cho việc thực hiện luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề đặc điểm pháp lý, thực trạng hoạt động, những mặt tích cực, hạn chế, các nguyên nhân điều kiện,… của Thừa phát lại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó phân tích đánh giá các quy định của pháp luật, tìm ra những ưu điểm, hạn chế của các quy định hiện hành, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động Thừa phát lại trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về tình hình hoạt động chung của tổ chức Thừa phát lại tại Việt Nam và tập trung nghiên cứu tình hình trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh Qua nghiên cứu các thực trạng, nguyên nhân, điều kiện làm hạn chế sự phát triển của tổ chức Thừa phát lại, từ đó đề ra các giải pháp, khuyến nghị cho công tác quản lý về tổ chức Thừa phát lại trên cả nước nói chung và địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Luận văn tập trung nghiên cứu với góc độ Luật kinh tế, trong đó tập trung nghiên cứu lĩnh vực tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện
Trang 10thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành bản án của Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự của Thừa phát lại là chính
Về không gian: Luận văn được nghiên cứu từ tình hình chung của cả nước và tập trung trên địa thành phố Hồ Chí Minh
V thời gian: Luận văn được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm
2011 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở nguyên tắc quán triệt các chủ trương đường lối của Đảng , pháp luật của nhà nước về chiến lược cải cách tư pháp Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và kết hợp các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích so sánh – tổng kết thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, và sử dụng phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử, nhằm tổng kết, phản ánh hiện thực các quy định của pháp luật hiện hành về Thừa phát lại và thực trạng hoạt động của các văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh Từ đó, đánh giá các ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp
về tổ chức Thừa phát lại
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả đạt được của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thực trạng, nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh những hạn chế của tổ chức Thừa phát lại; qua đó tìm ra các giải pháp hữu hiệu để thực hiện một cách tốt nhất, phù hợp với thực tiễn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Những đề xuất kiến nghị của đề tài nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập còn tồn tại, có thể góp một phần nhỏ để các cơ quan lập pháp tham khảo, xem xét xây dựng những quy định pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam cho phù hợp và thúc đẩy sự phát triển tổ chức Thừa phát lại mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai Ngoài ra đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu các kiến thức pháp luật về Thừa phát lại
Trang 117 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1 Khái quát chung về tổ chức thừa phát lại
Chương 2 Tổ chức và hoạt động của thừa phát lại tại Việt Nam Chương 3 Thực trạng về hoạt động từ thực tiễn của tổ chức Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI
1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của tổ chức Thừa phát lại ở Việt Nam
1.1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi Vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 05 tháng 6 năm 1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam kỳ Từ đó người Pháp đã tổ chức bộ máy cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa đặt 6 tỉnh Nam kỳ là một hạt, còn mỗi tỉnh là một quận của nước Pháp Sau đó, bằng bản Hiệp ước ngày 06 tháng 6 năm 1884, Việt Nam trở thành một nước bảo hộ của nước Pháp Người Pháp đặt Thống sứ ở Bắc kỳ và Khâm sứ ở Trung kỳ đại diện cho chính quyền Pháp Ở Trung kỳ và Bắc kỳ, nhà Vua vẫn giữ quyền nội trị Quyền tư pháp vẫn thuộc về nhà Vua nhưng quyền đó đã bị hạn chế bởi sự kiểm soát của đại diện chính quyền Pháp Tuy nhiên, ở giai đoạn này Bắc kỳ và Trung kỳ chưa có chế định Thừa phát lại Những công việc như trát đòi hầu tòa, truyền phiếu,… vẫn do các môn lại, môn vệ (các sứ
giả của Vua) thực hiện Theo các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “Thừa phát lại”, văn bản chính thức đã được ghi nhận trong: “Bộ dân sự tố tụng Việt
Nam” ban hành kèm theo Nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1910; Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 – 1939; Bộ hộ sự, Thương sự tố tụng Trung kỳ năm 1942;
Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1917 và Bộ Dân sự tố tụng Bắc kỳ năm 1931; Bộ luật Dân sự, Thương sự tố tụng năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa
Thuật ngữ “Thừa phát lại” có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Huissier”, mô
hình Thừa phát lại được quy định ở các bộ luật nêu trên hầu hết đều theo khuôn mẫu mô hình của Pháp, thể hiện trong Bộ dân luật Pháp năm 1804 và
Bộ tố tụng dân sự Pháp năm 1807, khi dịch sang tiếng Việt có nghĩa là
“Chưởng tòa”
Trang 131.1.2 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, bằng việc ban hành sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ với điều kiện những điều khoản trong
các luật này “không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”, Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã ký sắc lệnh số 130/SL ngày 19 tháng 7 năm 1946, tại điều 3 quy định: “Trong các xã, thị xã hoặc khu phố, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký điều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các Tòa án Ban án ấy sẽ tùy từng việc, chỉ định một nhân viên để giao cho việc thi hành lệnh, mệnh lệnh hoặc
án Ở những nơi nào đã có Thừa phát lại riêng, thì đương sự có quyền nhờ Thừa phát lại riêng thi hành án hoặc mệnh lệnh”[ 5 ] Nhiệm vụ quản lý tổ
chức Thừa phát lại thời kỳ này được giao cho ban công lại Như vậy, những năm đầu của chính quyền cách mạng, tổ chức thi hành án dân sự ở Việt Nam tiếp tục được giao cho tổ chức Thừa phát lại đảm nhiệm
Từ năm 1950 đến năm 1975, là giai đoạn mà trong lĩnh vực thi hành án dân sự đều phải có những sự kiện pháp lý đặc biệt quan trọng diễn ra cả ở vùng tự do và vùng bị Pháp tạm chiếm, và từ sau Hiệp định Giơnevơ năm
1954, tại miền Bắc xã hội chủ nghĩa và miền Nam trong những vùng bị Mỹ - Ngụy đô hộ Bằng Sắc lệnh số 85/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 22 tháng 5 năm 1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã bãi bỏ nhiệm
vụ Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã làm nhiệm vụ thi hành án mà thay thế vào đó là Thẩm phán huyện làm nhiệm vụ thi hành án dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Chánh án Theo đó, tại điều 19 Sắc lệnh số 85/SL quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính tòa án huyện hoặc tòa án trên đã tuyên Việc phát mại bất động sản và phân phối tiền bán
Trang 14được cũng do tòa án huyện phụ trách…”[ 6 ] Còn ở miền địch tạm chiếm với
hai văn bản pháp lý đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực thi hành án là Nghị định số 111 ngày 04 tháng 02 năm 1950 về ấn định pháp quy Thừa phát lại do chính quyền Bảo Đại ban hành và Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng ngày 20 tháng 12 năm 1972 do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành đã lấy lại quyền hạn của Thừa phát lại
1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam được hoàn toàn thống nhất non sông thu về một mối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc
Về kinh tế, Việt Nam duy trì chế độ tập trung bao cấp với thành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể Việc phân chia sản phẩm theo bình quân đầu người và do Nhà nước thực hiện Do vậy, yếu tố “cạnh tranh” theo đúng nghĩa của nó gần như bị triệt tiêu trong hầu hết các mặt của đời sống xã hội Các tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại, ít có cơ hội phát sinh hoặc phát sinh không đáng kể và ít phức tạp Nếu có phát sinh tranh chấp thì phần lớn những trường hợp đó các cơ quan nhà nước đều can thiệp để nó được giải quyết giống như là các quan hệ hành chính
Trong điều kiện như vậy, việc tồn tại các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp
lý cho xã hội như: luật sư, công chứng, trọng tài viên, giám định viên hay thừa phát lại là không có nhiều ý nghĩa trong thời kỳ bấy giờ Do vậy, có thể nói sau năm 1975 đến thời điểm năm 1995 khi nước ta xây dựng dự thảo Bộ luật Dân sự thì chế định Thừa phát lại không còn tồn tại
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành Thừa phát lại
Trang 15pháp, còn ngành luật nào bảo vệ lợi ích “tư”, các bên đương sự có quyền bày
tỏ ý chí, sự thỏa thuận hoặc sự định đoạt của mình thì xếp vào tư pháp
Tương ứng với cách phân chia trên cũng có sự phân biệt trong cơ chế và
các biện pháp bảo vệ Do đó, tồn tại các cơ quan khác nhau bảo vệ “công quyền” và “tư quyền” Để bảo vệ công quyền thì các chi phí tiền bạc, thời
gian, kể cả các công chức thực thi công vụ,… cho quá trình tố tụng đều do
nhân sách nhà nước gánh chịu Trái lại “tư quyền” của công dân, của các tổ
chức mang tính chất riêng thì để bảo vệ quyền lợi của mình, họ phải tự giải quyết và thậm chí phải chịu các phí tổn vật chất, thời gian,… của mình hoặc phải thuê nướn các nhà chuyên môn về pháp lý tham gia tố tụng
Ở nước ta hiện nay, điều dễ nhận thấy là trong hệ thống các công việc tố tụng dân sự thì hầu như gánh nặng điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh hiện trạng, lấy lời khai, tiến hành dàn xếp hòa giải,… đều do cơ quan nhà nước bao cấp Chính gánh nặng này và với một bộ máy chưa đầy đủ về nhân sự, phương tiện làm việc còn thiếu thốn, năng lực chuyên môn hạn chế nên tình trạng tồn đọng, quá hạn, sự bất cập của các cơ quan nhà nước so với thực trạng xã hội hiện nay là rất nan giải Để có thể đưa ra một giải pháp hữu hiệu trong công tác bổ trợ tư pháp thì Thừa phát lại là một nhân tố không thể bỏ qua Việc cung ứng dịch vụ tư này nhằm thúc đẩy tiến trình giải quyết các tranh chấp được mau chóng, công khai và dân chủ hơn
1.2.2 Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa và chế định Thừa phát lại:
Sự trở lại của chế định Thừa phát lại là một nhu cầu tất yếu của nền kinh
tế thị trường Sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay đã tăng lên gấp bội và rất sôi động, do đó cũng làm nảy sinh nhiều hơn các nhu cầu pháp lý cần phải đáp ứng
Trang 16Các nhu cầu pháp lý này đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật đầy đủ điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội, tạo mặt bằng an toàn pháp lý ổn định cho sinh hoạt xã hội Mặt khác, khi người dân có nhu cầu tự bảo vệ và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến lợi ích hợp pháp của bản thân mình, thì có thể triệu dụng một tổ chức hoặc cá nhân bảo vệ cho mình, đó chính là Thừa pháp lại Thông qua hoạt động Thừa phát lại, người dân phát huy vai trò tích cực và tự nguyện trong việc tuân thủ pháp luật, chủ động bảo vệ quyền lợi của chính mình một cách kịp thời và hữu hiệu
1.2.3 Thừa phát lại và sự hội nhập cộng đồng thế giới và khu vực:
Trong tiến trình hội nhập của Nhà nước ta, một lĩnh vực hợp tác không thể thiếu được đó là lĩnh vực tư pháp Sự tương đồng về kinh tế đòi hỏi phải
có một hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan bổ trợ
tư pháp thích ứng và hoàn chỉnh đi kèm Hệ thống pháp luật và hệ thống các
cơ quan tư pháp đó chính là môi trường và phương tiện bảo đảm không những chỉ lợi ích của các nhà kinh doanh mà còn cả lợi ích của tất cả cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế thị trường Trong trào lưu đó, buộc chúng ta phải hoàn thiện các cơ quan tư pháp để phục vụ cho công cuộc đổi mới của đất nước Cho nên sự ra đời của chế định Thừa phát lại là một mắt xích, một minh chứng cho sự hoàn thiện đó
1.2.4 Tiến trình tái lập tổ chức Thừa phát lại:
Nằm trong tiến trình cải cách tư pháp do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chủ trương xã hội hóa công tác thi hành án dân sự nói riêng và một số hoạt động bổ trợ tư pháp nói chung là một yêu cầu cấp thiết, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chủ trương này đã được đặt ra tại Nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới, xác định “nghiên cứu việc xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư
Trang 17pháp” Đây là chủ trương phù hợp với truyền thống lịch sử, pháp luật thi hành
án của Việt Nam, phù hợp với xu hướng pháp luật thi hành án của thế giới, và quan trọng hơn là đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết của xã hội Vì vậy, chủ trương này tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày
02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020, đó là: “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía Nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,… từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan Nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án; Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”[ 10 ]
Để thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự, ngày 14 tháng 11 năm 2008, Quốc hội khóa XII đã nhất trí thông qua Nghị quyết 24/2008/QH12 về việc thi hành Luật thi hành án dân sự
Nghị quyết này quy định: “Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một
số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và
tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương Việc thí điểm được thực hiện từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành đến ngày 01 tháng 7 năm 2012 Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả
Trên cơ sở quy định tại Nghị quyết 24/2008/QH12 của Quốc hội về thi hành Luật thi hành án dân sự năm 2008, ngày 19 tháng 02 năm 2009, Thủ
tướng Chính phủ đã ký Quyết định 224/TTg về việc phê duyệt đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh” và đến
Trang 18ngày 24 tháng 7 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2009/NĐ –
CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09 tháng 9 năm 2009 và sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 135/2013/NĐ – CP ngày 18 tháng 10 năm 2013
1.3 Khái niệm về Thừa phát lại
Theo đánh giá của các nhà khoa học cũng như qua các tài liệu lịch sử thì Thừa phát lại đã có ở nước ta từ thời phong kiến, còn gọi là “Mỏ” Việc xét
xử do các quan lại ở địa phương tiến hành, những công việc của những
“người giúp việc”, các khâu chuẩn bị cho việc xử án, xét ở góc độ nào đó gần
giống với một số công việc mà Thừa phát lại hiện nay đang làm, chẳng hạn như: truyền đạt các khẩu lệnh, công văn, giấy tờ, thông báo việc thi hành án,… và như vậy nếu dựa vào tính chất, đặc thù công việc thì có thể nói Thừa phát lại đã xuất hiện ở nước ta ngay từ thời kỳ đầu của Nhà nước Phong kiến
Có thể nói Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và hiện nay có khoảng 72 nước là thành viên của tổ chức Liên minh Thừa phát
lại quốc tế Ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, miền Bắc gọi là “Chưởng tòa”, miền Trung gọi là “Mõ tòa” còn miền Nam gọi là “Thừa phát lại” Có
thể hiểu nghĩa Hán Việt của Thừa phát lại là: thừa của thừa hành; phát là chuyển phát, báo phát; lại là làm việc của thư lại
Thừa phát lại là chức danh được pháp luật công nhận, có nhiệm vụ thông qua các hoạt động pháp lý thực thi bằng văn bản việc lập chứng cứ, tống đạt các quyết định tư pháp, yêu cầu đương sự bắt buộc phải tuân thủ pháp luật Theo khoản 1 điều 2 Nghị định 61/2009/NĐ – CP của Chính phủ ngày
24 tháng 7 năm 2009, có nêu: “Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên
Trang 19quan”.[7] Đến Nghị định 135/2013/NĐ – CP ngày 18 tháng 10 năm 2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 61, có nêu tại điều 2a thì: “Thừa phát lại là người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền
để làm các công việc theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”.[8]
1.4 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp hiện nay
1.4.1 Về vai trò của tổ chức Thừa phát lại
1.4.1.1 Trợ giúp các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng
- Trợ giúp cho cơ quan Tòa án trong việc tống đạt văn bản và thu thập chứng cứ
Trong hoạt động tố tụng hiện nay của cơ quan Tòa án thì việc tống đạt văn bản được xem là một trong những công việc đầu tiên mà cơ quan Tòa án phải làm trong quá trình xét xử vụ án do Tòa án thụ lý Do đó, nếu việc tống đạt văn bản được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và đúng người nhận không những giúp cho việc xét xử của cơ quan Tòa án đúng thời gian theo quy định của pháp luật về tố tụng mà còn giúp cho đương sự có thời gian chuẩn bị cho quá trình xét xử của Tòa án, chẳng hạn như thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Những văn bản mà hiện nay cơ quan Tòa
án tống đạt trong các hoạt động tố tụng thường là quyết định đưa vụ án ra xét
xử, giấy triệu tập ra tòa, giấy mời người làm chứng cho các đương sự và những người có liên quan đến vụ án mà Tòa án đang thụ lý
Bên cạnh đó, việc tống đạt văn bản của Tòa án có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: có thể gửi trực tiếp cho đương sự và những người có liên quan, hoặc gửi qua nhân viên dịch vụ bưu chính, gửi về Uỷ ban Nhân dân
xã, phường, niêm yết công khai,… hay có khi đương sự được Tòa án mời lên Tòa để trực tiếp nhận các văn bản đó Từ những việc trên có thể cho thấy
Trang 20công việc tống đạt văn bản hiện nay của cơ quan Tòa án còn nhiều điểm rất tùy tiện và sơ hở, việc tống đạt như vậy không những gây phiền hà cho người dân mà còn làm mất nhiều thời gian của các cơ quan Nhà nước Bên cạnh đó, đối với những văn bản hay những quyết định quan trọng mà việc tống đạt văn bản của cơ quan Tòa án không kịp thời, đúng thời gian đã quy định sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà đáng lẽ ra
họ được hưởng Từ thực trạng trên cho thấy, để việc tống đạt văn bản hiện nay của cơ quan Tòa án được kịp thời, đúng thời gian đã được quy định và nhằm giúp cho quá trình xét xử của Tòa án được thực hiện nhanh chóng thì không ai khác, Thừa phát lại là người sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó Theo bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015 tại khoản 5, điều 177 quy định:
“Người được cấp, tống đạt, thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ,…; Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết
Bên cạnh đó tại điều 178 bộ Luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định:
“Trường hợp người được cấp, tống đạt hay thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận Trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó
Trang 21Từ những quy định trên, cho thấy tổ chức Thừa phát lại ra đời và hoạt động không những đáp ứng được những yêu cầu chặt chẽ về hình thức của thủ tục tố tụng đó, mà còn góp phần ổn định, xác lập được nền nếp trong loại công việc này nhằm bảo vệ các quyền của công dân và hỗ trợ cho cơ quan Tòa án trong việc nâng cao được chất lượng, hiệu quả xét xử của mình
Bên cạnh việc tống đạt văn bản, thì hiện nay tổ chức Thừa phát lại còn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ để phục vụ cho quá trình xét xử Trong quá trình xét xử của Tòa án hiện nay, việc cung cấp chứng cứ của các đương sự cho cơ quan Tòa án là một công việc vô cùng quan trọng, một mặt nó vừa giúp cho đương sự trong việc chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặc khác nó giúp cho việc xét xử của Tòa án được thực hiện chính xác và khách quan hơn
Do đó, trong việc thu thập chứng cứ để cung cấp cho cơ quan Tòa án, bên cạnh việc cá nhân có nghĩa vụ phải tự mình thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan Tòa án thì công việc này còn
có thể do các cơ quan khác thực hiện như: cơ quan Điều tra, cơ quan Kiểm sát hay thậm chí cơ quan Tòa án phải tự mình thực hiện Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong lĩnh vực hình sự thì việc thu thập, bổ sung chứng cứ để buộc tội đương sự thuộc về trách nhiệm của các cơ quan Điều tra, cơ quan Kiểm sát hay cơ quan Tòa án Theo đó, pháp luật hiện nay ở nước ta cũng có quy định trong việc thu thập chứng cứ thì cơ quan Điều tra, cơ quan Kiểm sát
và cơ quan Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ việc, trưng cầu, giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án; Những người tham gia tố tụng, cơ quan,
Trang 22tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào điều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án,…
Tuy nhiên, nếu chứng cứ trong các vụ án phải do các cơ quan tư pháp trực tiếp thu thập thì việc này không những làm mất đi rất nhiều thời gian, công sức của các cơ quan chức năng mà còn làm ảnh hưởng nhiều đến công việc mà họ đang thực hiện
Hiện nay, việc pháp luật tố tụng còn cho phép Thẩm phán tiến hành điều tra, xác minh, tiếp xúc các bên đương sự để thu thập chứng cứ, điều này không những vừa gây khó khăn, mất thời gian mà có khi còn tạo điều kiện cho những tiêu cực phát sinh Bởi vì, trong một số trường hợp Thẩm phán có thể tiếp xúc riêng với các bên đương sự để tiến hành việc thu thập chứng cứ
và chứng cứ đó không được bên thứ ba làm chứng là điều dễ dẫn đến những tiêu cực phát sinh, chẳng hạn như lời khai của đương sự không đúng sự thật khách quan của vụ án hay việc đương sự hối lộ Thẩm phán để ghi nhận những bằng chứng có lợi cho bản thân là điều rất dễ xảy ra
Do đó để thuận tiện trong việc thu thập chứng cứ trong hoạt động tố tụng hiện nay, đặc biệt trong việc thu thập, bổ sung chứng cứ của cơ quan Tòa án thì cần phải có một cơ chế hỗ trợ thích hợp nhất, và đó không ai khác ngoài tổ chức Thừa phát lại Bởi một trong những chức năng của Thừa phát lại hiện
nay là “lập vi bằng” dùng làm chứng cứ để phục vụ cho quá trình xét xử của
Tòa án Vi bằng do Thừa phát lại lập sẽ là nguồn chứng cứ quan trọng, có giá trị pháp lý cao và đáng tin cậy để cung cấp cho quá trình xét xử của Tòa án
Tổ chức Thừa phát lại ra đời không những phục vụ đắc lực cho các cơ quan công quyền ngay từ giai đoạn điều tra mà còn phục vụ cho công tác xét xử của cơ quan Tòa án, đặc biệt là trong việc giúp đỡ Tòa án thu thập và bổ sung chứng cứ Bởi vậy, khi cần thu thập chứng cứ để phục vụ cho quá trình xét xử thì Tòa án có thể yêu cầu Thừa phát lại để làm việc này, và những chứng cứ
Trang 23do Thừa phát lại cung cấp sẽ đảm bảo được tính hợp pháp cần thiết và có giá trị để phục vụ tốt cho công tác xét xử của Tòa án hiện nay
- Trợ giúp cho cơ quan Thi hành án dân sự trong việc tống đạt văn bản
và các công việc liên quan đến thi hành án dân sự
Trong việc tống đạt các loại giấy tờ có liên quan đến thi hành án dân sự hiện nay, cũng giống như việc tống đạt văn bản của cơ quan Tòa án thì trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự có thể ra một số quyết định để giao cho các bên có liên quan đến việc thi hành án Công việc này do cán bộ của cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện theo nhiều cách khác nhau và không theo một thể thức tống đạt cũng như một hình thức pháp lý nhất định
Do vậy, tổ chức Thừa phát lại với một trong những chức năng chính là việc tống đạt văn bản của các cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự, với công việc đó Thừa phát lại sẽ giúp cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện tốt việc tống đạt các loại văn bản có liên quan đến thi hành án Việc tống đạt văn bản của tổ chức Thừa phát lại không những giúp san sẽ một phần nào gánh nặng trong công việc mà hiện nay cơ quan Thi hành án dân sự đang thực hiện mà còn giúp cho việc tổ chức thi hành án được kịp thời, chặt chẽ và chính xác, bên cạnh đó còn giúp cho cán bộ thi hành án tránh mất nhiều thời gian và công sức để có thể tập trung vào công việc chuyên môn của mình được tốt hơn
Bên cạnh việc tống đạt văn bản thì hiện nay trong công tác thi hành án của cơ quan Thi hành án dân sự thì Thừa phát lại cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong việc trợ giúp cho cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành án Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt
là các vụ án về dân sự hay vụ án về kinh tế thì đương sự, người đại diện hợp
Trang 24pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời
để giải quyết những yêu cầu cấp bách của đương sự, nhằm bảo vệ tài sản, bảo
vệ chứng cứ, bảo đảm tính khả thi của bản án sẽ tuyên,… và theo yêu cầu đó, Tòa án có thể áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, và những công việc trên được giao cho cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc thực hiện những biện pháp khẩn cấp tạm thời đó rất khó khăn và phức tạp, bởi vì cơ quan Thi hành án dân sự hiện nay không đáp ứng đủ cơ sở, điều kiện và lực lượng để theo dõi, giám sát để có thể đảm bảo cho những quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để theo nội dung và yêu cầu của Tòa án Chẳng hạn đối với vật bị kê biên, cấm chyển dịch là bất động sản thì việc giám sát có thể nói là dễ, bởi vì việc lưu thông bất động sản thường đòi hỏi các thủ tục và giấy tờ hành chính kèm theo Còn đối với tài sản là động sản, thì việc kê biên hay cấm chuyển dịch trong thời điểm hiện nay là rất khó khăn, bởi vì cơ quan Thi hành án dân sự không thể đáp ứng đủ lực lượng trong việc giám sát, kê biên hay cấm chuyển dịch đối với các loại tài sản đó
Chính vì lẽ đó, ở lĩnh vực này ta cần có lực lượng Thừa phát lại là những người làm việc theo yêu cầu của cơ quan Thi hành án dân sự để theo dõi, giám sát và thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của Tòa
án để đảm bảo thi hành án Việc áp dụng thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Thừa phát lại không những góp phần ngăn chặn, xử lý thích đáng việc tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh trách nhiệm thi hành án của người phải thi hành án mà còn giúp cho việc bảo quản được đối tượng tranh chấp và bảo vệ
Trang 25tốt các chứng cứ để phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án của cơ quan Tòa
tự nguyện cam kết, thỏa thuận, nguyên tắc thiện chí, trung thực, hòa giải, Với những nguyên tắc trên đòi hỏi cá nhân và pháp nhân phải tự giác, chủ động trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng ngừa vi phạm hoặc thiệt hại có thể xảy ra cho bản thân hoặc cộng đồng Trên thực tế, khi có tranh chấp xảy ra và được giải quyết bằng con đường Tòa án thì các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ cũng như để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định của pháp luật các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Với quy định trên nhằm phát huy được tính chủ động và tự giác của đương sự trong việc tạo lập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, việc tạo lập và thu thập chứng cứ hiện nay của của đương sự không hề đơn giản, đó còn là một vấn đề khó khăn bởi đôi khi họ không có điều kiện hoặc không đủ trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc này Mặc khác do hệ thống chứng cứ hiện nay ở nước ta còn rất nghèo nàn và việc thu thập lại không theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định, chứng cứ được thu thập có khi chỉ dựa vào những lời khai của các bên hoặc được dựa vào tài liệu, văn kiện do các bên liên quan cung cấp
Trang 26Do đó, liệu những chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tòa án có được công nhận hay không, đôi khi dẫn đến việc phát sinh mâu thuẩn, đối lập nhau giữa các chứng cứ mà các đương sự cung cấp cho Tòa án Do đó, để thuận tiện trong việc thu thập chứng cứ cũng như để những chứng cứ trên có giá trị cung cấp cho quá trình xét xử của Tòa án thì cần thiết phải có Thừa phát lại là người có thẩm quyền trong việc lập vi bằng có giá trị chứng cứ, sẽ giúp đương sự dễ dàng hơn trong việc thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bởi vì khi thực hiện những công việc này, có thể nói Thừa phát lại là người làm chứng được Nhà nước trao thẩm quyền lập vi bằng, làm việc vì quyền lợi của người yêu cầu, nhưng phải đảm bảo sự chính xác, khách quan và có thật của sự kiện được yêu cầu ghi nhận
Do đó, khi có tranh chấp xảy ra và được giải quyết bằng con đường Tòa
án thì đương sự có thể yêu cầu Thừa phát lại đến lập vi bằng để giúp họ tạo nên những chứng cứ chính xác và kịp thời nhằm xác định một hành vi hoặc một sự kiện, hiện trạng của sự việc xảy ra để làm bằng chứng cho một vụ kiện đang diễn ra tại Tòa án hoặc có thể xảy ra trong tương lai Như vậy, với sự giúp đỡ của Thừa phát lại trong việc lập vi bằng để tạo lập chứng cứ không những giúp đương sự có được những chứng cứ quan trọng, có giá trị pháp lý cung cấp cho cơ quan Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp cho cơ quan Tòa án có được những chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và hiệu quả
1.4.2 Nhiệm vụ của tổ chức Thừa phát lại
Trong điều kiện hiện nay, tổ chức Thừa phát lại có những nhiệm vụ sau:
Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan Thi hành
án dân sự
Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự
Trang 27Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức thi hành các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án
Bên cạnh những nhiệm vụ nêu trên thì trong quá trình hoạt động của mình, cá nhân mỗi Thừa phát lại còn có nhiệm vụ: trung thực, khách quan khi thực hiện công việc; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; quy chế tổ chức, hoạt động và đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại; chịu trách nhiệm trước pháp luật
về việc thực hiện công việc của mình
1.4.3 Quyền hạn của tổ chức Thừa phát lại
Song song với việc thực hiện những nhiệm vụ nêu trên, khi thực hiện những công việc của mình thì Thừa phát lại còn có các quyền sau đây:
Yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu để xác định những sự kiện pháp lý có liên quan Nếu bị từ chối, Thừa phát lại có thể lập biên bản để ghi nhận sự từ chối đó để làm cơ sở cho cơ quan hữu quan xem xét giải quyết theo pháp luật
Quyền được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, tính mạng và tài sản khi thực hiện nhiệm vụ; quyền được bồi dưỡng về nghiệp vụ khi cơ quan
có thẩm quyền tổ chức; được thuê người giúp việc (thợ chụp hình, thông dịch viên), tìm nhân chứng, yêu cầu giám định để xác định cụ thể, rõ ràng về sự kiện pháp lý mà Thừa phát lại được yêu cầu lập biên bản
Yêu cầu cơ quan công an, chính quyền địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên quan hỗ trợ khi gặp khó khăn, trở ngại hoặc chống đối khi thi hành nhiệm vụ do pháp luật quy định; được từ chối không làm một công việc
gì đó nếu trái với pháp luật hoặc điều lệ hoạt động của văn phòng
Được thu lệ phí khi thực hiện nhiệm vụ theo giá biểu mẫu mà Nhà nước quy định Mặc khác, bên cạnh những quyền hạn nêu trên thì trong lĩnh vực thi
Trang 28hành án dân sự, Thừa phát lại còn có quyền như Chấp hành viên được quy
định tại khoản 2 điều 5 Nghị định 61/2009/NĐ – CP của Chính phủ: “khi thực hiện công việc về thi hành án dân sự, Thừa phát lại có quyền như Chấp hành viên quy định tại điều 20 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, trừ khoản 9, khoản 10 và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Riêng việc cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng bảo vệ, áp dụng quy định tại điều 40 của
1.4.4 Trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại
Bên cạnh những vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Thừa phát lại vừa trình bày ở trên, trong quá trình hoạt động của mình, tổ chức Thừa phát lại cũng có những trách nhiệm sau đây:
Thừa phát lại không được từ chối các yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp người được yêu cầu là bà con, thân thuộc
Khi thi hành nhiệm vụ, Thừa phát lại có nghĩa vụ tuân theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định như: thể thức tống đạt, công chứng thư, cách thức ghi chép sổ sách, giấy tờ
Với tư cách là người hành nghề tự do, Thừa phát lại phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp để đảm bảo bồi thường thiệt hại cho đương sự, nếu Thừa phát lại có lỗi do mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ; có nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ báo cáo với cơ quan quản lý theo quy định
Bên cạnh đó, theo quy định tại điều 6 Nghị định 61/2009/NĐ – CP về
những việc Thừa phát lại không được làm thì: “không được tiết lộ thông tin về việc thực hiện công việc của mình, trừ trường hợp pháp luật cho phép; Thừa phát lại không được đòi hỏi bất kỳ khoản lợi ích vật chất nào khác ngoài chi phí đã được ghi nhận trong hợp đồng; Trong khi thực thi nhiệm vụ của mình, Thừa phát lại không được nhận làm những việc liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người là người thân thích của mình, bao gồm: vợ,
Trang 29chồng, con đẻ, con nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của Thừa phát lại; cháu ruột mà Thừa phát lại là ông,
bà, bác, chú, cậu, cô, dì; Các công việc bị cấm khác theo quy định của pháp luật”.[ 7 ]
1.5 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại của một số nước trên thế giới
1.5.1 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Vương quốc Anh
Ở Anh, Thừa phát lại vốn đã tồn tại hơn 1.000 năm và khái niệm “Tịch biên tài sản” (là một thủ tục thu tài sản của người phải thi hành án do Thừa
phát lại thực hiện) rất phổ biến trong khoảng thế kỷ thứ XIII, thời điểm mà các điều lệ của Magna Carta 1215 trao cho các Nam tước người Anh quyền tịch biên tài sản ngay cả đối với nhà vua
Thừa phát lại ở Anh thường được mô tả như người thu hồi công nợ, nhưng thực sự thì sự mô tả ấy là không chính xác Sự khác biệt cơ bản là một người thu nợ không thể tịch thu tài sản của người khác và bán chúng đi được Trong khi đó, Thừa phát lại thi hành các chỉ thị, mệnh lệnh của Tòa án và
“trát” được ban hành bởi cơ quan chính phủ Chủ yếu những việc làm này là
để thu hồi nợ, nhưng bên cạnh đó Thừa phát lại cũng có thể truy đuổi và bắt giữ người Ở Anh, Thừa phát lại được tổ chức theo các loại hình là Thừa phát lại tư nhân và Thừa phát lại của Tòa án quận hạt Đối với Thừa phát lại tư nhân, chứng chỉ Thừa phát lại được cấp bởi một Thẩm phán của Tòa án quận hạt, chứng chỉ này cho phép họ thực hiện việc tịch thu tài sản Chứng chỉ Thừa phát lại ở Anh có hiệu lực trong thời hạn 2 năm và trao cho Thừa phát lại quyền tịch thu tài sản ở bất kỳ nơi đâu trên đất nước Anh và xứ Wales
Để có được chứng chỉ này, người nộp đơn phải thuyết phục Thẩm phán rằng anh ta là “người xứng đáng và phù hợp” cho chứng chỉ Thừa phát lại và
Trang 30chứng tỏ rằng anh ta có đầy đủ kiến thức về Luật tịch thu tài sản, và cũng không thực hiện việc kinh doanh mua bán nợ Họ cũng phải cung cấp hai tài liệu tham khảo và trải qua việc kiểm tra hồ sơ hình sự, một sự kiểm tra của Tòa án quận hạt và nộp một khoản quỹ bảo đảm trị giá 10.000 bảng Yêu cầu cuối cùng này thường là tín phiếu bảo hiểm Họ không phải là nhân viên và không được tuyển dụng bởi Tòa án Tuy nhiên, họ được xem là người nhân danh Tòa án vì họ thực hiện hành động theo thẩm quyền của một lệnh do Tòa
án ban hành
Còn đối với tổ chức Thừa phát lại của Tòa án quận hạt, thì những Thừa phát lại là viên chức của Tòa án quận hạt, nơi họ làm việc Họ thực thi các lệnh của Tòa án quận hạt và các lệnh được đưa ra tại những tòa án khác nhưng đã chuyển giao cho Tòa án quận hạt để thực thi Viên chức Thừa phát lại của Tòa án quận hạt do cán bộ cấp cao của Tòa án quận hạt quản lý nhưng cũng chịu trách nhiệm trước Thẩm phán quận hạt đối với việc làm của họ Tại Anh, Thừa phát lại thay mặt Nhà vua, lãnh chúa cai quản nông dân thông qua các yêu cầu và cho phép thực thi (được hiểu như hình thức cai ngục), là người thực hiện các hoạt động pháp lý hỗ trợ cho Cảnh sát, Thẩm phán tại Tòa án và các cơ quan hành chính địa phương Nhiệm vụ của Thừa phát lại ở Anh rất đa dạng và khác nhau trong các lĩnh vực xét xử, cưỡng chế thi hành các bản án, thực hiện các nhiệm vụ tư pháp hoặc tống đạt yêu cầu của các công ty thu hồi
nợ, đánh thuế và được hiểu như là các công ty tư nhân thực hiện nhiệm vụ Hình thức hoạt động của Thừa phát lại thông qua các văn phòng được thành lập tại các thành phố trên toàn quốc
1.5.2 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp
Thừa phát lại tại Pháp đã có từ nhiều thế kỷ Từ thời Trung cổ, tổ chức phân cấp mỗi tầng lớp thiết lập luật pháp cho riêng mình Luật pháp cá thể hóa phụ thuộc vào tầng lớp hoàng gia, quý tộc, giáo hội hay bình dân Tuy
Trang 31nhiên, trong tất cả các lĩnh vực pháp lý, một hệ thống nhất định cho phép đại diện cho quyền lực Để làm được điều này, cần phải có những viên chức mà không ai có thể tranh cãi được: những Thừa phát lại Dần dần, các thừa phát lại trở thành những viên chức pháp lý quan trọng trong bộ máy nhà nước Pháp Ngày nay, chức vụ Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Pháp bổ nhiệm, định rõ trụ sở của Thừa phát lại và Thừa phát lại chỉ được thi hành chức vụ trong phạm vi quản hạt của Tòa sơ thẩm dân sự mà trụ sở của họ phụ thuộc Tổ chức Thừa phát lại ở Pháp có một Hội đồng Thừa phát lại và tất cả các Thừa phát lại hành nhiệm trong quản hạt đều đặt dưới hệ thống kiểm soát của Hội đồng Thừa phát lại Hội đồng Thừa phát lại có một Chủ tịch, một Phó Chủ tịch và các ủy viên Hội đồng do Đại hội Thừa phát lại bầu ra
Ở Pháp, Thừa phát lại là người hành nghề độc lập, họ được phân công nhiều công việc đặc thù phù hợp với chuyên môn của họ và hoạt động trên lĩnh vực pháp luật để giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong đời sống dân sự Thừa phát lại thường là một luật gia thành công trong giới chuyên môn pháp luật, họ có thể tư vấn, làm trung gian hòa giải, tiếp xúc với mọi người,…
Trong đời sống dân sự, đa số Thừa phát lại thường làm sáng tỏ những xung đột giữa chủ nhà với người thuê nhà, bên cạnh đó họ cũng có thể giải quyết một số vấn đề khác liên quan đến ly thân hoặc ly hôn, đồng thời bao gồm cả về quyền chăm sóc trẻ em Trong nhiều tranh chấp trước pháp luật, Thừa phát lại được quyền thực hành một vài chức năng hòa giải theo pháp luật thông qua việc lập vi bằng Thừa phát lại vốn là nhân viên do Bộ Trưởng
Bộ Tư pháp bổ nhiệm, họ còn có chức năng tống đạt những giấy tờ của thủ tục tố tụng, thi hành những quyết định pháp lý và những văn bản theo đúng quy định của pháp luật
Trang 32Trước khi bước vào giai đoạn tố tụng, đầu tiên họ phát hành những quyết định triệu tập của Tòa án như: trát đòi ra tòa về dân sự, lệnh gọi ra tòa về hình
sự ở mỗi cấp Tòa án Bên cạnh đó, họ dùng tất cả những biện pháp được pháp luật cho phép để thi hành bản án cho người giành được phần thắng về tài sản trong một bản án, họ cũng có thể được hỗ trợ bởi cảnh sát nếu cần thiết Thừa phát lại ở Pháp có thể can thiệp để đưa ra những lời khuyên pháp lý, họ đến tận nơi để lập vi bằng và vi bằng đó có thể được sử dụng để làm bằng chứng
không thể chối cãi trong một vụ tranh chấp (Ví dụ: vi bằng về chỗ ở, vi bằng
về những phiền hà hàng xóm, vi bằng về việc bị sa thải,…)
Nói chung là tất cả các biện pháp do Tòa án quyết định đối với một chủ thể nào trong quá trình điều tra xét xử đều do Thừa phát lại thực hiện Hiện nay, luật pháp của Pháp đã sửa đổi các điều luật cũ trước đây, đã quy định Thừa phát lại tại Pháp được làm các thủ tục về hình sự, chứng thư ở các Tòa tiểu hình, đại hình và trước dự thẩm
1.5.3 Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa liên bang Đức
Khác với ở Anh và Pháp, tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa liên bang Đức được gọi là tổ chức Chấp hành viên và những công việc tương tự như của Thừa phát lại đều do chấp hành viên của Tòa án thực hiện Chấp hành viên là một Công chức tư pháp hạng trung, giữ vai trò chấp hành của Tòa án, chịu sự giám sát nghiệp vụ của Thẩm phán được phân công Chấp hành viên được tổ chức theo quản hạt của các Tòa án quận, nhưng không nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án Chấp hành viên là một mắc xích được tổ chức độc lập trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật, chấp hành viên có trụ sở riêng, chịu trách nhiệm chi phí cho hoạt động của trụ sở, chấp hành viên có con dấu riêng, giao dịch bằng tên gọi và chức danh của mình, nếu cần thì chấp hành viên lập và quản lý một kho giữ tài sản kê biên để đảm bảo thi hành bản án
Trang 33của Tòa án Những công việc cụ thể của chấp hành viên do Phòng lục sự của Tòa án phân công
Tại phòng lục sự có bộ phận tiếp nhận toàn bộ những yêu cầu triệu dụng
và phân phối lại cho các chấp hành viên thực hiện Người triệu dụng có thể yêu cầu và nhờ Phòng lục sự chỉ định, hoặc chỉ định đích danh chấp hành viên
mà họ yêu cầu Cụ thể, nhiệm vụ và quyền hạn của chấp hành viên tại Cộng hòa liên bang Đức được quy định trong Luật tố tụng dân sự, Luật về hối phiếu, quy chế, chỉ thị về nghiệp vụ chấp hành viên Theo đó, chấp hành viên thường
có các nhiệm vụ như: giao văn kiện, giấy tờ cho các bên đương tụng trong vụ
án dân sự theo yêu cầu của một bên; lập chứng thư phản đối các hối phiếu; giao chứng thư thể hiện yêu cầu, ý chí của người triệu dụng cho một người khác; tổ chức thi hành các bản án đối với loại án mà luật định do chấp hành viên thi hành theo yêu cầu của người được thi hành án Khi thực hiện công việc thi hành án, chấp hành viên có thể kê biên, bán đấu giá động sản, các giấy tờ có giá trị, yêu cầu trả lại đồ vật và bắt giữ người phải thi hành án để buộc cam kết thực hiện,…
Để thực hiện các công việc về thi hành án, luật đã quy định cho chấp hành viên được có các quyền như: khám nhà, khám nơi để tài sản của người phải thi hành án, được dùng vũ lực khi gặp phải sự chống đối bằng cách yêu cầu lực lượng cảnh sát hỗ trợ và khi thực hiện nhiệm vụ, chấp hành viên được thu lệ phí theo giá biểu và các chi phí mà luật định
Trang 34Kết luận chương 1
Tóm lại, các phần trình bày nêu trên đã sơ lược sự hình thành và phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam, giới thiệu về khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thừa phát lại Đây được xem là phần khái quát
và khung pháp lý của sự hình thành và tái lập tổ chức Thừa phát lại, thể hiện tính đổi mới, tính cấp thiết trong công cuộc cải cách tư pháp sao cho phù hợp với sự phát triển của Việt Nam hiện nay Đồng thời, tác giả luận văn cũng đã tóm lược mô hình Thừa phát lại của một số nước trên thế giới như Anh, Pháp
và Cộng hòa liên bang Đức Đây là cơ sở mang tính chất tham khảo có giá trị cao để chúng ta có thể vận dụng vào tình hình thực tiễn của đất nước để xây dựng tổ chức Thừa phát lại phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta Chẳng hạn Thừa phát lại ở Vương quốc Anh có 3 loại và chức năng của
họ có thể thực thi một số quyết định bao gồm Quyết định tịch biên, Quyết định bắt giữ, Quyết định xử phạt, ngoài ra họ cũng có thể thực thi Quyết định bắt giữ vì vi phạm bản án cấp quận hạt; Thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp thì có thêm chức năng hòa giải và được tham gia nhiều hơn vào các hoạt động pháp
lý và hỗ trợ pháp lý trên nhiều mặt của đời sống từ dân sự, hình sự, thi hành
án đến hôn nhân gia đình; còn ở Cộng hòa Liên bang Đức thì những công việc của Thừa phát lại được gọi là Chấp hành viên và những công việc tương tự như của Thừa phát lại đều do Chấp hành viên của Tòa án thực hiện
Các vấn đề trên nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận cho vấn đề thực tiễn về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại đang hình thành và phát triển ở Việt Nam được tác giả luận văn nghiên cứu để làm cơ sở đánh giá về thực trạng và phương hướng hoạt động của tổ chức Thừa phát lại
Trang 35Chương 2
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TẠI VIỆT NAM 2.1 Tổ chức Thừa phát lại tại Việt Nam
2.1.1 Văn phòng Thừa phát lại
Văn phòng được hiểu là trụ sở làm việc của cơ quan, đơn vị, là nơi thực hiện các hoạt động giao tiếp đối nội, đối ngoại của cơ quan, đơn vị đó và cũng được xem là nơi hành nghề của một cá nhân hay tổ chức Như vậy, ta có thể
hiểu về “Văn phòng Thừa phát lại” như sau: văn phòng Thừa phát lại là nơi
hành nghề, là nơi mà Thừa phát lại tổ chức điều hành, quản lý các hoạt động chính, quan trọng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật
Còn theo quy định tại điều 15 Nghị định 61/2009/NĐ – CP thì: “Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại Tên gọi Văn phòng Thừa phát lại bao gồm cụm từ “Văn phòng Thừa phát lại” và phần tên riêng liền sau, việc đặt tên riêng và gắn biển hiệu thực hiện theo quy định của
Hồ sơ thành lập và đăng ký hoạt động của văn phòng được quy định rất chặt chẽ như các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện; có diện tích đặt trụ
sở phù hợp, thuận tiện và các điều kiện vật chất cần thiết khác
Trang 36Việc giải thể cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật
về giải thể đối với các văn phòng Thừa phát lại
Bên cạnh đó, văn phòng Thừa phát lại là tổ chức hành nghề của Thừa phát lại, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính Ngoài ra, các văn phòng Thừa phát lại còn có quyền tự chủ
về nhân sự, điều hành hoạt động, chiến lược hoạt động, Trưởng văn phòng chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của văn phòng Thừa phát lại Như vậy, văn phòng Thừa phát lại hoạt động như là đơn vị kinh tế tư nhân, do tư nhân
thành lập, tự chủ về tất cả các hoạt động của mình
2.1.2 Tổ chức bộ máy của Văn phòng Thừa phát lại
Trưởng văn phòng phải là Thừa phát lại, là người đại diện theo pháp luật của văn phòng Thừa phát lại
Thừa phát lại là thành viên sáng lập, trong trường hợp nhiều người cùng tham gia thành lập văn phòng Thừa phát lại; Thừa phát lại làm việc theo hợp đồng tại văn phòng Thừa phát lại
Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại là nhân viên văn phòng Thừa phát lại giúp Thừa phát lại thực hiện các công việc nghiệp vụ pháp lý Thư ký nghiệp
vụ Thừa phát lại phải có các tiêu chuẩn như: là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án, có bằng cử nhân Luật, không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật
Nhân viên kế toán; nhân viên hành chính khác (thủ quỹ, văn thư, đánh máy ) Các nhân viên này không bắt buộc phải có mà tùy theo nhu cầu công việc mà Trưởng văn phòng quyết định Tuy nhiên, thực tế các văn phòng Thừa phát lại hoạt động theo luật Doanh nghiệp nên việc phải có nhân viên kế toán, thủ quỹ gần như là điều kiện bắt buộc khi thành lập văn phòng cũng như khi tổ chức hoạt động
Trang 37Từ khi chế định Thừa phát lại được thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh
và nhân rộng trong cả nước, đến nay đã có thêm 12 địa phương thực hiện chế định này (TP Hà Nội, TP Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Nghệ An Thanh Hóa, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang), với 53 văn phòng Thừa phát lại được thành lập, tổng số nhân lực đang làm việc tại 53 văn phòng là 638 người, trong đó có 135 Thừa phát lại, 306 Thư ký nghiệp vụ và 197 nhân viên khác
2.1.3 Đoàn Thừa phát lại
Bên cạnh văn phòng Thừa phát lại là một tổ chức hành nghề của Thừa phát lại thì hiện nay ở Việt Nam còn có một tổ chức hành nghề khác của Thừa phát lại đó là Đoàn Thừa phát lại
Đoàn Thừa phát lại là một tổ chức nghề nghiệp của Thừa phát lại, và được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có từ hai Thừa phát lại trở lên đăng ký thành lập Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh là cơ quan
có thẩm quyền cho phép thành lập Đoàn thừa phát lại, sau khi đã trao đổi và
có ý kiến trả lời thống nhất bằng văn bản của Bộ Tư pháp Hoạt động của Đoàn thừa phát lại được điều hành bởi Ban chủ nhiệm, do hội nghị các Thừa phát lại bầu ra, được Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh chuẩn y Nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệm là 4 năm Ban chủ nhiệm Đoàn thừa phát lại gồm có một chủ nhiệm và một hoặc nhiều Phó Chủ nhiệm (do hội nghị các Thừa phát lại quyết định) Đoàn thừa phát lại có thể đặc trụ sở tại văn phòng của Thừa phát lại của hội nghị các Thừa phát lại và sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh
Đoàn Thừa phát lại có con dấu riêng, có thể có tài khoản riêng ở ngân hàng, kinh phí hoạt động của Đoàn Thừa phát lại do sự thỏa thuận đóng góp hàng tháng của các Thừa phát lại thành viên
Trang 38Đoàn Thừa phát lại được nhận các nhân viên giúp việc cho Đoàn Số lượng do Ban chủ nhiệm quyết định và sau đó phải lập danh sách báo cáo cho
Sở Tư pháp
2.1.4 Tiêu chuẩn để trở thành Thừa phát lại
Theo quy định của pháp luật thì Thừa phát lại là người được Nhà nước
bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thi hành án Theo đó, một cá nhân muốn được bổ nhiệm để trở thành Thừa phát lại thì phải đáp ứng những tiêu chuẩn, những yêu cầu theo quy định của pháp luật Tại Quyết định số 224/QĐ – TTg ngày 19 tháng 02 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu
rõ “Việc thực hiện thí điểm Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu xác định sự cần thiết và tính hiệu quả của Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp nói chung và thi hành án dân sự nói riêng, xác định khả năng
áp dụng mô hình này trong toàn quốc, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà
đảm bảo việc thực hiện được mục tiêu quy định tại Đề án thí điểm chế định Thừa phát lại là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự, giao cho Thừa phát lại thực hiện những công việc từ đơn giản đến phức tạp,
từ phạm vi hẹp cho đến phạm vi rộng, tiến tới xác định khả năng áp dụng mô hình Thừa phát lại trên toàn quốc thì người được bổ nhiệm làm Thừa phát lại phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật
Trên cơ sở tham khảo các tiêu chuẩn, điều kiện của việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp khác như: Chấp hành viên, Công chứng viên, Luật sư,…
và xuất phát từ những yêu cầu của xã hội, tính chất công việc mà Thừa phát lại sẽ đảm nhận, dựa trên những quy định của pháp luật hiện hành, một người
muốn được bổ nhiệm làm Thừa phát lại phải có các tiêu chuẩn sau: “Là công
Trang 39dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án; có bằng cử nhân Luật; đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức; không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật”
Và việc bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm Thừa phát lại thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp
2.2 Các công việc mà Thừa phát lại được làm hiện nay:
2.2.1 Thực hiện việc Tống đạt văn bản theo yêu cầu của cơ quan Tòa
án và cơ quan Thi hành án dân sự
Để tìm hiểu về vấn đề này, trước tiên ta cần làm rõ thế nào là “tống đạt”
Theo quy định của pháp luật thì: tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật
Do đó việc tống đạt các loại giấy tờ, văn bản của Tòa án cho các bên có liên quan đến việc xét xử của Tòa án hay các loại giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án khi vụ án đã được giải quyết và bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật là công việc vô cùng quan trọng
Điều đó không những giúp cho việc giải quyết vụ án của Tòa án hay công việc thi hành án của cơ quan Thi hành án được nhanh chóng và hiệu quả
mà còn giúp đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hiện nay của nước ta chưa có những quy định chi tiết
về các hành vi phải làm của người tống đạt, do đó việc tống đạt nhiều khi rất tùy tiện, không đảm bảo được đến tay người nhận hoặc không ghi nhận được thái độ tránh né của người nhận (trong trường hợp vụ án đó gây bất lợi cho họ)
Trang 40Bên cạnh đó, việc giao nhiệm vụ tống đạt văn bản hiện nay không thống nhất giữa các Tòa án hay cơ quan Thi hành án dân sự Chẳng hạn như tại các Tòa án quận, huyện có khi giao cho văn phòng hoặc do thư ký Tòa án đảm nhận, thậm chí khi cần thiết Thẩm phán Tòa án cũng có thể thực hiện công việc này, còn đối với cơ quan Thi hành án dân sự thì công việc tống đạt văn bản thường do Chấp hành viên đảm nhận Thực tế hiện nay cho thấy công việc tống đạt văn bản, giấy tờ của các cơ quan Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự không đáp ứng được những yêu cầu chặt chẽ về mặt hình thức của thủ tục tố tụng, do đó có thể dẫn đến những sai sót trong công việc xét xử của Tòa
án cũng như trong việc thi hành án của cơ quan Thi hành án dân sự
Theo kết quả thống kê hiện nay cho thấy, mỗi năm ngành Tòa án thành phố Hồ Chí Minh tống đạt khoảng 840.000 văn bản, giấy tờ và mỗi năm chỉ tính riêng việc tống đạt giấy tờ và xác minh, Chấp hành viên, cán bộ thi hành
án dân sự thành phố Hồ Chí Minh cũng phải xác minh khoản 50.000 việc và ước khoản 600.000 văn bản, giấy tờ phải tống đạt Với khối lượng công việc như vậy là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc của các cơ quan Tòa án và cơ quan Thi hành án dân sự trên địa thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và trên cả nước hiện nay nói chung trong
Từ thực tiễn đó cho thấy với sự ra đời của tổ chức Thừa phát lại cùng với những trình tự, thủ tục chặt chẽ về việc tống đạt văn bản do pháp luật quy định sẽ là nơi đảm bảo được tính pháp lý và tính chuyên nghiệp của công việc tống đạt văn bản hiện nay Về thẩm quyền và phạm vi tống đạt văn bản của tổ chức Thừa phát lại, theo quy định của pháp luật thì văn phòng Thừa phát lại được quyền thỏa thuận để tống đạt văn bản của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố, quận, huyện; Tòa án nhân dân dân thành phố, quận, huyện