1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tâm lý học dành cho sinh viên chuyên nghành GDTC

51 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 528,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn hoạt động GDTC và thể thao cũng cho thấy rằng, người tập luyện thường gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn về mặt tâm lý như: sự mệt mỏi, ngại vận động, vụng về khi thực hiện động

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT & QUỐC PHÒNG

GIÁO TRÌNH

(Lưu hành nội bộ)

“TÂM LÝ HỌC”

(Dành cho sinh viên chuyên ngha ̀nh GDTC )

Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Tuyến

Năm 2015

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC THỂ DỤCTHỂ THAO

1.1 Giới thiệu khái niệm và một số vấn đề cơ bản của tâm lý học đại cương

1.1.1.Khái niệm

-Học thuyết phản ánh của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Tâm lý là sản phẩm của sự phát triển lâu dài của vật chất Mọi vật chất đều có thuộc tính phản ánh Khi vật chất đã phát triển đến trình độ có sự sống và có tổ chức cao - tức bộ não con người thì thuộc tính phản ánh đạt tới hình thức cảm giác, tri giác, tư duy ý thức và lý luận Theo quan niệm khoa học này thì tâm lý có cơ sở vật chất là não bộ của con người - không có não bộ sẽ không có tâm lý Hay, não bộ là khí quan của tâm lý, tâm lý chẳng qua là chức năng của não, là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người và thế giới xung quanh thông qua cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp Như vậy, nếu não bộ mà không có thế giới khách quan tác động vào giác quan thì cũng không có tâm lý

-Những khái niệm cơ bản về hiện tượng tâm lý và tâm lý con người:

+ Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng tinh thần xảy ra trong óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động, hành động của con người

Ví dụ: Trong hoạt động TD, TT có rất nhiều hiện tượng tâm lý nảy sinh như:

VĐV hồi hộp chờ xuất phát, điều khiển hành động xuất phát khi nghe tín hiệu; ỉo lắng thất bại, sự đối thủ mạnh, tư duy phương án chiến thuật; tri nhớ động tác Đó

là những hiện tượng của tâm lý phản ánh ý thức hoạt động thi đấu thể thao

+ Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan của não, mang chủ thể

và có bản chất xã hội, lịch sử

Trước hết tâm lý là thuộc tính phản ánh của não bộ, là hình ảnh của thế giới khách quan trong óc ta Muốn có tâm lý trước phải có não phát triển bình thường, các giác quan phải có khả năng làm việc và cuối cùng phải có khách quan tác động

Ví dụ: Hình ảnh người giáo viên lên lớp, dụng cụ học tập, sân vận động tác

động vào tri giác và thị giác và nhờ cơ quan phân tích của não ta mới có các hình

Trang 3

ảnh trong não và nhận biết đó là thầy giáo, là dụng cụ tập luyện

+ Tâm lý con người là thế giới nội tâm của từng cá nhân, mỗi người có đặc điểm thần kinh, mức độ nhạy cảm của các giác quan khác nhau nên có cách phản ánh thực tại của riêng mình

Ví dụ: trước một sự kiện nào đó người này có thể hiểu sâu sắc, người kia lại

rất hời hợt

+ Tâm lý con người mang bản chất xã hội, vì thực chất họ là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Ngoài ra tâm lý con người còn mang tính chất lịch sử

Ví dụ: con người số ng ởcác giaiđoạn lịch sử khác nhau sẽ phản ánh tâm lý

khác nhau, con người sống thời kỳ bao cấp có tâm lý khác nhiều so với con người sống trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường

1.1.2 Phân loại hiện tượng tâm lý

Trong đời sống của mỗi người, hiện tượng tâm lý diên ra rất đa dạng, chẳng hạn: sự nhìn thấy vàphân biệtsựvậtxungquanhtasự hồitưởng, yêu thương, nhớnhung, buồn vui, thói quen, nóng tính hay dịu dàng

+ Nhóm hiện tượng thuộc các quá trình tâm lý (Ví dụ: quá trình nhận thức)

Là hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có nảy sinh, diễn biến và kết thúc nhằm biến những tác động bên ngoài thành hình ảnh tâm lý

Ví dụ: Muốn có hình ảnh về một bể bơi có thể bơi được, phải có quá trình tri

giác như màu nước, đường bơi, bục xuất phát

Các quá trình tâm lý bao gồm:

-Quá trình nhận thức (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng)

-Quá trình xúc cảm

-Quá trình hành động - ý chí

Quá trình tâm lý là nguồn gốc của đời sống tinh thần, nó xuất hiện như là một yêu tố điều chỉnh ban đầu đối với con người

Trang 4

+ Nhóm hiện tượng thuộc các trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý luôn đỉ kèm theo các hiện tượng tâm lý khác, nó giữ vai trò làm nền tảng cho quá trình tâmlý và thuộc tính tằm lý diễn biến hoặc biểu hiện ra một cách nhất định Trạng thái tâmlý không có một hiện tượng tâm lý độc lập mà đi kèm theo quá trình tâm lý

Ví dụ: khi nghe giáo viên giảng bài xuất hiện trạng thái chú ý, khi học nhảy cao thấy chiếc xà cao xuất hiện trạng thái lo sợ

Trạng thái tâm lý bao gồm: Ức chế, mệt mỏi, lo lắng, căng thẳng quá mức + Nhóm thiện tượng thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý lặp đi lặp lạimột cách thường xuyên trong những điều kiện nhất định (điều kiện sống và hoạtđộng)

và trở thành đặc trưng cho mỗi người, để phân biệt người nầy với người khác Baogồm: khí chất, tính cách, năng lực, nhu cầu, động cơ

Hoạt động TD,TT là lĩnh vực hoạt động mà ở đó cả ba loại hiện tượng tâm lý trên đều thể hiện xuyên suốt và quyết định chất lượng hoạt động Hoạt động TD,TT đòi hỏi sự cảm thụ tinh tế trong điều khiển vận động Vì vậy quá trình cảm giác thị giác, cảm giác vận động cổ, thính giác, tiền đình là vô cùng quan trọng Sự cảm thụ vận động tinh tế, chính xác, phản ứng nhanh, tự tin, điều khiển vận động chuẩn xác trong mọi trạng huống bao giờ cũng là nhiệm vụ chuẩn bị tâm lý quan trọng cho người tập luyện TD, TT

1.2.Tâm lý học TDTT là một lĩnh vực chuyên ngành của khoa tâm lý

1.2.1 Tâm lý học TD, TT là một khoa học tâm lý chuyên ngành

ý chí

Khí chất

Tính cách

Năng lực

Xu hướng

Ức chế

Mệt mỏi

Lo lắng

Căng thẳng tâm lý quá mức

Trang 5

Tâm lý học TD, TT là một chuyên ngành của khoa học tâm lý gồm: tâm lý học GDTC và tâm lý học TT

Hoạt động rèn luyện thân thể để tăng cường sức khoẻ về thể chất, sức khoẻ về tinh thần và quan hệ xã hội, hoàn thiện và phát triển thể chất cũng như nâng lực thể thao là loại hình hoạt động đặc thù của con người, trong đó tâm lý đóng vai trò hạt nhân và quyết định thành công và hiệu quả hoạt động

Thực tiễn hoạt động GDTC và thể thao cũng cho thấy rằng, người tập luyện thường gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn về mặt tâm lý như: sự mệt mỏi, ngại vận động, vụng về khi thực hiện động tác hoặc những trạng thái xúc động mừng vui và

nỗ lực ý chí rất cao ở người tập mà ở các loại hình khác không có được Như vậy,

để hoạt động rèn luyện thân thể, phát triển tài năng thể thao diễn ra một cách hào

hứng và có kết quả cao, cần phải có những tác động sư phạm hợp lý đê nâng cao

chât lượng định hướrig, điều khiển và điều chỉnh mọi hành vi, hành động của cá nhân trong quá trình hoạt động TD, TT

Lý thuyết hoạt động trong tâm lý học hiện đại cũng cho rằng, hoạt động thể lực và hoạt động tâm lý luôn thống nhất Hoạt động TD, TT tuy có tính chất đặc trưng là hoạt động thể lực những không thể tách rời được hoạt động tâm lý hoặc coi nhẹ vai trò của nó trong tổ chức hoạt động cũng như trong giảng dạy, giáo dục, huấn luyện TT Hoạt động TD, TT của con người bắt nguồn từ nhu cầu tất yếu khách quan: tích cực vận động sống của cơ thể người, tích cực tồn tại và sáng tạo của nhân cách con người trong xã hội Trong lĩnh vực hoạt động này, người hoạt động vừa là chủ thể vừa là khách thể hoạt động Tập luyện là để tác động lên cơ thể mình, kết quả hoạt động là để cho mình, hoẻ mạnh Vì vậy đòi hỏi ở người tập giác ngộ vai trò chủ thể sâu sắc

Dưới góc độ giáo dục học, ta có thể hiểu hoạt động thể dục, thể thao là lĩnh vực hoạt động giáo dục nhằm hoàn thiện và phát triển thể trạng và vóc dáng con người, kiến tạo họ năng lực tự tin điều khiển vận động tinh tế trên nền thể lực phong phú và nhân cách sáng tạo Như vậy, khi nghiên cứu quy trình sư phạm trong lĩnh vực giáo dục thể chất, huấn luyện thể thao không thể không nghiên cứu các quy luật

về phát triển năng lực này

1.2.1.1 Tâm lý học giáo dục thể chất

Trang 6

* Đối tượng

Tâm lý học GDTC là một lĩnh vực của tâm lý học TD, TT và tâm lý học giáo dục, nghiên cứu những quy luật hình thành và phát triển tâm lý của người hoạt động tập luyện trong những điều kiện đặc thù của giáo dục, hoàn thiện thể chất

Đối tượng nghiên cứu của tâm lý GDTC trước hết là các quy luật biểu hiện tâm lý của người tập luyện, đó là chủ thể của các quá trình sư phạm GDTC sau đó

là nghiên cứu các đặc điểm tâm lý loại hình hoạt động rèn luyện thân thể cũng như các phương tiện chủ yếu để giáo dục thể chất

*Nội dung nghiên cứu của tâm lý học GDTC

- Những tri thức luận tâm lý của hoạt động GDTC con người

+ Cấu trúc tâm lý của hành động, thao tác vận động và cơ sở tâm lý của sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động

+ Những cơ sở tâm lý của công tác giảng dạy, giáo dục, huấn luyện

+ Những quy luật tác động tâm lý nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong giờ học, giờ tập luyện thể dục thể thao và đặc điểm tâm lý học của công tác giáo dục toàn diện trong GDTC

-Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên thể dục

+ Cấu trúc tâm lý của hoạt động sư phạm GDTC; những khó khăn trở ngại thường gặp trong quan hệ giữa giáo viên và học sinh

+ Phương pháp nghiên cứu tâm lý học sinh

1.2.1 2.Tâm lý học thể thao

*Đối tượng

-Tâm lý học thế thao là một lĩnh vực khoa học tâm lý chuyên ngành nghiên cứu các quy luật hoạt động tâm lý của cá nhân VĐV và tập thể đội thể thao trong

Trang 7

điều kiện tập luyện, thi đấu

-Điểm nổi bật của hoạt động thể thao là thi đấu và tham gia thi đấu có kết quảcao

-Nghiên cứu đặc thù tâm lý của loại hình hoạt động thể thao và các môn thi đấuthể thao, cũng như nghiên cứu yếu tố hoàn cảnh, môi trường hoạt động của VĐV,nhóm đội thể thao cũng như HLV Trên cơ sở đó tìm kiếm quy luật tác động tâm lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác huấn luyện, đào tạo VĐV thể thao

*Nhiệm vụ

Trên cơ sở phân tích đặc điểm tâm lý của loại hình hoạt động thể thao, của từng môn thể thao hiện đại và thể thao dân tộc, tìm kiếm những quy luật tác động mang tính chất tâm lý - giáo dục, xã hội - huấn luyện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tập luyện, chuẩn bị tâm lý thi đấu cho VĐV và đội thể thao

*Nội dung

-Những tri thức về hoạt động thể thao

-Cơ sở tâm lý của việc giảng dạy và huấn luyện VĐV

-Đặc điểm và yêu cầu nhân cách của VĐV, đội thể thao và HLV

-Hệ thống tri thức tâm lý chung, tâm lý chuyên môn, tâm Iý thi đấu và những yếu tố tâm lý đảmbảo nhiệm vụ thi đấu của VĐV

-Nguyên tắc và phương pháp chẩn đoán, dự báo phát triển tài năng thể thao

và ứng dụng nó trong công tác tuyển chọn và xác định trình độ thể thao

1.2.2 Mối quan hệ giữa tâm lý học TDTT với tâm lý học đại cương và các lĩnh vực tâm lý khác

Tâm lý học TDTT có liên quan mật thiết với tâm lý học đại cương, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học xã hội, y học, nghệ thuật và tâm lý học giáo dục

1.2.3.Phương pháp nghiên cứu tâm lý học trong hoạt động TD, TT a Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát dùng để thu thập thông tin thông qua hành vi, cử chỉ, cách nói được biểụ hiện ra ngoài của đối tượng nghiên cứu, xác định nguyên nhân những biểu hiện đó

Các yêu cầu khi sử dụng phương pháp quan sát

Trang 8

-Quan sát có chủ định những hành vị, cử chỉ, hành động, hoạt động của đối tượng có liên quan tới mục đích

-Quan sát phải tiến hành thường xuyên, liên tục theo một chương trình, kế hoạch chặt chẽ để có những kết quả khách quan

-Quan sát tầm lý học sinh phải tiến hành trong điều kiện tự nhiên của hoạt động

giảng dạy, huấn luyện

-Không nên vội vàng và thiếu thận trọng đánh giá phẩm chất tâm lý học sinh khi chưa có cứ liệú và kết quả nghiên cứu nội tâm của họ

-Quan sát những đặc tính tâm lý xấu của học sinh cần chú ý, tìm hiểu nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới nét tâm lý xấu đó

-Cần thiết phải làm sáng rõ khuynh hướng tiến bộ và phát triển các yếu tố nhân cách của học sinh

-Việc quan sát tâm lý học sinh nên tiến hành trong điều kiện sinh hoạt, hoạt động tập thể, vì ở đó nhân cách mới bộc lộ một cách xác thực

-Cần phải hiểu ý nghĩ và tình cảm bao giờ cũng là yểu tố thúc đẩy học sinh hành động tốt hoặc xấu Vì vậy, khi quan sát tâm lý học sinh cần tiết phải làm sáng

tỏ động cơ hành động của chủ thể

b.Phương pháp đàm thoại

Đó là đặt rất những câu hỏi cho đối tượng và dựa vào trả lời của họ để trao đổi hỏi thêm nhằm thu nhập những thông tin về vấn đề cần nghiên cứu Qua đàm thoại có thể hiểu được tâm trạng, cảm xúc, tính cách, khí chất, hứng thú và năng lực của con người

Có thể đàm thoại trực tiếp hoặc gián tiếp, tuỳ sự liên quan của đối tượng với điều cần biết Có thể hỏi thăng hay hỏi đường vòng để nghiên cứu đối tượng

Muốn đàm thoại thu được tài liệu tốt, nên:

-Xác định rõ mục đích, yêu cầu hiện tượng tâm lý để đàm thoại đi đúng phương hướng nghiên cứu, tránh lan man

-Trước khi đàm thoại nên tìm hiểu đầy đủ đặc điểm tâm lý của đối tượng -Phải chủ động dẫn đắt câu chuyện đến chỗ cần tìm hiểu

-Tránh lối đặt câu hỏi sẵn kiểu vấn đáp, tránh những câu hỏi có thể dẫn đối

Trang 9

tượng đến chỗ trả lời máy móc có hoặc không

-Làm cho câu chuyện mang sắc thái tranh luận khi cần thiết

c Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

- Qua nghiên cứu sản phẩm hoạt động nhàn ghiên cứu có thể biết được mức

độ hiểu một vấn đề cách suy nghĩ, xúc cảm, kỹ năng, kỹ xảo, tài nghệ và sở thích Muốn sử dụng tốt phương pháp này người nghiên cứu cần:

-Tìm cách „„dựng lại” càng đầy đủ càng tốt quá trình hoạt động đưa đến sản phẩm nghiên cứu

-Tìm cách “phụ hiện” lại toàn cảnh trong đó sản phẩm được làm ra bằng đàm thoại với đối tượng nghiên cứu

d Phương pháp Ankét

Đó là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số lớn đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó Có thể trả lời viết nhưng cũng có thể trả lời miệng và có người ghi lại

Có thể điều tra thăm dò chung hoặc điều tra chuyên đề để đi sâu vào một số khía cạnh Câu hỏi dùng để kiểm tra có thể là câu hỏi đóng, tức là có nhiều đáp án

để đối tượng chọn một hay hai cũng có thể là câu hỏi mở để họ tự do trả lời

Dùng phương pháp này có thể trong một thời gian ngắn thu thập được ý kiến của rất nhiều người nhưng là ý kiến chủ quan Để có tư liệu tương đối chính xác, cần soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên, vì nếu ngưỡng người này phổ biến một cách tuỳ tiện thì kết quả nghiên cứu không cao

e Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm tâm lý là công cụ để tìm tòi những hiện tượng tâml ý mới Đây

là phương pháp thu thập các cứ liệu để kết luận khoa học có tính khách quan Đặc điểm cơ bản của phương pháp này là người nghiên cứu tạo ra trạng huống để những hiện tượng tâm lý của đối tượng nghiên cứu xuất hiện một cách khách quan và tự nhiên

Để có kết luận khoa học về vấn đề nghiên cứu cần thiết phải đo đạc,thực nghiệm nhiều lần và trong điều kiện trạng huống khác nhau

Thực nghiệm để nghiên cứu tâm lý TD, TT có thể tiến hành trong điều kiện

tự nhiên hoặc trong phòng thí nghệm

Trang 10

Thực nghiệm trong điều kiện tự nhiên của việc giảng dạy là phương pháp hay dùng trong nghiên cứu tâm lý giáo dục và tâm lý TD,TT Ví dụ: Thông qua giờ giảng trên lớp có thể nghiên cứu khả năng tiếp thu của học sinh, tổ chức một trò chơi vận động có thể đo đạc những chỉ số về mức độ xúc động

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành nhờ các phương tiện máy móc, dụng cụ nghiên cứu

f Phương pháp trắc nghiệm tâm lý (test)

Test là những bài tập thử nghiệm được thực hiện trong điều kiện quy định chặt chẽ để qua đó đo đạc một số biểu hiện tâm lý trong hoạt động của cá nhân

Ví dụ: nhờ thực hiện các bài tập thử nghiệm tâm lý người nghiên cứu có thể

khẳng định có hay không khả năng, kỹ năng, kỹ xảo của một VĐV Test tâm lý cũng cho phép nhà nghiên cứu khảo sát sự phù hợp hay không thuộc tính tâm lý của cá nhân với một loại hoạt động Chẳng hạn test phản xạ phức hợp có thể cho biểt khả năng phối hợp vận động của VĐV

Ngoài các phương pháp trên, hiện nay khi nghiên cứu về tâm lý học TD,TT cần sử dụng phối hợp với một số phương pháp chuyên biệt sau:

+ Các phương pháp nghiên cứu về cảm giác, tri giác vận động

-Đo cảm giác thời gian bằng cách đánh dấu trên giấy theo khoảng 10 giây trong thời gian 1 phút

-Đo cảm giác trương lực cơ bằng bóp lực kể tay theo mức độ quy định của thử nghiệm

-Đo phản xạ vận động đơn và phản xạ phức dưới tác động của tín hiệu âm thanh, ánh sáng hoặc màu sắc để phân loại hình thần kinh

-Đo mức độ chuẩn xác của cảm giác và trí tuệ vận động bằng phản ứng lựa chọn tín hiệu luôn thay đổi hoặc di động

-Đo trí nhớ thị giác và trí nhớ thao tác bằng phương pháp ghi nhớ màu sắc hoặc biểu hình mẫu trong bảng quan sát khi không xuất hiện lại vật ghi nhớ và phương pháp đọc và cộng các dãy số trong khoảng thời gian quy định

+Các phương pháp nghiên cứu ý chí và xúc động trong hoạt động TDTT +Các phương pháp nghiên cứu tâm lý hoạt động tập thể trong hoạt động TDTT: đánh giá và lựa chọn người cung hoạt động để khảo sát các yếu tố ăn ý,

Trang 11

đồng cảm, uy tín và vai trò đầu đàn trong hoạt động chuyên môn của đội thể thao

1.2.4.Vai trò và nhiệm vụ của môn tâm lý học TDTT trong chương trình đào tạo giáo viên TDTT

1.2.4.1.Vai trò

-Tâm lý học TDTT có vai trò quan trọng trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm GDTC Như GS, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã nói: “Mỗi một lý thuyết giáo dục hay mộtphương pháp giảng dạy đều phải có cơ sở tâm lý học của nó” GDTC cho học sinh thuộc lĩnh vực đào tạo con người, vì vậy không thể tiến hành thiếu cơ sở tâm

lý học chuyên ngành được Chỉ có vận dụng phương pháp tiếp cận hoạt động tâm

lý và thể chất thì công việc GDTC mới đạt mục đích mong muốn Trên thực tế, tâm lý học đã trở thành một bộ phận lý luận nghiệp vụ sư phạm GDTC Nhờ được trang bị kiến thức tâm lý học chuyên ngành, giáo viên sẽ lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động sư phạm một cách đúng đắn và có hiệu quả

-Lượng vận động tác động trực tiếp đến hệ thần kinh và các cơ quan chức năng của

cơ thể và luôn có tác động hai mặt Nếu lượng vận động phù hợp với khả năng chịu đựng của cơ thể học sinh sẽ nâng cao năng lực vận động Ngượclại quá sức sẽ gây mệt mỏi hoặc tổn thương đến việc phát triển sức khoẻ Vì vậy khoa học tâm lý giúp giáo viên TDTT nắm được đặc điểm tâm lý của học sinh trên cơ sở đó lựa chọn con đường tiếp cận học sinh một cách hợp lý

-Trong quá trình giáo dục trí tuệ, đạo đức, tình cảm cũng như thể chất của học sinh các yêu tố thông hiểu, thân thiết, đồng cảm, thân ái lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh luôn là chìa khoá thành công của mọi hoạt động giáo dục, giảng dạy

-Hình thành ở sinh viên kỹ năng phân tích và xử lý các trạng huống sư phạm

Trang 12

do nguyên nhân tâm lý gây nên trong quá trình giảng dạy, giáo dục

- Góp phần hình thành năng lực sáng tạo nghề nghiệp sư phạm GDTC

1.3 Những đặc điểm tâm lý của hoạt động GDTC

1.3.1.Khái niệm về hoạt động rèn luyện sức khoẻ, phát triển thể lực con người

Hoạt động rèn luyện sức khoẻ, thể chất không chỉ bị chi phối bởi quy luật hoạt động chung của con người mà còn bị chi phối bởi những quy luật chuyên môn

đặc thù của nó Vậy hiểu thế nào là hoạt động rèn luyện sức khoẻ, thể chất? Hoạt

động rèn ỉuyện thân thể, tăng cường sức khoẻ là hoạt động nhằm hoàn thiện, phát triển chất lượng hoạt động tâml lý, thể lực và kỹ năng vận động của học sinh

1.3.2.Đặc điểm

-Hoạt động GDTC tăng cường sức khoẻ là một trong những loại hoạt động

tự ý thức cao Nếu không tự ý thức được sức khoẻ, phát triển thể chất là hạnh phúc của cuộc sống, là động lực của mọi hoạt động sáng tạo của nhân cách thì con người không thể thực thi thường xuyên những lượng vận động nặng nhọc để có thể củng

cố, tăng cường sức khoẻ và hoàn thiện, phát triển thể chất toàn diện

-Hoạt động rèn luyện sức khoẻ, thể chất nhằm 3 mục đích chủ yếu có liên quan tới sự hoàn thiện và phát triển mặt sinh học và mặt xã hội của nhân cách Đó là:

+ Hoàn thiện, phát triển chất lượng về hình thái và thể trạng của cơ thể

+ Phát triển, hoàn thiện các quá trình tâm lý trong vận động thể lực cũng như nâng cao hoạt tính và năng lực tâm lý trong hoạt động nói chung của con người

+ Góp phần hình thành con người phát triển toàn diện để học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có hiệu quả

-Đối tượng hoạt động của GDTC là học sinh, sinh viên trong tất cả các trường học Nội dung hoạt động GDTC mang tính thống nhất, toàn diện kết hợp tự nguyện với bắt buộc trên toàn quốc

-Trong GDTC cũng có hoạt động thi đấu nhưng định hướng mục đích thi đấu

là để nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, tập luyện là chủ yếu

-Để tiến hành có kết quả công tác GDTC học sinh, ngoài yếu tố con người còn phải đảm bảo về cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ tập luyện cũng như công cụ đo lường thể thao, vấn đề vệ sinh môi trường tập luyện và các yếu tố sinh học cơ thể

Trang 13

thành thích kỷ lục thể thao của bản thân và đất nước

1.4.2.Ý nghĩa xã hội của hoạt động thể thao

-Hoạt động thể thao quần chúng cũng như thể thao thành tích cao đều giáo dục hoàn thiện con người phát triển toàn diện về thể chất và nhân cách để xây dựng

và bảo vệ tổ quốc

-Thi đấu thể thao không những là đua trường mà còn là nơi hội tụ giao tiếp của VĐV thể thao với tinh thần đoàn kết, hữu nghị, cao thượng, cùng phấn đấu cho hoà bình và hạnh phúc cũng như tầm cao của năng lực sáng tạo của con người

-Hoạt động sẽ tạo ra một hệ thống lý luận và phương pháp làm cho con người khoẻ mạnh, phát triển về vóc dáng và thể trạng, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân và xã hội; sử dụng các yếu tố thiên nhiên và xã hội để tăng cường sức khoẻ cũng như nghỉ ngơi tích cực và nâng cao sức sống tích cực của mình

- Hoạt động thể thao để giao lưu quốc tế, thực hiện chủ trương hội nhập thế giới theo đường lối đối ngoại của Đảng và Chính phủ

-Trong điều kiện mở rộng hình thức chuyên nghiệp hoá một số môn thể thao

và thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, hoạt động thể thao ở nước ta còn có ý nghĩa về kinh tế Hoạt động thể thao phải mang lại lợi ích kinh tế dưới hình thức góp phần tạo nguồn lực lao động có đủ sức khoẻ và ý chí để hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế

và xã hội; mở rộng dịch vụ hoạt động thể thao với nhiều phương thức để mang lại nguồn thu tài chính cho đất nước

1.4.3.Mục đích, động cơ của hoạt động thể thao

1.4.3.1 mục đích

Để xác định mục đích của hoạt động thể thao, chúng ta phải xuất phát từ nhu cầu giáo dục con người mới xã hội chủ nghĩa phong phú về mặt tinh thần, trong sạch về đạo đức và hoàn thiện về thể chất Do vậy, mục đích của hoạt động thể thao

Trang 14

là giúp cơ thể phát triển cân đối, hài hoà giữa thể chất và tinh thần, góp phần hình thành nhân cách con người phát triển toàn diện

Như vậy, những yêu cầu trong định hướng tư tưởng của Đảng và thể dục, thể thaochính là mục đích của hoạt động thể thao Những yêu cầu đó được mỗi công dân nhận thức sâu sắc và trở thành nhu cầu của bản thân họ Tuy nhiên, mỗi giai đoạn của cuộc cách mạng mục đích đó được cụ thể hoá thành mục tiêu phù hợp với tình hình phát triển kinh tế; văn hoá, xã hội của đất nước

Những mục đích đó luôn luôn được cụ thể hoá trong từng môn thể thao, trong việc đặt kế hoạch huấn luyện và tham gia từng cuộc thi đấu Mục đích này sẽ điều chỉnh mọi hoạt động thể thao của cá nhân và xã hội

1 4 3 2 Động cơ

Động cơ hoạt động thể thao là một mặt ý thức của VĐV phản ánh tư tưởng, tình cảm, thúc đẩy VĐV tích cực tậpluyện thể thao

Có 2 loại động cơ: Động cơ trực tiếp và động cơ giántiếp

+ Động cơ trực tiếp: là suy nghỉ, rung cảm xuất hiện ở VĐV, có liên quan trực tiếp đến hoạt động thể thao (do chính hoạt động thể thao gây nên) đã thúc đẩy VĐV tích cực tập luyệố thể thao Hoạt động thể thao do động cơ trực tiếp sau:

-Do cảm giác thoả mãn khi vận động

-Do thích vẻ đẹp, nhịp điệu

-Do thích thể hiện lòng can đảm, dũng cảm khi thực hiện các động tác khó và nguy hiểm

-Do thích đạt thành tích cao

+ Động cơ gián tiếp: là những suy nghĩ (rung cảm) xuất hiện ở VĐV do yếu

tố bên ngoài hoạt động thể thao gây nên đã thúc đẩy VĐV tích cực hoạt động thể thao

Các động cơ gián tiếp của hoạt động thể thao:

-Do nhận thức được tác dụng của hoạt động thể thao với sức khoẻ

-Do nhận thức được tác dụng của thể thao trong việc chuẩn bị cho con người

để chủận bị tốt cho các hoạt động xã hội khác

-Do nghĩa vụ phải tập luyện (như đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể)

-Do điều kiện môi trường thuận lợi trong việc tập luyện môn thể thao nào đó

Trang 15

(VD: gần sông thì biết bơi)

-Do nhu cầu vật chất thực dụng (bằng cấp, vị trí )

-Phụ thuộc vào mức độ thu nhập kinh tế thông qua tập luyện vả thi đấu (thu nhập cao mới tập)

-Do nhận thức được ý nghĩa xã hội của hoạt động thể thao đối với bản thân (VD: tập thể thaó vì màu cờ sắc áo, vì truyền thống thể thao của tập thể và của đất nước)

1.4.4 Đặc điểm tâm lý của hoạt động thể thao

-Trong hoạt động thể thao, người VĐV vừa là chủ thể vừa là khách thể hoạt động Tích cực hoạt động của VĐV là nhằm thoả mãn hoài bão đạt thành tích cao trong đua tài thể thao của bản thân

-Thể hiện tính tích cực vận động cơ thể một cách có ý thức, có tổ chức chặt chẽ và có tính chuyên sâu, chuyên biệt cao

-Thi đấu- đua tài thể thao là yếu tố nền tảng của hoạt động thể thao Vì vậy, hoạt động thể thao mang tính chất đua tranh quyết liệt để giành chiến thắng

-Hoạt động thể thao luôn xảy ra trong điều kiện căng thẳng tâm lýdo đòi hỏi cao và nỗ lực tâm lý trong hoạt động

-Hoạt động thể thao thuộc loại hình hoạt động sáng tạo Khi tiếp cận thành tưu thể thao, VĐV và đội thể thao, HLV và các nhà khoa học cso liên quan luôn phải nghiên cứu các con đường tối ưu để vượt lên trên mức khả năng hoạt động thể thao hiện có để giành chiến thắng

-Hoạt động thể thao gây xúc cảm, xúc động mãnh liệt đối với tâm lý con người Các kích thích thắng thua, thành công hay thất bại, vinh quang hay cay đắng

là nguyên nhân gây nên xúc cảm buồn vui cũng như xúc động sung sướng hoặ đau khổ ở người VĐV và HLV thể thao tới mức mãnh liệt

-Hoạt động thể thao đòi hỏi sự hứng thú và động cơ hoạt động bền vững, lâu dài Vì thể thao luôn đòi hỏi nhanh hơn, mạnh hơn, cao hơn và xa hơn

-Hoạt động thể thao đòi hỏi mức độ nỗ lực thể lực và tâm lý cao nhất

-Sản phẩm của hoạt động thể thao là loại sản phẩm đặc biệt, biểu hiện năng lực vận động kiệt xuất của con người Đó là kết quả tổng hợp về rèn luyện sức khoẻ, GDTC nhân cách và tâm lý xã hội đổi với con người trong quá trình tập luyện

Trang 16

thể thao

-Hoạt động thể thao có tính chất nhân văn cao cả và tư tưởng trong sáng như: đoàn kết, hữu nghị, trung thực, bình đẳng và tự do sáng tạo

1.4.5 Cấu trúc tâm lý của hoạt động thế thao

Hoạt động thể thao theo nghĩa rộnịậlà toàn bộ quá trình tập luyện và thi đấu thể thao, tức là hoạt động thực hiện theo chu kỳ, có hệ thống và trong một thời gian dài Đây là cấu trúc vĩ mô về hoạt động của VĐV để đạt thành tích cao trong thi đấu thể thao Trong trường hợp này đơn vị cấu trúc hoạt động là tập luyện, thi đấu, chế độ tập luyện và nghỉ ngơi, hồi phục Những mục đích nhiệm vụ cụ thể của hành động này và thành tích thể thao là thành phần quan trọng của cấu trúc tâm lý hoạt động thể thao Có thể biểu thị cấu trúc tổng thể của hoạt động thể thao sơ đồ sau:

Tóm lại, hoạt động thể thao không đơn giản là một tổng số các động tác, hành động phản xạ vận động, mà là kết quả của việc giải quyết nhiệm vụ vận động, là sản phẩm cụ thể về nỗ lực ý chí của VĐV.Trong thể thao, các sản phẩm được đo bằng số điểm, kilôgam, mét, giây Như vậy có ý nghĩa là, cấu trúc tâm

lý của hoạt động thể thao bao gồm các kết quả hoạt động của VĐV Thành tích thể thao là sản phẩm đặc biệt của hoạt động thể thao, đặc biệt là những thành tích kỷ lục trong các cuộc thi đấu lớn như vô địch quốc gia, seagames, vô địch châu Á và Thế vận hội

SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HOẠT ĐỘNG THỂ THAO

Động cơ xúc

cảm hoạt động

Phương thực hoạt động

Thành quả của hoạt động

Nh

u

cầu

Mục đích Động cơ bài tập tâm BTTC và

Yế

u tố sin

h học

Yếu

tố sư phạm

Yế

u tố

xã hội học

Yếu tố tâm lý hoạt động

Kỹ thuật

Chiến thuật

Trang 17

CHƯƠNG II

CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC TRONG GIÁO DỤC THẺ CHẤT

2.1.Cấu trúc tâm lý củá động tác vận động thể lực

2.1.1 Đặc điểm chung của bài tập thể chất

Các hoạt động TD, TT luôn gắn bó với các hành vi vận động nhất định Những hành vi đó nếu được tổ chức tương ứng với các quy luật của giáo dục thể chất thì được gọi là các bài tập thể chất Dấu hiệu nổi bật của bài tập thể chất là sự tương ứng giữa hình thức và nội clung vận động với bản chất của GDTC, với các quy luật tiến hành việc giáo dục đó Sự hình thành các BTTC là sự cố gắng của con người trong quá trình thoả mãn nhu cầu vận động và phát triển năng lực thể chất Các hành vi vận động ngay từ giai đoạn đầu tiên của mình đã được sáng tạo từ các thao tác hoạt động lao động, quân sự Con người đã tách các hành vi đó khỏi ý nghĩa lao động, chiến đấu để cấu thành' động tác TD, TT và thực hiện chúng không

để đạt mục đích sản xuất, chiến đấu ma là để thỏa mãn nhu cầu rèn luyện sức khỏe, thể chất Các hành vi vận động đó được xã hội thừa nhận và lưu truyền lại cho thế

hệ sau bởi vì nó có tính ưu việt trong việc rèn luyện, hoàn thiện, phát triển thể chất con người Đó chính là cơ sở của sự sáng tạo trong các BTTC và môn thể thao thi đấu ngày nay

Các môn thể thao hiện đại và dân tộc về cơ bản luôn luôn gắn liền với BTTC Đặc điểm của chúng là tính chuyên mon hóa cao nhàm giải quyết nhiệm vụ GDTC

và thi đấu thể thao Mặt khác, BTTC còn thúc đẩy cả việc hoàn thiện các phẩm chất đạo đức, ý chí con người

2.1.2 Đặc điểm tâm lý của bài tập thể chất

Đặc điểm tâm lý của BTTC được xác định dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm chung về cấu trúc hoạt động TD, TT ở từng môn thê thao cụ thể và nhiệm vụ giáo dục thể chất cụ thể

Để lĩnh hội và sử dụng một cách hợp lý các bài tập thể chất phải xem xét cấu trúc hình thức và nội dung của nó Nội dung của BTTC bao gồm các cử động tạo nên nó và các quá trình tâm lý - sinh lý xảy ra trong cơ thể khi thực hiện bài tập đó Hình thức của BTTC là'cấu trúc bên ngoài và cấu trúc bên trong (cấu trúc bên ngoài

Trang 18

là hình dáng có thể nhìn thấy được như các thông số không gian, thời gian, động lực cũng như quỹ đạo của các bộ phận cơ thể tham gia động tác; cấu trúc bên trong là quá trình hoạt động của các chức năng cơ thể, các quá trình phối hơp thần kinh cơ, các quá trình chuyển hóa năng lượng và quá trình tâm lý điều khiển vận động)

BTTC khác nhau trước hết là theo mức độ phức tạp của các quá trình tâm lý sau đó là theo mức độ nỗ lực thể lực và tính chất lôi cuốn các yếu tố bên ngoài vào hoạt động đó

2.2.Cơ sở tâm lý của hoạt động giảng dạy kỹ thuật vận động trong GDTC

2.2.1 Cấu trúc tâm lý của hành động vận động

Quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác TD, TTlà quá tình giúp cho học sinh hiểu và biết điều khiển hoạt động vận động của mình Tức là hoàn thiện về mặt chất lượng động tác và nâng cao độ tin cậy của điều khiển động tác theo các tham số không gian, thời gian và cường độ nỗ lực cơ bắp, hình thức cũng như nhịp điệu và quỹ đạo vận động Sự tiếp thu động tác vận động của học sinh bắt đầu từ việc hình thành chương trình hành động Đó là điều kiện tâm lý của mọi hành động vận động của con người Trong quá trình thiết lập chương trình hành động vận động tổng thể nhất thiết phải có tư duy trừu tượng và hình dung được cách thức thực hiện động tác vận động giúp cho học sinh hiểu sâu sắc hơn mối quan hệ của các yếu lĩnh kỹ thuật động tác

Sự tiếp thu động tác vận động của học sinh bắt đầu từ việc hình thành chương trình hành động Đó là điều kiện tâm lý của mọi hành động vận động của con người Trong quá trình ttiiết lập chương trình hành động vận động tổng thể nhất thiết phải

có tư duy trừu tượng và hình dung được cách thức thực hiện động tác vận động giúp cho học sinh hiểu sâu sắc hơn mối quan hệ của các yếu lĩnh kỹ thuật động tác

Cấu trúc tâm lý của hành động vận động được biểu thị theo sơ đồ sau:

Trang 19

óm lại, một hành động vận động thể lực, theo quy luật tâm lý vận động bao giờ cũng thực hiẹn theo một chương trình hành động trọn vẹn có sự tham gia điều khiển, điều chỉnh của ý thức Để có phương án chuyển động sinh cơ phù hợp, chủ thể phải hình dung thị giác, thính giác và trực giác khác về hình thức và nội dung động tác Qua đó, xác lập biểu tượng về hành động hoàn chỉnh và điều khiển thực hiệnchúng theo các thông số kỹ thuật Trong quá trình thực hiện vận động nhất thiết phải có sự can thiệp của ý thức để đánh giá, đối chiếu, điều chỉnh nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hành động vận động

2.2.2.Quy luật tâm lý của quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động

CHƯƠNG TRÌNH CỦA MỘT HÀNH ĐỘNG VẬN

ĐỘNG

Hình dung qua thị giác

Hình dung qua thính giác

Hình dung qua

Trực giác Biểu tượng về một hành

độngvận động hoàn chỉnh

Hình dung qua chức năng tiền đình

Phương án chuyển động sinh cơ

Các yếu tố thời gian chuyển động:

-Nhanh -Chậm -Đồng Thời -Lần lượt

chuyển động

Yếu tố chuyển tiếp yếu lĩnh vân động:

-Tần số -Nhịp điệu

Yếu tố dùng sức:

-Cường độ -Mức căng thẳng

-Thả lỏng

Trang 20

2.3.Những yêu cầu tâm lý của hoạt động sư phạm trong lĩnh vực GDTC

2.3.1.Đặc điểm chung về hoạt động sư phạm trong lĩnh vực GDTC

Hoạt động GDTC học sinh thực chất là một quá trình dạy học, huấn luyện

Nó tồn tại như một thể thống nhất bao gồm nhiều thành tố như: điều tra sức khoẻ, thể chất học sinh, xác lập mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện giảng dạy, huấn luyện và đánh giá kết quả GDTC học sinh Giáo viên gắn với hoạt động giảng dạy, học sinh gắn 'với học động học tập, tập luyện Mục đích của hoạt động sư phạm là:

-Trang bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng có liên quan đến việc bảo vệ,tăng cường sức khoẻ và hoàn thiện thể chất

-Hình thành và phát triển ý thức tự chăm lo sức khoẻ, hoàn thiện thể chất bảnthân, cũng như năng lực hoạt động thể lực và nhân cách nói chung của học sinh trong lĩnh vực GDTC và trong đời sống nói chung

-Góp phần chăm lo sức khoẻ thể chất, tinh thần và xã hội cho học sinh Như vậy, GDTC làmột mặt giáo dục tương đối độc lập và mang tính đặc thù

2.3.2.Những yêu cẩu tâm lý đối với giáo viên và học sinh trong quá trình GDTC

2.3.2.1.Đối với giáo viên

-Thường xuyên biến đổi tình huống giảng dạy, giáo dục, huấn luyện Trước hết là để lôi cuốn sự chú ý cũng như sự thiết lập quan hệ đúng đắn của học sinh đối với nhiệm vụ học tập tập luyện sau nữa là để xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau

-Thống nhất giữa hoạt động tâm lý và hoạt động thể lực, giáo dục theo lứa tuổi và theo thời kỳ đột biến phát triển cơ thể học sinh và nguyên lý giáo dục cá biệt, chuyên môn hoá sâu

-Kiến lập chương trình, kế hoạch hoạt động, quẫn lý, giám sát thực thi cũng như đánh giá kết quả, xử lý các thông tin ngược từ phía học sinh để điều chỉnh hoạt động sư phạm của mình

Hoạt động sư phạm của giáo viên GDTC được thực hiện qua các giai đoạn sau:

+ Giai đoạn chuẩn bị (lập kế hoạch), bao gồm việc xác định mục đích, nhiệm

Trang 21

vụ, nội dung và phương pháp, biện pháp chính của công tác giảng dạy, giáo dục, huấn luyện Giai đoạn này càng tỉ mỉ, cụ thể bao nhiêu thì càng đem lại sự chủ động trong công việc bấy nhiêu, về khía cạnh tâm ỉý, nó sẽ làm giảm bớt trạng thái tâm lý căng thẳng khi có trạng huống gay cấn, khó khăn xảy ra

+ Giai đoạn thực thi kế hoạch: đó là các hoạt động như điều khiển học sinh học tập, tập luyện, kiểm tra hoạt động học tập của học sinh, tự điều chỉnh tâm lý để khắc phục các trở ngại, khó khăn do trạng huống sư phạm gây nên

+ Giai đoạn đánh giá, tổng kết, điều chỉnh: đánh giá kết quả đã đạt được để tìm ra nguyên nhân khách quan, chủ quan có liên quan tới việc thành công hay không thành công của kế hoạch

Tóm lại: hoạt động sư phạm của người giáo viên GDTC là loại hình lao động

chuyên nghiệp phức tạp Hoạt động lao động sư phạm của giáo viên đòi hỏi phải có

khả năng tư duy Xác định tình huống sư phạm đúng đẳn và tìm giải pháp xử lý tình huống hợp lý Mặt khác, đó là ỉoại hình hoạt động đòi hỏi ỷ thức quản lý, điều hành rất chặt chẽ và thường xuyên trong quá trình hoạt động

2.3.2.2.Đối với học sinh

-Cần phải nhận thức đúng đắn vai trò, ý nghĩa của tínhtích cựcvận động và tưduy trong tiếp thu kiến thức cũng như trong thực hiện bài tập

-Phải tập trung chú ý, nỗ lực ý chí vượt qua mệt mỏitrongkhithựchiệnbàitập

2.4 Những thủ pháp tâm lý nâng cao hiệu quả GDTC

-Cần phải xây dựng ý thức và kỹ năng tậptrun, chú ý, bao gồm chú ý tập

trung, ổn định cũng như luân chuyển chú ý cho học sinh trong khi tiếp thu tri thức của giáo viên

-Phải quan tâm đến việc nâng cao hoạt tính của các quá trình tâm lý tham gia vào các động tác và BTTC thông qua hệ thống các bài tập tâm lý Sự tinh tế trong cảm giác, tri giác về vận động, cũng với tính linh hoạt trong tưởng tượng sẽ đảm bảo tốt cho việc tiếp thu động tác vận động và những kiến thức về tập luyện TDTT của người học

-Trong giảng dạy giáo viên cần sử dụng rộng rãi các biện pháp tâm lý nhằm kích thích sự nỗ lực ý chí, tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ hết khả năng sẵn có của mình và biến các khả năng đó thành hiện thực một cách có hiệu quả

Trang 22

-Cần hình thành ở người tập hứng thú thể thao và tính tích cực hoạt động một cách bền vững và sâu sắc, qua đó nâng cao khả năng thực hiện các lượng vận động cao dần trong tập luyện

-Trong quá tình giảng dạy giáo viên phải đồng thời bồi dưỡng tri thức thẩm

mỹ, tác phong đạò đức, tri thức khoa học về con người và môi trường sống cũng như lối sống khoẻ mạnh cho học sinh

- Bảo đảm sự thống nhất giữa hoạt động giảng dạy, giáo dục của giáo viên và hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh ở mọi nơi mọi lúc của quy trình GDTC

2.4.Cấu trúc nghê nghiệp và yêu cầu nhân cách của giáo viên giáo dục thể chất

2.4.1.Chức danh, nhiệm vụ, chức năng xã hội và nghề nghiệp của giáo viên GDTC

Theo nguyên lý hoạt động, vấn đề nhân cách và xác định vai trò chủ thể của con người trong hoạt động chi phối rất lớn thành tựu của cuộc sống và hiệu quả hoạt động củacá nhân Thực tiễn hoạt động TD, TT cho thấy, một giáo viên GDTC khi xác định được vị trí, chức; năng của mình trong xã hội là một nhà giáo dục, thì họ rất vững vàng, tự tin và có trách nhiệm hơn trong hoạt động giao tiếp và hoạt động nghề nghiệp

Giáo viên GDTC cũng như bất kỳ giáo viên bộ môn nào trong trường học, cần nhận thức được vị trí, chức năng xã hội của bản thân để phấn đấu phát triển mình theo những chuẩn mực mà xã hội và Nhà nước yêu cầu:

-Chức danh xã hội của giáo viên GDTC: theo Luật Giáo dục được Quốc hội nướcta thông qua năm 1998; Pháp lệnh công chức và Pháp lệnh TDTT của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố năm 1998 và năm 2000 là: thầy cô giáo đang tham gia giảng dạy TD, TT trong nhà trường phổ thông, trung học, cao đẳng, đại học được mang chức danh là nhà nhà giáo - người công chức Nhà nước Ở cương vị này nhà giáo trước hết phải có phẩm chất đạo đức, tư tưởng và sức khoẻ tốt; nắm vững kiến thức, hiểu biếtvà kỳ năng hoạt động sư phạm tương ứng với yêu cầu trình độ đào tạo càn thiết và các yêu cầukhác theo quy định của Nhà nước đối với người công chức

Trang 23

2.4.1.1.Chức năng và nhiệm vụ xã hội của giáo viên GDTC

Chức năng xã hội bao quát nhất của nhà giáo trong đó có giáo viên GDTC ở bậc phổ thông và giảng viên ở bậc cao đẳng, đại học là chức năng giáo dục - đào tạo nhân lực lao động sản xuất xã hội, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Giáo viên GDTC còn có chức năng chăm lo và bảo vệ sức khoẻ thể chất cho học sinh; phát hiện, bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước

2.4.1.2.Nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên GDTC

Giáo viên GDTC có nhiệm vụ chuyên môn là:

-Giảng dạy, giáo dục, huấn luyện TD, TT cho học sinh, sinh viên theo đúng mục tiêu, nguyên lý và chương trình GDTC đã đươc Chính phủ ban hành một cách đầy đủ và chất lượng

-Tổ chức hoạt động TD, TT quần chúng trong học sinh, sinh viên, qua đó phát hiện và bồi dưỡng bước đầu năng khiếu thể thao trong trường học

-Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ nhà giáo và người công dân, các quy chế quy định của ngành Giáo dục - Đào tạo và pháp luật của Nhà nước

-Giữ gìn phẩm chất đạo đức, danh dự, uy tín của nhà giáo, tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với học sinh, sinh viên và bảo vệ lợi ích chính đáng của

2.4.1.3.Chức năng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên GDTC

Để hoàn thanh được các nhiệm vụ xã hội của mình, giáo viên GDTC phải thực hiện những chức năng GDTC, huấn luyện thể thao dưới đây:

-Chức năng thiết kế, biên soạn kế hoạch, chương trình, tiến trình giảng dạy, huấn luyện;

-Chức năng tổ chức quản lý, điều hành quá trình GDTC cho học sinh;

-Chức năng phân tích, dự báo trạng huống sư phạm và kêt quả giảng dạy, học tập, huấn luyện

- Chức năng truyền thụ và giáo dục;

Trang 24

- Chức năng tư vấn về các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động sư phạm GDTC

2.4.2.Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của giáo viên GDTC

Để giảng dạy và huấn luyện TD, TT có hiệu quả, giáo viên GDTC phải cónhững phẩm chất yà năng lực cơ bản sau đây: thiện chí ngành nghề sư phạm; tri thứcvà kỹ năng nghiệp: vụ sư phạm; uy tín nghề nghiệp

2.4.2.1.Thiện chí ngành nghề sư phạm GDTC

-Thiện chí đối với ngành nghề sư phạm GDTC được hiểu là nguyện vọngtương đối ổn định được học tập, nghiên cứu và làm giáo viên GDTC trong trường học.Thiện chí đó thường được thể hiện trong ý nghĩ, động cơ, tình cảm yêu trẻ và thích thú hoạt động TD, TTcủa người giáo viên

-Tình cảm yêu quý trẻ em dẫn tới mong muốn làm việc với học sinh và tham gia hoạt động GDTC để đem lại cho tuổi thơ những niềm hạnh phúc trong đời sống sưc khoẻ, vui chơi giải trí và phát triển tài năng thể thao

-Đam mê hoạt động TD, TT là yếu tố quan trọng hình thành thiên hướng nghề nghiệp của giáo viên GDTC Thói quen tích cực hoạt động rèn luyện thân thể hàng ngày, thích thú hoạt động thể thao cũng với nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tác động của hoạt động TD, TT là những nguyên nhân tâm lý để hình thành nên thiện chí nghề nghiệp sư phạm GDTC của phần lớn giáo viên, HLV TDTT

2.4.2.2.Kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cần thiết của giáo viên GDTC

*Kiến thức khoa học có liên quan tới nghề sư phạm GDTC

+ Kiến thức chung: kiến thức chính trị xã hội, văn hoá, nghệ thuật, lịch sử có liên quan tới văn hoá thể chất, sức khoẻ của con người

+ Kiến thức chuyên môn: kiến thức có liên quan tới nghiệp vụ sư phạm GDTC như kiến thức về giáo dục học; tâm lý học, y sinh học về cơ thể người và lý luận về phương pháp GDTC và huấn luyện thể thao

Giáo viên có thể tiếp thu các kiến thức trên theo nhiều kênh: đọc sách báo, giáo khoa, nghe giảng tại lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ, thông qua hội thảo, toạ đàm với các giáo viên bộ môn, thông qua mối liên hệ của học sinh trong quá trình giảng dạy, giáo dục để tích luỹ kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ

Trang 25

Việc phân tích kết quả hoạt động TDTT trong nước và trên thế giới cũng là một hình thức quan trọng để tích ỉuỹ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên

Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên GDTC cần thiết nhất đối với giáo viên GDTC bao gồm:

- Kiến thức lý luận về lịch sử TDTT, về các quy luật hoạt động sinh học của

cơ thể người, quy luật sinh cơ trong hoạt động vận động của cơ thề, kiển thức về các nguyên tắc, phương pháp giảng dạy, giáo dục, huấn luyện

-Kiến thức thực hành, đó là những kiến thức về cách thức hướng dẫn học sinh tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động

-Kiến thức về giáo học pháp: đó là kiến thức về cách thức giảng giải, thị phạm, hướng dẫn tổ chức quá trình giảng dạy, GDTC cho học sinh

*Yêu cầu về kỹ năng của giáo viên

Kỹ năng là sự nắm vững những phương thức vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đã đề ra

Kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên bao gồm:

-Kỹ năng biên soạn chương trình, giáo trình, tiến trình, giáo án giảng dạy và

kể hoạch huấn luyện thể thao, biết thiết kể các kế hoạch hoạt động TDTT của nhà trường

-Kỹ năng tổ chức động viên, tập thể, các nhân thực thi các kể hoạch giảng

dạy, giáo dục, huấn luyện và các kể hoạch công tác khác của mình và bộ môn Trong GDTC, năng lực tổ chức có ý nghĩa lớn đối với việc hoàn thiện công việc một cách có chất lượng trong khoảng thời gian cho phép Vì vậy, giáo viên GDTC không những phải biết tổ chức tốt công việc của mình mà còn phải biết tổ chức hoạt động của học sinh một cách khoa học

-Kỹ năng giao tiếp: đó là những kỹ năng có liên quan tới cách thức quan hệ tình cảm và công việc với học sinh, với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh cũng như với cán bộ lãnh đạo của mình Kỹ năng này thể hiện ở chỗ biết tiếp xúc ban đầu

để thiết lập quan hệ tình cảm, công việc chung và riêng tư Đây là kỹ năng có lợi cho việc tổ chức công việc hoạt động TDTT cũng như thiết lập khối đoàn kết thống nhất tập thể

-Kỹ năng phân tích, dự báo trạng huống sư phạm Đây là kỹ năng có liên

Ngày đăng: 21/11/2017, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w