Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp hoàn thiện quy trình, nguyên tắc đo lường doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận ở Công ty phù hợp với
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY
HÒA THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY
HÒA THỌ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Diệu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Bố cục đề tài 4
8 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 8
1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 8
1.1.1 Khái niệm lợi nhuận 8
1.1.2 Mục tiêu đo lường lợi nhuận 9
1.2 NGUYÊN TẮC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN 10
1.2.1 Cơ sở dồn tích 10
1.2.2 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu 11
1.2.3 Nguyên tắc phù hợp 13
1.2.4 Nguyên tắc thận trọng 14
1.3 ĐO LƯỜNG DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 15
1.3.1 Đo lường doanh thu 15
1.3.2 Đo lường chi phí 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27
Trang 5CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN
TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ 28
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ 28
2.1.1 Giới thiệu về Tổng công ty 28
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý 31
2.1.3 Cơ cấu tổ chức sản xuất 33
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Tổng Công ty 33
2.2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ 36
2.2.1 Đo lường và ghi nhận doanh thu, thu nhập 36
2.2.2 Đo lường và ghi nhận chi phí 48
2.2.3 Đo lường lợi nhuận kế toán tại Tổng Công Ty Cổ Phần Dệt May Hòa Thọ 59
2.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VỀ CÔNG TÁC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ 62
2.3.1 Ưu điểm 62
2.3.2 Hạn chế 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 : HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ 67
3.1 HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG DOANH THU 67
3.1.1 Đối với doanh thu bán hàng 67
3.1.2 Đối với doanh thu tài chính 68
3.1.3 Tập hợp lại doanh thu và thu nhập khác sau khi xác định lại 69
3.2 HOÀN THIỆN ĐO LƯỜNG CHI PHÍ 69
3.2.1 Đối với giá vốn hàng bán 69
Trang 63.2.2 Đối với chi phí lãi vay 70
3.2.3 Chi phí bán hàng 71
3.2.4 Chi phí QLDN 74
3.2.5 Chi phí thuế TNDN 74
3.2.6 Tập hợp các khoản chi phí sau khi xác định lại theo nguyên tắc phù hợp và thận trọng 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
Trang 7NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.2 Bảng tổng hợp doanh thu hoạt động tài chính năm 2013 46 2.3 Bảng tổng hợp các khoản thu nhập khác năm 2013 47 2.4 Bảng tổng hợp chi phí giá vốn năm 2013 50 2.5 Bảng tổng hợp chi phí bán hàng năm 2013 52 2.6 Bảng tổng hợp chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2013 54 2.7 Bảng tổng hợp các khoản dự phòng đầu tư 57 2.8 Bảng tổng hợp chi phí tài chính năm 2013 58
2.10 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 61
3.1 Bảng tổng hợp doanh thu và thu nhập sau khi điều chỉnh
lại
69
3.3 Bảng lập dự phòng các khoản nợ phải thu theo tuồi nợ 74 3.4 Bảng tập hợp lại chi phí sau khi xác định lại 75 3.5 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013 75
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
2.2 Sơ đồ bộ máy quản lý của Tổng công ty cổ phần Dệt
may Hòa Thọ
31
2.4 Sơ đồ quy trình hạch toán tại Tổng Công ty CP Dệt
may Hòa Thọ
36
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng, dựa vào đó, nhà quản trị, cổ đông cũng như giới hữu quan đánh giá hiệu quả kinh tế, triển vọng tăng trưởng và đưa ra nhiều quyết định Chính vì vậy, nhà quản trị doanh nghiệp thường có
xu hướng điều chỉnh lợi nhuận kế toán nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn thông qua công cụ kế toán Các nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận (GAAPS) cũng cho phép nhà quản trị linh hoạt trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán và ước tính kế toán Chính sự linh hoạt này, nên các nhà quản trị có xu hướng quản trị lợi nhuận ( điều chỉnh lợi nhuận) phù hợp mục đích của mình
Do đó, đo lường lợi nhuận kế toán thật sự cần thiết nhằm giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin, có được nguồn thông tin chính xác, để đưa ra quyết định đúng đắn Nhưng muốn đo lường lợi nhuận chính xác, thì các bộ phận cấu thành nó phải được đo lường chính xác và hạch toán cụ thể Lợi nhuận được đo lường bằng chênh lệch giữa doanh thu với chi phí Nên muốn
đo lường lợi nhuận thì cần đo lường doanh thu và chi phí
Đo lường doanh thu, chi phí ở Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ chưa tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, quy định của chuẩn mực kế toán Chẳng hạn, doanh thu xuất khẩu được ghi nhận chưa tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, thời điểm ghi nhận doanh thu trong nhiều trường hợp được ghi nhận khi chưa chuyển giao toàn bộ rủi ro sang cho khách hàng Và việc xác định chi phí trong kỳ tương ứng với doanh thu cũng là vấn đề quan trọng đối với một doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may Qua tìm hiểu thực tế tại công ty, thì việc ghi nhận chi phí cũng chưa phù hợp với doanh thu Lý do là lĩnh vực dệt may, khoản mục chi phí đa
Trang 112 dạng, số lượng chủng loại hàng hóa phong phú, nên không thể tập hợp đầy đủ chi phí tương ứng với doanh thu Và việc ước tính chi phí để đảm bảo nguyên tắc phù hợp có thực hiện tại công ty, nhưng lại không thực hiện cho tất cả các khoản chi phí Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thì chưa thực hiện hạch toán phế liệu thu hồi sau sản xuất để giảm giá thành sản phẩm Từ đó, lợi nhuận xác định trong kỳ không phản ánh sát với hiệu quả kinh tế mà công
ty tạo ra Thực tế này làm cho chất lượng của thông tin kế toán không đảm bảo Bản thân tôi là một nhân viên của công ty, tác giả nhận thấy và phát hiện nhiều tồn tại Từ đó, tác giả đã chọn đề tài : “Đo lường lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm chỉ ra những tồn tại về việc đo lường và ghi nhận lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ, qua đó đề xuất hoàn thiện đo lường và ghi nhận lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ, phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực kế toán có liên quan
3 Câu hỏi nghiên cứu
§ Đo lường và ghi nhận lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ có tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán ?
§ Những giải pháp cần hoàn thiện đo lường và ghi nhận lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ?
4 Đối tượng và phạm vi nhiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các nội dung liên quan đến
đo lường lợi nhuận kế toán, bao gồm đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí
để xác định lợi nhuận kế toán
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đo lường lợi nhuận kế toán tại
Trang 123 Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ Nguồn dữ liệu và thông tin sử dụng trong luận văn được thu thập trực tiếp từ số liệu văn phòng tổng công ty, giới hạn ở lĩnh vực may Số liệu minh họa là số liệu năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp mô tả, giải thích và suy luận logic để nghiên cứu đo lường lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp
Phương pháp mô tả được vận dụng nhằm tìm hiểu thực tế việc đo lường doanh thu, chi phí, xác định lợi nhuận kế toán ở Công ty để từ đó trình bày lại những vấn đề cơ bản về đo lường lợi nhuận kế toán
Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích các công việc quan sát được như: trình bày một cách tường tận các bản chất của đo lường loại nhuận, các mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí với lợi nhuận, dựa vào các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan Qua đó giúp đánh giá những ưu điểm, bất cập về đo lường lợi nhuận kế toán ở Công ty
Phương pháp suy luận logic được áp dụng để suy luận các vấn đề về đo lường doanh thu, chi phí từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện việc đo lường lợi nhuận tại Công ty
Thông tin, số liệu thu thập từ quan sát và tìm hiểu thực tế tại các bộ phận tham gia trực tiếp, gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty
Dữ liệu (số liệu kế toán về doanh thu, chi phí) được thu thập trực tiếp từ bộ phận kế toán của Tổng công ty thông qua các nhân viên kế toán phụ trách
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp hoàn thiện quy trình, nguyên tắc
đo lường doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận ở Công ty phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Từ đó, cung cấp thông tin hữu
Trang 134 ích, đáng tin cậy về lợi nhuận của hoạt động SXKD cho những đối tượng quan tâm Kết quả nghiên cứu này cũng có thể nhân rộng để áp dụng cho các doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực may mặc
8 Tổng quan tài liệu
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu tạo ra trong kỳ và chi phí phải bỏ ra để tạo nên doanh thu đó Do vây, việc đo lường doanh thu cũng chính là đi đo lường doanh thu và chi phí Việc nghiên cứu về ghi nhận doanh thu, chi phívà đo lường lợi nhuận tại các doanh nghiệp được nhiều tác giả quan tâm Đối với vấn đề này, không chỉ luận văn mà còn nhiều tạp chí kế toán cũng đã đề cập đến
Trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Tống Thị Hoa (2011) đã thực hiện luận văn về “Vận dụng nguyên tắc phù hợp trong doanh nghiệp xây lắp tại công ty
cổ phần máy & thiết bị phụ tùng (Seatech)” Tác giả đã nêu lên được nguyên tắc ghi nhận chi phí phù hợp với doanh thu theo quy định của chuẩn mực kế toán và việc vận dụng nguyên tắc phù hợp trong lĩnh vực xây lắp Tác giả cũng đã đưa ra được các ý kiến hoàn thiện việc ghi nhận doanh thu như: định
Trang 145
kỳ xác đinh doanh thu chi tiết cho từng công trình, tăng cường công tác nghiệm thu và xác định giá trị dở dang cuối kỳ Tuy nhiên, trong luận văn này chi phí quản lý doanh nghiệp tác giả đã phân bổ cho các đối tượng tập hợp chi phí theo tổng chi phí phát sinh trong kỳ, khi đó, trong giá trị dở dang cuối kỳ
có bao gồm cả chi phí quản lý doanh nghiệp, điều này đã vi phạm nguyên tắc thận trọng, đối với chi phí quản lý doanh nghiệp phải được ghi nhận là chi phí sản xuất trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
Cùng trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Nguyễn Thị Phi Yến (2013) đã thực hiện luận văn “Đo lường lợi nhuận tại Công ty Cổ Phần An Tâm” Tác giả đã mô tả việc đo lường lợi nhuận tại công ty cổ phần An Tâm, từ đó, đưa
ra các phương pháp nhằm hoàn thiện công tác đo lường lợi nhuận tại Công ty
Cổ phần An Tâm Tuy nhiên, tác giả chỉ dựa trên có nguyên tắc kế toán để xác định là lợi nhuận có được đo lường hợp lý hay không chứ chưa đi sâu vào việc vận dụng các nguyên tắc kế toán này để nhằm thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Trong lĩnh vực sản xuất, tác giả Lê Thoại Vy ( 2013) đã thực hiện luận văn “ Đo lường lợi nhuận tại Công ty sữa đậu nành Việt Nam – VinaSoy” Tác giả đã đánh giá thực trạng về công tác đo lường doanh thu, chi phí, lợi nhuận tại Công ty sữa đậu nành Việt Nam - VinaSoy Từ đó nêu ra được những ưu điểm và tồn tại trong công tác đo lường lợi nhuận tại Công ty Tác giả cũng nêu ra nhưng hạn chế khi sử dụng phương pháp FIFO tại công
ty
Bên cạnh đó, tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) đã thực hiện luận văn về
“ Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Tác giả đã đánh giá
về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC của các công ty trong
Trang 156 năm đầu niêm yết trên TTCK Từ đó, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có nhìn nhận đúng đắn hơn về BCTC của các công ty niêm yết trong việc nghiên cứu đưa ra quyết định đầu tư Qua nghiên cứu tác giả cũng đề
ra các kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhằm góp phần nâng cao tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC của các công ty
cổ phần niêm yết trên TTCK Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong việc vận dụng các ước tính kế toán trong BCTC
Ngoài ra, bài viết được đăng trên trên tạp chí kế toán của tác giả Nguyễn Công Phương (2009) về chủ đề “Kế toán theo sơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền” Bài viết đề cập đến việc vận dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, nhà nhà quản trị có thể thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn của mình nhằm đạt được mục tiêu nào đó Các công cụ được dùng để điều chỉnh là: lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và ước tính các khoản chi phí, doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ
Cũng trên tạp chí kế toán, đăng trên số 4/2012 (103), trang 27-29 có bài nghiên cứu trao đổi về “Làm rõ việc ghi nhận doanh thu theo quy định hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Công Phương và TS Trần Đình Khôi Nguyên đã làm rõ hơn về thời điểm và phương pháp ghi nhận doanh thu trong chuẩn mực
số 14-Doanh thu và thu nhập khác và Chế độ kế toán có liên quan Cụ thể, nghiên cứu phân tích các điều kiện ghi nhận doanh thu và ghi nhận doanh thu trong một số trường hợp đặc thù Nghiên cứu cũng chỉ ra những bất cập có liên quan đến ghi nhận doanh thu tồn tại trong trong VAS 14 và Chế độ kế toán Xuất phát từ những hạn chế được nhận diện, nghiên cứu đã đề xuất hoàn thiện việc ghi nhận doanh thu hiện nay
Trang 167 Nghiên của các tác giả trước đây đã đi sâu vào việc phân tích thực trạng, chỉ ra được các hạn chế trong công tác đo lường lợi nhuận tại Công ty và đề xuất hàng loạt các giải pháp để hoàn thiện đo lường lợi nhuận Riêng tại Tổng Công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu này Để góp phần hoàn thiện vào chủ đề nghiên cứu này, tác giả tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đo lường lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ
Trang 178
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 KHÁI NIỆM VÀ MỤC TIÊU ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN
1.1.1 Khái niệm lợi nhuận
Tùy theo quan điểm và góc độ xem xét đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về lợi nhuận
Các nhà kinh tế học cổ điển trước K.Mark cho rằng: “ Cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận” Theo Ađam Smith, lợi nhuận là “ khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động Còn theo David Ricardo “lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công”
K.Mark thì khẳng định: “ Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”[6, tr.14]
Các nhà kinh tế học tư sản hiện đại như P.A.Samuelson và D.Nordhaus lại cho rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ đi tổng số chi” Hay nói cách khác: “ Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu nhập của một doanh nghiệp và tổng chi phí” [8,tr.315]
Như vậy, xét về mặt lượng các định nghĩa đều thống nhất rằng: Lợi nhuận là số thu dôi ra so với chi phí đã bỏ ra
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung[4], lợi nhuận kế toán là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường doanh thu,
Trang 189 chi phí kế toán, ghi nhận và trình bày trong báo cáo kết quả kinh doanh”
Từ góc độ doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận kế toán của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra để đạt được doanh thu từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại
Như vậy, lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính quan trọng, thể hiện kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là chỉ tiêu tài chính quan trọng, là cơ sở để đánh giá, dự báo khả năng, tiềm năng sinh lời của doanh nghiệp
1.1.2 Mục tiêu đo lường lợi nhuận
Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp nên mục tiêu của mọi quá trình kinh doanh đều gắn liền với lợi nhuận và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hoá lợi nhuận Các doanh nghiệp sẽ không tồn tại nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh không mang lại lợi ích cho họ Lợi nhuận được coi
là một đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng cải tiến đổi mới hợp lý hoá dây truyền công nghệ sản xuất, sử dụng tốt các nguồn lực của mình để tăng lợi nhuận Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp nó có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Đối với nhà nước: Lợi nhuận là một nguồn thu ngân sách cho Nhà
nước, nâng cao phúc lợi xã hội, từ đó Nhà nước có vốn để đầu tư phát triển xã hội, tạo sự phát triển cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước thực hiện công bằng xã hội
Đối với chủ nợ, nhà đầu tư: Lợi nhuận chính là chỉ tiêu, tham chiếu
vào đó, chủ nợ, nhà đầu tư có những quyết định cho vay và đầu tư của mình
Trang 1910
Từ vai trò quan trọng của chỉ tiêu lợi nhuận, ta nhận thấy đo lường lợi nhuận trung thực, chính xác giúp cho nhà quản trị, nhà đầu tư… có cái nhìn chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp Nhưng trong thời điểm hiện nay các nhà quản trị luôn có nhu cầu quản trị lợi nhuận theo mục tiêu của mình thông qua các chính sách kế toán, công cụ tài chính Do đó, đo lường lợi nhuận trung thực, chính xác với tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu, giúp giới hữu quan nhận biết được thông tin đúng đắn và ra những quyết định hợp lý, kịp thời
1.2 NGUYÊN TẮC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN
Lợi nhuận kế toán được đo lường dựa trên cơ sở đo lường doanh thu và chi phí Do đó, muốn đo lường lợi nhuận kế toán cần tuân theo các nguyên tắc liên quan đến đo lường ghi nhận doanh thu và đo lường chi phí
Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tai, và tương lai
Kế toán theo nguyên tắc cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh, số liệu trên báo cáo tài chính thể hiện một phần ý kiến chủ quan của nhà
Trang 2011
kế toán Chẳng hạn, việc phân bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt động xây lắp mang tính chủ quan của nhà kế toán
Do báo cáo tài chính lập theo cở sở tiền mặt sẽ không phản ánh đúng thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới quy định các doanh nghiệp phải ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính theo cơ sở dồn tích
Để xác định được thời điểm phát sinh doanh thu và chi phí dựa trên cơ
sở kế toán dồn tích, chuẩn mực kế toán đưa ra nguyên tắc ghi nhận doanh thu
và nguyên tắc phù hợp nhằm quy định thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí làm cơ sở cho việc xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán một cách hợp lý
Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, báo cáo tài chính nói chung và báo cáo kết quả kinh doanh nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ (hay tuân thủ yêu cầu trung thực) các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó cho phép phản ảnh tình trạng tái sản, nguồn vốn của một DN một cách đầy đủ, hợp lý Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,
1.2.2 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
Theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [5], “doanh thu của giao dịch
về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên
Trang 2112 quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó” Kết quả của doanh thu bán hàng được xác định khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau:
§ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua
§ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
§ Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn
§ Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
§ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành
Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi”
Trang 2213
1.2.3 Nguyên tắc phù hợp
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [4], “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó”
Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm:
§ Chi phí phát sinh trong kỳ tạo ra doanh thu, đó là các chi phí đã phát sinh thực tế trong kỳ và liên quan đến việc tạo ra doanh thu của kỳ đó
§ Chi phí phát sinh của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ hiện hành
Vận dụng nguyên tắc phù hợp để đo lường lợi nhuận kế toán thể hiện: khi ghi nhận doanh thu trong kỳ thì cần ghi nhận các khoản chi phí tương ứng với doanh thu hàng bán được ghi nhận, như giá vốn hàng bán, chi phí vận chuyển hàng xuất, chi phí quảng cáo, chi phí bán hàng khác… nếu các khoản chi phí này chưa có chứng từ phát sinh trong kỳ, thì cần phải ghi nhận như một khoản chi phí phải trả để đảm bảo nguyên tắc phù hợp, cũng như các khoản chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phát sinh trong kỳ liên quan đến nhiều kỳ khác, thì cần phân bổ cho các kỳ
Như vậy, chi phí được ghi nhận trong kỳ là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi phí đó được phát sinh hoặc chi ra trong kỳ nào Nếu chi phí phát sinh kỳ trước nhưng liên quan đến nhiều kỳ kế toán, thì cần xem như một khoản chi phí trả trước, và phân bổ cho các kỳ có liên quan
Trang 2314 Quy định hạch toán phù hợp giữa doanh thu và chi phí nhằm xác định
và đánh giá đúng kết quả kinh doanh của từng thời kỳ kế toán giúp cho các nhà quản trị có cái nhìn chính xác hơn về hiệu quả kinh doanh, đưa ra những quyết định đúng đắn và có hiệu quả
1.2.4 Nguyên tắc thận trọng
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [4], thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ sở hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu phải được ghi nhận ngay từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra Cụ thể:
§ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn Do thực tế các khoản tổn thất đã phát sinh (hoặc nhiều khả năng sẽ phát sinh) nên cần phải lập dự phòng (trích vào chi phí) để đảm bảo tính phù hợp giữa doanh thu
và chi phí thực tế Đảm bảo tính đúng kỳ của chi phí Lập dự phòng còn đảm bảo doanh nghiệp không có sự biến động lớn về vốn kinh doanh (có nguồn để
bù đắp) khi xảy ra tổn thất
§ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập
§ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí
§ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế,tức là tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí Khi các khoản chi phí phát sinh, mặc dù chưa phát sinh, nhưng công ty cần trích trước chi phí để đảm bảo nguyên tắc thận trọng
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung [4], “Tuân thủ
Trang 2415 nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tục”
Vận dụng nguyên tắc thận trọng để đo lường lợi nhuận kế toán thể hiện:
§ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không mang lại lợi ích (không làm giảm vốn chủ sở hữu), ví dụ như: lập dự phòng,
tiền phạt…
§ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai hoặc việc xác định lợi ích mang lại không đáng tin cậy mang lại lợi ích trong tương lai, nhưng không thể đo lường lợi ích đáng tin cậy, những chi phí có góp phần tạo ra doanh thu trong
kỳ tới nhưng không thểxác định hợp lý mức doanh thu tạo ra là bao nhiêu thì phải được tính hết trong kỳ phát sinh ví dụ như: chi phí quản lý doanh
nghiệp,…
1.3 ĐO LƯỜNG DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.3.1 Đo lường doanh thu
a Doanh thu bán hàng
Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:
Tồn tại cách thức đo lường và ghi nhận doanh thu theo từng phương thức bán hàng:
Trang 2516 doanh thu không thể đợi đến khi hoàn thành đơn hàng mà theo tiến độ thực hiện đơn hàng kết hợp với lợi ích và rủi ro của khối lượng đơn hàng đã được chuyển giao cho khách hàng Hay nói cách khác, khi có khối lượng của đơn hàng bàn giao cho khách hàng, được khách hàng chấp thuận thanh toán thì doanh nghiệp ghi nhận doanh thu Giá trị doanh thu ghi nhận thường được xác định như sau:
ü Doanh thu khối lượng thực hiện = Tổng giá trị hợp đồng *(chi phí phát sinh của khối lượng thực hiện/ tổng chi phí dự toán)
ü Doanh thu kỳ i= Doanh thu khối lượng thực hiện- Doanh thu đã ghi nhận của các kỳ trước
§ Đặc điểm: theo hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán, thì bên bán phải có trách nhiệm giao hàng tại địa điểm chỉ định do bên mua quy định, và bên mua thanh toán tiền cho bên bán trước hoặc sau khi nhận hàng
§ Doanh thu được ghi nhận khi bên bán đã chuyển giao bên mua lợi ích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa Nhưng một số tình huống vẫn ghi nhận doanh thu khi hàng ( bán trả sau) chưa chuyển cho bên mua nhưng bên mua đã thanh toán phần lớn tiền hàng, hàng hóa sẵn có, được đóng gói và sẵn sàng chuyển cho bên mua hoặc hàng hóa sẽ chuyển cho người mua khi người mua yêu cầu và bên mua đồng ý mua hàng và nhận hóa đơn
Bán tùy thuộc vào sự chấp nhận của người mua:
§ Đặc điểm: Là hình thức bán hàng mà bên bán và bên mua thỏa thuận sau khi giao hàng trong thời gian nhất định bên mua có quyền trả lại hàng Với một số mặt hàng đặc thù, hàng hóa mua về không thể bán hết sau một thời gian nhất định, chẳng hạn các mặt hàng sách, tài liệu,…Chẳng hạn
Trang 2617 một công ty kinh doanh văn hóa phẩm mua các loại sách từ công ty phát hành Do các loại sách mua về không thể bán hết được sau một khoảng thời gian nhất định, để tránh tổn thất này, họ yêu cầu bên bán cho phép trả lại số hàng không bán được sau một khoảng thời gian nào đó (thường là trong khoảng thời gian 6 tháng)
§ Khi việc chuyển giao quyền sở hữu và giao hàng không cung cấp bằng chứng và điều kiện ghi nhận doanh thu, ghi nhận doanh thu bán hàng có thể dịch chuyển đến giai đoạn sau khi hàng hóa đã chuyển giao cho bên mua
Vì người bán còn phải chịu rủi ro liên quan đến việc chấp nhận hàng hóa dịch
vụ của khách hàng, với dạng bán hàng này thì khách hàng có thể trả lại hàng
Do vậy doanh thu chỉ được ghi nhận khi việc gửi hàng đã được chấp thuận chính thức của bên mua hoặc hàng hóa đã được chuyển giao và thời hạn chấp nhận trả hàng đã hết
Bán ký gửi, bán đại lý, ủy thác, bán qua đơn vị trực thuộc:
§ Đặc điểm: hàng bán ký gửi ( hay bán đại lý, bán ủy thác hưởng hoa hồng): bên bán hàng trực tiếp cho khách hàng là đại lý của bên có hàng gửi bán
§ Khi xuất giao hàng ký gửi, đại lý, ủy thác, quyền sở hữu hàng hóa vẫn thuộc bên có hàng ký gửi, nên doanh thu không được ghi nhận Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu khi bên đại lý, ủy thác bán được hàng
Bán với quyền trả lại:
§ Đặc điểm: Ngay cả khi hàng đã bán, đôi khi cần hoãn lại việc ghi nhận doanh thu bán hàng vì một số tình huống đặc biệt Khi đó, có sự không chắc chắn liên quan đến ước tính doanh thu và người bán phải chịu rủi ro liên quan đến quyền sở hữu hàng hóa này
§ Như vậy, doanh thu ghi nhận khi hàng bán nhưng đồng thời công ty
Trang 2718 cần lập dự phòng dựa trên hàng trả lại ở thời điểm bán dựa vào kinh nghiệm trước đây hoặc các yếu tố khác
Xác định doanh thu bán hàng:
Sau khi xác định thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng, doanh nghiệp cần xác định số tiền ghi nhận Số tiền doanh thu ghi nhận là giá trị hợp lý nhận được hoặc sẽ nhận được
Hai điều kiện liên quan theo VAS14- Doanh thu và thu nhập khác [5]
§ “Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn”
§ “Xác định các chi phí liên quan đến doanh thu bán hàng”
Phần lớn các giao dịch bán hàng, giá trị hợp lý của giá bán được xác định tương đối dễ dàng thông qua hợp đồng hoặc hóa đơn bán hàng Tuy nhiên, trong một số giao dịch bán hàng chứa đựng tính không chắc chắn liên quan đến số tiền của giao dịch chẳng hạn: việc thanh toán chậm trễ, chiết khấu, giảm giá… Theo đó người mua thanh toán một khoản tiền ban đầu, số còn lại thanh toán trong nhiều kỳ trong một khoản thời gian dài và kèm theo lãi suất Như trường hợp lãi trả chậm khi bán hàng trả chậm hoặc trả góp: Doanh nghiệp ghi nhận doanh thu trong kỳ theo giá bán trả ngay Phần chênh lệch giữa giá bán trả góp và trả ngay chính là tổng số lãi trong thời gian trả góp và được ghi nhận vào doanh thu chưa thực hiện Đến cuối mỗi kỳ kế toán, doanh nghiệp xác định số lãi thực tế phát sinh trong kỳ trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế để ghi vào “doanh thu hoạt động tài chính” Phương thức này
có thể kèm rủi ro không thu được toàn bộ tiền bán hàng Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng đến doanh thu ghi nhận, mà được ghi nhận vào chi phí khi có bằng chứng không thu được tiền là đáng tin cậy thông qua việc lập dự phòng
nợ phải thu khó đòi
Trang 2819 Doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán trả lại Tuỳ từng trường hợp
mà giá trị hợp lý có hay không bao gồm thuế giá trị gia tăng
§ Trường hợp hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế VAT theo phương pháp khấu trừ và DN đăng ký theo phương pháp này thì giá trị hợp lý không bao gồm VAT
§ Trường hợp hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế VAT theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế VAT thì giá trị hợp lý là toàn bộ số tiền có thể thanh toán được
Nếu có chiết khấu, giảm giá thì doanh thu ghi nhận theo số tiền đã giảm trừ chiếu khấu hay giảm giá Nếu số tiền giảm giá, chiết khấu được ghi nhận riêng lẻ với bằng chứng giao dịch bán hàng ( có hóa đơn riêng) thì doanh thu ghi nhận tạm thời theo hóa đơn bán hàng, giảm giá được ghi nhận riêng, cuối
kỳ điều chỉnh giảm giá hàng bán và chiết khấu vào doanh thu để xác định doanh thu thuần
Hàng bán bị trả lại được theo dõi riêng, cuối kỳ điều chỉnh trừ vào doanh thu bán hàng để xác định doanh thu thuần
b Thu nhập khác
Thu nhập khác quy định trong chuẩn mực này bao gồm các khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm:
§ Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ
§ Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng
§ Thu tiền bảo hiểm được bồi thường
Trang 2920
§ Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước
§ Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập
§ Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại
§ Các khoản thu khác
Khoản thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ là tổng số tiền đã thu
và sẽ thu được của người mua từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ Các chi phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ được ghi nhận là chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ Các khoản tiền phạt căn cứ vào điều khoản quy định trên hợp đồng
Các khoản giảm trừ doanh thu:
Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [5], các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định
là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
- Giá trị các khoản giảm trừ doanh thu được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp dựa trên giá trị của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thu được cùng với sự thỏa thuận về tỉ lệ giảm trừ (chiết khấu thương mại) giữa bên mua và bên bán
c Doanh thu tài chính
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận
Trang 3021 được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
ü Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó
ü Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận trên cơ sở:
ü Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng
1.3.2 Đo lường chi phí
Theo VAS14 – Doanh thu và thu nhập khác [5], doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp
a Đo lường và ghi nhận giá vốn
Giá vốn được xác định theo một trong bốn phương pháp: đích danh, bình quân, nhập trước-xuất trước, nhập sau-xuất trước
Trang 31FIFO Đích
Danh
Giá bình quân LIFO FIFO
Đích Danh
Giá bình quân LIFO
Trung bình Bé Bé
Không ảnh hưởng
Trung bình Lớn
Giá vốn
hàng bán Bé
Không ảnh hưởng
Trung bình Lớn Lớn
Không ảnh hưởng
Trung bình Bé
Lợi nhuận
kế toán Lớn
Không ảnh hưởng
Trung bình Bé Bé
Không ảnh hưởng
Trung bình Lớn
Giá vốn hàng bán liên quan trực tiếp đến doanh thu Do đó cần xác định và ghi nhận giá vốn khi có doanh thu Hay nói cách khác, giá vốn được xác định phù hợp với doanh thu ghi nhận (nguyên tắc phù hợp)
Đối với doanh nghiệp sản xuất, do giá vốn được xác định dựa vào giá gốc (thông qua 1 trong bốn phương pháp trên) nên giá vốn phản ánh đúng chi phí khi giá gốc (giá thành) hợp lý Có nghĩa là cần tính giá thành theo cách hợp lý Giá thành hợp lý phụ thuộc vào cách thức tập hợp chi phí, và xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Để giá vốn phù hợp vói doanh thu, cần xác định giá vốn hợp lý Giá vốn hợp lý khi giá vốn được đo lường gần đúng giá gốc, hay nói cách khác là giá vốn được xác định dựa vào giá gốc của hàng hoá và thành phẩm
Trang 3223
b Đo lường và ghi nhận chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng liên quan đến hàng bán như chi phí nhân viên bán hàng, chi phí vận chuyển hàng xuất, chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho bộ phận bán hàng,chi phí phân bổ CCDC dùng cho bộ phận bán hàng, chi phí bao bì, đóng gói, chi phí dự phòng nợ phải thu,
Các khoản chi phí này cần được ghi nhận trong kỳ theo nguyên tắc phù hợp, thận trọng.Nếu chưa có chứng từ phát sinh trong kỳ cần trích trước chi phí, sử dụng các ước toán kế toán Như lập dự phòng nợ phải thu khó đòi
Dựa vào nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng, cơ sở dồn tích
để ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp Cụ thể:
Tất cả những khoản chi phí liên quan đến doanh thu hàng bán trong kỳ đuợc ghi nhận vào chi phí trong kỳ để xác định lợi nhuận kế toán Những khoản chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dùng cho bộ phận quản lý, chi phí CCDC, phát sinh trong một kỳ nhưng liên quan đến nhiều kỳ kế toán, cần phân bổ cho các kỳ liên quan theo nguyên tắc phù hợp Việc ghi nhận như vậy không những tuân thủ nguyên tắc phù hợp mà còn tuân thủ nguyên tắc cơ sở dồn tích
Một số chi phí còn có liên quan đến hàng bán ra trong kỳ như: chi phí quảng cáo, chi phí hành chính, dự phòng bảo hành sản phẩm, nhưng không
đo lường đáng tin cậy mức lợi nhuận do các chi phí này mang lại nên được ghi nhận vào kỳ phát sinh theo nguyên tắc thận trọng Hoặc những khoản chi phí vận chuyển hàng xuất liên quan đến doanh thu bán hàng trong kỳ, tuy chưa có chứng từ phát sinh nhưng có bằng chứng về sự phát sinh đó, cần ghi nhận chi phí trong kỳ, nhằm đảm bảo tuân thủ nguyên tắc phù hợp và thận trọng
Trang 3324
c Đo lường và ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí liên quan đến việc quản lý chung của doanh nghiệp Chi phi quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ được tính vào chi phí để xác định kết quả hoặc phân bổ nhiều kỳ tuân theo nguyên tắc phù hợp hoặc nguyên tắc thận trọng
Ghi nhận chi phí quản lý doanh nghiệp dựa vào nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc cơ sở dồn tích Cụ thể:
Đối với các khoản chi phí phát sinh trong tương lai nhưng lại liên quan đến doanh thu tạo ra trong kỳ thì cần phải tạm trích chi phí để ghi nhận chi phí trong kỳ phát sinh, hoặc chi phí sửa chữa lớn TSCĐ của bộ phận quản lý doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải và tiến hành phân bổ cho các kỳ kế toán có liên quan Đối với các khoản dự trợ cấp mất việc, vào cuối năm doanh nghiệp cần xác định mức dự phòng và phản ánh vào chi phí quản lý doanh nghiệp
Những chi phí không góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ như chi phí
dự phòng trợ cấp mất việc làm, các khoản tiền phạt hoặc những chi phí có góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ tới nhưng không thể xác định hợp lý mức doanh thu tạo ra là bao nhiêu thì phải được tính hết trong kỳ phát sinh để đảm bảo nguyên tắc thận trọng
d Đo lường và ghi nhận chi phí tài chính
Chi phí tài chính liên quan đến việc tạo ra doanh thu trong kỳ được ghi nhận chi phí trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp
Theo VAS16- Chi phí đi vay [6], các khoản chi phí đi vay gồm: chi phí
Trang 3425 tài chính của tài sản thuê tài chính, lãi tiền vay ngắn hạn, lãi tiền vay dài hạn,
kể cả lãi tiền vay trên các khoản thấu chi, phần phân bổ các khoản chiết khấu hoặc phụ trội phát sinh liên quan đến những khoản vay do phát hành trái phiếu, phần phân bổ các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan tới quá trình làm thủ tục vay, chi phí tài chính của tài sản thuê tài chính, thì cần xem xét có liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang, nếu có thì được tính vào giá trị của tài sản đó hay còn gọi là vốn hóa.Còn lại những khoản chi phí không được vốn hóa cần phải ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ khi phát sinh Nếu chưa có chứng từ phát sinh cần trích trước chi phí lãi vay nhằm đảm bảo nguyên tắc phù hợp
Ngoài ra, khi có bằng chứng về các khoản lỗ từ việc đầu tư tài chính, góp vốn, liên doanh thì công ty cần lập dự phòng dựa trên tỷ lệ vốn góp , đầu
tư, và ghi nhận vào chi phí tài chính trong kỳ Việc ghi nhận khoản dự phòng này tuân thủ theo nguyên tắc thận trọng
e Đo lường và ghi nhận chi phí khác
Chi phí khác chủ yếu gồm các khoản chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ, bán phế liệu, khen thưởng, phạt nộp chậm bảo hiểm, vi phạm hành chính,…
Các khoản chi phí liên quan đến việc thanh lý, nhượng bán TSCĐ được ghi nhận cùng kỳ với thu nhập khác từ việc nhượng bán, thanh lý TSCĐ nhằm đảm bảo nguyên tắc phù hợp
Còn các khoản chi phí còn lại là những chi phí không góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ,hoặc có góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ tới nhưng không thể xác định hợp lý mức doanh thu tạo ra là bao nhiêu thì được tính hết trong kỳ phát sinh này được ghi nhận vào chi phí trong kỳ theo nguyên tắc thận trọng
Trang 3526
f Đo lường chi phí thuế TNDN
Chi phí thuế TNDN được ghi nhận dựa trên lợi nhuận kế toán phát sinh trong kỳ nhằm đảm bảo nguyên tắc phù hợp Đối với, số thuế TNDN phải nộp trong kỳ thì được tính toán dựa trên thu nhập chịu thuế, để tính thu nhập chịu thuế thì cần xác định doanh thu, chi phí theo các quy định của thuế Từ đó, sẽ phát sinh khoản chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán, làm phát sinh khoản thuế TNDN hoãn lại
Trang 3627
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, trình bày hệ thống hóa những nội dung cơ bản về đo lường lợi nhuận kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và lĩnh vực dệt may nói riêng Chương 1 đã trình bày khái niệm, các nguyên tắc liên quan đến đo lường lợi nhuận kế toán thông qua việc đo lường doanh thu và chi phí, cụ thể: được xác định theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc cơ sở dồn tích, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc thận trọng Và các phương pháp, chính sách
kế toán sử dụng để đo lường chi phí, qua đó nhà quản trị có thể quản trị lợi nhuận theo ý muốn của mình thông qua việc sử dụng chính sách, phương pháp kế toán khác nhau Đây là cơ sở lý luận cho việc phản ánh thực trạng và tìm ra những giải pháp hoàn thiện công tác đo lường lợi nhuận kế toán tại Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ
Trang 3728
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÒA THỌ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY
HÒA THỌ
2.1.1 Giới thiệu về Tổng công ty
Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ được thành lập vào năm 1962,
là đơn vị thành viên của Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) và Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) thuộc bộ công thương, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có trụ sở chính tại 36 Ông Ích Đường, Quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng, Việt Nam
- Tên giao dịch đối ngoại: HOA THO TEXTILE GARMENT JOINT STOCK CORPORATION
- Tên viết tắt: HOA THO CORP
- Trụ sở chính: 36 Ông Ích Đường, Quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng
- Điện thoại: (84-511) 3846290
- Fax: (84-511) 2846217
- Website: www.hoatho.com.vn
- Email: office@hoatho.com.vn
Trang 38Bao gồm 7 đơn vị trực thuộc; 3 công ty con; 6 công ty góp vốn và liên kết (H1)
Lĩnh vực sản xuất:
Chuyên SX, kinh doanh, xuất khẩu các lọai sản phẩm may mặc, các loại sợi, nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị thiết yếu dùng để kéo sợi và SX hàng may mặc
Sản phẩm chính:
- Các loại sợi: Sợi Cotton chải thô, chải kỹ, sợi T/C, sợi Polyester (Chi số Ne20 - Ne45)
- Sản phẩm may mặc: Quần tây các loại, quần chống nhăn, veston,
áo jacket, đồ bảo hộ lao động,
Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 là 214 triệu USD, trong đó có thị trường Hoa Kỳ chiếm 42,2%, EU15,5% và thị trường châu Á chiếm 38,3%
Đã và đang sản xuất cho các nhãn hiệu thương mại nổi tiếng thế giới như: Snickers, Burton, Novadry, Haggar, Perry Ellis Portfolio, Calvin Klein Quá trình sản xuất trải qua 3 giai đoạn cắt, may và hoàn thiện sản phẩm theo
sơ đồ sau:
Trang 39Lắp ráp chính
May lót
và chính
Các công việc lại chỉ
Kiểm tra chất lượng
Là ủi , đóng gói
Bán thành
phẩm Nhập kho Thành
phẩm Bán thành
phẩm
Trang 4031
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý
Hình 2.2 Sơ đồ bộ máy quản lý của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ
Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Tổng
Công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền bỏ phiếu hoặc người được cổ đông ủy quyền
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị cao nhất của Tổng công ty, có
đầy đủ quyền hạn để thay mặt Tổng công ty quyết định các vấn đề liên quan đến mục tiêu và lợi ích của Tổng Công ty, ngoại trừ các vấn đề thuộc quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông
Ban kiểm soát: Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, gồm 3
thành viên Ban kiểm soát là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt