1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố đà nẵng

95 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 905,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợi, Tạp chí Quản lý nhà nước,số 4/2014; "Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo" của Nguyễn Hoài Sanh, Tạp chí Triết học,số 8/2012; "Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam - Những

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC ANH TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật hiến pháp và Luật hành chính

Mã số : 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN LINH GIANG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề về tôn giáo và tình hình thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng tôi đã lựa chọn và hoàn thành Luận văn Thạc sỹ với đề tài “Thực hiện pháp luật về

tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban Giám hiệu Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; các Giáo sư, phó Giáo sư, tiến sỹ trong Viện đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại Học Viện,

Đặc biệt, tôi cũng xin được gửi lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Linh Giang đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn này

Tôi cũng xin được cảm ơn Hòa thượng Thích Thiện Toàn, Thượng tọa Thích

Từ Nghiêm, các bạn bè và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Anh Tuấn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Anh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀTỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo 10 1.3 Nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo 15 1.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 29

2.1 Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo 29 2.2 Các yếu tố đặc thù của thành phố Đà Nẵng có ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo 40 2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng 54

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 69

3.1 Dự báo tình hình 69 3.2 Quan điểm tăng cường thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 71 3.3 Giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 72

KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCĐ : Ban chỉ đạo BNV : Bộ Nội vụ

CNXH : Chủ Nghĩa Xã Hội

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em và mỗi dân tộc lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình Thực tế cho thấy, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vừa thể hiện nhu cầu về tinh thần của nhân dân, vừa đóng góp nhiều giá trị đạo đức, văn hóa cho xã hội Lịch sử Việt Nam cho thấy, nhiều tín ngưỡng, tôn giáo đã đồng hành cùng dân tộc trong các phong trào đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo, coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người, quyền công dân căn bản cần được thúc đẩy và bảo vệ

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương và được xem là một trong những thành phố năng động, đáng sống bậc nhất của Việt Nam Đây cũng là nơi có điều kiện thuận lợi để du nhập và phát triển các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Trong những năm qua, các hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo cơ sở diễn ra ổn định, thuần túy tôn giáo, gắn với sự phát triển chung của thành phố, tuân thủ pháp luật và thực hiện đúng phương châm hành đạo Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí kinh

tế, văn hóa – xã hội đặc thù, Đà Nẵng cũng là địa bàn trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với nước ta nói chung, thành phố nói riêng Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định như: Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo có lúc, có nơi chưa thực sự đồng bộ, kịp thời; nhận thức của một bộ phận người dân, tổ chức tôn giáo, cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn hạn chế; các cơ quan quản lý còn thiếu gần gũi với tín đồ và chức sắc tôn giáo, nên không kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng chính đáng của đồng bào Vẫn còn tình trạng cán bộ nhà nước không nắm vững tình hình tôn giáo ở địa bàn, chưa dựa vào tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo ở cơ sở để giải quyết những vấn đề phát sinh có liên quan đến tôn giáo Một số nơi, cơ quan quản lý nhà nước chưa hiểu đầy đủ do thiếu thông

Trang 8

tin và thiếu tầm nhìn bao quát về chính sách tôn giáo, dẫn đến tình trạng xử lý các vấn đề máy móc, cảm tính chủ quan Nhiều vấn đề lẽ ra cần phải động viên khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho chức sắc, nhà tu hành hoạt động thì lại gây khó dễ; ngược lại có những vấn đề cần phải chủ động giải quyết kịp thời thì bỏ mặc, tạo nên sự phức tạp không đáng có Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ được giao theo dõi quản lý hoạt động tôn giáo nói riêng còn hạn chế, thiếu tính hệ thống, thiếu chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm trong công tác tôn giáo; công tác đào tạo cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo cũng chưa được chú trọng đúng mức Còn chưa có sự thống nhất trong cách xử lý một số vụ việc cụ thể liên quan đến tôn giáo; công tác quản lý nhà nước hiện tập trung nhiều vào các tôn giáo

đã được Nhà nước công nhận Việc ngăn chặn, đấu tranh với các tôn giáo không hợp pháp và những hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật còn bị động, tại nhiều thời điểm chưa khôn khéo, kịp thời Tiến độ giải quyết các thủ tục hành chính về lĩnh vực tôn giáo có lúc còn chậm; việc phối hợp các cấp, các ngành xử lý các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo, liên quan đến các hoạt động đối nội, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội còn thiếu đồng bộ Công tác xử lý vi phạm về hoạt động tôn giáo trái với quy định pháp luật đang gặp khó khăn, vướng mắc do hiện nay chưa có chế tài

cụ thể, thời gian qua chỉ dừng lại việc lập biên bản, giải tán

Thực tế trên đã cho thấy, việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng ở thành phố Đà Nẵng vẫn còn nhiều bất cập, cần được hoàn thiện trong thời

gian tới Do vậy, tác giả chọn đề tài: "Thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn

giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" để làm luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Luật

hành chính của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ năm 1999 đến nay, có nhiều công trình, nhiều bài viết về tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Chẳng hạn như bài viết “Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Nguyễn Ngọc Huấn, Tạp chí Thanh tra, số 11/2015; "Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới" của Lê Văn

Trang 9

Lợi, Tạp chí Quản lý nhà nước,số 4/2014; "Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo" của Nguyễn Hoài Sanh, Tạp chí Triết học,số 8/2012; "Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", Luận văn thạc sĩ luật học" của Nguyễn Thị Diệu Thuý thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Luật Hà Nội năm 2010…

Ở góc độ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, có một số Luận văn đã nghiên cứu như “Thực trạng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Cà Mau” của Vũ Bình Lương thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2003;

“Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” của

Lê Văn Nhuần thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2004); “Nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo ở Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” của Nguyễn Thị Kim Như thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2004); Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và giải pháp" của Lê Văn Nhuần thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Chính trị năm 2004; “Vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động của Đạo Công giáo ở Ninh Bình hiện nay” của Vũ Tuệ Minh thực hiện tại cơ sở đào tạo Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013…

Các công trình trên đã đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đặt vấn đề thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở từng lĩnh vực, từng địa phương khác nhau và có những nhận định, đánh giá sâu sắc,

cụ thể về thực trạng thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó có những kiến nghị, đề xuất hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trên thực tế Những thông tin từ các công trình nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu phong phú để tham khảo, chọn lọc để đưa vào Luận văn Thạc sỹ của Tác giả lần này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Phân tích quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam

về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các yếu tố đặc thù của thành phố Đà Nẵng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng, trong đó chỉ ra được những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế trong thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng, từ đó nêu rõ nguyên nhân

và đề xuất giải pháp khắc phục

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các tôn giáo đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở thành phố Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Trong phạm vi của Luận văn, tác giả nghiên cứu và đề cập đến vấn đề thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ khi có Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa IX về Công tác tôn giáo từ năm 2003 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Trang 11

Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về Nhà nước và Pháp luật về

tự do tín ngưỡng về tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp;

- Phương pháp thống kê, so sánh;

- Phương pháp tiếp cận hệ thống;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm;

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của Luận văn

- Kết quả của Luận văn góp phần củng cố hệ thống lý luận về thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như vấn đề về khái niệm, đặc điểm, tính chất của các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

- Luận văn nêu, phân tích quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các yếu tố đặc thù của thành phố Đà Nẵng có ảnh hưởng tới thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đánh giá

về thực tiễn thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng, trong đó chỉ ra được những kết quả đạt được và tồn tại, hạn chế trong thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng, từ đó nêu rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục

6.1 Ý nghĩa và thực tiễn của Luận văn

- Những đề xuất của Luận văn là luận cứ khoa học cho việc ứng dụng trong thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng

Trang 12

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu cũng như công tác tổng kết thực tiễn, hoạch định chính sách và pháp luật về quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, dự kiến Luận văn được cấu trúc gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3 Quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ

TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

1.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.1.1 Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp - Nhà Xuất bản

Tư pháp, Nhà Xuất bản từ điển Bách khoa), “quyền” là khái niệm khoa học pháp lí, dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng động người trong lịch sử hàng ngàn năm qua Về cơ bản, bất cứ tôn giáo nào, với hình thái phát triển đầy đủ của nó cũng đều bao gồm hai bộ phận cấu thành là ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể, xác định Về bản chất, tôn giáo thể hiện tâm tư, nguyện vọng của con người trước tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, trong ý thức tôn giáo chứa đựng giá trị đạo đức, đạo lý con người Trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo xuất hiện từ rất sớm Nó hoàn thiện và biến đổi cùng với sự biến đổi của những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị Tôn giáo ra đời bởi nhiều nguồn gốc khác nhau, nhưng cơ bản là từ các nguồn gốc kinh

tế - xã hội, nhận thức và tâm lý

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo; tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo Khi đề cập đến khái niệm tín ngưỡng, người ta thường nói đến tín

Trang 14

ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nhất định thì có thể

sẽ phát triển thành tôn giáo

Ở góc độ pháp lý, tín ngưỡng được định nghĩa là “niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” (Khoản 1 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo); còn tôn giáo là “niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật,

lễ nghi và tổ chức” (Khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo)

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế

về quyền con người cũng như ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 của Liên Hợp Quốc là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó tập trung chủ yếu vào việc cấm phân biệt đối xử về tôn giáo Theo Điều 18 của Tuyên ngôn: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm (conscience), và tôn giáo; quyền này bao gồm cả tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình, và tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình bằng các hình thức truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, theo hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc riêng tư” Quy định trên sau đó được khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 18 và Điều 20 Công ước quốc tế

về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) Khoản 2 Điều 18 Công ước này quy định: “Không ai phải chịu ép buộc dẫn đến làm tổn hại quyền tự do lựa chọn có hoặc tin theo tôn giáo hay tín ngưỡng của họ” Khoản 3 Điều 18 xác định quyền này

có thể bị giới hạn bởi luật khi cần thiết để “bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác” Khoản 4 Điều 18 yêu cầu các quốc gia thành viên ICCPR phải tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ hoặc những người giám hộ hợp pháp “để đảm bảo việc giáo dục về đạo

Trang 15

đức và tôn giáo của con cái họ phù hợp với ý nguyện riêng của họ” Khoản 2 Điều

20 nghiêm cấm mọi hành động cổ vũ hằn thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo dẫn đến kích động phân biệt đối xử và bạo lực Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR sau đó được Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 (được thông qua tại phiên họp lần thứ 48 của Ủy ban năm 1993), với một số nội dung chính như: giải thích về các quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tín ngưỡng; về thuật ngữ “tín ngưỡng” và “tôn giáo”; phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng; về việc không cho phép áp đặt bất kỳ sự giới hạn nào đối với tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng

để kích động chiến tranh, cổ vũ hận thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hay kích động sự phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực; về việc hạn chế quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng…

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo trong hệ thống pháp luật của mình Ở Việt Nam, quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháptừ năm 1946,

1959, 1980, 1992 và 2013.Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được kế thừa và phát triển, trở thành một trong những quyền cơ bản của con người Bên cạnh đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được ghi nhận cụ thể ở Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác

Từ những phân tích trên, có thể hiểu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền được theo đuổi, thực hiện các hành vi tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, cộng đồng một cách tự do Quyền này cũng bao hàm cả ý nghĩa tự do thay đổi, theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào đó

1.1.2 Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong các quyền nhân thân nên nó mang các đặc điểm chung của quyền nhân thân Cụ thể:

Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền dân sự gắn liền với cá

nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác và không thể là đối tượng trong các

Trang 16

giao dịch dân sự giữa các cá nhân

Thứ hai, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Thứ ba, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền mang tính chất phi tài sản,

theo đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tài sản và không định giá được thành tiền

Thứ tư, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền dân sự, thường được ghi

nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận cả ở trong Hiến pháp (văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật) và

ở Luật tín ngưỡng, tôn giáo cùng các văn bản dưới luật

Ở Việt Nam, nghĩa vụ bảo đảm và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước được thể hiện ở các khía cạnh:

Thứ nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm

và thực hiện nhằm xóa bỏ mọi sự phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo; các tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật; mọi hành vi vi phạm đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đều bị xử lý theo quy định của pháp luật, tùy theo tính chất, mức

độ của hành vi

Thứ hai, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước bảo đảm thực hiện

theo quy định của pháp luật Các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ quy định của pháp luật; nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước

Thứ ba, Nhà nước không ngừng giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tôn giáo

phát triển

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu,

Trang 17

định hướng cụ thể [17, tr.18] Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, thực hiện pháp luật

là giai đoạn thứ hai sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn hết sức quan trọng Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống Thực hiện pháp luật trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được thể hiện bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Tuy nhiên, thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau thì sẽ tiến hành với nhiều cách thức khác nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định, Nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng Nhà nước mong muốn

Do đó, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư tưởng của họ, bởi vì, không ai có thể “đọc” được hay dự đoán được chính xác ý nghĩ của người khác khi nó đang tồn tại trong đầu họ, tức là khi nó chưa được thể hiện ra bên ngoài thành những hành vi hay xử sự cụ thể để mà điều chỉnh Vì lý do này mà chỉ có thể căn cứ vào hành vi xác định hay xử sự thực tế của một chủ thể nào đó rồi đối chiếu với các quy định cụ thể của pháp luật mà ta có thể xác định được là họ có thực hiện pháp luật hay không

Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác, khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà Nhà nước

đã quy định vào tình huống cụ thể thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình [47,

tr.183] “Dưới góc độ pháp lý, thực hiện pháp luật được hiểu là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật” [47, tr.183]

Tóm lại, thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực

tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [47, tr.185]

Trang 18

Trên cơ sở khái niệm chung nhất về pháp luật và thực hiện pháp luật, chúng ta

có thể xác định nội hàm cơ bản của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

và thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hiểu là tổng thể các quy định của pháp luật (quy phạm pháp luật) do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền được thực hiện các hành vi tôn giáo, theo đuổi tín ngưỡng của một cá nhân một cách tự do đi theo đúng mục tiêu, định hướng của Nhà nước đặt ra

Còn thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quá trình hoạt động

có mục đích làm cho các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

1.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nghĩa vụ

của tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân; mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Đối với Nhà nước, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, đặc biệt

là hai chức năng cơ bản của Nhà nước là quản lý và phục vụ Còn đối với các tổ chức phi nhà nước và cá nhân, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động sử dụng quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà pháp luật quy định cho họ

Thứ hai, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động

có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Do vậy, đây là quá trình hoạt động có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của

Trang 19

mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội Thực hiện pháp luật về quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế thực thi, đưa pháp luật vào cuộc sống Pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện nghêm minh sẽ tạo ra và duy trì trật tự để các quan hệ xã hội về tín ngưỡng, tôn giáo tồn tại, phát triển theo những định hướng mong muốn, có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho các tổ chức, cá nhân

Thứ ba, thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tiến

hành thông qua nhiều hình thức, quy trình khác nhau như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tùy vào tính chất của các quy phạm pháp luật mà việc thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có thể được thực hiện thông qua những quy trình khác nhau Quy trình đó có thể là đơn giản với sự tham gia của một hoặc một số cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất định theo những trình tự, thủ tục đơn giản, nhưng quy trình đó cũng có thể phức tạp với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định

1.2.3 Vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn

về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình Về nguyên tắc, để thực hiện pháp luật

về tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì trước hết các chủ thể pháp luật phải nhận thức đúng đắn, hiểu biết đầy đủ về các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình Các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính là sự cụ thể hóa các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Thông qua việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân có điều kiện thuận lợi để nhận thức và nắm được các quyền của mình, hiểu được các nguyên tắc cơ bản, hình thức thực hiện các quyền cũng như các hành vi bị nghiêm cấm Nếu không triển khai

Trang 20

thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì có thể nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ không biết đến các quyền mà pháp luật trao cho họ

Thứ hai, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ giúp các chủ thể

hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện các quyền này Khi nhận thức đúng đắn, hiểu biết đầy đủ

về các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật, các chủ thể vẫn có thể chưa chủ động, tích cực thực hiện các quyền đó, nếu họ chưa hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của việc thực thi các quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo

Thứ ba, từ sự nhận thức, hiểu biết về vai trò, ý nghĩa cũng như các quy định

của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các chủ thể sẽ chủ động, tích cực hơn trong việc tuân thủ, thi hành, chấp hành và sử dụng pháp luật để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân Đi từ nhận thức đến hành động thực tiễn, chuyển từ “pháp luật trên giấy tờ” thành “pháp luật trong hành động” là logic biện chứng của quá trình triển khai hoạt động thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng Đồng thời, đây cũng là mục tiêu của thực hiện pháp luật trên lĩnh vực này, bởi lẽ, việc các chủ thể hiểu, tuân thủ, thi hành, chấp hành và biết sử dụng pháp luật để bảo

bệ cho lợi ích của các chủ thể là điều mà Nhà nước mong muốn khi ban hành pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Thứ tư, khi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm thì quyền và lợi

ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được bảo đảm Việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa các quy định của pháp luật, đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nói chung Đây được coi là kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Thứ năm, thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là động lực, công

cụ để xác định định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật Theo đó, thông qua thực

Trang 21

hiện pháp luật sẽ xác định được những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, qua đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống

1.3 Nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.3.1 Nội dung thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

đã được thể hiện rõ trong các Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ (1946, 1959,

1980, 1992 và 2013)

Để thể chế hóa quy định của Hiến pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới cũng như yêu cầu thực hiện công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quán triệt các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp năm

1992, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

XI đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (thông qua ngày 18/6/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2004) Sau khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan đã kịp thời ban hành các văn như: Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 qui định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định này thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP); Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 về nhà, đất liên quan đến tôn giáo; Thông tư số 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 30/5/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội

Trang 22

vụ hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo Ở địa phương, theo báo cáo đã có hơn 166 quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành nhằm triển khai thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có nhiều quyết định ban hành quy chế phối hợp của các sở, ngành trong việc tham mưu giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Trên cơ sở quy định mới của Hiến pháp mới năm 2013 và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, ngày 18/11/2016, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo Như vậy, Hiến pháp và Luật tín ngưỡng, tôn giáo là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, chủ yếu, điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong việc tổ chức thực hiện các chính sách tôn giáo Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật khác cũng đã có các quy định điều chỉnh các hoạt động liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần của Điều 70 Hiến pháp 1992 như Bộ luật dân sự,

Bộ luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật cư trú, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng chống HIV/AIDS

Nội dung thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính là việc tuân thủ, thi hành, áp dụng và sử dụng các quy định của Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong thực tiễn, nhằm đưa các quy định này đi vào cuộc sống

1.3.2 Hình thức thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện thông qua bốn hình thức là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật Cụ thể:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Đây là hình thức

thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật cấm đoán trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng không hành động Ví dụ các chủ thể không phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; không ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín

Trang 23

ngưỡng, tôn giáo; không xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; không hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; không lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi

Thứ hai, thi hành pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo (chấp hành pháp

luật): Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Ví dụ, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật

Thứ ba, áp dụng pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Là hình thức thực

hiện pháp luật trong đó Nhà nước (thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền) tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật về

tự do tín ngưỡng, tôn giáo Ví dụ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh) cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh

Thứ tư, sử dụng pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Là hình thức thực

hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành vi mà pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phép Ví dụ, thực hiện quyền tổ chức sinh hoạt tôn giáo thông qua hoạt động đăng ký sinh hoạt tôn giáo

Giữa các hình thức thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự

Trang 24

đan xen, gắn bó chặt chẽ với nhau Các chủ thể thông thường phải cùng đồng thời thực hiện các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới nhiều hình thức khác nhau, bởi không thực hiện quy định của pháp luật này sẽ không thể thực hiện được các quy định khác của pháp luật Chẳng hạn như việc thực hiện quy định của pháp luật nội dung phải gắn với quy định của luật hình thức Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thức thực hiện pháp luật mà mọi chủ thể đều có thể tiến hành được thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉ dành cho các chủ thể có thẩm quyền Áp dụng pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền, vừa

là giai đoạn mà các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy định của pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.3.1.2 Tuyên truyền, phổ biến về Luật tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện các hoạt động phổ biến Luật theo Kế hoạch triển khai thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Nội vụ; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; Bộ Thông tin và Truyền thông; Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam; Ủy ban nhân dân các cấp và Ban Tôn giáo Chính phủ

1.3.1.3 Các điều kiện đảm bảo thi hành Luật

- Kinh phí triển khai Luật được bố trí từ ngân sách nhà nước trong dự toán chi thường xuyên hàng năm và các nguồn khác theo quy định của pháp luật

- Các cơ quan được phân công chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bảo đảm việc triển khai thi hành Luật, gửi cơ quan có thẩm

Trang 25

quyền phê duyệt dự toán ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật

4 Tác động chính sách của Luật đến người dân, xã hội

Luật tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mới, tiến bộ, thể hiện tính công khai, dân chủ, minh bạch, nhà nước pháp quyền, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Các quy định của Luật cũng bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Bộ luật dân sự, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật đất đai, Luật xây dựng, Luật di sản văn hóa,Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật giáo dục… Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, khắc phục kịp thời những bất cập của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, thể chế hóa các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở nước

ta, phục vụ đắc lực hơn nữa cho yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, đảm bảo lợi ích của đất nước

1.3.4 Chủ Thể và tổ chức thực Hiện Pháp Luật về tự do tín ngưỡng tôn giáo

Hiến pháp năm 1992 quy định về Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70) và giao trách nhiệm cho Quốc hội trong việc "quyết định chính sách tôn giáo của Nhà nước" (khoản 5 Điều 84), Chính phủ có nhiệm vụ “thực hiện chính sách tôn giáo” (khoản 9 Điều 112)

Theo Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,

theo hoặc không theo một tôn giáo nào" Cụ thể hóa Hiến pháp Luật Tín ngưỡng,

tôn giáo quy định"Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không

theo một tôn giáo nào"(Khoản 1 Điều 6)

Trang 26

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo

lý, giáo luật tôn giáo; quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo Đối với người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo Quy định này thể hiện tính nhân văn trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho những người bị hạn chế quyền công dân

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi Quy định này thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người

1.3.5 Chủ Thể tổ chức Thực hiện Pháp Luật về tự do tín ngưỡng tôn giáo

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành

Những trường hợp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cùng cấp có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phối hợp với Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng; môn học lịch sử Việt Nam, pháp luật Việt Nam; xây dựng công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo; đất đai liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 27

1.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo

1.4.1 Điều kiện chính trị

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, từ đó góp phần thực hiện bình đẳng, đoàn kết giữa các tôn giáo, tạo thành sức mạnh đoàn kết của dân tộc Điều kiện chính trị được bảo đảm ở mức độ cao thì sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo theo chiều hướng ổn định, gắn với mục tiêu, định hướng của Đảng và Nhà nước đề ra Tôn giáo và chính trị, nếu kết hợp hài hòa sẽ góp phần làm tăng sức mạnh của chính trị, trật tự xã hội được ổn định; nhân dân nói chung, các tổ chức, tín đồ tôn giáo nói riêng sẽ ủng hộ, tin tưởng vào hệ thống chính trị Điều kiện chính trị được duy trì, phát triển ở mức độ cao là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tích cực của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo càng được tôn trọng, tín đồ tôn giáo được tự do thực hiện tín ngưỡng, tôn giáo của mình thì sẽ góp phần tránh tình trạng gây bất đồng, chống đối của các tín đồ tôn giáo đối với Nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, từ đó an ninh chính trị - xã hội được ổn định Công tác tín ngưỡng, tôn giáo được quan tâm, các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm cũng là một trong những yếu tố đánh giá mức độ dân chủ của Nhà nước

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo đặt trong mối quan hệ với điều kiện chính trị luôn được xem là vấn đề phức tạp và tương đối nhạy cảm Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, tôn giáo với tư cách là yếu tố có tác động đến nhiều mặt của đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia cũng không thể đứng ngoài xu thế này

Điều kiện chính trị được đặt ra đối với việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Trước hết là vấn đề

về nhận thức của hệ thống cán bộ, đảng viên trực tiếp ở cơ sở về những quan điểm, phương pháp mới của Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Mức độ nhận thức càng sâu sắc thì hiệu quả xử lý các tình huống về tôn giáo càng cao, đặc biệt là

Trang 28

các tình huống phức tạp; qua đó góp phần phần ngăn ngừa có hiệu quả các “điểm nóng” chính trị - xã hội về tôn giáo

1.4.2 Điều kiện pháp luật

Pháp luật chỉ thực sự phát huy được vai trò của mình trong quản lý nhà nước và

xã hội khi được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm chỉnh Thực hiện pháp luật là hoạt động có ý nghĩa, quyết định hiệu lực, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành Những phản hồi của xã hội trong quá trình thực hiện pháp luật chính

là thước đo hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, giúp cho việc phát hiện kịp thời những tồn tại, hạn chế và những vấn đề mới phát sinh nhằm có giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật Trên cơ sở nền tảng đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động nằm trong chuỗi hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; đây là hai mắt xích quan trọng, có tác động qua lại chặt chẽ với nhau Hoạt động xây dựng pháp luật sẽ tạo ra pháp luật Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật sẽ phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách của dự án luật, pháp lệnh; yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Một trong các yêu cầu bắt buộc trong quá trình xây dựng pháp luật mà các cơ quan phải tiến hành là tổng kết, đánh giá về thực trạng thi hành pháp luật liên quan để xác định kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế, đặc biệt là các nguyên nhân xuất phát từ bất cập của thể chế, từ đó đề xuất các giải pháp ban hành, sửa đổi, bổ sung pháp luật Yêu cầu của thực tiễn và thực trạng thi hành pháp luật sẽ là căn cứ phát sinh nhu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật Trong mối quan hệ với xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật là công cụ để kiểm soát việc thực thi pháp luật trong thực tiễn, kiểm soát việc đưa các pháp luật vào thực tiễn và là công cụ để đánh giá tình hình thi hành pháp luật, từ đó tìm ra các vấn

Trang 29

đề bất cập, cần phải sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nói cách khác, theo dõi thi hành pháp luật chính là công cụ để xác định nhu cầu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật

Chất lượng của hệ thống pháp luật là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật Muốn thực hiện tốt pháp luật đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất, phù hợp Việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng không nằm ngoài quy luật này

Hệ thống pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo có toàn diện, đồng bộ, đầy đủ thì sẽ góp phần bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về tự

do tín ngưỡng, tôn giáo Tính thống nhất của hệ thống pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ tác động đến việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này thông qua việc nhận thức và thực hiện thống nhất Hệ thống pháp luật không thống nhất thì sẽ gây khó khăn, cản trở, làm cho các chủ thể lúng túng trong quá trình thực hiện Sự phù hợp của hệ thống pháp luật hay chính là sự tương quan giữa trình độ pháp luật với trình độ phát triển kinh tế - xã hội sẽ làm cho pháp luật dễ dàng được thực hiện, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế - xã hội Nếu trình

độ pháp luật cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển kinh tế - xã hội thì pháp luật

sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện Đặc biệt, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo muốn phát huy được vai trò, giá trị trong quá trình thực hiện thì phải bảo đảm tính khả thi; nếu không khả thi thì pháp luật sẽ không thực hiện được và sẽ không đi vào cuộc sống

1.4.3 Điều kiện về kinh tế - xã hội

Tuy không có nhiệm vụ trực tiếp sản xuất kinh tế, nhưng tôn giáo cũng đã gián tiếp đóng góp công sức trong việc tạo lập một xã hội ấm no hạnh phúc Tôn giáo đã góp phần khuyến khích việc lao động bằng giảng dạy và gương sáng Đồng thời, tôn giáo đã cộng tác trong việc xây dựng một xã hội trật tự, an ninh… là điều kiện cần

để mọi người an tâm sản xuất Ở khía cạnh xã hội, tôn giáo góp phần phục hồi các

Trang 30

giá trị đạo đức và hoàn thiện hóa con người Từ đó, tôn giáo góp phần cải thiện xã hội, hướng đến xây dựng một xã hội an bình, hạnh phúc và văn minh tiến bộ cho con người

Ngược lại, điều kiện kinh tế - xã hội cũng có tác động hết sức to lớn đến sự phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là tác động đến việc thực hiện pháp luật

về tự to tín ngưỡng, tôn giáo Cụ thể:

Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích và do

đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà Nước Khi đó, niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật được củng cố Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích cực, thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành

Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự giác Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành

vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật, như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, viên chức nhà nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp; trộm cắp, cướp giật, buôn bán ma túy… trong các thành phần xã hội…

Trang 31

Thứ hai, cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật

Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại; do

đó, nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – chấp hành mệnh lệnh Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo

ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thế trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo để đánh giá các quan hệ giữa người với người Đây lại là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển

Xã hội ngày nay đang càng ngày càng phát triển, đang trong quá trình hội nhập quốc tế, đòi hỏi nền pháp luật Việt Nam cũng phải thay đổi, bổ sung và chú trọng hơn về vấn đề kinh tế, chính vì vậy kinh tế càng phát triển nó lại tác động vào hoạt động thực hiện pháp luật của người dân Có sự tiến bộ trong pháp luật thì mới

có sự chấp hành đúng đắn của nhân dân và ngược lại, kinh tế suy thoái thì đồng nghĩa với việc pháp luật không được thực hiện ngiêm minh

Thứ ba, việc thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của

công bằng xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thực hiện pháp luật Nó

là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn

Trang 32

1.4.4 Điều kiện về tổ chức thực hiện (tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, nguồn lực tài chính…)

Khi ban hành một văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng, một trong những vấn đề được

dự liệu để bảo đảm tính khả thi của văn bản sau khi ban hành, bảo đảm hiệu quả thực hiện văn bản trên thực tế chúng là các yếu tố về điều kiện bảo đảm thi hành văn bản như nguồn tài chính, nguồn nhân lực; các biện pháp đảm bảo thực hiện nội dung các chính sách của văn bản… phải được quy định cụ thể, đầy đủ và hợp lý

Đối với việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thực tế cho thấy, điều kiện về tổ chức bộ máy để thực hiện đã được quy định cụ thể trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và tổ chức thực hiện trong thời gian qua Cụ thể, theo quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 06/2014/QĐ-TTg ngày 12/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ, Ban Tôn giáo Chính phủ có 14 vụ, đơn vị; với 139 công chức, viên chức và lao động hợp đồng Theo Nghị định này, Ban Tôn giáo Chính phủ được bổ sung thêm một đơn vị nghiên cứu khoa học là Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo và Vụ Công tác tôn giáo phía Nam, tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu chuyên sâu về chính sách tôn giáo, tham mưu cho Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo đạt hiệu quả; đồng thời để có đầu mối phục vụ hoạt động quản lý tôn giáo ở các tỉnh phía Nam, thuận lợi cho việc liên hệ công tác với các địa phương các tỉnh vùng Nam Bộ Về phía các địa phương, theo quy định tại Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thông tư số 04/2008/TT-BNV ngày 04/6/2008 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Ở tỉnh hiện nay có Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ, trong Ban có các phòng; Ở huyện có 01 đến 02 người làm công tác tôn giáo kiêm nhiệm với công tác khác; Ở cấp xã không có cán bộ chuyên môn

Trang 33

làm công tác tôn giáo, thường là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch xã, phường kiêm nhiệm công tác chuyên môn về tôn giáo

Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi Nghị định số 92/2012/NĐ-CP được ban hành, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ương tới địa phương đã tổ chức triển khai, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo Qua 05 năm thực hiện Nghị định số 92/2012/NĐ-CP của Chính phủ, các ngành, các cấp đã có nhiều nỗ lực và đạt được một số kết quả quan trọng Công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo theo các quy định mới đã đi vào đời sống Sinh hoạt tôn giáo thuần túy của chức sắc, tín đồ được bảo đảm, đa số các chức sắc và tín đồ tôn giáo đồng tình và ủng hộ, đồng bào tôn giáo đã hăng hái tích cực tham gia các phong trào thi đua, xây dựng, phát triển kinh

tế, xã hội của từng địa phương, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung, công tác thi hành pháp luật

về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng được tăng cường, cơ chế, chính sách về tôn giáo

và công tác tôn giáo từng bước được hoàn thiện; các cơ quan chức năng cùng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt công tác vận động quần chúng, chức sắc và tín đồ các tôn giáo; phối hợp tuyên truyền, vận động, thuyết phục có hiệu quả những hành vi vi phạm chính sách, pháp luật tôn giáo; vận động chức sắc, chức việc, tu sỹ, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo làm cho mọi người hiểu rõ chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo; đồng bào có đạo chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật nói chung và

về tôn giáo nói riêng, tạo sự đoàn kết giữa các tôn giáo và sự đồng thuận của các tôn giáo với chính quyền

Kết luận Chương 1

Việc thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng Chương 1 của Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo (khái niệm, đặc điểm, tính chất

Trang 34

của các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về

tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm điều kiện về chính trị, pháp luật, xã hội, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính ) Những nội dung cơ bản về mặt lý luận liên quan đến thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được trình bày tại Chương 1 sẽ là cơ sở

để đánh giá về thực trạng thực hiện pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tại Chương 2 của Luận văn

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm

1991 đã khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận

nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân” [28]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi

rõ: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực

hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [28]

Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo rất đúng đắn, minh bạch và từng bước được hoàn thiện Đến đầu thập kỷ 90, trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số

Trang 36

24/NQ-TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đã ghi dấu son về sự đổi mới

đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo Nghị quyết 24/NQ-TW xác định: “Tín

ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” [38] Sau gần 10

năm thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW, Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37/CT-TW ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới Cho đến Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khoá IX về công tác tôn giáo (Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003) thì quan điểm chính sách của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước

mới phù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước Đó là: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu

cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật” [8] Những quan

điểm của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh rằng Đảng coi quyền tự

do tín ngưỡng là một nhu cầu quan trọng của con người, là một trong những quyền công dân, quyền chính đáng của con người Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức tin của đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo bất cứ tôn giáo nào

Đến Đại hội XI, vấn đề tôn giáo được đề cập ở hai văn kiện quan trọng là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển 2011) và Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI với một số quan điểm cơ bản sau: (1) Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật; (2) Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc; (3) Tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo; (4) Động viên chức sắc, tín

đồ, các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; (5) Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các

Trang 37

tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã đựơc Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật; (6) Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước

Đại hội XII của Đảng khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng ta về chính sách tôn giáo là: (1) Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; (2) Quan tâm

và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật; (3) Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật

Như vậy, có thể thấy, quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện qua những nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật Đây là quan điểm nhất

quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, đựơc nêu ra và tái khẳng định nhiều lần qua các

kỳ Đại hội Đảng Cho đến nay, trải qua 12 kỳ Đại hội, trong đó có 7 kỳ Đại hội của thời kỳ Đổi mới, thì quan điểm trên về cơ bản là nhất quán Tuy nhiên, từ Đại hội VIII về trước, văn kiện Đại hội chỉ nêu “tôn trọng” nhưng đến 4 kỳ Đại hội (IX, X,

XI, XII) không chỉ nêu “tôn trọng”; mà còn “bảo đảm” quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Đồng thời, ở Đại hội XI, khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo có sự phân biệt rõ” "tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không

tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân" [10, tr.81]

Thứ hai, chủ động phòng ngừa với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc Chống lợi dụng tôn giáo

được thể hiện ở mọi kỳ Đại hội Đại hội II nêu "nghiêm trị", Đại hội III nêu "Nhà nước cần trừng trị", Đại hội IV nêu "chống”, Đại hội V nêu "nghiêm trị", Đại hội VI nêu "cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống”, Đại hội VII nêu "nghiêm cấm và ngăn chặn", Đại hội VIII và Đại hội IX đều nêu "nghiêm cấm", Đại hội X nêu "đấu tranh

Trang 38

ngăn chặn" Đến Đại hội XI nêu: “đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động

vi phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi

ích của Tổ quốc và nhân dân" (Cương lĩnh bổ sung) và điểm mới ở đây là: "Chủ động

phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dựng tín ngưỡng, thụ giáo để

mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc” (Báo cáo Chính trị)

Thứ ba, tôn trọng những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo

Trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990, lần đầu tiên Đảng ta thừa nhận "đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới" Đến Chỉ thị 37-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1998, công nhận: “Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy" Ở Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khoá VIII còn nêu cả mục 8 về "chính sách văn hoá đối với tôn giáo" Và Đại hội IX, Đảng ta chính thức khẳng định trong Báo cáo Chính trị: "Phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn

giáo" [8, tr.128] Một lần nữa, tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam lại nhắc lại

quan điểm này: "Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo" Điểm mới về vấn đề này là ở chỗ, Đại hội XI Đảng ta không chỉ nêu: "Phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo" mà còn cần "tôn trọng” (Cương lĩnh) những giá trị ấy Và Đại hội XII tiếp tục khẳng định tiếp tục phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo

Thứ tư, động viên các tổ chức tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) có ghi: "Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân

đối với Tổ quốc, sống "tốt đời, đẹp đạo" [50 tr.126] Đại hội IX, Đảng ta nhắc lại:

Đồng bào theo đạo và chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống "tốt đời đẹp đạo” Đến Đại hội X nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể nhân dân: "Động viên,

giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo" Như vậy

đến Đại hội X đã xác định rõ chủ thể của công tác tôn giáo vận, nhưng còn khách thể chủ yếu vẫn chỉ trong phạm vi là tín đồ và chức sắc các tôn giáo Đến Đại hội

Trang 39

XI và XII tái khẳng định quan điểm trên và có bổ sung thêm đối tượng nữa cần động viên là “các tổ chức tôn giáo" đã được Nhà nước công nhận

Thứ năm, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Theo đó, Đảng và Nhà nước ta không chỉ công nhận,

bảo hộ mà Đảng ta còn quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ấy sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo theo đứng quy định của pháp luật Điều này thể hiện tầm nhìn mới của Đảng đối với các tổ chức tôn giáo hợp pháp

Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước Để cho những quan

điểm chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, mỗi khi Đảng ta đưa ra những quan điểm về tôn giáo thì Nhà nước kịp thời thể chế hóa bằng những văn bản pháp quy Đại hội IX lần đầu nêu, từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo Đại hội XI nêu rõ là "tiếp tục" thay cho "từng bước hoàn thiện” không chỉ luật pháp mà

cả chính sách về tín ngưỡng và tôn giáo Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được đặt ra thường xuyên, liên tục Đây là điểm mới quan trọng thể hiện cách tư duy biện chứng về hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng ta Quan điểm này được tái khẳng định tại Đại hội XII

2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Ngoài Hiến pháp, trong từng thời kỳ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác Ví dụ, Sắc lệnh số 234/SL ngày 14/06/1955 và một số Thông tư hướng dẫn thi hành Sắc lệnh như Thông tư số 593-TTg (năm 1957), Thông tư số 60-TTg (11/06/1964) quy định chi tiết về việc thi hành chính sách tôn giáo… Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ

đã thông qua Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 về “Một số chính sách đối với tôn giáo; Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/03/1991 ban hành “Quy định về các hoạt động tôn giáo”; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày19/04/1999 quy định về các hoạt động tôn giáo; Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 43), Bộ luật Hình sự 1999 (Điều 47),

Trang 40

Luật tổ chức Chính phủ 2001 (Điều 13), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (Điều 5); Luật Giáo dục 2005 (các Điều 9 và 16)… Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, tiếp tục cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 và thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18/06/2004, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Chính phủ Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/03/2005 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 (thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP) của Chính phủ quy định chi tiết

và biện pháp thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 về một số công tác đối với đạo Tin lành; Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BNV ngày 25/3/2013 hướng dẫn sử dụng biểu mẫu về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 30/5/2014 hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản quy định chi tiết thi hành nêu trên là những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đang có hiệu lực và sẽ có hiệu lực đến ngày 01/01/2018 Kể từ 01/01/2018, Luật tín ngưỡng, tôn giáo sẽ có hiệu lực thi hành và thay thế cho Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành

Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định về những nội dung chính sau đây: (1) Những vấn đề chung về tín ngưỡng, tôn giáo (khẳng định quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; các hành vi bị nghiêm cấm ); (2) Quy định về hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng và hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc (quyền, nghĩa vụ người hoạt động tín ngưỡng; việc đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo, yêu cầu của hoạt động tôn giáo, đình chỉ hoạt động tôn giáo); (3) Điều kiện, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo; việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo; cuộc lễ của tôn giáo; điều kiện thừa nhận việc phong chức, phong

Ngày đăng: 21/11/2017, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (2003), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/ vi/News/ 38/0/159/ 0/1065/Noi_dung_Nghi_quyet_so_25_NQ_TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2003
2. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Đề cương bài giảng tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2005
3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2008), Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Trung tâm nghiên cứu - bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tôn giáo, tài liệu dùng cho cán bộ làm công tác tôn giáo cấp cơ sở, lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2008
7. Ban Tôn giáo thành phố Đà Nẵng (2012), Báo cáo đánh giá thực tình hình tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước vê tôn giáo các cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tôn giáo thành phố Đà Nẵng (2012)
Tác giả: Ban Tôn giáo thành phố Đà Nẵng
Năm: 2012
11. Ban Tư tưởng-Văn hoá trung ương (2000), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng-Văn hoá trung ương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
13. Bộ Văn hóa – Thông tin (2005), Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Mông
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Năm: 2005
15. Chính phủ (2012), Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
16. Chính phủ (2014), Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
17. Chính phủ (2017), Nghị định số 34/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
18. C.Mác – Ph.Ăng ghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxn Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăng ghen
Năm: 1994
19. C.Mác – Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
20. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Đà Nẵng một năm nhìn lại, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/169/0/4659/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Đà Nẵng một năm nhìn lại
21. Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng (2010), Lịch sử Đà Nẵng, nguồn Lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đà Nẵng
Tác giả: Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng
Năm: 2010
24. Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
25. Đặc điểm tín ngưỡng – tôn giáo ở Đà Nẵng, http://diachi.zen.net.vn/ vi/da- nang/ton-giao-36/dac-diem-ton-giao-353.zen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tín ngưỡng – tôn giáo ở Đà Nẵng
26. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng, http://www.indosun.vn /tu-van-dau-tu-xem/13/dieu-kien-tu-nhien---kinh-te---xa-hoi-thanh-pho-da-nang/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
27. Đất nước con người Đà Nẵng, http://danang.vietccr.vn/xem-tong-quan/dat-nuoc-con-nguoi-da-nang-default.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước con người Đà Nẵng
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương(khoá VI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-vii/doc-01012201511363746.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương(khoá VI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-vii/doc-41012201511375546.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Sự thật

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w