5 thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển thức ăn chăn nuôi và xuất nhập lợn Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 2i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công
Thái Nguyên - năm 2017
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi
đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Chăn nuôi thú y và trang trại chăn nuôi lợn gia công Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp,
sự giúp đỡ, động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.La Văn Công đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công khóa luận này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại của gia đình ông Trần Văn Tuyên về sự hợp tác giúp đỡ, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Lương Thị Phương
Trang 4
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 33 Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm 36 Bảng 4.2 Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong 6
tháng thực tập 37 Bảng 4.3 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 38 Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
nuôi tại trại bằng thuốc và vắc xin 39 Bảng 4.5 Tình hình măc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
nuôi tại trại 40 Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 41 Bảng 4.7 Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại
cơ sở 42
Trang 6v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.1.1.Vị trí địa lý 3
2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai 3
2.1.1.3 Giao thông vận tải 3
2.1.1.4 Điều kiện khí hậu 4
2.1.1.5 Qúa trình thành lập 4
2.1.1.6 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.1.7 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.1.8 Tình hình sản xuất của trang trại 6
2.1.2 Đánh giá chung 8
2.2 Cơ sở khoa học 9
2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 9
2.2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con 9
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa 10
Trang 7vi
2.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 14
2.2.2 Hiểu biết về vi khuẩn E.coli 15
2.2.3 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 17
2.2.3.1 Nguyên nhân 17
2.2.3.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh 20
2.2.3.3 Quá trình sinh bệnh 20
2.2.3.4 Triệu chứng lâm sàng 21
2.2.3.5 Bệnh tích 22
2.2.3.6 Chẩn đoán 23
2.2.3.7 Phòng bệnh 23
2.2.3.8 Trị bệnh 25
2.3 Tình hình nghiên cứu về bệnh lợn con trong nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh lợn con trong nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh ở lợn con trên thế giới 29
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31 3.1 Đối tượng 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung nghiên cứu 31
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Phương pháp thực hiện 32
3.4.3 Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 34
3.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 35
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn ông Trần Văn Tuyên trong 3 năm (2014-2016) 36
Trang 8vii
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn con từ
sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại ông Trần Văn Tuyên 37
4.3 Kết quả thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38
4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 38
4.3.2 Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin 39
4.3.3.Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 40
4.4 Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, nền chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức
ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để đàn lợn con sau khi sinh ra đạt tỷ lệ cao, khỏe mạnh là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của đàn con
Hiện nay tình hình dịch bệnh đang diễn ra hết sức phức tạp đặc biệt là trên đàn lợn con theo mẹ ở rất nhiều trang trại với quy mô lớn Tình hình dịch bệnh diễn ra hết sức phức tạp ảnh hưởng đến kinh tế, năng suất và chất lượng đàn lợn Do đó yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là phải có những nghiên cứu
áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn con
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng
quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”
Trang 10- Xác định áp dụng quy trình kỹ thuật vào sản xuất của trại
- Đánh giá được quá trình áp dụng quy trình kỹ thuật trong công tác phòng và trị bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại
Trang 113
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1.Vị trí địa lý
Trại lợn của ông Trần Văn Tuyên nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết thuộc huyện Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hoà Bình khoảng 85 km
Cách thành phố Ninh Bình đường quốc lộ 1A khoảng 50km
Cách thủ đô Hà Nội, sân bay quốc tế nội bài khoảng 100 km
2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai
Đây là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình có địa hình tương đối phức tạp, được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi, các dãy núi xen kẽ đồi và sông suối nhỏ Ở đây có một số tài nguyên khoáng sản như: than đá (Lạc Đoàn Kết, Bảo Hiệu) và dạng sa khoáng, mỏ đất sét, đá xây dựng, nước khoáng Ngọc Lương…
2.1.1.3 Giao thông vận tải
Có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Phú Thọ, đường Hồ Chí Minh thuận lợi trong phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hóa
Trang 124
2.1.1.4 Điều kiện khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều Đặc biệt do địa hình có độ dốc nhẹ về phía đông và không
có nhiều sông suối nên trên địa bàn hầu như không có lũ lụt vào mùa mưa
2.1.1.6 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:
+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại phụ trách chung, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế
toán phụ trách chuyên môn
+ Nhóm công nhân: 15 công nhân, 7 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn
Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm hai tổ khác nhau đó là như tổ chuồng nái đẻ, tổ chuồng nái chửa Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại
2.1.1.7 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại có tổng diện tích là 4,2 ha nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết, có địa hình chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp,
Trang 135
thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển thức ăn chăn nuôi và xuất nhập lợn
Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi
công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn
đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:
+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có
2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
+ 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1: dãy 1 được thiết
kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 34 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh
+ 4 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi chuồng có
thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 3
tháng để làm vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên giống
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện
chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng
Trang 146
mát về mùa Hè ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng
Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc
xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho
xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
2.1.1.8 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40
- 2,45 lứa/năm Số con sơ sinh là 12,07 con/đàn, số con cai sữa là 10,45 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty
CP Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá
Trang 157
Trong trại có 34 con lợn đực giống Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác vệ sinh thú y của trại
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty chăn nuôi CP Việt Nam
- Công tác vệ sinh:
Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự nhiên
Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh:
Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
Quy trình phòng bệnh bằng vác xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, cho đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin
ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh
Trang 16từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó
đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
Trang 179
Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch bệnh xảy ra khó kiểm soát gây khó khăn cho chăn nuôi Do đó đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn
lợn tại trại
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
2.2.1.1 Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh
Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam protein/kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gam protein/kg khối lượng cơ thể
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ
Trang 1810
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Trọng lượng bộ máy tiêu hóa tăng lên từ 10 - 15 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên từ 40 - 50 lần Lúc đầu trọng lượng dạ dày chỉ là 6 – 8 g và chứa được 35 – 50 g sữa nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và đến lúc lợn con dạt 60 ngày tuổi đã nặng 150 g và chứa được 700 - 1000 g sữa (Nguyễn Quang Linh, 2005) [12]
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [18]
Trang 1911
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15] vì thiếu HCl tự do nên vi sinh vật có điều kiện dễ dàng phát triển gây bệnh đường tiêu hóa, điển hình là bệnh lợn con Do đó để hạn chế bệnh đường tiêu hóa có thể kích thích vách tế bào
dạ dày tiết ra HCl tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập ăn sớm cho lợn con vào lúc 5 - 7 ngày tuổi thì HCl tự do có thể tiết ra
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006 [18] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng
Trang 20có khả năng tiêu hóa protein
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hóa Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
2.2.1.3 Đặc điểm cơ năng điều tiết thân nhiệt
Theo nhóm tác giả Hội chăn nuôi Việt Nam (2000) [8] ở lợn con sơ sinh,
tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm 82% Vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhanh, 30 phút sau khi sinh lượng nước giảm 1,5 – 2% kèm theo giảm thân nhiệt 5 - 100C, lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến dễ
bị chết non
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng
Trang 2113
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Theo Từ Quang Hiển và cs (1995) [7] ở lợn con, khả năng sinh trưởng
và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần
cả về chất và lượng Đây là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức
ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh tăng lên Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ dẫn đến bị còi cọc và tỷ lệ chết
sẽ tăng cao
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa Đông đầu mùa Xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển, nhất là bệnh đường tiêu hoá
Trang 2214
2.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất
lạ chủ yếu là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối
dễ dàng, do chức năng của các tuyến phòng vệ chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn đến khả năng tiêu hoá kém, hấp
thu kém Trong giai đoạn này các loại vi khuẩn như: (Salmonella spp,
E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng- globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng cho lợn nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng - globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu
có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thu - globulin kém hơn, hàm lượng - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của
Trang 2315
lợn trưởng thành có khoảng 65 mg/100ml máu) Do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn con không được bú sữa đầu thường sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.2 Hiểu biết về vi khuẩn E.coli
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là
Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm
1885 từ phân trẻ em E.coli thường sinh sống ở phần sau của ruột, ít khi ở dạ
dày hay phần trước ruột của các loài gia súc, gia cầm và cả người
- Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn hình gậy kích thước từ 2 - 3 x 0,6 µm, cơ thể
có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Vi khuẩn dài 4 - 8 µm
Phần lớn E.coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số
không di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô
- Đặc tính nuôi cấy
E.coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể phát triển ở
nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4; vi khuẩn phát triển được ở pH 5,5 - 8
E.coli phát triển dễ dàng trong các môi trường nuôi cấy thông thường:
+ Trong môi trường nước thịt: Vi khuẩn phát triển thấp, môi trường rất đục có máu tro nhạt lắng xuống đáy, đôi khi có màu xám nhạt trên mặt môi trường, môi trường có mùi phân thối
+ Trên môi trường thạch thường: Sau 24 giờ nuôi cấy hình thành nên khuẩn lạc tròn, ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, có đường kính 2 - 3 mm Nuôi lâu khuẩn lạc trở thành gần như nâu nhạt và mọc rộng ra
Có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R và khuẩn lạc dạng M
Trang 2416
+ Môi trường Istrati: Khuẩn lạc có màu vàng tươi
+ Môi trường Maconkey: Khuẩn lạc có màu đỏ hồng
+ Môi trường Brilliiant - Gren - Ager: Khuẩn lạc có màu vàng chanh + Môi trường EMB (Eosin - Methylen - Blue): Khuẩn lạc có màu đen tím + Môi trường Muller Kauffman: Vi khuẩn không mọc
+ Môi trường thạch SS (Salmonella - Shigella): E.coli có khuẩn lạc màu đỏ + Môi trường Endo: E.coli có khuẩn lạc màu đỏ
- Đặc tính sinh hóa: E.coli lên men sinh hơi từ các loại đường fructose,
glucose, galactose, lactose, mannit, dextrose Lên men không chắc chắn các loại đường dulcitol, saccharose
Các phản ứng khác: H2S, VP, urea: âm tính
MR, Indol: Dương tính
Sữa đông sau 24 - 72 giờ ở 370
C
Gelatin, huyết thanh đông, lòng trắng trứng đông
E.coli có khả năng khử Nitrat thành Nitrit, khử Cacbocyl trong môi
bị phá huỷ bởi formol 0,5%
+ Kháng nguyên H:
Trang 2517
Kháng nguyên được cấu tạo bởi thành phần lông của vi khuẩn, có bản chất
là protein giống như chất myosin trong cơ, nó có đặc tính sau: Bị phá huỷ ở 600
C trong 1 giờ, bị cồn 500
và các enzym phân giải protein phá huỷ, bền vững với formol 0,5%
+ Kháng nguyên K:
Kháng nguyên K hay còn gọi là kháng nguyên bề mặt Chúng bao quanh tế bào vi khuẩn có bản chất là polysaccharide Có ý kiến cho rằng kháng nguyên K có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước các yếu tố phòng bệnh của vi khuẩn
- Độc tố
Vi trùng E.coli tạo ra 2 loại độc tố đó là nội độc tố và ngoại độc tố
Ngoại độc tố: Là một chất không chịu được nhiệt dễ bị phá huỷ ở 560
C trong vòng 10h30 phút dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố, ngoại độc tố có hướng thần kinh và gây hoại tử
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] hiện nay việc chiết xuất ngoại độc tố chưa thành công mà chỉ phát hiện trong canh trùng của chúng mới phân lập được khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi trường dinh dưỡng
+ Nội độc tố: Là các yếu tố gây độc chủ yếu của trực khuẩn đường ruột
E.coli, chúng có trong tế bào vi trùng và gắn vào vi trùng rất chặt chẽ, nội độc
tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp: Phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học
hoặc chiết suất bằng phenol dưới tác dụng của enzym
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [3] bệnh lợn con phân trắng do trực
Trang 2618
khuẩn E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở dạng nhiễm trùng huyết
hoặc nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở lợn con, nhất là sau khi sinh, thậm chí
chỉ vài giờ Có đến 48% trường hợp bị tiêu chảy ở lợn con là do E.coli gây ra
Vi khuẩn E.coli là loại phổ biến nhất trong đường ruột, nó xuất hiện và
sống trong đường ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh Khi điều kiện
chăm sóc, nuôi dưỡng kém sức đề kháng của con vật giảm thì E.coli cường
độc và có khả năng gây bệnh, chúng sản sinh ra độc tố (enterotoxin) phá hủy
tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng quá trình thay đổi nước, điện giải Nước không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà bị rút từ cơ thể vào trong ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli là vệ sinh chuồng
trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không đảm vệ sinh,
E.coli sẽ xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể Ngoài ra, trong dịch vị thiếu
HCl tự do cũng là nguyên nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa
Lợn con không được bú sữa đầu dẫn đến sức đề kháng yếu làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh, thời tiết nóng, lạnh đột ngột, độ ẩm môi trường cao cũng làm lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [19] sắt là yếu tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng và khă năng chống đỡ bệnh tật, ở động vật 1/2 lượng sắt dẫn đến cơ thể nằm ở hemoglobin, một lượng ít nằm ở myoglobin và một số enzym Trong quá trình mang thai hoặc sữa đầu của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu về sắt dễ sinh bần huyết ở lợn con, dẫn đến cơ thể suy nhược, không hấp thu được dinh dưỡng, giảm sức đề kháng và dễ mắc bệnh
Mặt khác, lượng sữa mẹ giảm dần và đến ngày thứ 20 giảm đột ngột, trong khi đó nhu cầu về dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng cao Đến ngày thứ 20 nếu dinh dưỡng của lợn mẹ không đảm bảo, lợn con càng thiếu sữa, chúng gặm, la liếm nền chuồng và thành chuồng nên dễ phát sinh bệnh đường tiêu hóa
Trang 2719
* Viêm phổi
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nh ân gì, kiểm tra lại hệ thống thức ăn, cách vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm n ặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng
cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra
trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh
Triệu chứng: lợn con gầy còm, lông xù, thở thể bụng, lợn không tranh
bú được nên ngày càng gầy yếu
Theo Lê Văn Năm (2013) [13] đến nay chưa có phương pháp gì đặc biệt thông dụng để chẩn đoán bệnh viêm phổi truyền nhiễm khi lợn đang sống Bởi vậy cần dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, kết quả mổ khám và chẩn đoán cơ sở chuyên ngành
*Viêm khớp
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus
suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây
ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến Ở các tổ chức cư trú, chúng sống và nhân lên trong tế bào monocoyte, rồi di chuyển vào xoang dịch não tủy gây
Trang 2820
nên vên viêm màng não, hoặc có thể thông qua con đường nhiễm trùng huyết
để xâm nhập vào màng não, khớp xương và các mô khác (Nguyễn Bá Hiên và
cs 2012) [6]
Trương Quang Khải và cs (2012) [9] xác định khả năng mẫn cảm với
kháng sinh của 25 chủng vi khuẩn S.suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm
phổi tại tỉnh Bắc Giang cho kết quả các chủng vi khuẩn mẫn cảm cao với ceftiofur (90,2%), florfenicol (88,0%), amoxillin (88,0%) …
2.2.3.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh
Động vật cảm nhiễm: Thường chỉ thấy lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến khi cai sữa, cơ năng tiêu hóa của lợn kém, dễ bị bệnh khi có sự tác động của vi
khuẩn E.coli gây bệnh Thành phần dinh dưỡng và phẩm chất của sữa lợn mẹ
kém cũng ảnh hưởng đến sức đề kháng của lợn con nên lợn con dễ bị bệnh
Điều kiện chăn nuôi: Bệnh thường xảy ra ở những nơi vệ sinh chăm sóc kém, không chống ẩm, chống lạnh đầy đủ vì trong những điều kiện đó lợn con
bị stress làm cho sức đề kháng của lợn con giảm nên các tác nhân gây bệnh phát triển và làm phát sinh bệnh
vi khuẩn E.coli tràn lên ruột non, tại đây nhờ kháng nguyên bám dính, vi
khuẩn bám vào lớp biểu mô nhung mao ruột Sau đó vi khuẩn xâm nhập vào trong lớp tế bào biểu mô, trong lớp tế bào biểu mô vi khuẩn phát triển nhân lên làm phá hủy lớp tế bào này gây viêm ruột Cũng tại đây vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột, độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối và
Trang 2921
nước Nước và chất điện giải không hấp thu được từ ruột vào cơ thể, ngược lại thấm xuất từ cơ thể vào ruột Nước tập trung vào ruột làm cho ruột căng lên Sức căng của ruột và quá trình viêm ruột kích thích vào hệ thần kinh thực vật tạo nên những cơn nhu động ruột mạnh, đẩy nước và phân ra ngoài gây hiện tượng tiêu chảy
Sau khi gây ra tiêu chảy và thay đổi về tổ chức bệnh lý ở hệ thống tiêu hóa thì tùy khả năng gây bệnh của vi khuẩn và sức đề kháng của vật chủ mà
vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào hệ thống tuần hoàn gây dung huyết lợn bị sốt cao, hay vào cơ quan nội tạng gây bệnh toàn thân hoặc chỉ cư trú tại ruột gây bệnh ở đường tiêu hóa
Ngoài ra việc bú sữa đầu không kịp thời, chất lượng sữa đầu kém, thiếu
yếu tố γ - Globulin miễn dịch, cũng là điều kiện để phát sinh bệnh Như vậy
để sinh bệnh rõ ràng phải có mặt chủng E.coli cường độc Hầu hết chủng
E.coli cường độc đều sinh ra một số yếu tố bám dính màng, các chất này làm
trung gian cho các cảm thụ quan đặc hiệu bám dính lên tế bào biểu bì của màng niêm mạc
2.2.3.4 Triệu chứng lâm sàng
Lứa tuổi mắc bệnh thường gặp ở lợn con từ 10 - 21 ngày tuổi Thời gian
ủ bệnh từ vài giờ đến một ngày Bệnh lợn con sơ sinh có thể quan sát được 2 -
3 giờ sau khi sinh, có ở từng cá thể hay toàn đàn Phần lớn lợn con trong đàn bị ảnh hưởng và có thể tử vong rất cao trong những ngày đầu tiên
Lợn con nhiễm E.coli có biểu hiện chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít tăng
cao, trường hợp cá biệt nhiệt độ cơ thể có khi lên tới 40,5 - 41oC, nhưng chỉ vài giờ hoặc một vài ngày sau sẽ hạ sốt Lợn ỉa nhiều lần trong ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân
có mùi tanh đặc biệt, bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù quanh hậu môn dính phân, 2 chân sau chụm lại