1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.

61 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.Sử dụng LincoPectin và tyloxin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi Gà ta lai (Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo Đồng Hỷ Thái Nguyên.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LIÊU VĂN THÀNH

TÊN CHUYÊN ĐỀ:

SỬ DỤNG LINCO-PECTIN VÀ TYLOSIN ĐIỀU TRỊ BỆNH CRD TRONG CHĂN NUÔI GÀ TA LAI (MÍA X LƯƠNG PHƯỢNG) TẠI

XÃ KHE MO-HUYỆN ĐỒNG HỶ -TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Một sinh viên sau khi kết thúc khóa học của mình đều phải tiến hành một khóa thực tập tốt nghiệp do nhà trường tổ chức Đây là thời gian giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên có điều kiện tiếp xúc với thực tiễn, học hỏi thêm kiến thức, kinh nghiệm đúc rút qua thực tiễn sản xuất để từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến

bộ khoa học vào sản xuất Do vậy, thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường là giai đoạn quan trọng cần thiết đối với mỗi sinh viên

Quá trình thực tập tốt nghiệp là một quá trình rèn luyện kỹ năng của bản thân, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản suất, được tận tay làm, tận mắt theo dõi , giúp sinh viên ra trường thành một kỹ sư thực sự

có trình độ kỹ thuật và năng lực làm việc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, được sự phân công của ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và được sự tiếp nhận của cơ sở thực tập, em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp trên địa

bàn huyện với đề tài: “sử dụng Linco-Pectin và tyloxin điều trị bệnh CRD

trong chăn nuôi Gà ta lai ( Mía x Lương Phượng) tại xã Khe Mo ,Đồng

Hỷ, Thái Nguyên”

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của

thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn để em

hoàn thành tốt khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Liêu Văn Thành

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

Bảng 3.2: Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà thí nghiệm 26

Bảng 4.1: Lịch dùng vaccine và phòng bệnh kháng sinh cho đàn gà 35

Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37

Bảng 4.4: Một số bệnh thường gặp ở gà thả vườn 38

Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm CRD trên đàn gà thả vườn theo tuần tuổi (%) 39

Bảng 4.6 : Triệu chứng và bệnh tích của gà nhiễm bệnh CRD 41

Bảng 4.7: Kết quả phòng bệnh CRD của Linco-pectin và Tylosin 42

Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh CRD của Linco-Pectin và Tylosin 43

Bảng 4.9: Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các giai đoạn ngày tuổi (gam/con) 43

Bảng 4.10: Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) (kg TA/kg tăng khối lượng) 45

Bảng 4.11: Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng Linco-Pectin và Tylosin trong chăn nuôi gà (đồng) 46

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 44

Trang 6

DANH MỤC Ý NGHĨA CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự CRD : Chronic Respiratory Disease

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC Ý NGHĨA CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

Phần 1:MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa về khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 4

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 5

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.2.1 Một vài nét về giống gà thí nghiệm 5

* Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương Phượng 6

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm 7

2.2.3 Bệnh CRD ở gà 10

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

2.3.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 24

Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 25

3.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.3 Nội dung Tiến hành 25

Trang 8

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp xác đi ̣nh các chỉ tiêu 27

3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.4 Phương pháp sử lý số liệu 28

Phần 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29

4.1.1 Biện pháp thực hiện 29

4.1.2 Kết quả phục vụ sản xuất 30

4.2 Kết quả và thảo luận 38

4.2.1 Kết quả về tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 38

4.2.2 Một số bệnh thường gặp ở gà thả vườn 38

4.2.3 Tình hình nhiễm CRD theo lứa tuổi ở đàn gà thả vườn 39

4.2.4 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích của gà có biểu hiện nhiễm bệnh CRD 40

4.2.5 Hiệu lực phòng bệnh CRD của Linco-Pectin và Tylosin 42

4.2.6 Hiệu lực điều trị bệnh CRD của Linco-Pectin và Tylosin 43

4.2.7 Kết quả về khả năng sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 43

4.2.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng Linco-Pectin và Tylosin trong chăn nuôi gà 46

Phần 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

I Tài liệu Tiếng Việt 49

II Tài liệu dịch từ Tiếng Anh 51

III Tài liệu từ Internet 51

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo, có tới 70% dân cư sống dựa vào nghề Nông nghiệp Nền Nông nghiệp nước ta bao gồm ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Trong đó, chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Nó trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ ở nước ta với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, từ các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ đến các trang trại chăn nuôi lớn

Chăn nuôi gà chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia cầm ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một ngành cung cấp nguồn thực phẩm chiếm tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người Ngoài

ra còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến như lông … Sở dĩ gà có vị trí quan trọng như trên là nhờ có đặc điểm ưu việt như: Giá thành sản phẩm trên mỗi đơn vị của gà hạ hơn bất kỳ ngành chăn nuôi nào khác, hơn nữa giá trị sản phẩm cao, tỷ lệ protein cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân bằng với các chất, hàm lượng axit amin cần thiết có nhiều trong thịt, ngoài ra trong

đó còn chứa nhiều các nguyên tố khoáng vi lượng làm tăng giá trị sinh học của sản phẩm Mặt khác thịt gà thơm ngon hợp khẩu vị với các lứa tuổi và tỷ

lệ đồng hóa cao, do vậy được sử dụng nhiều khu an dưỡng, nhà trẻ và các khách sạn Vì vậy, gà được nuôi rộng rãi ở hầu khắp các nước trên thế giới

Tuy nhiên hiện nay nghành chăn nuôi gà đang đứng trước nhiều khó khăn Nguyên nhân do giá thức ăn cao, sự cạnh tranh về các vấn đề (thị trường, kỹ thuật…) khi nước ta gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, dịch bệnh xuất hiện ngày càng phức tạp và tràn lan (H5N1, CRD…), gây thiệt hại lớn Trong đó bệnh dịch là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển

Trang 10

của chăn nuôi gà, để hạn chế được nó cần phải có những nghiên cứu sâu rộng

và thực tế về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống

Tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh, phương thức chăn nuôi cũng có bước chuyển biến từ chăn thả sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể trên càng nhiều trong đó có bệnh

đường hô hấp mãn tính CRD do Mycoplasma gallisepticum, tuy tỷ lệ chết không

cao nhưng gà thường chậm lớn, gây thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi

Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự nhất trí của nhà trường cùng giảng viên hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng Linco-Pectin và Tylosin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi

gà ta lai (Mía x lương phượng) tại trại gà, xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh bệnh CRD trên đàn gà thả vườn theo lứa tuổi

- Xác định hiệu lực của thuốc Linco-Pectin và Tylosin trong phòng và trị bệnh CRD ở gà thí nghiệm Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn gà

Trang 11

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về lợi ích ảnh hưởng tích cực của Linco-Pectin đến khả năng chống lại bệnh tật, cũng như khả năng tăng trọng, tăng trưởng của gà qua các thời kỳ phát triển

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21032’ đến 21051’độ vĩ bắc, 105046’ đến 106004’ độ kinh đông Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lợn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hớng bắc - nam xuống đến đập Thác huống

Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520.59km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cha sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang-

xa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên

Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá Thượng Thế núi hiểm trở, giống hình con voi Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống nhau với quan quân nhà Lê - Trịnh

Huyện Động Hỷ được đặt từ thời nhà Trần Năm 1469, dưới triều vua

Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ; sau đổi là huyện Đồng Gia, rồi lại đổi thành Đồng Hỷ; là một trong 7 châu, huyện thuộc phủ Phú Bình Trong thời nhà Nguyễn (TK XIX), huyện Đồng Hỷ gồm: 9 tổng, 33 xã, thôn, trang, phường; huyện lỵ đặt ở xã Huống Thượng

Trang 13

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở

Trong thời gian thực tập, ngoài thời gian theo dõi về nội dung chuyên

đề thực tập tốt nghiệp, tôi còn tham gia vào một số nội dung phục vụ sản xuất như sau:

- Tham gia đầy đủ các hoạt động thú y của trại

- Thực hiện các nhiệm vụ công tác vệ sinh thú y, tiến hành các biện

pháp phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm Tham gia công tác tiêm phòng và chẩn đoán chữa trị cho những vật nuôi mắc bệnh

- Chọn giống vật nuôi, loại thải những con không đủ tiêu chuẩn và điều kiện làm giống

- Ứng dụng khoa học kỹ thuật chăn nuôi vào công tác chăm sóc nuôi dưỡng, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi

- Thực hiện đề tài: “Sử dụng Linco-Pectin và Tylosin điều trị bệnh CRD trong chăn nuôi gà ta lai (Mía x Luong Phượng) tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

Theo yêu cầu của các nội dung trên, tôi đã đề ra một số biện pháp sau:

- Luôn tuân thủ theo nội quy của Trường, Khoa, quy định của trại và yêu cầu của giảng viên hướng dẫn

- Nhiệt tình với công việc, luôn khiêm tốn học hỏi, hòa nhã với mọi người

- Luôn lắng nghe, không ngừng học hỏi những kinh nghiệm của những người đi trước để củng cố cho bản thân

- Tích cực tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu, trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như kiến thức liên quan Đồng thời, xin ý kiến chỉ đạo của giảng viên hướng dẫn để việc thực hiện đề tài nghiên cứu được đúng hướng và có kết quả tốt nhất

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Một vài nét về giống gà thí nghiệm

Trang 14

* Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương Phượng

- Nguồn gốc: Gà Lương Phượng là giống gà kiêm dụng lông màu có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng, do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lai tạo thành sau nhiều năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ nước ngoài như Kakir, Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những năm gần đây Gà Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng

- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, cánh Con trống lông sặc sỡ nhiều màu: Sắc tía ở cổ, nâu cánh gián ở lưng, nâu xanh đen ở đuôi Da, mỏ, chân đều màu vàng Mào tích tai phát triển, mào đơn, đỏ tươi, ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon Gà thích nghi cao với nuôi chăn thả và bán chăn thả

- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng:

+ Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [26], cho biết: khối lượng gà Lương Phượng đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5kg; tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng là 3,0 - 3,2kg Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 - 2,1kg (gà mái); 2,8 - 3,2kg (gà trống) Sản lượng trứng/10 tháng đẻ là 150 -

170 quả/mái Tỷ lệ ấp nở 80 - 85%

* Nguồn gốc đặc điểm gà Mía

Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [22] cho biết:

Gà mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây

Gà trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh chính xanh biếc Con cái có màu lông vàng nhạt xem kẽ lông đen ở cánh và đuôi, lông cổ màu nâu

Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm

Trang 15

* Đặc điểm gà lai F1 (gà ta lai mía × mái Lương Phượng):

Gà lai F1 giữa gà ta lai ( Mía và Lương Phượng )là gà giống màu có chất lượng cao, có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, tốc

độ sinh trưởng và trao đổi chất nhanh, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế lớn, thích hợp với phương thức nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [5] cho biết; hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi và 9 túi khí

- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van hóa sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước

- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra làm 2 phần: Phần sương và phần sụn Xoang mũi nằm ở mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh

- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hóa sương Số vòng khí quản ở gà là 110 – 120 và hầu hết là sụn, còn

ở thủy cầm hầu hết đã hóa xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi mộng màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài

- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 – 7 cm và có đường kính 5 – 6 mm Mỗi ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với là phổi phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy ( ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài

Trang 16

- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phôi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi

Phổi nằm ở xoang ngực phía trước trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi của loài Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí

- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí có sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể của gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó

có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [15]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh

lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 – 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/ phút Tần số hô hấp của gà trưởng thành là 25 – 45 lần/ phút Gà từ 4 – 20 ngày tuổi là 30 – 40 lần/ phút

Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính

Vận động xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực

Trang 17

thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí đi từ ngoài vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượn oxygen cung cấp vẫn đảm bảo

Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50% Trong thời gian hoạt động mạng (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 – 100%

Hoạt động của phổi và túi Khí bao gồm: Khí lưu thông, khí hít thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng hô hấp lớn nhất của gia cầm

Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn Hoạt động của phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3

Nhu cầu O2 và lượng CO2 ra sau một giờ tính trên 1kg thể trọng của gà như sau:

Tuổi gà Nhu cầu O2 (lít) CO2 thải ra (lít)

Gà con 1 – 21 ngày tuổi 2,5 – 2,9 1,7 – 2,0

cm3 (Nguyễn Duy Hoan, 1998) [4]

Nhà sinh lý học Nga N.A.Milapski xác định trung tâm điều hòa hít vào

và thở ra nằm trong cấu trúc lưới của hành não, phải trái đối xứng nhau Đặc điểm cần chú ý là lồng ngực gia cầm rất phát triển, xương ức tương đối lớn,

Trang 18

không có cơ hoành Phổi của gia cầm thiếu khả năng đàn hồi, nó cố định và tựa vào sườn Vận động của xương sườn làm xương ngực giãn ra hút khí vào

và chỉ xoang ngực co lại gây động tác thở ra

tốn kém (Đào Thị Hảo, 2007) Bệnh do Mycoplasma gây ra những tổn thất khá

lớn đối với nghành chăn unối gia cầm ở mọi nơi trên thế giới Cho đến nay có

16 loài Mycoplasma phân lập được từ gà và gà tây, 7 loài phân lập từ ngỗng

và vịt và 3 loài khác nhau được phân lập từ bồ câu Trong đó có 4 loài gây bệnh cho gia cầm được quan tâm đó là M.gallisepticum; M.synoviae; M.meleagridis và M.iowae (Nhữ Văn Thụ và cs, 2002) [26]

Chu Minh Khôi (2001) [27] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô gấp

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [6] nghiên cứu cho thấy: Bệnh đường hô

hấp mãn tính do Mycopasma gallisepticum gây nên, viết tắt là CRD (Chronic

Respiratory Diseae) là bệnh truyền nhiễm của gà ở các lứa tuổi khác nhau với những bệnh tích ở đường hô hấp, nhất là ở khí quản và phổi, cũng như ở các túi khí Bệnh đường hô hấp mãn tính rất nguy hiểm đối với gà, nhất là gà nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, bởi vì phương thức truyền lây của bệnh chủ yếu là truyền qua trứng và đường hô hấp Qua xuât khẩu trứng và gà giống, bệnh CRD đã lan tràn ra hầu hết các nước trên thế giới Bệnh có thể

Trang 19

làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ nở tới 14% và giảm tăng trọng của gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng, bệnh

do E.coli gây ra… đã gây nên các vụ dịch lớn có tỷ lệ gà chết cao

* Lịch sử và địa dư bệnh lý

Bệnh do Mycoplasmosis lần đầu tiên được mô tả ở Mỹ vào năm 1936 bởi Nelsen với tên bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm do vi trùng thuộc loại cầu khuẩn Năm 1943 Delaplane và Stuart đã cho rằng bệnh đường hô hấp mãn tính là do virus Vào năm 1949 Delaplane đã xác định rằng bệnh này ở gia cầm có liên quan về căn bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây con Markham và Wong năm 1952 đã thành công trong việc phân lập vi trùng viêm màng phổi – phổi thanh dịch, gà mắc bệnh đường hô hấp mãn tính và từ

gà tây mắc bệnh viêm xoang mũi là những vi trùng nhỏ giống như cầu khuẩn,

vi trùng mà Nelsen đã mô tả

Trong các thí nghiệm sau đó, Jonson, Sullian, Taylor… và nhiều nhà khoa học khác đã xác nhận rằng bệnh đường hô hấp ở gà và bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây gây ra bởi các vi trùng thuộc loại cầu khuẩn nằm trung gian giữa virus và vi trùng có tính chất đặc trưng đối với nhóm vi trùng viêm màng phổi– phổi PPLO Berjey đã đặt tên cho loài vi trùng này là

Mycoplasma gallisepticum Năm 1961, Hội nghị dịch tễ thế giới đã đổi tên

“bệnh đường hô hấp mãn tính” thành “bệnh Mycoplasmosis đường hô hấp gia cầm” Từ cuối năm 1951 bệnh này phổ biến ở nhiều nơi trên nước Mỹ và đến năm 1956 nó đã lan tràn khắp nước Mỹ Do việc xuất gà giống và trứng để ấp, nên từ nước Mỹ bệnh này trong những năm sau đã lây truyền vào các nước trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể cho nghành chăn nuôi gia cầm Ở Việt Nam đã tìm thấy kháng thể Mycoplasma trong nhiều đàn gà nuôi tập trung từ năm 1975

Trang 20

* Căn bệnh

Lúc đầu nhiều tác giả trên thế giới đã cho rằng bệnh CRD là do virus gây ra, các tác giả E.Jenson, J.Sullian trong các thí nghiệm sau đó xác định rằng bệnh đường hô hấp ở gà con và bệnh viêm xoang truyền nhiễm ở gà tây gây ra bởi các vi sinh vật thuộc dạng cầu khuẩn, nằm trung gian giữa virus và

vi trùng có tính chất đặc trưng với nhóm vi sinh vật viêm màng phổi – phổi PPLO Từ đó Berjey đã đặt tên cho vi trùng viêm màng phổi – phổi gây bệnh đường hô hấp mãn tính và viêm xoang mũi gà tây là Mycoplasma gallisepticum (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002)

Hoàng Huy Liệu (2002) [28] cho biết: CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M.Gallisepticum, M.Synoviae, M.Meleagridis nhưng chủ yếu là loài M.Gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển

vi thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân, gallisepticum có nghĩa là

“gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỉ lệ nhiễm bệnh ở gà trứng rất cao và sản lượng trứng giảm đáng kể

Hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với bệnh này, đặc biệt là gà nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây người ta đã

sử dụng một số thuốc kháng sinh mới như Tiamulin, Tylosin, Spriamycin,…

để điều trị nên đã khống chế được bệnh này

Nguyễn Xuân Bìnhvà cs (2004) [1] cho biết MG rất ít mẫn cảm với các loại kháng sinh thông thường nên điều trị bệnh phải chọn kháng sinh đặc hiệu

Do có nhiều Serotype khác nhau nên bệnh lý thay đổi không hoàn toàn giống nhau giữa các đàn gà bị bệnh này

Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2] nghiên cứu và kết luận: Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram (-), có tính đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm

Trang 21

thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…), không mẫn cảm với Penicilin, Xiclosenrin và các chết kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào

Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc; nhiệt độ tốt nhất là 37o

C; pH: 7,0 – 8,0 Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa Hemoglubin, Xistein Trên môi trường thạch chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong Khi phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và taojt hành những kết tủa Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2007)

Mycoplasma có sức đề kháng yếu, ở ngoài thiên nhiên căn bệnh bị chết rất nhanh Các điều kiện lý hóa học và các chất sát trùng thông thường đều diệt mầm bệnh dễ dàng Mycoplasma bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45 – 55o

C trong vòng

15 phút Chúng rất mẫn cảm với sự không cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và

bị ức chế bởi các chất kháng sinh, nó ngăn cản quá trính sinh tổng hợp protein của Mycoplasma như Erythomycin, Tetracyclin…

Bệnh hô hấp mãn tính là một bệnh kế phát, chỉ phát thành triệu chứng khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút do mắc các bệnh virus, ký sinh trùng, các yếu tố dinh dưỡng và môi trường chăn nuôi… Ngoài ra tiêm phòng các loại vaccine giảm độc cũng dễ làm trỗi dậy bệnh Mycoplasmosis

* Sự truyền lây

Sự lây truyền MG rất dễ dàng từ con này sang con khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp Khi MG khu trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua hô hấp, ho Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa

Trang 22

chúng Khi con vật bị nhiễm bệnh này thì nó bị coi là mang khuẩn suốt đời vì mầm bệnh có khả năng thay đổi hình thức của cấu trúc kháng nguyên bề mặt một cách rất tinh vi, nhờ vậy nó có thể tạo ra sự thay đổi liên tục về sự biểu hiện của kháng nguyên bề mặt và tránh được sự tấn công của hệ thống miễn dịch của vật chủ Sự mang bệnh lâu như vậy cho nên một đàn gà bị nhiễm bệnh thì đó là nguồn bệnh cho các đàn gà khác trong qua trình nhiễm bệnh mới Đây là một điều đáng lưu ý rong qua trình tạo giống khi các dòng khác được đưa vào lai ghép Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác như nồng độ amoniac ở ngoài môi trường cao, thời tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh khác,… thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG (Hội bác sỹ thú y, 2008) Các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của gà như: thời tiết thay đổi đột ngột, thức ăn không đảm bảo chất lượng, gà bị vận chuyển xa, chuồng trại kém vệ sinh, mật độ nuôi nhốt cao, ẩm độ cao, chuồng nuôi không thông thoáng, nồng độ các chất thải cao,… sẽ làm bệnh phát sinh ra và lan rộng, gây thiệt hại về kinh tế

Nguyễn Xuân Bình và cs, (2004) [1] cho biết: Khi gà con trưởng thành thì con đường xâm nhập của mầm bệnh chủ yếu là qua không khí vào đường

hô hấp Từ đó các vi khuẩn khác lây nhiễm kế phát qua vết thương làm cho bệnh phát ra trầm trọng với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau gây khó khăn cho chẩn đoán

CRD nếu chỉ có một mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng

nếu kế phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn, khí NH3 trong chuồng nuôi quá cao thì bệnh sẽ phát nặng hơn Đặc biệt nếu ghép 3 bệnh: viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do virus), viêm phế quản truyền nhiễm (do virus), bệnh cúm (do virus + vi khuẩn Haemophylus) thì bệnh kéo dài trầm trọng và không chữa trị được

Trang 23

Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ thì khác nhau từ 1 – 14 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám vào Vì vậy việc vệ sinh quần

áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi mà kém thì đó cũng là một con đường truyền lây của bệnh Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 5oC, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 37o

C, 6 tuần ở 20oC Như vậy những quả trứng dập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn tại trong tóc, da của người từ 1 – 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh

Một con đường truyền lây khác được mô tả kỹ đó là sự truyền lây qua trứng Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào phôi và gây chết phôi, chúng có thể xâm nhập ngay trong lúc mới nở do mầm bệnh có sẵn ở ngoài vỏ trứng vào gà con qua đường hô hấp

MG không những được phân lập từ phôi gà mà còn được phân lập từ lòng đỏ của trứng tươi, một phần phôi bị nhiễm bệnh bị chết trong quá trình ấp, một phần nở ra sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh cho đàn gà Trong một số trường hợp

cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vaccine virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh MG còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà trống bệnh Vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua đường thụ tinh nhân tạo và từ gà trống truyền cho gà mái

* Dịch tễ học

Trong thiên nhiên, gà, gà tây, gà lôi dễ mắc bệnh Bồ câu, vịt, ngan, ngỗng ít cảm thụ Gà dò và gà mái dễ mắc bệnh hơn gà con, gà nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp dễ mắc bệnh hơn gà nuôi thả vườn

Bệnh Mycoplasmosis liên quan rất chặt chẽ với sức đề kháng của cơ thể, khi các điều kiện thức ăn, chuồng trại, vận chuyển, thời tiết khí hậu…

Trang 24

thay đổi làm phát sinh triệu chứng lâm sàng của bệnh Ở gà 2 – 11 tuần tuổi

và gà sắp đẻ dễ nhiệm bệnh hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh vào

vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, ẩm độ không khí cao

* Cơ chế sinh bệnh

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, Mycoplasma ký sinh tại đường hô hấp, gây việm nhẹ niêm mạc mũi, đường hô hấp và các xoang quanh mũi, thành túi hơi, niêm mạc viêm, bị phù nhẹ, lớp dưới bị thâm nhiễm các tế bào lympho và histoxit tạo nên các hạt nhỏ lấm tấm Nếu sức đề kháng của cơ thể cao, bệnh tích này sẽ nhẹ, có khi không nhìn thấy Nếu sức đề kháng của cơ thể thấp,bệnh tích này sẽ nặng lên và tràn lan Bệnh càng thể hiện rõ khi niêm mạc đương hô hấp bị viêm thanh dịch co fibrin Trường hợp này gọi là thể Mycoplasmosis tạp nhiễm Con vật gầy yếu, kiệt sức dần và chết

ta thấy gà thở rất mạnh nhưng quan sát kỹ gà khó thở, hay lắc đầu kèm theo tiếng thở là tiếng khẹc khẹc ướt

Theo dõi gà ngủ thấy thở khò khè, còn khi gà ăn uống thỉnh thoảng thấy gà vẩy mỏ khẹt khẹt, phân gà hơi xanh hoặc hơi trắng (Bùi Đức Lũng và

cs, 2000)

Theo Lê Hồng Mận (2007) [10]: Gà con và gà bị bệnh viêm kết mạc, chảy nước mắt, ít dịch thanh dịch ở lỗ mũi và mi mắt Nhiều con mi sưng tấy và dính vào nhau Thở khò khè có tiếng ran khí quản dễ phát

Trang 25

hiện vào buổi đêm yên tĩnh Gà xù lông, thở khó, bỏ ăn, bệnh kéo dài làm

gà gầy nhanh và chết

Một số con bị ỉa chảy, sưng ở vùng ngoài hốc mắt Những triệu chứng trên biểu hiện ở cường độ khác nhau và kéo dài hàng tháng, bệnh về mùa hè diễn biến nhẹ hơn mùa đông Tỷ lệ chết của gà con từ 10 – 25% và tập trung vào tuần đầu tiên sau khi xuất hiện bệnh Gia cầm mắc bệnh giảm sản phẩm

từ 10 – 40%, gà gầy sút và bệnh chuyển sang thể mãn tính

Riêng ở gà đẻ: những ngày đầu thấy giảm ăn, sút cân, giản đẻ trứng Sau đó chảy nước mắt, nước mũi,sưng mặt,viêm kết mạc mắt, thở khò khè, trứng đổi màu, xù xì Nếu ghép với E.coli thì trứng méo mó và vỏ trứng có vệt đỏ lấm tấm (Lê Văn Năm và cs, 1996) [11]

Bệnh có tính chất lây lan chậm, các dấu hiệu đầu tiên ở gà xuất hiện từ

4 – 17 ngày sau khi lây bệnh tùy thuộc vào sức đề kháng của cơ thể gà Bệnh kéo dài 20 – 70 ngày hoặc lâu hơn, tỷ lệ chết 10 – 40%

Gia cầm bệnh thường hắt hơi, ho khan, lắc đầu, vẩy mỏ và há mồm ra

để thở Niêm mạc mắt đỏ, xung huyết Nước mắt quánh đặc dần sau biến thành fibrin tạo thành hạt lạc nổi lên giữa tròng mắt Đôi khi viêm mủ toàn mắt, lòng mắt bị đặc lại, gà bệnh bị mù

Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản

và các túi hơi liên thông với nó cũng bị viêm Gà bệnh ngày càng khó thở, mào yếm tím bầm, kiệt sức rồi chết Nhiều trường hợp gà bệnh chết sớm do nghẹt thở

Ở đàn gà đẻ trứng mắc bệnh, làm giảm sản lượng trứng Trứng bệnh đem ấp tỷ lệ chết phôi tăng, số còn lại nở thành gà con bị bệnh Ngoài ra, gà tây bệnh còn có viêm khớp, viêm bao hoạt dịch Một số gà bệnh có triệu chứng thần kinh

Trang 26

Lê Văn Năm (2003) [13], cho biết CRD thường ghép với một số bệnh

Từ đó triệu chứng cũng thể hiện phức tạp

- CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm

Đối với gà nhỏ: Lúc đầu gà hay lắc đầu, vẩy mỏ hoặc cạo mỏ xuống sàn, chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu loãng và trong suốt sau trở nên đặc tạo thành rỉ mắt Sau đó thở khò khè lạo xạo, miệng bán mở, gà ngẩng cao cổ há mồm thở một cách khó khăn Khi bắt gà lên nghe tiếng lạo xạo khò khè ram ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi Xung quang mi mắt bị sưng, thậm chí sưng phù rất to Sau đó bệnh tiến triển nhanh, lan ra toàn đàn, có một số trường hợp tỷ lệ chết chỉ khoảng 2 – 3%, nhưng nhiều trường hợp gà chết tới

20 – 30%, thậm chí 40% Nhưng sau vài tuần bệnh tự nhiên khỏi

Đối với gà lớn: các triệu chứng điển hình vẫn là sự ho hen phát ra ban đầu, sau đó gà giảm đẻ đột ngột, giảm đẻ tới 70% so với lúc chưa phát bệnh

và kéo dài hàng tháng Trứng xù xì, dễ vỡ, biến màu…

- CRD ghép với sổ mũi truyền nhiễm

Đối với gà con và gà dò:

+ Lúc đầu lác đác có một số con chảy nươc mũi, nước mắt liên tục kèm theo lắc đầu, vẩy mỏ, gà há mỏ ra thở khò khè

+ Bỗng dưng bệnh lây lan rất nhanh ra toàn đàn, nhiều con mắt sưng húp, đầu bị sưng lệch, nhiều con sưng rất to Khi bệnh chuyển sang mãn tính

ta thấy nhiều gà bị thối mắt (mắt bị viêm, casein hóa và trở nên mù)

+ Nước mắt, nước mũi sau 2 – 3 ngày trở nên đặc như mủ, có mùi hôi thối + Do tịt mũi, gà luôn thở bằng miệng nên lưỡi gà thường thâm xịt, mùi hơi thở của gà rất hôi

+ Gà gầy, xù lông, kém ăn và chết

Đối với gà mái đẻ:

Trang 27

+Bệnh xảy ra với các triệu chứng điển hình của CRD kèm theo viêm thối mắt, nhiều gà bị mù mắt, đầu sưng

+ Tỷ lệ đẻ giảm do gà phát dục không đều

- CRD bị bội nhiễm với E.coli

+ Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, chảy nước mắt, nước mũi, mi mắt bị viêm và sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ

ấm để đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khè, cào mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng

+ Khi gà bị bệnh nhiễm với E.coli, gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân loãng, màu vàng, trắng xanh hoặc vàng trắng Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 – 40%

- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con

+ Gà lớn không đều

+ Gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt, chảy nước mắt, nước mũi, gà

bị ngạt nên thở dồn dập, hai cánh sã xuống để thở cho dễ, uống nhiều nước

+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc phân xanh, một số gà đi ngoài khó vì phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, có con bị viêm khớp

Trang 28

Thành các túi hơi vùng ngực và vùng bụng bị dày lên, phù thũng Xoang túi hơi chứa đầy dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài thì chất này sẽ quánh lại, cuối cùng chứa một chất khô, bở, màu vàng Ngoài ra gà bệnh còn bị viêm ngoại tâm mạc, viêm rìa gan và viêm xoang bụng

Trong giai đoạn cấp tính mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong Trong giai đoạn mãn tính, màng túi khí dày và đục trắng phồng nhƣ bã đậu nhão Nếu kế phát bệnh khác thì bề mặt gan, màng ngoài bao tim và màng bao xung quanh phúc mạc tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột

Võ Bá Thọ (1996) [17], cho biết: Năm 1952 Van Roekel đã thống kê kết quả về bệnh tích ở những bộ phận khác nhau với tỷ lệ phần trăm trên tổng

Trang 29

+ Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: Thường lây lan nhanh hơn bệnh CRD, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất trứng và vỏ trứng

+ Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: biểu hiện viêm xoang chứa nhiều dịch tiết + Bệnh tụ huyết trùng mãn tính ở gà: Gây những ổ viêm dạng bã đậu hóa và viêm xoang

* Phòng bệnh

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [24] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh

có hiệu quả như sau:

- Ăn uống đảm bảo số lượng, chất lượng và vệ sinh tốt Cho uống bổ sung Vitamin nhóm B định kỳ 2 lần/ tháng

- Chuồng trại sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát vào mùa hè, ấm

áp vào mùa đông, tránh gió lùa đặc biệt gà dưới 5 tuần tuổi

- Kiểm tra hàng ngày phát biện gà bệnh, có biện pháp xử lý

- Khử trùng vỏ trứng tại nhà kho, trạm ấp

- Không nhập gà, trứng giống từ đàn gà bố mẹ mắc CRD

- Kiểm tra kháng thể huyết thanh của đàn gà bố mẹ

Lê Hồng Mận và cs (2007) [10] cho biết có thể dùng vaccine phòng bệnh như sau:

- Vaccine Nobi – vac MG (hãng Intervet – Hà Lan) tiêm dưới da cho

gà con liều 0.5ml/con vào 15 – 18 ngày tuổi

- Vaccin Mycovac – L (hãng Intervet – Hà Lan) dùng dưới dạng phun sương hoặc nhỏ mũi cho gà từ 6 tuần tuổi

- Hoặc dùng thuốc phòng bệnh bằng cách cho uống hoặc trộng thức ăn cho gà: Tetracylin pha 1g/lít nước dùng vào các giai đoạn: 1 – 4; 9 – 13;20– 23; 29 – 31; 39 – 41; 54 – 56; 60 – 62 ngày tuổi CRD – STOP – VINA pha 1gr/lít nước/ngày, vào các giai đoạn: 1 – 4; 9 – 13; 21 – 24; 38 – 40; 50 – 53 ngày tuổi

Trang 30

* Điều trị

Chúng ta có thể tham khảo một số phác đồ điều trị sau; (Phạm Sỹ Lăng

và cs, 2002) [6]

- Phác đồ 1:

+ Thuốc điều trị: Tylosin (lọ 10ml, 100ml, 10%)

+ Cách dùng: tiêm bắp thịt, pha nước cất hoặc cho uống, 1g/2 lít nước, cho uống liên tục 3 – 5 ngày

+ Thuốc trợ sức: Chong uống hoặc trộn với thức ăn các loại Vitamin B1, A, C, D, E, B.complex,…

+ Hộ lý: mùa đông che chuồng kín ấm, mùa hè giữ chuồng khô, thoáng, sạch

- Phác đồ 2:

+ Thuốc điều trị: Tiamulin (lọ 10ml, 100ml, 10%)

+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc dưới mào với liều 1mg/ 5kg TT hoặc cho uống thì dùng loại 20g/ gói, pha 20g/ 16 lít nước, cho uống toàn đàn liên tục 3 – 5 ngày

+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1

- Phác đồ 3:

+ Thuốc điều trị: Gentatylo (100mg/ lọ)

+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp theo liều 1mg/ kg TT, tiêm 3 – 5 ngày Genta – Tylo – 5 hoặc 20ml/ lọ tiêm bắp hoặc tiêm dưới da theo liều

1 – 1,5 ml/ 10kg TT

+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang phát triển khá nhanh và vững chắc cả về quy mô, sản lượng, chết lượng và hiệu quả Khi chăn nuôi gà phát triền mạnh thì dịch bệnh thường xuyên xảy ra cũng là một vấn đề lớn cần

Ngày đăng: 21/11/2017, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2004), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
2. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyền, Phạm Văn Ty (2007), Vi sinh vật học, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyền, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
3. Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên (2007), “Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ để xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 14 tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ để xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà
Tác giả: Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên
Năm: 2007
4. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Đoàn Xuân Trúc (1999), Chăn nuôi gia cầm (Giáo trình dành cho cao học và nghiên cứu sinh nghành chăn nuôi), Nxb Nông nghiệp Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Đoàn Xuân Trúc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội)
Năm: 1999
6. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dũng, Nguyễn Ngọc Nhiên, Lê Văn Tạo, Nguyễn Hữu Vũ (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dũng, Nguyễn Ngọc Nhiên, Lê Văn Tạo, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
7. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2000), Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
8. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2000), Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
9. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000), Thuốc thú y và cách sử dụng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
10. Lê Hồng Mận (2007), Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
11. Lê Văn Năm (2003), Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
12. Lê Văn Năm (1999), Điều trị một số bệnh ghép ở gà, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị một số bệnh ghép ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
13. Lê Văn Năm (2003), Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
14. Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền (2007), Vi sinh vật học nông nghiệp, Nxb Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2007
15. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2006
16. Nguyễn Văn Thiện (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
17. Võ Bá Thọ (1996), Kỹ thuật chăn nuôi gà thịt thương phẩm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi gà thịt thương phẩm
Tác giả: Võ Bá Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
18. Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Thị Hải (2008), Giáo trình dược lý học thú y, Thái Nguyên – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Quang Tính, Nguyễn Thị Hải
Năm: 2008
20. Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Thị Liên (1993), Giáo trình vi sinh vật thú y, NxB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Quang Tuyên, Nguyễn Thị Liên
Năm: 1993
21. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (1999), Bí quyết thành công trong chăn nuôi gà, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết thành công trong chăn nuôi gà
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w