Lời mở đầu Phần 1 : Cơ sở lý luận Phần 2 : thực trạng và nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2015 Phần 3 : Biện pháp của chính phủ để giảm lạm phát. Phần 4: Kết luận. Bảng đánh giá phân công công việc. Lạm phát – một hiện tượng kinh niên của nền kinh tế, trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được quan tâm nhiều hơn ở tất cả mọi người dân, mọi doanh nghiệp, tổ chức. Lạm phát có thể là động lực giúp một nền kinh tế phát triển xong nó cũng là nguyên nhân phá vỡ sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia, gây nên những bất ổn từ kinh tế dẫn đến đời sống và ảnh hưởng tới lĩnh vực chính trị xã hội. Ở Việt Nam, ảnh hưởng của lạm phát không còn là mới lạ, từ thời kỳ bao cấp nền kinh tế của chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề, tiền đồng liên tục mất giá, 3 lần đổi tiền liên tiếp trong thời gian ngắn. Bước sang nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề lạm phát đã khó kiểm soát nay còn khó khăn hơn với những tác động từ thế giới trên thị trường tiền tệ, giá nguyên liệu,… gây ra những bất ổn khó lường.
Trang 1Đề tài thảo luận : Phân tích tác động của một số chính
sách cụ thể mà Chính phủ Việt Nam đã thực hiện trong
một vài năm trở lại đây để kiềm chế lạm phát.
Trang 2Lạm phát – một hiện tượng kinh niên của nền kinh tế, trong thời gian gần
đây, vấn đề lạm phát đã được quan tâm nhiều hơn ở tất cả mọi người dân,
mọi doanh nghiệp, tổ chức Lạm phát có thể là động lực giúp một nền kinh tế
phát triển xong nó cũng là nguyên nhân phá vỡ sự phát triển của nền kinh tế
một quốc gia, gây nên những bất ổn từ kinh tế dẫn đến đời sống và ảnh
hưởng tới lĩnh vực chính trị - xã hội Ở Việt Nam, ảnh hưởng của lạm phát
không còn là mới lạ, từ thời kỳ bao cấp nền kinh tế của chúng ta đã bị thiệt
hại nặng nề, tiền đồng liên tục mất giá, 3 lần đổi tiền liên tiếp trong thời gian
ngắn Bước sang nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề lạm phát đã khó
kiểm soát nay còn khó khăn hơn với những tác động từ thế giới trên thị
trường tiền tệ, giá nguyên liệu,… gây ra những bất ổn khó lường Với đề tài
“Phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam trong 5 năm gần đây và phân
tích các biện pháp mà chính phủ sử dụng để kiểm soát lạm phát” nhóm 6 với
hi vọng tìm hiểu kĩ hơn về lạm phát, về tình hình lạm phát của nước ta trong
những năm gần đây và các biện pháp, công cụ mà chính phủ sử dụng để kiểm
soát lạm phát từ đó có thể hiểu kỹ hơn về vấn đề này, về sự kết hợp của các
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của Chính Phủ trong việc điều hành
nền kinh tế vĩ mô Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: tình hình lạm phát ở Việt
Nam từ năm 2010 đến năm 2015 Phương pháp nghiên cứu: thu thập số liệu,
tổng hợp, phân tích và đánh giá
Trang 3PHẦN 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Khái niệm
Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian
Tỷ lệ lạm phát: là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ tăng lên hay giảm bớt đi của
mức giá chung với thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ gốc
Công thức:
gp=( I p
Trong đó: gp: tỷ lệ lạm phát (%)
I p chỉ số giá cả thời kỳ nghiên cứu
I p−1 – 1: chỉ số giá cả thời kỳ trước đó
2 Quy mô lạm phát: 3 loại.
Lạm phát vừa phải (lạm phát 1 con số) : tỷ lệ lạm phát < 10% /năm →
Không gây ra tác động đáng kể đối với nền kinh tế
Lạm phát phi mã: xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2-3
con số/năm → Khi bền vững gây biến dạng kinh tế nghiêm trọng
Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng đột biến với tốc độ cao, vượt xa
lạm phát phi mã → Gây thiệt hại nghiêm trọng sâu sắc nhưng cũng ít
o Khu vực tư nhân tự động tăng chi tiêu : I↑
o Khu vực quan hệ nước ngoài tăng : X↑ , IM↑
o Khu vực chính phủ tăng : G↑ , T↓
Trang 4o Lúc này trạng thái cân bằng được xác đinh tại E1(P1,Y1)
o Khi chính phủ sử dụng CSTK mở rộng hoặc do đầu tư tăng mạnh
nên AD↑→AD1
Kết luận: lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng , tổng cung không
đổi
b Lạm phát chi phí đẩy
Do chi phí đầu tăng đặc biệt là các đầu vào cơ bản tăng nhanh làm cho
tổng cung suy giảm dẫn đến giá tăng gây ra lạm phát
Chi phí đầu vào cơ bản gồm : tiền công, tiền lương, nguyên nhiên vật
liệu
Trang 5Đồ thị :
P
P1 Po
Tại E (Y0, P0) đây là điểm kinh tế đạt trạng thái cân bằng AD không
thay đổi nhưng do giá thực tế đầu vào thay đổi ( bị đẩy lên cao ) → AS
dịch chuyển sang trái
Lúc này tại E1 (Y1, P1) sản lượng giảm Y0→ Y1 và giá cả tăng lên từ P0→
P1
Đây chính là hình ảnh của nền kinh tế suy thoái (Y1<Y0=Y¿
) nhưngkhông có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp
c Lạm phát do tăng trưởng tiền tệ
Đây là nguyên nhân duy nhất gây ra tình trạng lạm phát kéo dài
Lý thuyết só lượng tiền tệ
Giả sử sản lượng nền kinh tế trong một năm là Y → tổng giá trị giao
dịch trong năm đó là P×Y
Trang 6Giả định cung tiền trong nền kinh tế là M , tốc độ chu chuyển tiền tệ
trong một năm là V → tổng giá trị giao dịch trong năm là M×V
Tốc độ chu chuyển tiền tệ được ước tính tương đối ổn định và thay đổi
rất ít theo thời gian → % ∆ V =0
→ Phương trình cho thấy lãi suất danh nghĩa có thể thay đổi vì 2 lý do :
lãii suất thực thay đổi hay lạm phát thay đổi
4 Tác động của lạm phát
a Đối với sản lượng và việc làm
Đối với sự gia tăng giá, sản lượng quốc gia có thể thay đổi
Lạm phát từ cầu → sản lượng tăng lên ; lạm phát từ cung→ sản lượng
giảm xuống
Nếu từ hai phía thì tùy theo mức độ tác động của tổng cung, tổng cầu
mà sản lượng thay đổi
b Đối với phân phối lại thu nhập
c Đối với thay đổi cơ cấu kinh tế
Trang 7 Lạm phát xảy ra giá của các loại hàng hóa không thay đổi theo cùng
một tỷ lệ Một số ngành tăng giá nhanh , nguồn sản xuất chạy về ngành
đó => làm tăng sản lượng của ngành
Ngành có tốc độ tăng giá chậm => sản lượng sẽ giảm xuống
5 Giải pháp chống lạm phát
Từ phía cầu có thể thực hiện bằng sử dụng chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ chặt
Chống lạm phát từ phía cung có thể thực hiện bằng cách cắt giảm chi
phí sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất trên cơ sở nâng cao hiệu
quả
Kiểm soát để hạn chế cú sốc cung và cầu
Kiểm soát để ổn định giá cả, đặc biệt là giá của mặt hàng của vật tư cơ
bản : xăng, dầu, điện, …
Kiểm soát lượng cung tiền trong nền kinh tế: hoạt động của thị trường
mở lãi suất chiết khấu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trang 8PHẦN 2 : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015
I/Thực trạng
1.Thực trạng lạm phát trong năm 2010
Năm 2010, lạm phát cả nước ở mức 11,75% Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng
12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức lạm phát năm của cả nước
lên 11,75% so với năm 2009 Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được
Quốc hội đề ra hồi đầu năm(khoảng 8%)
Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng(cách tính mới của Tổng cục
thống kê) thì lạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009
Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20%.Tiếp đó là
hàng ăn(16,18%), nhà ở -vật liệu xây dựng(15,74%).Các ngành giao thông,
hàng hóa và dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10% Bưu
chính-viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010
Chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63% Về CPI của các vùng
miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%, cao
hơn 1,78% của khu vực thành thị
Trang 92.Thực trạng lạm phát 9 tháng đầu năm 2011
Tính từ đầu năm, lạm phát của cả nước đã tăng 15,68% so với thời điểm cuối
năm 2010 So với cùng kỳ năm ngoái, mặt bằng giá hiện tại đã cao hơn
23,02% Nhìn chung lạm phát nước ta đã có xu hướng tăng đáng kể từ đầu
năm Chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng mạnh từ tháng 1 với 1,78% so với tháng
trước và đỉnh điểm mức 3,32 ở tháng 4 Thời gian tiếp theo chỉ số CPI có xu
hướng giảm khi các thời điểm 5,6,7 có giá trị lần lượt so với tháng trước là
2,21%,1,09%,1,17% Đặc biệt với 2 tháng 8,9 con số này đã giảm xuống dưới
1% hạn chế sự tăng trưởng của lạm phát
Đỉnh cao của lạm phát 9 tháng đầu năm 2011 rơi vào tháng 4 với tỷ lệ 9,64%
so với cuối năm 2010, vượt xa ngưỡng 7% mà chính phủ đặt mục tiêu cho cả
năm vào thời diểm đó Với so với cùng kỳ năm ngoái, lạm phát đã lên tới
17,51%, cao hơn mức đỉnh lạm phát 16% mà Ngân hàng phát triển Á châu
đưa ra cho Việt Nam Nhóm hàng và dịch vụ giao thông tăng giá mạnh, tới
6,04%
Trang 10Chỉ số giá tiêu dùng cả nước sau tháng 4 đã có xu hướng giảm xuống và tăng
2,21% trong tháng 5 Tốc độ tăng có chậm lại so với tháng 4 nhưng mặt bằng
giá hiện tại, so với đầu năm và cùng kỳ 2010, đã cao hơn lần lượt là 12,07%
và 19,78% Đến tháng 6 CPI tăng 1,09 so với tháng 5, nâng tổng mức lạm
phát từ đầu năm đến thời điểm đó lên 13,29% và cùng kỳ năm 2010 là
20,82% Sang tháng 7 CPI tăng nhẹ có giá trị 1,17 so với tháng 6 Tháng 8 chỉ
số giá tiêu dùng(CPI) cả nước tăng 0,93% nhờ sự giảm nhiệt đáng kể của
hàng ăn-dịch vụ ăn uống Lạm phát thấp nhất kể từ đầu năm là tháng 9 với chỉ
số tiêu dùng CPI tăng chỉ là 0,82 so với tháng trước
Theo số liệu của tổng cục thống kê, đã tăng giá trị nhóm hàng ăn và dịch vụ
ăn uống tiếp giảm tốc khi chỉ tăng 0,28% trong tháng 9(con số tương ứng của
2 tháng trước là 2,12 và 1,35%) Với quyền số khoảng 40% trong rổ hàng hóa
tính CPI, nhóm này đã có tác động lớn đến việc kiềm chế đà tăng của chỉ số
giá( tăng tổng cộng 16,3% kể từ đầu năm) Chỉ số giá ở nhóm giáo dục tăng
lên rất mạnh, lên tới 8,62% trong tháng 9 Tuy nhiên con số này vẫn thấp hơn
so với mức 12% của cùng kỳ 2010 Bên cạnh Bưu chính-viễn thông có xu
hướng giảm khá đều trong nhiều tháng qua , giao thông là nhóm hàng thứ 2
giảm giá trong tháng này do tác động của quyết định giảm giá xăng vào cuối
tháng 8 Mức giảm tại 2 nhóm này lần lượt là 0,07% và 0,24%
Ngoài các mặt hàng nói trên, tất cả các nhóm còn lại trong rổ hàng hóa đều có
xu hướng tăng nhẹ Nhóm duy nhất tăng giá trên 1% là hàng hóa –dịch vụ
khác( do có sự góp mặt của các mặt hàng trang sức, vốn chịu tác động mạnh
của giá vàng)
3.Thực trạng lạm phát năm 2012
Trang 11Như dự báo trước của nhiều tổ chức, lạm phát của Việt Nam năm nay chỉ tăng
6,81%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng dưới 10% mà Chính phủ đã đặt mục
tiêu Theo công bố của Tổng cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong
tháng 12 tăng 0,27% so với tháng 11 và tăng 6,81% so với tháng 12/2011
CPI bình quân năm 2012 tăng 9,21% so với bình quân năm 2011 Tháng 12
so với tháng 11, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng mạnh nhất tới 1,17%
Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng hơn mức tăng chung nhưng cũng
đều dưới 1% là thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%, văn hóa, giải trí và
du lịch tăng 0,34%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,32% Nhóm có tỷ trọng lớn
nhất trong “rổ” hành hóa tính CPI là hàng ăn và dịch vụ ăn uống , chỉ tăng
khiêm tốn là 0,28%( lương thực tăng 0,13%; thực phẩm tăng 0,28%; ăn uống
ngoài gia đình tăng 0,4%)
Những nhóm hàng “nhạy cảm”, vốn tác động mạnh tới CPI trong nhiều tháng
trước thì ở tháng này lại tăng thấp hơn mức tăng chung Đó là nhà ở và vật
liệu xây dựng chỉ tằn 0,15%, nhóm giáo dục tăng 0,09%, trong đó , dịch vụ
giáo dục tăng 0,05%, nhóm giao thông giảm 0,43% Sau 2 tháng liên tiếp
tăng kỷ lục tới 10-12%, Chính phủ yêu cầu giãn thời gian tăng giá viện phí thì
các thuốc và dịch vụ y tế chỉ còn tăng 0,14%, trong đó dịch vụ y tế tăng
0,03%
Nhìn lại năm 2012, Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm nay chỉ
“nhỉnh” hơn mức tăng 6,52% của năm 2009- năm suy giảm kinh tế mạnh và
thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13%
của năm 2011 và cách xa so với mục tiêu CPI đề ra ban đầu thì năm 2012 vẫn
là năm có nhiều biến động bất thường.Cơ qua này phân tích, CPI không tăng
quá cao vào 2 tháng đầu năm( tăng 1% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng
Trang 122) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20% Đây là tháng chịu
tác động chủ yếu của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục Sau đó,
mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm
Trong năm có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết chỉ tăng dưới
0,5% Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả là CPI không giảm vào
sau Tết âm lịch mà giảm vào 2 tháng giữa năm( tháng 6 và tháng 7) Chỉ số
giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước , giảm 0,96% so với
tháng 12/2011
Từ đầu năm đến nay, tăng trưởng GDP quý sau luôn cao hơn quý trước
Trong đó quý I tăng 4,64%, quý II tăng 4,80%, quý III tăng 5,05% và quý IV
tăng 5,44% So với năm 2011, GDP năm nay đã giảm tới 0,86 điểm phần
trăm Tuy nhiên tổng cục thống kê cho rằng, trong bối cảnh kinh tế gặp khó
khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý Trong 5,03% tăng trưởng
chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng
2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm ; khu
vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm
Trước đó, Bộ trưởng Bộ kế hoạch đầu tư cho hay, với tốc độ tăng trưởng này
thì mục tiêu 6,5-7% như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015
sẽ khó đạt Năm 2011, GDP chỉ ở mức 5,89%, kế hoạch năm 2013 , GDP dự
báo khoảng 5,5% Với 2 năm còn lại là 2014-2015, trung bình GDP phải đạt
được 8-9% thì GDP trung bình giai đoạn 5 năm 2011-2015 mới đạt mục tiêu
trên Tại hội thảo đầu tháng 12, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế -xã
hội quốc gia của Bộ kế hoạch đầu tư nhận xét: nhờ nỗ lực tăng trưởng 2 quý
Trang 13cuối năm , tăng trưởng cả năm không giảm sâu về tốc độ Tuy nhiên tốc độ
tăng trưởng kinh tế năm 2012 vẫn giảm năm thứ 2 liên tiếp
Từ năm 2012, Chính phủ tiến hành thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát
lạm phát và luôn đặt mục tiêu này lên hàng đầu Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm
về một con số, song kèm theo đó là những hệ quả như tăng trưởng tín dụng
thấp, vốn đầu tư toàn xã hội suy giảm
4 Lạm phát năm 2013
+ Báo cáo trước chính phủ của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư(KH-ĐT)
Bùi Quang Vinh cho thấy lạm phát được kiềm chế , chỉ số gia tăng thấp, góp
phần đảm bảo kinh tế vĩ mô được ổn định “So với tháng 12-2012 chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) tháng 12-2013 tăng 6,04%, thấp nhất trong vòng 10 năm
qua, đạt mục tiêu đề ra là khoảng 8%,thấp hơn mức tăng giá cuối năm 2012
6,81%
+ Về tốc độ tăng trưởng GDP, qua thống kê đã có sự gia tăng qua từng quý ,
dù tốc độ tăng GDP cả năm thấp hơn kế hoạch đề ra nhưng cao hơn năm
trước Cụ thể GDP cả năm ước tăng 5,421%, thấp hơn kế hoạch đề ra là 5,5%
nhưng cao hơn năm 2012(5,25%)
+ Trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, phải ưu tiên mục tiêu
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trong một thời gian khá dài thì đây
là mức tăng hợp lý , thể hiện sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của chính phủ
+ Xuất khẩu tăng nhưng chủ yếu dựa vào FDI
+ Bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại một số yếu kém, hạn chế như: tái
cơ cấu các tổ chức tín dụng, triển khai chậm và gặp nhiều khó khăn; nợ xấu
Trang 14của hệ thống ngân hàng chậm được xử lý, tỉ lệ nợ xấu vẫn còn ở mức cao; thị
trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút và chưa có nhiều cải
thiện; tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm…dặc biệt, tăng
trưởng xuất khẩu ước đạt 132,2 tỉ USD, tăng 15,4% so với chỉ tiêu 10% được
giao, nhưng chủ yếu dựa vào khu vực FDI và thấp hơn 2012(mức 18,2%)
+Những khó khăn:
*Thứ nhất,cộng đồng doanh nghiệp còn gặp quá nhiều khó khăn
*Thứ hai, nợ xấu được kiềm chế, tốc độ tăng nợ giảm so với năm ngoái
nhưng tỷ lệ vẫn ở mức độ cao
*Thứ ba, nguy cơ mất cân đối ngân sách
5.Thực trạng lạm phát năm 2014
Ngay từ đầu năm 2014, Chính phủ đã tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô, trong đó, kiểm soát lạm phát là một trong những trụ cột quan trọng
Kết quả này lại tiếp tục được thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm
2014, chỉ tăng 1,84% so với tháng 12/2013, chỉ bằng 26,2% chỉ tiêu mức lạm
phát của Quốc hội đặt ra (7%) và bằng 37% mức dự kiến lạm phát của Chính
phủ (5%)
Nếu xét mức lạm phát bình quân, thì cả năm 2014 so với năm 2013 tăng
4,09%, dù xét theo chỉ tiêu nào, thì kết quả này cũng là điều đáng ghi nhận
Đây là mức lạm phát thấp nhất trong 10 năm trở lại đây và khá bất ngờ đối
với các dự báo của nhiều cơ quan chức năng, các tổ chức và chuyên gia kinh
tế Có thể nhận định rằng, kết quả này là một trong những sự kiện nổi bật
Trang 15nhất, một trong những thành công đuợc ghi nhận của kinh tế Việt Nam trong
năm 2014
Lạm phát thấp do sự tác động của nhiều yếu tố Xét từ diễn biến thực tế của
nền kinh tế trong năm 2014, lạm phát của nước ta thấp do những nguyên nhân
sau:
Một là, Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa Với mục
tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ, tài khóa luôn được kiểm soát
một cách chặt chẽ Khác với các giai đoạn trước, khi lạm phát có xu hướng
bắt đầu giảm thì chúng ta lại nới lỏng chính sách tiền tệ, còn 3 năm qua
(2012, 2013, 2014) Chính phủ đã thực hiện nhất quán và kiên trì chính sách
nói trên, nên lạm phát đã được kiềm chế và kiểm soát ở mức thấp dần Cụ thể:
CPI năm 2012 là 6,81%; năm 2013 là 6,04%; năm 2014 là 4,09%
Hai là, công tác quản lý, điều hành giá được chú trọng Theo đó, Chính phủ
cũng đã đề ra các giải pháp thường kỳ hàng tháng về triển khai công tác quản
lý, bình ổn thị trường giá cả; quản lý, điều tiết, bình ổn giá một số mặt hàng
quan trọng thiết yếu (giá xăng dầu, giá điện, giá than, giá dịch vụ khám, chữa
bệnh tại cơ sở công lập, giá dịch vụ giáo dục, giá sữa cho trẻ em dưới 6 tuổi,
giá dịch vụ bốc dỡ container tại các cảng Cái Mép Thị Vải, tỉnh Bà Rịa
-Vũng Tàu, giá cước vận tải…) Triển khai các nghị quyết của Chính phủ, chỉ
đạo của Chính phủ, Bộ Tài Chính đã chủ trì hoặc phối hợp với các bộ, ngành
liên quan thực hiện công tác quản lý giá, góp phần bình ổn giá cả thị trường
Ba là, CPI thường chịu tác động của 4 nhóm yếu tố: chi phí đẩy, cầu kéo, tiền
tệ - tín dụng và tâm lý Cụ thể: