Phân tích những kết quả đạt được, những thuận lợi khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện, những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tham gia BH
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) nói chung và bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) cho nông dân nói riêng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Chính sách BHXH ở Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài trên nữa thế kỷ và có thể chia thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ bao cấp trước khi
có Bộ luật lao động, Luật BHXH thì đối tượng tham gia chỉ giới hạn với cán
bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lực lượng vũ trang, nguồn chi BHXH cơ bản từ ngân sách Nhà nước và thời kỳ sau khi có
Bộ luật lao động theo hướng xoá bỏ bao cấp
Sau đại hội lần thứ VI của Đảng, nước ta thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng hình thành, người lao động mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật, thị trường lao động phát triển, người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm; Thực tế này đòi hỏi phải có sự thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách Bảo hiểm xã hội nói riêng; Năm 1994, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá
IX đã thông qua Bộ luật lao động, trong đó có một chương quy định về chính sách BHXH bắt buộc theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu - chi với
5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X Đảng ta đã đề ra mục tiêu là từng bước thực hiện chế độ BHXH cho mọi người lao động Kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá XI đã thông qua luật Bảo hiểm xã hội và có hiệu luật từ ngày 01/01/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 01/01/2008 đối với BHXH tự nguyện, đây là hành lang pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện
Trang 2chính sách BHXH nói chung và BHXH tự nguyện cho nông dân nói riêng Sau hơn 3 năm thực hiện luật BHXH về BHXH tự nguyện Đối tượng tham gia được mở rộng đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là người lao động ở khu vực nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên đến nay đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên cả nước còn quá khiêm tốn mới có trên 9,1 triệu người tham gia, chiếm tỷ lệ 11,5% tổng dân số
Quảng Nam vốn là tỉnh có nền nông nghiệp lạc hậu, nhất là các huyện miền núi nên mặc dù đã trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới và đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu hút đầu tư, song nông nghiệp nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn giữ một
vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trên 70% dân cư của tỉnh vẫn sống ở nông thôn và 40% lực lượng lao động xã hội vẫn đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, đời sống thu nhập của nông dân tuy được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn Vì vậy, thực hiện BHXH cho mọi người lao động nói chung và bản thân người nông dân nói riêng được xem vừa là mục tiêu vừa là giải pháp tích cực góp phần thực hiện công bằng
xã hội trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người dân, không phân biệt thành phần kinh tế, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp, vị trí địa lý, tuổi tác, giới tính đều được tham gia và hưởng các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật
Qua nhiều năm trực tiếp làm việc trên lĩnh vực này bản thân tôi đã có nhiều trăn trở, cần phải có những giải pháp tích cực và phù hợp để tăng cường
BHXH tự nguyện cho nông dân, nên tôi chọn đề tài "Các giải pháp tăng
cường Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam" làm
luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 32 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tự nguyện cho nông dân
- Phân tích đánh giá thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của nông dân tỉnh Quảng Nam trong những năm qua Phân tích những kết quả đạt được, những thuận lợi khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện, những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện của nông dân
- Đề xuất những giải pháp có tính khoa học để đưa vào áp dụng trong thực tiễn một cách có hiệu quả nhằm tăng số người tham gia BHXH tự nguyện, góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng, nhà nước đề ra “Bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động”;
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về triển khai thực hiện chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, phân tích làm rõ những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc cả về
cơ chế lẫn tổ chức thực hiện;
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: Các tài liệu đánh giá thực trạng được thu thập
qua 03 năm (từ 2008- 2010) Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua BHXH tỉnh Quảng Nam;
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học, thống
kê, tổng hợp, phân tích, so sánh Ngoài ra luận văn còn kế thừa và phân tích
Trang 4các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, các bài viết trên tạp chí của BHXH có liên quan đến đề tài nghiên cứu;
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng
- Đề tài nêu ra cho được thực trạng chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân tỉnh Quảng Nam, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện cũng như những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tham gia của người dân
- Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi để nhằm tăng cường phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyên cho nông dân trong những năm đến, góp phần thực hiện Bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động theo mục tiêu của Đảng đề ra;
6 Cấu trúc của luận văn
Tên đề tài: Các giải pháp tăng cường Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho
nông dân tỉnh Quảng Nam
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương;
Chương 1: Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân Chương 2: T hực trạng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Các giải pháp tăng cường bảo hiểm xã hội cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
CHO NÔNG DÂN 1.1 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
1.1.1 Khái niệm về nông dân
Có rất nhiều khái niệm về nông dân, chẳng hạn như:
Nông dân: Bất cứ người nào điều hành một trang trại hay gián tiếp liên quan đến việc canh tác trên đất, sở hữu hay trực tiếp kiểm soát các cây trồng
và vật nuôi [24]
Hay theo Bách khoa toàn thư Việt Nam:
Nông dân: Những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch
sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.[31]
Nông dân là một người, tha m gia vào nông nghiệp, người nuôi sinh vật bằng thực phẩm ho ặc nguyên liệu, thường bao gồm chăn nuôi gia súc và trồng trọt như sản xuất và ngũ cốc Một người nông dân có thể sở hữu đất hoặc có thể làm việc như một người lao động về đất đai thuộc sở hữu của người khác, nhưng trong nền kinh tế tiên tiến, nông dân thường là một chủ trang trại, trong khi nhân viên của trang trại là lao động nông nghiệp.[31]
Từ quan điểm trên có thể khái niệm Nông dân là những người lao động
cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai, chăn nuôi và trồng trọt…
Trang 61.1.2 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Bảo hiểm xã hội nói chung và BHXHTN cho nông dân nói riêng tồn tại
là tất yếu khách quan, có nhiều khái niệm về BHXHTN khác nhau và theo điều 3 luật BHXH thì Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình Bảo hiểm xã hội
mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình hưởng Bảo hiểm xã hội [23]
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ,
góp phần bảo đảm an toàn xã hội [26]
Vậy Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân: một loại hình BHXH do nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích người lao động là nông dân tự nguyện tham gia; được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp nhằm đảm bảo bù đắp một phần thu nhập cho chính bản thân người nông dân và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập do gặp phải những rủi ro xã hội, như tuổi già, tử tuất , đồng thời góp phần đảm bảo công bằng và an sinh xã hội
Như vậy, loại hình BHXH tự nguyện cho nông dân chỉ có thể được hình thành và thực hiện trên cơ sở:
- Có nhiều người lao động là nông dân tham gia với điều kiện:
- Có nhu cầu thực sự về BHXH;
- Có khả năng tài chính để đóng phí BHXH tự nguyện;
Trang 7- Có sự thống nhất với những quy định cụ thể (mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương pháp quản lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện…) của loại hình BHXH tự nguyện
- Có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện BHXH tự nguyện
- Được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết
1.1.3 Bản chất, vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
1.1.3.1 Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Bản chất kinh tế của BHXHT N cho nông dân thể hiện ở chỗ những người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập để lập một quỹ dự trữ Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một quỹ tài chính được xã hội phân phối lạ i cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân người lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu) P hân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc và rủi ro xã hội
Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp
rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động
Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện cho người nông dân được thể hiện ngay trong mục tiêu của nó BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi
Trang 8nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXHTN Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả lao động Do có sự chia sẻ rủ i ro giữa những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro Ở đây, Quỹ BHXH
tự nguyện đó thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH
tự nguyện được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất Trên góc độ vĩ mô, BHXH tự nguyện gúp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo
Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia
Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH TN không tách rời mà đan xen với nhau Khi nói đến sự đảm bảo kinh tế cho người lao động và gia đình họ là nói đến tính xã hội của BHXH Ngược lại khi nói đến
sự đóng góp ít, nhưng lại được bù đắp đủ trang trải mọi rủi ro, thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH [11]
1.1.3.2 Vai trò Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH xã hội nói chung và BHXH tự nguyện cho nông dân nói riêng đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt sau:
- BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của nông dân tham gia BHXHTN, đảm bảo an toàn xã hội Nông dân tham gia BHXH tự nguyện thì
Trang 9bản thân và gia đình họ sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi
họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Nhờ có sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà nông dân tham gia BHXH
tự nguyện nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động, hoạt động bình thường của bản thân
- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần thực hiện công bằng xã hội Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là
sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm, thu nhập ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất
và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH tự nguyện góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của người nông dân
- BHXH tự nguyện cho nông dân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước [11]
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Nguyên tắc BHXH tự nguyện cho nông dân là những quy định nhằm
đảm bảo cho các hoạt động BHXH tự nguyện diễn ra bình thường, đạt được
mục tiêu mong muốn của nó Nguyên tắc của BHXH tự nguyện cho nông dân
là những định hướng, những quy định và những phương thức hoạt động của
cả hệ thống BHXH nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Theo nghĩa đó,
BHXH tự nguyện cho nông dân phải được xây dựng trên nền tảng các nguyên
tắc cơ bản sau:
Trang 101.1.4.1 Nguyên tắc tự nguyện tham gia và hưởng BHXHTN
BHXH tự nguyện cho nông dân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện
của nông dân với tư cách là người tham gia BHXHTN cũng là người hưởng BHXHTN Trước hết chúng ta cần làm rõ chủ thể tham gia BHXHTN xét về mặt quan hệ sản xuất và quan hệ lao động Đối tượng này vừa là chủ tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công, nhà xưởng gắn liền với nơi ở, vốn tự có là chính …), vừa là chủ sức lao động (là người vừa tham gia quản lý, vừa tham gia lao động) Họ không tham gia trực tiếp vào thị trường sức lao động (nếu họ không di chuyển nghề), nhưng sản phẩm hàng hóa làm ra lại tham gia vào thị trường và chấp nhận cạnh tranh quyết liệt Họ
tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách trong thu chi gia đình Bởi vậy, quan
hệ của họ với BHXH là quan hệ "lỏng" hoặc quan hệ "mềm", không mang tính bắt buộc như quan hệ lao động trong Bộ luật Lao động điều chỉnh Bởi vậy họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện", trên cơ sở suy nghĩ về "tính lợi ích" khi tham gia BHXH Do đó, mọi chính sách BHXH có tính áp đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả năng thực thi thấp hoặc thất bại
1.1.4.2 Nguyên tắc Nhà nước phải có trách nhiệm đối với quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân
Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động KT-XH trên phạm
vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình Cùng với sự tăng trưởng, sự phát triển của KT-XH, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người nông dân tham gia BHXHTN Khi xảy
ra tình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngân
Trang 11sách để giúp đỡ nông dân dưới một dạng khác Sự quan tâm của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách BHXHTN làm cho đời sống nông dân ổn định
mà còn làm cho sản xuất ổn định, KT-XH của đất nước phát triển
1.1.4.3 Nguyên tắc lấy số đông bù số ít và kết hợp hài hòa lợi ích nhu cầu BHXHTN cho nông dân
BHXHTN cho nông dân là hình thức chia sẻ rủi ro của số ít người cho
số đông người cùng gánh chịu Chỉ có thực hiện việc san sẻ này thì nông dân mới có thể được đảm bảo về thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp khi gặp phải những biến cố (còn gọi là "rủi ro xã hội")
Nhu cầu BHXHTN cho nông dân là cần thiết đối với mọi nông dân Song nhu cầu đó phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích, các khả năng của người tham gia BHXH cũng như của Nhà nước Khi người nông dân sử dụng thu nhập của mình để tham gia BHXHTN thì trước hết họ phải dành phần lớn chi cho chi tiêu sinh hoạt đời sống hàng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí BHXHTN Nếu thu nhập thấp dẫn đến
sự lựa chọn mức đóng thấp thì lợi ích trước mắt của người nông dân sẽ tăng lên, nhưng khi họ có nhu cầu được BHXH thì đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp Ngược lại, muốn được hưởng trợ cấp BHXH cao, lẽ đương nhiên sẽ phải đóng phí cao hơn, phần chi cho đời sống hàng ngày lại phải giảm đi Nếu người tham gia BHXHTN đóng phí BHXH thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của quỹ BHXH Tính chất lâu dài của chính sách BHXHTN sẽ ít có khả năng thực thi, còn nếu buộc Nhà nước phải
bù đắp toàn bộ chênh lệch đó, thì ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước Đặc biệt là ở nước ta hiện nay đang trong tình trạng bội chi Ngân sách Nếu Nhà nước không có trách nhiệm đối với quỹ BHXH tự nguyện thì ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện, bởi lẽ tiền lương hưu và trợ cấp BHXH thực tế sẽ thấp hơn danh nghĩa do đó tính hấp dẫn của chính sách
Trang 12cũng như khả năng thực thi của chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân về lâu dài là không thể thực hiện được Vì vậy trong nghiên cứu xây dựng các thiết chế hoặc trong điều hành BHXHTN cụ thể cần phải tìm ra giải pháp để kết hợp hài hòa lợi ích lâu dài của người lao động, cũng như đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích của người tham gia BHXH và lợi ích của Nhà nước
1.1.4.4 Nguyên tắc mức hưởng tiền lương hưu tỷ lệ thuận với mức đóng góp bảo hiểm xã hội
Là hình thức tự nguyện, không bao hàm chính thức trợ cấp ưu đãi nên BHXH tự nguyện cho nông dân phải được xây dựng trên nguyên tắc mức hưởng tiền lương hưu phải tỷ lệ thuận với mức đóng góp BHXH, đồng thời cũng là nguyên tắc đảm bảo quỹ BHXH an toàn, khuyến khích người lao động tham gia BHXH tự nguyện
Phần đóng góp và hưởng thụ của người tham gia BHXH tự nguyện cần phải được tiền tệ hóa Nguyên tắc này đảm bảo thuận tiện cho việc quản
lý quỹ BHXHTN Tuy nhiên mối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với giá cả của các sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày Giải quyết được vấn đề này đảm bảo cho chính sách BHXH tự nguyện nông dân mang tính thực thi cao
1.1.4.5 Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện KT-XH của đất nước trong từng giai đoạn phát triển
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng
bộ, hoàn chỉnh của nền pháp chế nước đó Trong khi nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang hình thành, nhiều lĩnh vực kinh
tế - xã hội đang chuyển dịch mạnh Vì vậy việc xây dựng và phát triển BHXH
Trang 13tự nguyện cho nông dân phải đảm bảo chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có
bước đi phù hợp
Sự phát triển của BHXH nói chung biểu hiện trên nhiều mặt: cơ cấu
các bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp,
thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp, mức đóng phí BHXHTN… Nếu không
cân nhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thể phát sinh trục trặc
không thể kiểm soát được [11]
1.2 Nội dung chính sách bảo hiểm xã hộ i tự nguyện cho nông dân
Theo quy định của luật BHXH về BHXHTN thì nội dung chính sách
BHXHTN cho nông dân, gồm các nội dung cơ bản cụ thể sau:
1.2.1 Đối tượng áp dụng
Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện của nông dân là tất cả các nông
dân Việt Nam trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ
đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi) mà không thuộc diện áp dụng của pháp luật về
BHXH bắt buộc, bao gồm:
- Người nông dân làm việc theo hợp đồng lao động cho chủ sử dụng lao động tại các trang trại mà không thuộc đối tượng đóng BHXHBB
- Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông
nghiệp, kể cả xã viên HTX nông nghiệp không hưởng tiền lương, tiền công
trong các hợp tác xã, liên hợp tác xã nông nghiệp
Ngoài ra, đối tượng nông dân tham gia BHXHTN có thể là người nông
dân trước đây đã tham gia BHXH bắt buộc tại các cơ quan nhà nước, các
doanh nghiệp nhưng do quá trình sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và cải cách
hành chính Những lao động thuộc diện "dôi dư" đó chưa nhận trợ cấp bảo
hiểm một lần còn trong độ tuổi và khả năng lao động thuộc đối tượng tham gia
BHXHTN
Trang 14- Lao động do bầu cử tại xã, phường được bổ nhiệm vào các tổ chức dân cử như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở, các đoàn thể và tổ chức quần chúng sau khi hết nhiệm kỳ không được bầu lại, không tiếp tục làm việc và đóng BHXHBB có nhu cầu tiếp tục tham gia BHXHTN
Như vậy, người lao động là nông dân không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì thuộc đối tượng tham gia loại hình BHXH tự nguyện Mặt khác, những người trước đây đã tham gia BHXH bắt buộc nhưng vì nhiều lý
do khác nhau nay không tham gia BHXH bắt buộc nữa cũng được phép chuyển sang tham gia BHXH tự nguyện và được liên thông để tính thời gian và mức tiền đóng góp để thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất
1.2.2 Mức đóng, phương thức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện nông dân
BHXH tự nguyện nông dân thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia Để được hưởng BHXH, người nông dân phải đóng BHXHTN theo phương thức hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần Mức đóng BHXH bằng tỷ lệ % đóng BHXH nhân với thu nhập tháng của người tham gia BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Mức đóng này tính trên cơ
sở mức thu nhập tháng đóng BHXH nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung
1.2.3 Các chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Người nông dân tham gia BHXH tự nguyện được hưởng hai chế độ: hưu trí và tử tuất
- Chế độ hưu trí: Theo quy định của luật, người tham gia BHXH tự nguyện đủ điều kiện hưởng lương hưu nếu đủ một trong các điều kiện sau: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có 20 năm đóng BHXH trở lên; nam từ 55 tuổi trở lên và nữ từ đủ 50 tuổi trở lên đối với người tham gia BHXH tự nguyện mà trước đó có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc đủ 20 năm trở
Trang 15lên, trong đó có 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc; người tham gia BHXH tự nguyện mà trước đó có tổng thời gian đóng BHXH bắt buộc đủ 20 năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên
Tỷ lệ lương hưu hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75% Mức bình quân thu nhập tháng được tính bằng thương số của tổng các mức thu nhập đóng BHXH với tổng số tháng đóng BHXH Mức này được lấy làm cơ sở để tính mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu; mức hưởng BHXH một lần; tính hưởng chế độ hưu trí đối với người tham gia BHXH tự nguyện trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc
- Chế độ tử tuất: người lao động đã có ít nhất 5 năm đóng BHXH tự nguyện hoặc đang hưởng lương hưu khi chết, người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng bằng 10 tháng tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định
Người lao động đóng BHXHTN, người đang hưởng lương hưu hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH khi chết thân nhân được hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấp một lần cứ 01 năm đóng BHXHTN bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH Còn đối với thân nhân người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu Nếu chết trong 2 tháng đầu khi nghỉ hưu thì được tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng Còn chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm 1 tháng hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu Người tham gia BHXH tự nguyện được cấp sổ BHXH, hưởng BHYT khi đang hưởng lương hưu và được phép ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp BHXH [2], [5], [23]
Trang 161.3 Nội dung thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho
nông dân
Theo từ điển tiếng việt thì tăng cường nghĩa là làm cho tăng thêm về số
lượng, về khả năng [13]
Như vậy tăng cường bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Sự gia tăng về số lượng;
- Quy mô được mở rộng;
- Tăng khả năng đáp ứng cho đối tượng được phục vụ
Vì vậy, nội dung tăng cường Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
là việc mở rộng về quy mô, gia tăng về số lượng và tăng khả năng đáp ứng các dịch vụ cho nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Nội dụng cụ
thể, gồm;
1.3.1 Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân
Nhu cầu được hiểu là tất cả những đòi hỏi và mong muốn của con người cần được đáp ứng và thỏa mãn Về thực chất nhu cầu là một cảm giác thiếu thốn, là một trạng thái căn thẳng liên quan đến những đòi hỏi của cá
nhân, tự nhiên và xã hội [20, tr 19]
Để xác định nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của nông dân, người ta thường tổ chức điều tra, đánh giá trên diện rộng nhu cầu và khả năng tham gia BHXHTN của nông dân
Những năm vừa qua ở một số địa phương như, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh đã tiến hành việc tổ chức BHXHTN cho một bộ phận lao động nông thôn Song qua nghiên cứu cho thấy các mô hình đó vẫn chưa thấy
rõ tính xã hội, tính hiệu quả và bền vững, về cơ bản các thí điểm này là thất bại, trừ BHXH nông dân Nghệ An tồn tại đến ngày nay, song nguy cơ vỡ quỹ
trong dài hạn là rất cao Điều này thể hiện ở một số nét sau:
Trang 17+ Mức đóng góp rất thấp, trong khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lại biến động, biện pháp bảo toàn chủ yếu là gửi tiết kiệm nên mức chi trả rất thấp, chỉ có
ý nghĩa về tinh thần, không có ý nghĩa về mặt kinh tế, ổn định đời sống người lao động lúc tuổi già; khả năng vỡ quỹ là không khó tránh khỏi
+ Chưa có một nghiên cứu và điều tra nào ở quy mô lớn về nhu cầu thật
sự và khả năng đóng BHXH tự nguyện của người nông dân Tức là nhu cầu
có khả năng đáp ứng trên cơ sở phân tích thu nhập, hạch toán cân đối thu - chi ngân sách gia đình các Hộ gia đình, nên thiếu cơ sở để xác định mức đóng góp của người tham gia Bảo hiểm
+ Chưa được thực hiện trên cơ sở thiết kế hệ thống BHXH, mà làm theo kiểu cục bộ và hành chính, nghiệp dư, nên rất dễ rơi vào tình trạng hoạt động tự phát, lỏng lẻo và không ổn định, lâu bền
+ Thiếu cơ sở pháp lý ở tầm cao, nhất là về điều lệ hoạt động, cơ chế quản lý quỹ, chính sách BHXH nên rất khó khăn trong tổ chức thực hiện và
xử lý những tình huống phát sinh
Các khó khăn trên đây, nếu được phân tích kỹ và có biện pháp xử lý tốt thì mới có khả năng từng bước thực hiện BHXHTN cho đối tượng này thông qua một mô hình BHXH thống nhất của Nhà nước
Trên đây là mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng (điều kiện) tham gia BHXH của lao động khu vực nông nghiệp được xem xét về mặt nguyên lý, lý thuyết Tuy nhiên, khi thiết kế một chính sách BHXH cho lao động nói chung, cho lao động khu vực nông nghiệp nói riêng, cần phải dựa trên quan điểm thực chứng, tức là phân tích nhu cầu và khả năng thực tế thông qua kết quả điều tra, khảo sát cơ bản hoặc nghiên cứu tình huống Viện KHLĐXH, năm
2006, đã tiến hành khảo sát về triển vọng tham gia BHXH tự nguyện của lao động nông thôn tại 10 tỉnh, trong đó có tỉnh Quảng nam, với cỡ mẫu 3.412 hộ gia đình (gọi tắt cuộc điều tra là VSIIS) [27]
Trang 18Kết quả điều tra (VSIIS) nhu cầu tham gia của BHXH ở khu vực này cho thấy
Bảng 1.1 Nhu cầu tham gia BHXHTN của lao động
khu vực nông nghiệp
Không trả lời Tổng số
Trang 19người lao động có thể tham gia BHXHTN là khả năng đóng BHXH dựa trên thu nhập của chính người nông dân
Người lao động khu vực nông nghiệp chủ yếu là người thuộc diện nghèo, cận nghèo đời sống rất khó khăn…nên khả năng tham gia BHXH tự nguyện rất thấp Nếu muốn tham gia phải có sự hỗ trợ của nhà nước hoặc người thân Tuy nhiên, khả năng hỗ trợ của người thân cũng rất hạn chế
1.3.2 Tăng cường quản lý, mở rộng đối tượng tham gia và tổ chức thu phí bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Nông dân Việt Nam chiếm tỷ lệ khoảng trên 70% dân số, xét về lịch sử, mang những giá trị văn hoá đặc trưng, chứa đựng những nét bản sắc văn hoá dân tộc Nhưng xét về góc độ kinh tế thì lại chứa đựng những yếu tố cản trợ
sự phát triển của BHXHTN Đó là: Tỷ lệ thất nghiệp (tỷ lệ giờ lao động nhàn rỗi) cao gây áp lực tài chính nếu tham gia vào hệ thống BHXH Tính tự phát
và sự rời rạc trong hoạt động kinh tế nông nghiệp khiến cho việc tham gia
BHXHTN gặp nhiều khó khăn;
Độ "trễ" trong nhìn nhận các vấn đề mới của xã hội, trong đó đặc biệt
là vấn đề BHXH cho người già Với quan điểm và nét văn hoá Á Đông "Trẻ cậy cha, già cậy con" khiến cho quy mô tham gia BHXHTN, đặc biệt tham gia BHXHTN của người nông dân không thực sự trở thành một vấn đề cấp thiết Một hệ thống BHXH nhân văn, hiện đại sẽ có mục đích bao phủ toàn bộ
số dân, bất kể nông thôn hay thành thị Cho dù có thực hiện BHXH tự nguyện thì chắc chắn độ bao phủ vẫn rất thấp vì với những điều kiện để tham gia BHXH tự nguyện hiện tại còn nhiều điểm không phù hợp đối với đại bộ phận nông dân và dân cư nông thôn
- Việc mở rộng phạm vi, đối tượng tham gia BHXH cho lao động khu vực nông nghiệp phải có bước đi thích hợp, không thể làm ồ ạt, tràn lan, mà phải mở rộng dần từng bước vững chắc Bởi vì, khi người nông dân nhận thức
Trang 20từ lợi ích đêm lại của BHXH tự nguyện đối với họ thì họ sẵn sàng tham gia, Song khi họ quyết định tham gia rồi thì phải thông qua một hình thức dịch vụ
như, cam kết bằng văn bản có giá trị pháp lý (chẳng hạn có bảng đăng ký
tham gia BHXH tự nguyện) được thỏa thuận đôi bên để ràng buộc trách nhiệm giữa cơ quan BHXH và người tham gia BHXHTN, đồng thời cần phải đẩy mạnh dịch vụ quảng cáo, tuyên truyền, thông qua các kênh, đài, báo, trang Web… để người nông dân nhận thức được quyền lợi, kết hợp với việc tăng cường vận động mạnh mẽ để người nông dân tự giác tham gia
Trong khu vực nông nghiệp do không có quan hệ lao động hoặc có quan hệ lao động nhưng rất sơ khai đơn giản, nên cần thiết phải có có chính sách BHXHTN cho người nông dân một cách phù hợp để họ có thể tham gia BHXH tự nguyện
Nguyên tắc cơ bản của chính sách BHXH tự nguyện cho nông dân là sự tham gia tự nguyện của người nông dân khi còn trong độ tuổi lao động và có việc làm, có thu nhập đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện Thuận lợi cơ bản
là chính sách BHXH tự nguyện cho người nông dân đã được luật hóa phù hợp với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về BHXH cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế, được thể chế hóa trong luật BHXH về BHXHTN và được tập trung chỉ đạo thực hiện Mặt khác, nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của lao động khu vực nông nghiệp là rất lớn, khi nhà nước
có chính sách, cơ quan tổ chức thực hiện tăng cường các dịch vụ từ công tác thu, chi trả các chế độ BHXHTN cho người nông dân tham gia tốt, chất lượng…, tạo ra sản phẩm phù hợp với lợi ích của người nông dân, thì họ sẽ nhiệt tình tham gia Đây là điều kiện hết sức quan trọng để mở rộng phạm vi đối tượng nông dân tham gia BHXHTN theo luật định.Tuy nhiên, BHXHTN
ở khu vực nông nghiệp cần chọn con đường nào? Cách nào? Hay nói cách khác là giải pháp gì để tăng quy mô, mở rông về người nông dân tham gia
Trang 21BHXH tự nguyện một cách nhanh hơn để có thể thực hiện được mục tiêu BHXH cho mọi người lao động theo Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng
là việc làm cần thết đối với cơ quan BHXH tỉnh
Cơ sở để xác định và tổ chức thực hiện công tác thu phí BHXHTN là đối tượng nông dân tham gia BHXHTN còn mức đóng cũng như phương thức đóng BHXHTN đối với người nông dân là căn cứ vào trình độ phát triển KT-
XH của mỗi quốc gia và được cụ thể hóa trong các nội dung văn bản của nhà nước Về nguyên tắc thì mọi người lao động có nhu cầu đều được tham gia BHXH tự nguyện Tuy nhiên, hầu hết ở các nước đều thực hiện cách tiếp cận
từ từ để mở rộng đối tượng trong hệ thống BHXH tự nguyện Khi quản lý được đối tượng tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống BHXHTN Việc xác định này dựa trên cở sở điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, trình độ quản lý của cơ quan BHXH và các điều kiện khác như truyền thống, văn hóa, đất đai, mùa vụ và những thiên tai, giá cả được đảm bảo và ổn định…theo quy định của luật BHXH thì đối tượng tham gia BHXH tự nguyện nông dân là nông dân Việt Nam có từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc là đối tượng mà cơ quan BHXH phải có trách nhiệm quản lý để tăng cường, tuyên truyền vận động họ tham gia
* Về mức đóng góp, phương thức đóng: Người nông dân tham gia BHXH tự
nguyện bao gồm nhiều loại hình lao động có các hình thức thu nhập khác nhau, nên phải xác định mức đóng BHXH tự nguyện sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH tự nguyện được thống nhất, dễ dàng Vì vậy, công thức được xác định như sau:
Trang 22Mức đóng BHXH tự nguyện của nông dân được xác định theo công thức sau:
Mức đóng
Tỷ lệ phần trăm đóng BHXH tự nguyện
gia BHXH tự nguyện lựa chọn Trong đó:
- Mức thu nhập tháng người tham gia = Lmin + m x 50.000(đồng/tháng)
- Lmin: là mức lương tối thiểu chung do nhà nước quy định từng thời điểm., m: là số nguyên,> 0, m= 0,1,2,3…n
Mức thu nhập tháng người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn bằng mức lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung do nhà nước quy định từng thời điểm
Tỷ lệ % đóng BHXTN của người nông dân cần xây dựng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện của người nông dân, bởi khi người nông dân thu nhập không ổn định lại thấp nên lúc có thu nhập cao do được mùa, do thời gian nông nhàn người ta có đi làm thuê tạo thêm thu nhập, thu nhập từ các nguồn khác cho nên chính sách cần đưa ra mức đóng hết sức mềm dẽo linh hoạt để kích thích cho người nông dân tham gia BHXH tự nguyện
Phương thức đóng phí bảo hiểm cần mở rộng hơn không nên quy định quá gò bó gây khó khăn cho người nông dân, vì người nông dân không phải lúc nào cũng có tiền mà phải qua một thời vụ mới có thu nhập, khi có thu nhập mà quá thời hạn đóng phí thì không có cơ hội để đóng sẽ làm người ta nãn chí không muốn tham gia cho nên cần phải tăng thêm thời gian đóng, tạo
ra sự hài lòng cho đối tượng để thu hút người nông dân tham gia BHXHTN ngày càng tăng cả quy mô về số lượng và chất lượng [2]
Trang 231.3.3 Mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Trong Công ước 102 (ILO, 1984) quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội của Tổ chức lao động quốc tế quy định 9 chế độ BHXH, nhưng không bắt buộc các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích các nước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ (đặc biệt lưu ý chế độ 3, 4, 5, 8, 9)
1 Chăm sóc y tế; 2 Phụ cấp ốm đau; 3 Trợ cấp thất nghiệp; 4 Trợ cấp tuổi già; 5 T rợ cấp tai nạn lao động; 6 Trợ cấp gia đình; 7 Trợ cấp thai sản; 8 T rợ cấp tàn phế; 9 T rợ cấp mất người nuôi dưỡng
Cơ sở để xác định thực thi mỗi chế độ BHXHTN là căn cứ vào trình
độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Hiện tại ở Việt Nam, BHXHTN
cho nông dân chỉ áp dụng 2 chế độ, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất là chưa
phù hợp, theo điều tra của đề tài trên (trang 19) ở đối tượng BHXHTN được khảo sát thì ngoài nhu cầu tham gia BHXHTN ở 2 chế độ hưu trí, tử tuất họ còn có nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện(44,86%), chế độ tai nạn lao động 23%, dưỡng sức 24% điều đó có nghĩa là chính sách chế độ BHXHTN đối với người nông dân cần được tăng cường nhằm tạo ra một sản phẩm mới phù
hợp đáp ứng nhu cầu của người tham gia [20]
1.3.4 Tăng cường chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Theo TCVN và ISO-9000, thì chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ thoả mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua
CLDV là sự tạo nên trừu tượng, khó nắm bắt bởi đặc tính riêng có của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp
CLDV chính là sự thoả mãn khách hàng được xác định bởi việc so sánh giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng trông đợi (P&E) [30]
Trang 24Chất lượng chính là các đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng Vì vậy, phải coi BHXH tự nguyện nông dân thực sự là một dịch vụ, là một dịch vụ thể hiện ở các điểm:
- Cần có sự linh hoạt trong quan hệ đóng góp, khi người nông dân có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện, thay vì họ phải tìm đến cơ quan BHXH
để tìm hiểu thông tin, cách thức đóng góp thì cán bộ BHXH cần chủ động tiếp xúc cộng đồng dân cư để có thông tin từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân trong việc tham gia đóng góp
- Cần có sự linh hoạt trong việc cung cấp thông tin, tổ chức thu, chi trả BHXH tự nguyện cho người nông dân kịp thời, đầy đủ, tận nơi, khi có phát sinh quyền lợi BHXH
- Người tham gia BHXH tự nguyện là nông dân cho nên việc di chuyển lao động giữa các vùng miền, các địa phương diễn ra rất thường xuyên và phổ biến, vì vậy hệ thống BHXH tự nguyện cần có sự ứng dụng công nghệ thông tin rất cao trong toàn hệ thống nhằm nối mạng cập nhật thông tin về nhân thân của người lao động kịp thời nhằm tạo điều kiện cho họ được thụ hưởng quyền lợi khi phát sinh
Chủ thể tham gia BHXH xét về mặt quan hệ sản xuất và quan hệ lao động là Hộ gia đình Họ vừa là chủ tư liệu sản xuất, vừa là chủ sức lao động Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu là quy mô Hộ gia đình (kinh
tế hộ gia đình), hoặc làm nghề tự do, hoặc làm thuê ở khu vực phi chính thức
Họ tự hạch toán kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu trong ngân sách thu - chi gia đình hoặc nhận tiền công, tiền lương ở mức thấp Tóm lại, họ là chủ thể của một thực thể kinh tế - "kinh tế Hộ gia đình" hoặc tự làm và làm thuê không có hợp đồng lao động Từ đó, việc tham gia BHXH là hoàn toàn mang tính cá nhân, tự nguyện Về cơ bản, họ chưa có dịp tiếp cận và sống quen với
Trang 25đời sống, môi trường BHXH Bởi vậy, chính sách BHXH đối với họ phải gắn liền với cuộc vận động trong nhân dân, trên cơ sở họ suy nghĩ về " tính lợi
ích" của mình khi tham gia BHXH tự nguyện Đây là vấn đề rất mới và phức
tạp Mọi chính sách BHXH có tính áp đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt
và lâu dài) cho họ đều không khả thi hoặc thất bại Điều này đòi hỏi phải kiên trì,mở rộng các sản phẩm dịch thông qua kênh tuyên truyền, thuyết phục, làm từng bước, tạo cho họ quen dần với môi trường BHXH hay nói cách khác là phải tăng cường các dịch vụ về BHXH tự nguyện để người nông dân có điều kiện tiếp cận và tự giác tham gia
1.3.5 Tăng cường mạng lưới làm công tác Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Do đặc điểm của người nông dân sinh sống trong địa bàn nông thôn
rộng lớn, phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, việc tiếp cận được với người nông dân chủ yếu sau giờ mà người nông dân kết thúc công việc đồng án, thường là giờ trưa, tối cho nên để tuyên truyền vận động được người nông dân tham gia thì một trong những điều kiện có tính chất quyết định thực hiện
sự nghiệp BHXHTN là phải xây dựng, mở rộng được hệ thống cán bộ làm công tác BHXHTN Điều kiện này thể hiện chủ yếu ở các mặt sau:
- Việc tổ chức thực hiện chính sách BHXHTN cho người nông dân phải
có bước đi thích hợp, không ồ ạt, tràn lan theo kiểu phong trào Mà ngược lại, phải thực hiện thận trọng, chặt chẽ, sau đó mới mở rộng dần từng bước cho phù hợp
- Bộ máy quản lý sự nghiệp BHXHTN ở các cấp, phải thật tinh gọn Đặc biệt là phải xây dựng hệ thống đại diện BHXHTN ở xã phường, trên cơ
sở đó phải mở rộng mạng lưới làm công tác BHXHTN từ thôn, bản, khối phố, thông qua mạng lưới này để trực tiếp thực hiện công tác tuyên truyền vận động, tổ chức thu, chi trả các chế độ BHXHTN cho người nông dân, khi mở
Trang 26rộng thì mạng lưới này phải được nhà nước quy định cụ thể, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
- Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là linh hồn, là hạt nhân của tổ chức Bộ máy mạnh hay yếu, phát huy hiệu quả cao hay thấp là tuỳ thuộc vào vấn đề cán bộ Do đó đối với đội ngũ cán bộ thực hiện sự nghiệp BHXHTN phải đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về chuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt phải
là người có đạo đức trong sáng, có tinh thần phục vụ tận tuỵ đối với NLĐ, tất
cả vì sự nghiệp BHXH của toàn dân Chỉ có như vậy, sự nghiệp BHXHTN của nông dân mới có thể thực hiện và phát triển được ở Việt Nam [10]
1.3.6 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
- Kiểm tra: một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có
được những phán đoán, xác định xem việc thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân đã triển khai như thế nào và kết quả ra sao
- Đánh giá: quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về
bản chất và phạm vi của kết quả việc thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra [17]
Chương trình thực hiện tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân được đánh giá, xem xét thông qua các tiêu chí như: xem xét nhu cầu tham gia BHXHTN như thế nào? mục tiêu thực hiện có đạt được hay không Việc kiểm tra, đánh giá là một khâu cơ bản, là một nhiệm vụ thường xuyên không thể thiếu được của cơ quan BHXH và các đơn vị liên quan
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tăng cường bảo hiểm
xã hội tự nguyện cho nông dân
1.4.1 Hệ thống luật pháp và chính sách về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Việc ban hành chính sách pháp luật về BHXH tự nguyện xuất phát từ một vấn đề xã hội lớn và khá bức xúc của nhân dân là: Trong những năm qua
Trang 27về BHXH, do điều kiện thực tế của đất nước nên chỉ mới thực hiện BHXH bắt buộc cho người lao động có hưởng tiền lương, tiền công trên cơ sở hợp đồng lao động Do đó, còn rất đông đảo nông dân, người lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ cá thể và những người tự tạo việc làm khác trong độ tuổi lao động chưa được tham gia BHXH Vì vậy, khi già yếu,
ốm đau, từ trần, họ không được hưởng BHXH
Luật BHXH về BHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2008 Như vậy, sau nhiều năm mong đợi đến nay những người lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, đó là người nông dân đã có cơ hội tham gia BHXH tự nguyện, họ đã thực sự bình đẳng như mọi người lao động khác về chính sách BHXH
Người nông dân tham gia BHXH tự nguyện sẽ thực hiện hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất BHXH tự nguyện trước hết là một loại hình BHXH, phản ánh đầy đủ bản chất của BHXH cả tính kinh tế và xã hội, đó là đảm bảo
ổn định đời sống cho người lao động trước những rủi ro bất ngờ, giúp họ vượt qua những khó khăn T ính xã hội trong BHXH được hiểu là sự thống nhất về phương thức đóng – hưởng và điều tiết xã hội trong phạm vi cả nước do nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm Đồng thời tính xã hội của BHXH còn thể hiện
ở chỗ không phân biệt đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thuộc các loại hình lao động khác nhau Do vậy, với chế độ hưu trí, tử tuất thì khi đóng góp theo phương thức giống nhau phải được hưởng thụ theo phương thức như nhau và chỉ đóng góp khác nhau mới hưởng thụ
khác nhau [27]
1.4.2 Nhận thức của nông dân
Do BHXH tự nguyện cho người nông dân mới được áp dụng rộng rãi trên quy mô cả nước từ năm 2008 nên trình độ nhận thức của các nhà quản lý, của xã hội và người dân đối chính sách này không đồng đều còn nhiều hạn
Trang 28chế Theo kết quả điều tra của đề tài KH 02.02/06-10, năm 2007 thì tỷ lệ người dân chưa có hiểu biết về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng chiếm tỷ lệ khá cao, trong đó, nông dân chiếm tỷ lệ 35,92%…thường nông dân có trình độ dân trí thấp, phần lớn là lao động phổ thông không qua đào tao về kĩ năng, không được đào tạo về kỹ thuật nghề nghiệp, không có tay nghề là chủ yếu…
Đối với cơ quan hoạch định chính sách trong thời gian qua mới tập trung vào khu vực làm công ăn lương, có quan hệ lao động là chủ yếu, chưa quan tâm thật đúng mức đến công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người nông dân để họ nắm bắt được chủ trương chính sách BHXH tự nguyện
1.4.3 Nhân tố về phát triển kinh tế
Đây là nhân tố cơ bản quyết định trực tiếp để người nông dân có thể lựa chọn tham gia BHXHTN được hay không Bởi vì nó liên quan đến việc đóng góp để hình thành quỹ BHXHTN Lao động hoạt động trong các ngành sản xuất nông nghiệp muốn tham gia BHXHTN thì phải có khả năng đóng BHXH lúc đó "nhu cầu tham gia BHXH" mới trở thành "cầu tham gia BHXH" Chỉ khi đó BHXHTN mới có thể ra đời và phát triển được Nghĩa là nông dân phải
có điều kiện để tiến hành sản xuất, kinh doanh để có thu nhập Hơn nữa, thu nhập này không những phải bảo đảm bù đắp đủ các chi phí sản xuất, trang trải các tiêu dùng trong cuộc sống cho cá nhân và gia đình, mà còn phải có phần
dư ra để tích luỹ Một phần tích luỹ được sử dụng để đầu tư thêm cho sản xuất, kinh doanh, thực hiện tái sản xuất mở rộng, phần còn lại của tích luỹ mới dùng để dự phòng cho cuộc sống tương lai của bản thân và trang trải những khi gặp rủi ro xã hội b ị giảm hoặc mất nguồn thu nhập thông qua việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXHTN nhằm đảm bảo cuộc sống cho tương lai khi hết tuổi lao động, về già
Trang 29Như vậy, điều kiện kinh tế cho việc ban hành và thực hiện loại hình BHXHTN cho nông dân, chính là việc giải bài toán về tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phân phối thu nhập trong nền kinh tế nói chung và trong từng gia đình người lao động nói riêng, sao cho có hiệu quả và thiết thực Người nông dân, chỉ khi nào mà điều kiện kinh tế khá giả thông qua việc thu nhập ổn định từ phát triển sản xuất nông nghiệp ổn định, đảm bảo được mức sống của mình và gia đình mình từ trung bình và khá trở lên, có tích luỹ mới
có thể có phần dư ra để tham gia đóng góp vào quỹ BHXHTN
1.4.4 Nhân tố về thu nhập
BHXHTN là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội, là nhân tố góp phần ổn định, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, độ bao phủ của BHXHTN đối với người nông dân muốn tăng lên chủ yếu là phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao mức sống nhân dân để từ
đó phát sinh (kích thích) nhu cầu, bởi vì người nông dân muốn tham gia BHXH tự nguyện thì phải có thu nhập bằng tiền Mức thu nhập đó phải đảm bảo mức sống tối thiểu và có một phần tiết kiệm Khoản tiết kiệm đó, người nông dân mới có khả năng tham gia BHXHTN Theo kết quả điều tra mức sống dân cư do Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội thì một hộ gia đình ở nông thôn có thu nhập lên tới 1,13 triệu đồng/ tháng, bình quân thu nhập ở nông thôn là 369.810đồng/tháng/lao động Do thu nhập tăng , đời sống người nông dân từng bước được cải thiện, số hộ nghèo có xu hướng giảm dần,
tỷ lệ hộ khá giả và giàu tăng lên Đây là điều kiện kinh tế vững chắc để người nông dân tham gia BHXH tự nguyện [18]
Theo kinh nghiệm của Quốc tế một Quốc gia muốn phát triển BHXH
tự nguyện thì GDP bình quân đầu người tương đối cao, khoảng 1.000USD/ng/năm trở lên, thì khả năng mở rộng BHXHTN tỷ lệ thuận với mức tăng GDP đầu người Khi mức GDP bình quân đầu người dưới 450USD
Trang 30(chưa vượt qua chuẩn nghèo thế giới) thì đối tượng tham gia sẽ không tăng,
do đó việc việc mở rộng đối tượng không thể làm tràn lan cho tất cả mọi người lao động được mà chỉ tập trung ở những người có mức thu nhập khá trở lên Như vậy những người có mức thu nhập thấp, không ổn định như nông dân muốn tham gia BHXH tự nguyện thì nhà nước phải có cơ chế hỗ trợ một phần mức đóng để tạo điều kiện cho nông dân tham gia BHXHTN
xã hội Việt Nam tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện cho nông dân là phù hợp, đã góp phần giảm chi phí trong quá trình tổ chức thực hiện, cũng như tận dụng năng lực và kinh nghiệm của lực lượng cán bộ làm công tác thu BHXH bắt buộc hiện có Tuy nhiên, đối với tổ chức BHXH tự nguyện là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp vì đối tượng đa dạng, hình thức tham gia đơn lẽ, phạm vi rộng Công tác thu BHXH tự nguyện của nông dân là thu trực tiếp bằng tiền mặt của người tham gia tại các xã cho nên khối lượng công việc tăng, nên chính phủ cần có kế hoạch tăng cường bổ sung chức năng, nhiệm vụ
và bổ sung cán bộ cho cơ quan BHXH, ngành BHXH các cấp cần tuyển dụng cán bộ có phẩm chất, trình độ năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu đề
ra và nguồn kinh phí phục vụ cho quá trình tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện đối với người nông dân [26]
Trang 311.5 Kinh nghiệm tăng cường BHXHTN cho nông dân ở tỉnh Nghệ An
Ở tỉnh Nghệ An, từ năm 1982 đến 1997 đã có 198 xã xây dựng "Quỹ
hỗ trợ tuổi già" Năm 1998, UBND tỉnh Nghệ An ra quyết định thành lập BHXH nông dân Nghệ An và ban hành điều lệ tạm thời về BHXH nông dân Nghệ An Từ ngày 5/1/1999 đã tiến hành cấp sổ BHXH nông dân cho 886 nông dân đầu tiên của 8 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu và đến 31/5/2002 đã có 54.345 người tham gia Tổng số tiền Quỹ thu được gần 18 tỷ đồng, đã tổ chức chi trả chế độ hưu cho 22 người, chế độ tử tuất cho 67 người, trợ cấp 1 lần cho 30 người và trợ cấp khó khăn cho 7 người
Điều lệ tạm thời về BHXH nông dân Nghệ An có quy định rõ : Khi đã đóng đủ 20 năm BHXH thì được hưởng 50.000 đồng/tháng với mức đóng 10.000 đồng/tháng ; 100.000 đồng/tháng với mức đóng 20.000 đồng/tháng và 150.000 đồng/tháng với mức đóng 30.000 đồng/tháng Bên cạnh đó còn một
Hai là, chưa cụ thể hóa rõ ràng việc sử dụng quỹ làm cho niềm tin của
người tham gia BHXH chưa cao, họ băng khoăn lo sợ về giá trị đồng tiền sau
20 năm đóng vào quỹ BHXH nông dân có biến động bất lợi
Ba là, tiền quỹ hiện nay thu được chủ yếu đầu tư tăng trưởng bằng mua
trái phiếu, gởi tiết kiệm có kỳ hạn…chưa có giải pháp đầu tư kinh doanh phát triển tiền quỹ để có lãi suất cao
Bốn là, hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ chưa được ban hành
đồng bộ Đây là vấn đề bức xúc, kìm hãm sự phát triển, nhất là công tác quản
lý quỹ
Trang 32Kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện BHXH tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Nghệ An
- Đối tượng tham gia BHXHTN cho nông dân thường gặp phải rủi ro
xã hội nhiều hơn so với các đối tượng phải tham gia BHXHBB
- Vị thế kinh tế yếu kém của nông dân dẫn đến thu nhập của họ rất thấp, lại thất thường, không ổn định
- Nhận thức về BHXHTN thấp vì vậy khi ban hành và thực hiện chính sách BHXHTN cần có:
+ Chính sách phải “mềm dẻo”(nhiều mức đóng góp, nhiều phương thức
đóng góp, nhiều mức thụ hưởng và tính riêng cho từng chế độ sẽ áp dụng )
để cho nông dân tự giác lựa chọn tham gia
+ Luôn đảm bảo nguyên tắc tự nguyện
+ Quỹ phải được hạch toán độc lập, quản lý tập trung thống nhất theo quy định quản lý tài chính của nhà nước, đảm bảo công bằng, công khai và
dân chủ trong toàn hệ thống
+ Quỹ phải được nhà nước bảo hộ, hỗ trợ thêm khi cần thiết và
thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, kiểm soát.
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TĂNG CƯỜNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
CHO NÔNG DÂN TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Đặc điểm cơ bản của tỉnh Quảng Nam ảnh hưởng đến việc tăng cường bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân ở tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung, có 18 huyện, thành phố ( trong đó có 2 TP Tam Kỳ và Hội An); tổng
diện tích tự nhiên 10.406 km2, nằm ở trung độ của cả nước Phía đông giáp
với biển đông, phía tây giáp với tỉnh Kon Tum và tỉnh Xê Kông (Lào), phía
nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi, phía bắc giáp với thành phố Đà Nẵng và tỉnh
Thừa Thiên - Huế
Phía đông có bờ biển chạy dài trên 125km, vùng đặc quyền kinh tế
rộng hơn 40.000 km2 nhiều ngư trường với nguồn lợi hải sản phong phú để
phát triển nghề khai thác thuỷ sản Vùng ven biển có hai cửa sông lớn ăn
thông với biển là Cửa Đại - Hội An và cửa An Hoà - Núi Thành, hình thành
hai vùng cửa lạch làm nơi đi lại và trú đậu thuận tiện cho tàu thuyền đánh cá
Phía đông bắc có cụm đảo Cù Lao Chàm cách thành phố Hội An 15km về
phía đông, đã được công nhận là khu sinh quyển thế giới Có đô thị cổ Hội An
và khu vực đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận 2 di sản văn hoá
Sân bay Chu Lai có diện tích 2.275 ha, đường băng dài trên 3.000 mét,
rộng 60 mét, quy mô công suất hiện nay phục vụ khoảng 500.000 hành
khách/năm và 500.000 tấn hàng/năm và đạt 1 triệu lượt khách/năm, 1 triệu tấn
hàng/năm vào năm 2020 Là một bộ phận trong hệ thống cảng biển Việt Nam,
cảng Kỳ Hà hiện tại có 2 cầu cảng Mạng lưới giao thông đường bộ đã được
phát triển đồng bộ và rộng khắp: Quốc lộ 1A ở phía đông, đường Hồ Chí
Trang 34Minh ở phía tây, nối quốc lộ 1A với đường Hồ Chí Minh có quốc lộ 14 ở phía Bắc, quốc lộ 14E ở giữa, đường Nam Quảng Nam ở phía Đông; đường Thanh niên ven biển, đường Đông Trường Sơn từ Thành Mỹ đến Quảng Ngãi; trong tương lai gần sẽ có đường cao tốc Liên Chiểu- Dung Quất
Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua Quảng Nam có chiều dài 95Km Hệ thống điện đã được phủ rộng trên địa bàn tỉnh với 7 trạm biến
áp 110 KV cùng với lưới điện, trạm biến áp 35, 22, 15 KV tăng lên gần 4 lần
so với năm 1997 Mạng lưới bưu chính, viễn thông phát triển khá tốt; 100%
số xã trên địa bàn tỉnh đã có điện thoại cố định, mật độ điện thoại và Internet
tăng trưởng nhanh
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Nam
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Sau hơn 10 năm, tình hình dân số và lao động của tỉnh có nhiều chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Quy mô dân số trung bình năm 2010 toàn tỉnh có 1.425.395 người (730.184 nữ), trong đó dân số thành thị 270.028
Trang 35người chiếm 18,94%, nông thôn người chiếm 1.155.367 người chiếm 81,06%
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm qua các năm từ 12%0 năm 2006 giảm xuống còn 9,04%0 năm 2010
Số người trong độ tuổi lao động năm 2010 là 899.536 người chiếm 63,1% tổng dân số, trong đó số lao động đang hoạt động trong các ngành nghề kinh tế có 812.196 người tăng gần 8% so với năm 2006, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,79%, số lao động được tạo việc tăng lên hằng năm từ
31 ngàn người năm 2005 lên 36 ngàn người năm 2010
Bảng 2.1: Chỉ số tăng GDP tỉnh Quảng Nam theo giá so sánh
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam được đánh giá là tỉnh có bước đột phá mạnh về tốc độ phát triển kinh tế Với tổng sản phẩm GDP bình quân hàng năm tăng 11.59% Riêng năm 2010 đạt 12.5%, trong đó khu vực có mức tăng trưởng nhanh nhất
là Công nghiệp - Xây dựng mỗi năm bình quân tăng gần 20%, tiếp đến là khu vực Dịch vụ tăng bình quân 14,2% và tăng thấp nhất là khu vực Nông lâm thủy sản bình quân tăng 2,2% năm
Trang 36Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%) và GDP bình quân đầu người (triệu đồng/người/năm) của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010
Cơ cấu kinh được chuyển đổi theo hướng tích cực, Trong GDP, tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 38,63% năm 2009 lên 40,06% năm 2010, du lịch dịch vụ từ 38.36% lên 39.05% và giảm tỷ trọng ngành nông lâm ngư nghiệp từ 23.01% xuống còn khoảng 21.16% năm 2010 Điều đáng nói là một tỉnh trước đây chưa có một khu, cụm công nghiệp nào thì nay
đã hình thành được 5 khu công nghiệp các cụm công nghiệp, thu hút trên 37.000 lao động có việc làm hằng năm Bên cạnh đó tỉnh đã ban hành nhiều
cơ chế để thu hút 78 dự án đã đi vào hoạt động Với tổng số vốn 52.800 tỷ đồng hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau đã và đang góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đáng kể cho người dân Quảng Nam
Trang 3737.91 37.26 40.0 6
38.63 36.73
Hình 2.3: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) phân theo ngành kinh tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010 (giá hiện hành, ĐVT: %)
Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống sinh hoạt cho người dân, nhất là đối với khu vực miền núi, đồng bào dân tộc trong thời gian qua cũng đặc biệt chú trọng, các công trình giao thông quan trọng đã được đưa vào sử dụng như: đường Hồ Chí Minh, phát triển công trình thủy điện vừa và nhỏ, làm mới được 752 km đường nhựa và bê tông, khôi phục và làm mới 259 cầu cống với tổng chiều dài 4.256 km
Năm 2010 toàn tỉnh có 100% số xã phường có trường tiểu học, 87,5%
số xã có trường trung học cơ sở Tỉnh Quảng Nam đã được công nhận đạt chuẩn về phổ cập tiểu học và chống mù chữ vào năm 1997, trong đó có 237/241 xã, phường, thị trấn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt 98%; có 13 huyện với 215 xã đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở đạt 89% Số trường trung cấp, cao đẳng, đại học năm 2010 là 11 đơn vị, trong đó có 3 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 6 trường Cao đẳng và 2 trường Đại học, hằng năm đào tạo được trên 26 ngàn học sinh sinh viên với trên 970 giáo viên thường xuyên tham gia giảng dạy, trong đó 250 giáo viên có trình độ trên đại học
Trang 38Bảng 2.2: Kết quả điều tra hộ nghèo và cận nghèo năm 2010
phố
Tổng số
hộ điều tra
Nguồn: UBND tỉnh Quảng Nam
Mạng lưới y tế trong những năm qua đã có sự phát triển toàn diện cả về
cơ sở, trang thiết bị, mạng lưới, cán bộ y tế, chất lượng khám chữa bệnh Năm
2010 toàn tỉnh đã có 8 bệnh viện tuyến tỉnh, 15 bệnh viện tuyến huyện, 10 phòng khám đa khoa khu vực, 100% số xã phường có trạm y tế Cùng với
Trang 39việc phát triển mạng lưới cơ sở y tế số giường bệnh cũng được tăng cường đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tốt hơn [2]
Sau 36 năm giải phóng, từ một tỉnh thường xuyên thiếu lương thực đến nay sản luợng lương thực tăng 3,5 lần, tỷ lệ đói nghèo từ 32% xuống còn 24% theo chuẩn mới
Nhờ các chủ trương, giải pháp phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt là lĩnh vực tạo việc làm cho người lao động, là tiền đề, là cơ sở để BHXH tỉnh Quảng Nam mở rộng đối tượng tham gia BHXH và thực hiện các chế độ chính sách BHXH cho người lao động trên địa bàn tỉnh
Hiện nay cơ cấu lao động nông nghiệp và nông thôn năm 2010 của tỉnh: Nông nghiệp, lâm ngư – nghiệp chiếm 59.24% trong tổng số lao động đang làm việc, công nghiệp và xây dựng 19.32%, dịch vụ 21.44% Điều này thể hiện ở hình sau:
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam năm 2009-2010
Hình 2.4 Cơ cấu lao động các ngành ở tỉnh Quảng Nam (ĐVT: %)
Với đặc tính của nền kinh tế thị trường, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm trong các ngành kinh tế thay vào đó là ngành công nghiệp dịch vụ tăng
Trang 40lên Do đó tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP có thể giảm đi, nhưng tổng giá trị của ngành nông nghiệp vẫn tăng lên qua các năm Cơ cấu lao động, nguồn lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nên giá trị tạo
Dân số trung bình nông
* Phân theo giới tính
2
Số người trong độ tuổi lao
- Tỷ lệ so với tổng dân số
3
Số lao động là nông dân
- Tỷ lệ so với số người
4
Cơ cấu lao động đang làm
- Nông, lâm nghiệp, thủy
- Công nghiệp và xây dựng % 16,63 18,13 19,32
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam (2009,2010)
Người nông dân là lực lượng lao động chính trong ngành nông nghiệp
và giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tính đến hết năm 2010,dân số trung bình ở khu vực nông thôn toàn tỉnh có 1.155.369 người, trong đó nam 562.046 người Số người ở nông thôn trong độ