Cùng với sự phát triển của Khu kinh tế mở Chu Lai, khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành trong những năm gần đây phát triển nhanh về số lượng, tỷ lệ đóng góp cho
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Hải
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 5
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 5
1.1.1 Khái quát chung về thuế 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế 6
1.1.1.3 Vai trò cơ bản của thuế 7
1.1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế 12
1.1.2 Đặc điểm của khu vực kinh tế NQD 13
1.1.3 Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh16 1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 18
1.2.1 Quản lý đăng ký, kê khai và nộp thuế 20
1.2.2 Quản lý thông tin người nộp thuế 22
1.2.3 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 22
1.2.4 Thanh tra, kiểm tra thuế 24
1.2.5 Thu nợ, cưỡng chế và xử phạt về thuế 28
1.2.6 Xử lý khiếu nại và tố cáo các vấn đề về thuế 30
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ NGOÀI QUỐC DOANH 31
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ T HUẾ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG32 1.4.1 Kinh nghiệm của Chi cục thuế Tam Kỳ 32
1.4.2 Kinh nghiệm của Chi cục thuế Hội An 34
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI
THÀNH 36
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 36
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 36
2.1.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.1.2 Diện tích 36
2.1.1.3 Dân số 37
2.1.1.4 Tình hình phát triển kinh tế 37
2.1.2 Thực trạng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 37
2.1.2.1 Số lượng 37
2.1.2.2 Về cơ cấu ngành nghề 39
2.1.2.3 Quy mô về vốn 41
2.1.2.4 Giá trị sản xuất 42
2.1.2.5 Tỷ lệ đóng góp ngân sách trên giá trị sản xuất của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 43
2.2 TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ KẾT QUẢ QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH 45
2.2.1 Tổ chức quản lý 45
2.2.1.1 Bộ máy tổ chức 45
2.2.1.2 Về công tác cán bộ 47
2.2.2 Kết quả thu thuế trong thời gian qua 48
2.2.2.1 Công tác lập dự tóan 48
2.2.2.2 Kết qủa thu qua các năm 50
2.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRONG THỜI GIAN QUA .56
2.3.1 Công tác đăng ký, kê khai 56
Trang 42.3.2 Quản lý đối tượng và căn cứ tính thuế 57
2.3.3 Công tác tuyên truyền hỗ trợ 63
2.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra 65
2.3.5 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế thuế 67
2.3.6 Xử lý khiếu nại, tố cáo về thuế 72
2.3.7 Một số tồn tại và nguyên nhân 73
2.3.7.1 Về chính sách thuế 73
2.3.7.2 Công tác quản lý 73
2.3.7.3 Nguyên nhân của sự tồn tại 75
2.3.7.4 Bài học kinh nghiệm .76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH TRONG THỜI GIAN ĐẾN 77
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 77
3.1.1 Quan điểm 77
3.1.2 Mục tiêu 78
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 78
3.1.2.2 Mục tiêu cục thể 79
3.2 CÁC GIẢI P HÁP QUẢN LÝ 81
3.2.1 Kiện toàn bộ máy và công tác cán bộ 81
3.2.1.1 Bộ máy quản lý .81
3.2.1.2 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 81
3.2.2 Cải cách về công tác kê khai 82
3.2.3 Tăng cường quản lý đối tượng và căn cứ tính thuế 83
3.2.3.1 Đối với hộ cá thể 83
3.2.3.2 Đối với doanh nghiệp 84
3.2.4 Giải pháp về công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 86
3.2.4.1 Công tác tuyên truyền 86
Trang 53.2.4.2 Công tác hỗ trợ 88
3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 92
3.2.6 Công tác thu nợ, cưỡng chế thuế, xử lý vi phạm về thuế và giải quyết khiếu nại, tố cáo 94
3.2.6.1 Thu nợ, cưỡng chế và xử lý vi phạm 94
3.2.6 2 Hoàn thiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 96
3.2.7 Công tác chống thất thu thuế 97
3.2.7.1 Chống thất thu về đối tượng 97
3.2.7.2 Quản lý căn cứ tính thuế 98
3.2.7.3 Ban hành các quy chế quản lý đối với một số lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh thường xuyên xảy ra thất thu thuế 99
3.2.8.Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính 102
3.2.8.1 Cải cách hành chính thông qua bộ phận một cửa 102
3.2.8.2 Cải cách về biện pháp hành thu 103
3.2.9 Một số giải pháp khác 104
3.2.9.1 Thực hiện tốt công tác lập dự toán hàng năm 104
3.2.9.2 Tăng cường công tác phối kết hợp với các ngành 104
3.2.9.3 Đẩy mạnh công nghệ thông tin vào công tác quản lý thu thuế 105 KIẾN NGHỊ 107
KẾT LUẬN 111
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 72.7 Cơ cấu số thu của các loại hình kinh tế 53 2.8 Cơ cấu số thu của Doanh nghiệp NQD và hộ cá thể 53 2.9 Cơ cấu các loạ i thuế trong tổng thu thuế NQD 54 2.10 Kết quả công tác tư vấn thuế qua các năm 64 2.11 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra qua các năm 65
2.13 Cơ cấu từng loại thuế nợ đọng qua các năm 67
Trang 82.4 Cơ cấu thuế NQD trên tổng thu trên đ ịa bàn 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Luật quản lý thuế ra đời có hiệu lực từ 1/7/2007, đã làm thay đổi căn bản cơ chế quản lý thuế trước đây, trao quyền chủ động hơn cho người nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ, người nộp thuế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ chế này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, tuy nhiên công tác quản lý thuế ngày càng khó khăn, phức tạp hiện tượng khai man, trốn thuế xảy ra nhiều hơn Cùng với sự phát triển của Khu kinh tế mở Chu Lai, khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành trong những năm gần đây phát triển nhanh về số lượng, tỷ lệ đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng lớn, vì vậy trong quá trình kê khai, nộp thuế không tránh khỏi việc kê khai thiếu thuế, gian lận thuế Vì vậy, để tăng thu cho ngân sách Nhà nước cần có các giải pháp mang tính thực tiển nhằm kích thích việc thực hiện nghĩa vụ thuế và kiểm soát quá trình kê khai của người nộp thuế
Vì vậy, đề tài đi sâu nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò Nhà nước về quản lý thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh, góp phần làm cho chính sách thuế được thực hiện đúng hơn, đầy đủ hơn, đạt được kết quả cao hơn Việc tổ chức thực hiện được cải cách theo hướng rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện tối đa cho người nộp thuế, nhưng đồng thời cũng có biện pháp chế tài và trao quyền cho cơ quan thuế để giám sát, kiểm tra, xử lý nghiêm minh những đối tượng cố tình vi phạm pháp luật, tạo môi trường lành mạnh, công bằng, góp phần ổn định hơn cả về số thu cho ngân sách nhà nước, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Các giải pháp quản lý thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành” được lựa chọn để nghiên cứu
Trang 10Mục đích chủ yếu của luận văn là nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp Ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh cá thể, chỉ ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế đối với khu vực này trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh (bao gồm doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể) trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Địa bàn nghiên cứu: Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
+ Luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động thu thuế nội địa (như thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Môn bài, thuế Tài nguyên, thuế T iêu thụ đặt biệt, thuế Thu nhập
cá nhân, phí môi trường ), dưới sự quản lý của Cục thuế tỉnh Quảng Nam và Chi cục thuế huyện Núi Thành không bao gồm sự quản lý các khoản thuế
quan dưới sự quản lý của cơ quan hải quan
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là tiếp cận phân tích đặc điểm về
kê khai, nộp thuế của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh, đồng thời đánh giá thực trạng quản lý thu thuế để có được cơ sở thông tin cho hoàn thiện công
Trang 11tác quản lý thu thuế của Nhà nước đối với khu vực này trên địa bàn huyện Núi Thành Cụ thể, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu nhằm khảo sát sự hài lòng
về mức độ phục vụ của cơ quan thuế cũng như nhu cầu của người nộp thuế yêu cầu đối với cơ quan thuế cần phải đáp ứng
- Sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích hệ thống để xác định các yếu tố tác động đến số thu ngân sách của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
- Sử dụng phương pháp thống kê để đánh giá sự tăng trưởng về thuế của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh; phương pháp đánh giá để rút ra những ưu nhược điểm và nguyên nhân của quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học và hệ thống hoá những vấn đề lý luận
và thực tiễn, luận văn có những đóng góp sau:
- Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về thuế đề tài nêu bật vai trò quan trọng của thuế và quản lý thuế đối với phát triển kinh tế xã hội
- Đề tài làm rõ những vấn đề cơ bản vai trò Nhà nước về quản lý thuế, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao vai trò Nhà nước về quản lý thuế mà cụ thể là quản lý thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
- Từ những nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm đề tài đã đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò Nhà nước về quản lý thuế đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được viết thành 3 chương
Trang 12Chương 1: Tổng quan về quản lý thuế khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành
Chương 3: Giải pháp quản lý thuế khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Núi Thành trong thời gian đến
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả tực tiếp;
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước;
- Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước
ta nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội [15]
Ngoài khoản thu về thuế, Ngân sách Nhà nước còn có những khoản thu về phí và lệ phí Đây là những khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi được một cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước uỷ quyền cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng
Trang 141.1.1.2 Đặc điểm của thuế
- Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước: Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp -Đạo luật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác
- T huế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước: Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ
áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
- Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp Còn phí, lệ phí mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ này T ính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính
chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho
Trang 15Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước
Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả
trực tiếp cho người nộp thuế Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả [15]
1.1.1.3 Vai trò cơ bản của thuế
* Huy động tập trung nguồn tài chính
- Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn thu nhập nộp thuế
- P hương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định
- T hông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước taọ ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội
- T ính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thể hiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệu quả kinh doanh
Mặc dù, thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước, nhưng không có nghĩa là Nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao để tăng thu về thuế bằng mọi giá mà mức
Trang 16độ động viên thuế chỉ có một giới hạn nhất định Nếu Nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào cho Ngân sách Nhà nước thì phần GDP còn lại dành cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu họ nhận thấy rằng công sức bỏ vào kinh doanh, vào làm việc được bù đắp không thoả đáng thì
họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanh ngầm và tìm mọi cách để trốn thuế Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho Ngân sách Nhà nước là khoản thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ lệ phần trăm của GDP được động viên vào Ngân sách Nhà nước
Nếu gọi Tm là tổng số thuế tối đa có thể thu được vào Ngân sách Nhà nước thì khả năng thu thuế là Tm/GDP
Khả năng thu thuế là khái niệm lý thuyết được dùng để chỉ giành giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa các khu vực công cộng và khu vực tư nhân Nếu Nhà nước động viên thuế chưa đạt tới giới hạn khả năng thu thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nước chưa đầy đủ Nếu Nhà nước động viên vượt quá giới hạn khả năng thu thuế thì sẽ làm giảm khả năng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng tại doanh nghiệp, do đó làm giảm số thuế thu được trong tương lai
Trong thực tế công tác quản lý thuế, tổng số thuế thu được hàng năm
có thể lại khác xa so với tổng số thuế có khả năng thu được Để phản ánh tình trạng này, các nhà kinh tế dùng khái niệm nỗ lực thu thuế (tax effort)
Nếu tổng số thuế thực tế thu được là Tt, thì:
Nỗ lực thu thuế = (Tt/GDP) : (T m/GDP) = Tt/Tm
Nếu tỷ lệ trên nhỏ hơn 1, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp để tăng số thu về thuế mà không làm tổn hại đến quan hệ phân phối thu nhập
Trang 17giữa Nhà nước với doanh nghiệp và cá nhân, vì tiềm năng thu thuế hiện đang được khai thác ở mức độ thấp so với mức chịu đựng của nền kinh tế Nhưng khi tỷ số trên lớn hơn 1 thì hệ thống thuế hiện tại đã huy động vượt quá khả năng chịu đựng của nền kinh tế Cần phải hiểu rằng: Nỗ lực thu thuế cao không nhất thiết đồng nhất với xuất hiện tình trạng bội thu Ngân sách Nhà nước và càng không thể khẳng định rằng nền kinh tế đang tăng trưởng thuận lợi hoặc Nhà nước đang vận hành chính sách kinh tế đúng đắn [15]
* Điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế: là một trong những nội dung quan trọng của quá trình sử dụng công cụ thuế điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường thì sự phát triển theo chu kỳ là điều không thể tránh khỏi Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, Nhà nước đã sử dụng thuế để điều chỉnh quá trình đó Trong những năm khủng hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điều kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và mở rộng sức sản xuất Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng nhanh chóng Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhà nước có thể giữ vững nhịp
độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra
- Thuế còn góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu của từng giai đoạn phát triển nền kinh tế Bằng việc ban hành hệ thống thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể Thông qua đó Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế
- Điều chỉnh tích luỹ tư bản: là một nội dung quan trọng của điều chỉnh thuế Một mặt, sản xuất chiếm hữu và tư bản hoá lợi nhuận luôn luôn là
Trang 18mục đích cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích luỹ đó phù hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế và lợi ích xã hội Mặt khác, sự phát triển nền kinh tế luôn đòi hỏi phải tăng nhanh vốn đầu tư cơ bản, để phát triển nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải khuyến khích tích luỹ và tích tụ trong các doanh nghiệp,
để tạo ra nguồn vốn đầu tư Việc thay đổi các chính sách thuế của Nhà nước
có thể ảnh hưởng đến quy mô và tốc độ tích luỹ tư bản, do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế
- Thuế có thể được sử dụng để điều tiết việc làm và thất nghiệp Khi nền kinh tế có mức thất nghiệp cao thì cùng với việc mở rộng các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế cần phải được cắt giảm để tăng tổng cầu và việc làm Trong thời kỳ nền kinh tế lạm phát thì cùng với việc cắt giảm các khoản chi tiêu của Chính phủ, thuế lại được gia tăng để giảm tổng cầu và hạn chế sự gia tăng của nền kinh tế
- Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy sự hoà nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế Thông qua điều chỉnh mức thuế xuất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà gây nên áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường và đưa vào để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa Mặt khác, tác động đánh thuế nhập khẩu cũng gây nên phản ứng của người tiêu dùng trong nước tạo nên sự lựa chọn của họ trong tiêu dùng Ngoài ra người ta còn sử dụng công cụ thuế để kích thích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay ít nhất là giảm đến mức thấp nhất tính kém hiệu quả của sản xuất trong nước Chẳng hạn, trong trường hợp cần hạn chế xuất khẩu những hàng hoá mà giá
cả của chúng bị ấn định bởi giá cả bất lợi của thị trường thế giới, gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, trường hợp này có thể sử dụng thuế xuất khẩu để
Trang 19kích thích chuyển các nguồn lực từ sản xuất hàng xuất khẩu sang sản xuất hàng hoá tiêu dùng nội địa
* Công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập
về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư Chính vì vây, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là một công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này
Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ
Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội
* Công cụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh
Vai trò này được xuất hiện chính do quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh
Trang 20doanh Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn
mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
* Đối tượng nộp thuế
Trong một sắc thuế bao giờ cũng quy định cụ thể chủ thể nào có nghĩa
vụ phải nộp thuế Theo thuật ngữ chuyên ngành về thuế, chủ thể chịu sự điều chỉnh của một sắc thuế thường được gọi là đối tượng nộp thuế Đối tượng nộp thuế thể hiện phạm vi áp dụng của một chính sách thuế cụ thể Trong thực tế,
có những đối tượng nộp thuế chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có những đối tượng nộp thuế, trong cùng một thời gian phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau
Đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước Người có trách nhiệm nộp thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế T rong nhiều trường trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế cũng chính là người chịu thuế, khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao nghĩa vụ thuế cho người khác
* Đối tượng chịu thuế
Theo các luật thuế hiện hành của Việt Nam, đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để đánh thuế Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hoá hay tài sản Mỗi một sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng, thông thường tên gọi của một sắc thuế bắt nguồn từ đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó Ví dụ: thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.v.v Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặc một đơn vị vật lý
Trang 21* Căn cứ tính thuế
Luật thuế quy định mức thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước được xác định trên căn cứ nào Căn cứ tính thuế đối với một sắc thuế là cơ sở tính thuế và thuế suất
- Cơ sở tính thuế:
Cơ sở tính thuế là số lượng đơn vị (theo giá trị hoặc theo đơn vị vật lý) đối tượng chịu thuế Mỗi sắc thuế có một cơ sở tính thuế riêng, chẳng hạn như: Thuế tiêu thụ đặc biệt có cơ sở tính thuế là giá tính thuế TTĐB, thuế thu nhập có cơ sở tính thuế là thu nhập chịu thuế, thuế sử dụng đất nông nghiệp
có cơ sở tính thuế là diện tích và hạng đất
- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế: Mức thuế
thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế Theo thuật ngữ chuyên ngành về thuế thì người ta thường gọi mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế là thuế suất hay định suất thuế
Có thể nói, thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của một sắc thuế,
vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho Ngân sách Nhà nước
và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất hay định suất thuế trong một sắc thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế
Tuỳ theo quy định của từng sắc thuế mà người ta áp dụng các loại thuế suất khác nhau
1.1.2 Đặc điểm của khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Từ Đại hội Đảng lần VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh
tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, với nhiều thành phần
Trang 22kinh tế cùng tồn tại, trong đó có thành phần kinh tế Tư bản tư nhân Sau đó, tại các Đại hội Đảng lần IX, lần X, lần XI đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định Từ đó, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (bao gồm kinh tế hợp tác, kinh tế Tư bản tư nhân, kinh tế hộ kinh doanh) phát triển mạnh Ngoài thành phần kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác, xuất hiện thêm thành phần kinh tế Tư bản Tư nhân với các loại hình công ty TNHH, công ty Cổ phần, doanh nghiệp Tư nhân Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển còn góp phần quan trọng thực hiện các chủ trương khác của Đảng và Nhà nước như chủ trương xóa đói giảm nghèo, phân bố lại cơ cấu kinh tế, xoá bỏ dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi với miền ngược
Từ năm 1990, khi Quốc hội thông qua Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, số lượng các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng
Có thể nói trong giai đoạn 1986 - 2010, những năm đầu phát triển kinh
tế thị trường, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển rất mạnh cả
về mặt số lượng và qui mô kinh doanh Các cơ sở kinh doanh thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh
tế (chỉ trừ lĩnh vực Nhà nước độc quyền), trải khắp các vùng trong cả nước; nhiều cơ sở hoạt động cả xuất nhập khẩu, đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc nhận vốn đầu tư từ nước ngoài Nhiều năm gần đây các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh luôn là khu vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (bình quân từ 18% đến 20% một năm)
Tuy nhiên, do mới hình thành và phát triển nên phần lớn các cơ sở kinh doanh thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn ở qui mô vừa và nhỏ
So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, trình độ công nghệ và trình độ quản lý của họ còn thấp, năng suất lao động chưa cao
Trang 23Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới là: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển kinh tế thị trường Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế
Về quan hệ sản xuất, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng chỉ rõ vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế trong nền kinh tế nói chung Cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế do Đại hội IX đề ra, Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã có Nghị quyết riêng về phát triển kinh tế hợp tác và HTX, kinh tế Tư nhân T rong đó khẳng định phát triển kinh tế hợp tác
và HTX là vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta Trên cơ sở đánh giá những ưu thế của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đánh giá những tiềm năng phát triển, phân tích các nguyên nhân kìm hãm, Nghị quyết Trung ương lần thứ V đã chỉ ra những giải pháp cơ bản để phát triển các thành phần kinh tế này trong thời gian tới, trong
đó có những giải pháp về tài chính nói chung và thuế nói riêng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “ Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật Tạo điều kiện hình
Trang 24thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”
Như vậy, bằng sự khẳng định trong đường lối nêu tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ phát triển nhanh chóng và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh
1.1.3 Các sắc thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế Ngoài quốc doanh
Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động viên điều tiết tiền thuế điều tiết thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở nước ta bao gồm các sắc thuế sau:
Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK; thuế tài nguyên, thuế TNDN; Thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế môn bài
Dưới đây xin đề cập đến một số loại thuế chủ yếu đối với khu vực KTNQD:
*Thuế môn bài:
Thuế môn bài mang tính chất là loại thuế trực thu, động viên sự đóng góp trực tiếp của cơ sở kinh doanh tạo được nguồn thu quan trọng cho nhu cầu chi tiêu của NSNN ngay từ đầu năm mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều Thuế môn bài còn có tác dụng kiểm kê, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, có căn cứ phân loại quy mô kinh doanh để áp dụng biện pháp quản lý cho phù hợp Thuế môn bài áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân có thực tế kinh doanh Thuế thu mỗi năm một lần và chủ yếu thu vào đầu năm
Mức thuế môn bài hàng năm được quy định trong biểu thuế đối với các doanh nghiệp và đối với các hộ kinh doanh tương ứng với số thu nhập bình quân tháng của cơ sở Mức thuế từ 1.000.000 đến 3.000.000đ một năm (đối
Trang 25với doanh nghiệp ngoài quốc doanh) từ 50.000đ đến 1.000.000đ (đối với các
hộ cá thể kinh doanh)
*Thuế GTGT:
Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh mọi ngành nghề sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế, hoạt động các ngành hàng, dịch vụ thuộc diện đánh thuế GTGT
Thuế suất GTGT có 3 mức: 0% (áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ thực tế xuất khẩu); 5% đối với những hàng hoá dịch vụ cần thiết cho nhu cầu đời sống và sản xuất; 10% đối với đại bộ phận các mặt hàng và dịch vụ
*Thuế TNDN:
Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập có được của một số doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định (gồm thu nhập kinh doanh và các thu nhập khác) Có nhiều nước trên thế giới gọi thuế này là thuế thu nhập công ty Dù tên gọi có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản thì đều giống nhau Đánh vào thu nhập sau khi đã trừ chi phí hợp lý
Đối tượng đánh thuế TNDN là TNCT phát sinh trong năm kinh doanh của doanh nghiệp, từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khoản thu nhập khác; kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài
Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có TNCT
*Thuế Tài nguyên: là loại thuế gián thu thu trực tiếp vào hoạt động khai
thác tài nguyên khóan sản, mục đích tăng thu cho ngân sách nhà nước và bảo
Trang 26vệ nguồn tài nguyên của đất nước đồng thời là biện pháp nhằm khuyến khích khai thác tài nguyên một cách có hiệu quả
Đối tượng chịu thuế là các loại tài nguyên theo quy định của Luật thuế Tài nguyên, đối tượng nộp thuế là tất các tổ chức cá nhân có khai thác tài nguyên Thuế suất thuế tài nguyên phổ biến từ 3% đến 40% Việc xác định thuếc sức cao hay thấp tùy thuộc vào mức tính chất, giá trị của từng loại tài nguyên
Căn cứ tình thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên
*Thuế Tiêu thụ đặc biệt:
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một loại thuế gián thu đánh vào các hàng hoá
và dịch vụ đặc biệt, nằm trong danh mục do Nhà nước quy định
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với các tên gọi như: thuế tiêu dùng đặc biệt, thuế đặc biệt, thuế hàng hoá Thực chất của loại thuế này là một loại thuế bổ sung cho thuế tiêu dùng thông thường nhằm điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao (là đối tượng thường tiêu dùng những hàng hoá đặc biệt này) và hướng dẫn tiêu dùng đối với một số hàng hoá mà Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
Theo luật quản lý thuế ở Việt Nam, “quản lý thu thuế là quá trình thực thi các chức năng quản lý từ quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế”.[12]
Từ khái niệm quản lý thu thuế nói trên có thể khái niệm quản lý thu thuế đối với lĩnh vực thuế Ngoài quốc doanh là quá trình bảo đảm thực thi các
Trang 27chính sách thuế đối với lĩnh vực thuế Ngoài quốc doanh, thông qua quá trình tác động của cơ quan thuế các cấp lên các doanh nghiệp và hộ cá thể nhằm đảm bảo sự tuân thủ thuế theo luật định một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian trong điều kiện môi trường quản lý thu thuế luôn biến động Đây là khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này Như vậy quản lý thu thuế đối với lĩnh vực thuế Ngoài quốc doanh có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Quản lý thu thuế mang tính quyền lực Nhà nước và được bảo đảm bằng pháp luật Nhà nước dùng quyền lực để bảo đảm nguồn thu thuế cho NSNN
- Quản lý thu thuế đối với lĩnh vực thuế Ngoài quốc doanh là quá trình đảm bảo thực thi các chính sách thuế, do vậy đây là quá trình thực hiện quyền hành pháp và tư pháp về thuế Quản lý thu thuế bao gồm những hoạt động trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của các cơ quan thuế các cấp, với các chức năng và quyền hạn do luật định, nhằm đảm bảo thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua
- Quản lý thu thuế đối với lĩnh vực thuế Ngoài quốc doanh gắn liền với cơ quan thuế - một tổ chức Nhà nước có tư cách pháp nhân công quyền Chủ thể quản lý thu thuế trực tiếp là các cơ quan quản lý thuế các cấp được Nhà nước giao trách nhiệm và quyền hạn trực tiếp thu thuế
Theo luật quản lý thuế, quản lý thu thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội thì quản lý thuế Khu vực kinh tế NQD là việc thực hiện các quy trình theo từng chức năng quản lý thuế, trong mỗ i quy trình đó, có thể có các quy trình nhỏ hơn để thực hiện từng công việc cụ thể của một chức năng quản lý thuế:
Trang 281.2.1 Quản lý đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế
Quy trình này là khâu đầu tiên trong công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, quản lý quá trình đăng ký, kê khai và nộp thuế, nội dung cụ thể như sau:
- Đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho DN: bao gồm việc nhận và
xử lý hồ sơ đăng ký thuế, cấp mã số thuế cho các DN mới thành lập
- Quản lý mã số thay đổi của DN: đây là hoạt động xử lý thông tin thay đổi của DN trong quá trình hoạt động SXKD như thay đổi địa điểm kinh doanh, thay đổi loại hình DN, thay đổi tổ chức DN, thay đổi ngành nghề kinh doanh.v.v [20]
- P hát hiện những đối tượng tiềm năng không đăng ký thuế, không
kê khai, không đăng ký thuế thay đổi và xác định xử lý vi phạm về đăng
ký thuế
- Nhận và kiểm tra các bản khai thuế, chứng từ nộp thuế: cơ quan thuế nhận tờ khai và chứng từ của DN và xử lý thông tin trên tờ khai và chứng từ nộp thuế; kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của các thông tin do
DN ghi trên các tờ khai, lưu trữ thông tin và cung cấp thông tin cho quản
lý thu thuế
- T heo dõi đôn đốc DN kê khai và nộp thuế tự nguyện, đầy đủ, kịp thời theo quy định của luật thuế Đây chính là công cụ hỗ trợ và nhắc nhở bao gồm đôn đốc trước, trong và sau kê khai
- Xử lý kế toán thuế và kê khai thuế: cơ quan thuế xác định hành
vi, mức độ vi phạm của ĐTNT về kê khai thuế và xác đ ịnh mức độ xử phạt
- Các hoạt động điều chỉnh nhằm đảm bảo sự tuân thủ kê khai và
kế toán thuế: cơ quan thuế điều chỉnh tờ kha i của DN cho phù hợp với thực tế và đảm bảo thực hiện chính xác các nguyên tắc kế toán thuế nhằm tính đúng nghĩa vụ thuế của DN
Trang 29- Quy trình nộp thuế
+ Đối với người nộp thuế theo phương pháp khóan: Định kỳ theo
thời gian, trên cơ sở những qui định trong các luật thuế và hoạt động sản xuất k inh doanh, các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra tờ khai và tính thuế, sau đó ra thông báo số thuế phải nộp và gửi cho đối tượng nộp thuế Trong khoảng thời hạn theo thông báo, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuế theo thông báo vào Kho bạc Nhà nước
+ Người nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế: Khác với qui
trình trên đây, định kỳ theo thời gian hoặc theo chuyến hàng, các đối tượng nộp thuế tự kê khai, tính và nộp thuế vào KBNN Với phương thức này, nhiệm vụ của cơ quan thuế sẽ đơn giản hơn nhiều Tuy nhiên, phương thức này sẽ chỉ mang lạ i kết quả tốt khi mọ i người đã nắm vững
và tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tính pháp lý của các luật thuế cao và công tác kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện
thường xuyên, có hiệu quả
+ Xử lý vi phạm về nộp thuế: cơ quan thuế tính tiền phạt nộp chậm
đối vớ i các khoản thuế quá hạn theo quy định
- Lập dự toán thu thuế: là việc xác định số phải thu trên địa bàn của năm tiếp theo dựa trên các yếu tố sau:
+ Phân tích biến động kinh tế xã hội, sự thay đổi các chính sách
thuế, tình hình hoạt động trên thực tế của các DN
+ Căn cứ số thực tế đã thu quan các năm
+ Phân tích khả năng nguồn lực có thể huy động cho hoạt động
quản lý thu thuế
+ Xác định khả năng thu thực tế của năm ngân sách và những năm
tiếp theo
Trang 301.2.2 Quản lý thông tin người nộp thuế
Mục tiêu của quản lý thông tin người nộp thuế là để phục vụ công tác quản lý thuế của cơ quan thuế và cung cấp thông tin cho các cơ quan quản
lý nhà nước phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện v i phạm pháp luật về thuế
Nội dung quản lý thông tin ngườ i nộp thuế là việc quản lý những thông tin, tà i liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Thực chất của công việc này là quản lý số lượng và căn cứ tính thuế của người nộp thuế đang hoạt động kinh doanh trên đ ịa bàn
1.2.3 Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
- Tuyên truyền: Mục tiêu của công tác tuyên truyền là tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của người nộp thuế, tăng cường tính tự nguyện tuân thủ của người nộp thuế Đồng thờ i giảm chi phí quản lý hành chính thuế như các chi phí thanh tra, cưỡng chế thuế Các hình thức tuyên truyền :
+ Đánh giá cao những người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ thuế
thông qua đó nâng cao tinh thần và khuyến khích sự tuân thủ của các người nộp thuế khác bằng hình thức tổ chức khen thưởng, tuyên dương người nộp thuế
+ Phát triển các chương trình tuyên truyền phổ biến qua các
phương tiện thông tin đạ i chúng để giúp người nộp thuế hiểu các ngh ĩa vụ
và quyền lợi của họ Thúc đẩy sự công bằng trong đố i xử là sự tác động tích cực đối với cộng đồng các DN
+ Tuyên truyền bằng trực quan
- Hỗ trợ: Dịch vụ hỗ trợ tư vấn là các dịch vụ thông tin mà cơ quan
thuế cung cấp cho người nộp thuế để họ có thể hoàn thành nghĩa vụ thuế
Trang 31Mục tiêu của dịch vụ hỗ trợ và tư vấn tạo điều kiện người nộp thuế cho nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ thuế, đảm bảo cho họ có những kiến thức cần thiết để tuân thủ thuế Giảm thiểu các chi phí không cần thiết do
th iếu thông tin về hệ thống thuế và quá trình tuân thủ Đảm bảo người nộp thuế sẽ được đối xử công bằng và tôn trọng trong quá trình tuân thủ thuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế Giảm sai sót trong quá trình khai thuế, nộp thuế Nội dung hỗ trợ:
+ Cung cấp đầy đủ các thông tin về luật thuế có liên quan đến
nghĩa vụ thuế, thông tin về các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế và những thông tin cần th iế t về quy trình tuân thủ thuế
+ Hỗ trợ và tư vấn hoàn thành các thủ tục đăng ký kê khai thuế,
các thủ tục để quyết toán thuế, hoàn thuế và các thắc mắc khác của người nộp thuế trong quá trình tuân thủ
+ Hình thức hỗ trợ và tư vấn
Tư vấn trực tiếp: sự “gặp mặt” với người nộp thuế nhằm cung
cấp những thông tin tư vấn về thuế và cách tổ chức kinh doanh sẽ mang lại lợi ích cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế Tư vấn trực tiếp có thể thực hiện theo các hình thức:
Cán bộ thuế sẽ hỗ trợ tại trụ sở người nộp thuế hay tại cơ quan thuế Những cán bộ thuế này có khả năng cho những lời khuyên đối với việc đăng ký, lưu giữ số liệu và những yêu cầu về kê khai thuế
Tư vấn theo nhóm đối tượng: là sự hướng dẫn giả i thích cho một
nhóm đối tượng có nhu cầu hỗ trợ giống nhau Hình thức này có hiệu quả trong tư vấn những vấn đề chung chung, vì vậy thường thích hợp trong tư vấn về chính sách thuế mới hay hướng dẫn cho người nộp thuế mới thành lập
Tổ chức tập huấn cho các DN mới thành lập
Trang 32Hỗ trợ và tư vấn gián tiếplà thông qua các công cụ và phương
tiện tư vấn như: Xuất bản ấn phẩm tư vấn miễn phí, phát triển mạng thông tin thuế bao gồm nh iều thông tin cho các DN, tư vấn qua thư điện tử, tư vấn và hỗ trợ qua dịch vụ điện thoại, tư vấn bằng hộp thư thoại tự động chỉ thích hợp giới th iệu vắn tắt các chính sách thuế
1.2.4 Thanh tra, kiểm tra thuế
- Mục đích, yêu cầu của thanh tra, kiểm tra thuế : Là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế, thanh tra, k iểm tra thuế được thực hiện, trước hết, bởi hệ thống các cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về thuế Ngoài ra, thanh tra, kiểm tra thuế còn được thực hiện bởi
sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan
Đối tượng của thanh tra, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và chính bản thân các đơn vị thuộc ngành thuế
Mặc dù qui mô và tính chất của các cuộc thanh tra, kiểm tra thuế không giống nhau, nhưng nhìn chung, thanh tra, kiểm tra thuế đều nhằm hướng vào các mục đích chủ yếu sau đây:
+ Phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật luế, như khai man, trốn thuế, nợ đọng thuế, chiếm dụng tiền thuế nhằm hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế cho Nhà nước
+ Đảm bảo nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các đối tượng nộp thuế và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế
+ Phát hiện những nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn đời sống, k inh tế, xã hội của đất nước, những điểm không hợp lý về công tác tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế, về các vấn đề nghiệp vụ của công tác hành thu, từ đó kiến ngh ị các cơ quan
Trang 33chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời để không ngừng hoàn thiện hệ thống thuế
Để đạt được các mục tiêu trên đây, công tác thanh tra, kiểm tra thuế phải quán triệt một số yêu cầu cơ bản sau đây:
+ Phải đảm bảo tính khách quan, trung thực trong xem xét các sự việc và đưa ra các kết luận sau những cuộc thanh tra, k iểm tra Ngườ i làm thanh tra, kiểm tra tuyệt nhiên không được lồng tư tưởng cá nhân, phiến diện, không bị một sức ép quyền lực nào khi xem xét, giải quyết các sự vụ trong thanh tra, kiểm tra
+ Thanh tra, k iểm tra thuế nhất thiết phả i dựa trên tư tưởng pháp trị,
có nghĩa là mọi cuộc thanh tra, kiểm tra thuế đều phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của Nhà nước, lấy đó làm chuẩn mực cho việc đánh giá, suy xét các sự kiện, các vụ việc được thanh tra
+ Các cuộc thanh tra, kiểm tra phải đảm bảo tính chính xác, rõ ràng trong các kết luận về vụ việc thanh tra, k iểm tra
- Nội dung thanh tra, k iểm tra thuế : Nội dung thanh tra, k iểm tra thuế đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân là đố i tượng nộp thuế, có những điểm khác biệt nhất định với nội dung thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức các tổ chức được giao nhiệm vụ làm công tác quản lý, thu thuế
+ Đối với các tổ chức và cá nhân là đố i tượng nộp thuế:
Nội dung thanh tra, k iểm tra đối vớ i đố i tượng nộp thuế tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:
Thanh tra, kiểm tra v iệc chấp hành những quy định về đăng ký, kê
khai nộp thuế Việc đăng ký kinh doanh, kê khai nộp thuế, trước hết là trách nh iệm của các tổ chức kinh tế và cá nhân có thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh Tuỳ theo từng luật thuế mà có những yêu cầu khác
Trang 34nhau về các tiêu thức kê khai cụ thể Song nhìn chung, các tiêu thức chủ yếu mà các đối tượng phải kê khai là :
Kê khai về địa điểm, tính chất ngành nghề, mặt hàng k inh doanh
Kê khai về tình hình vốn, tài sản, lao động, doanh số, chi phí sản xuất k inh doanh của đơn vị
Kê khai v iệc sử dụng hình thức sổ sách kế toán
Kê khai về tài khoản giao dịch
Nhiệm vụ của thanh tra, kiểm tra thuế trong việc xem xét đăng ký kinh doanh, kê khai nộp thuế là xác định tính đúng đắn, độ chính xác của các tờ khai với tình hình thực tế kinh doanh của cơ sở, phát hiện những
sa i sót và những điều bất hợp lý tron g những tờ khai của người nộp thuế
T hanh tra, kiểm tra v iệc chấp hành chế độ thống kê - kế toán, hoá đơn - chứng từ Sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ phản ánh tình hình thực tế trong sản xuất k inh doanh của các cơ sở, là những căn cứ không thể th iếu được để tính thuế cho các đối tượng nộp thuế T rong thực tế, nhiều đối tượng nộp thuế đã lợi dụng hoá đơn, chứng từ để trốn lậu thuế, gây th iệ t hạ i cho ngân sách Nhà nước Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, Nhà nước thường đưa ra những quy định chặt chẽ về v iệc thực h iện chế độ thống kê, kế toán, chế độ sử dụng hoá đơn, chứng từ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở Thanh tra, kiểm tra thuế có nhiệm vụ đố i ch iếu những quy định đó với tình hình áp dụng chế độ thống
kê, kế toán thực tế của các đơn vị để tìm ra những sai sót Đồng thờ i còn kiểm tra tính chính xác của các số liệu kế toán được sử dụng làm căn cứ tính thuế nhằm khắc phục tình trạng gian lận trong v iệc kê khai và tính thuế của cơ sở
T hanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước Dựa vào thông báo thuế do cơ quan thuế gử i đến, đối tượng nộp thuế phải có nghĩa vụ nộp đầy đủ số tiền thuế vào ngân sách Nhà nước
Trang 35theo đúng thời hạn ghi trong thông báo thuế Trong trường hợp áp dụng quy trình quản lý theo đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính và nộp thuế, thanh tra, kiểm tra thuế sẽ dựa vào những quy định trong các luật thuế và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước để thanh tra, k iểm tra việc tính và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân, các đơn vị sản xuất k inh doanh nhằm đảm bảo nộp đủ, kịp thời số thu cho ngân sách Nhà nước
+ Đối với các đơn vị trong nội bộ ngành thuế: Căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong ngành thuế, nội dung thanh tra, kiểm tra đối với các đơn vị này chủ yếu tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:
Thanh tra, kiểm tra v iệc tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn chấp
hành các luật thuế Dựa trên những văn bản pháp quy về thuế do Nhà nước ban hành, cơ quan thuế, với tư cách là cơ quan Nhà nước được giao trách nhiệm tổ chức thực thi các luật thuế đến mọi tầng lớp dân cư, kể cả người nộp thuế và người không nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý, các cơ quan này phải xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các luật thuế Thanh tra, k iểm tra thuế trong trường hợp này phải tập trung vào v iệc:
Thanh tra, kiểm tra công tác tổ chức tuyên truyền các luật thuế
(hình thức, nội dung tuyên truyền)
Thanh tra, k iểm tra nội dung các văn bản hướng dẫn của đơn vị
thuộc ngành thuế
Với nội dung này, thanh tra, kiểm tra thuế tập trung vào các vấn đề: Một là, thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ quy trình và sự phối hợp giữa các
bộ phận trong cơ quan thuế khi thực hiện quy trình quản lý thu thuế Hai
là, thanh tra, kiểm tra v iệc thực hiện các nghiệp vụ cụ thể của quá trình hành thu (đăng ký thuế, tính thuế, xét miễn, giảm thuế, quản lý và sử dụng
Trang 36ấn chỉ ) Ba là, thanh tra, kiểm tra việc giả i quyết các khiếu kiện và xử
lý các vi phạm về thuế
Việc xác định đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế dựa trên kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế của người nộp thuế lưu tại cơ quan thuế Hàng tháng bộ phận thanh tra, k iểm tra kiểm tra phân tích tất cả các dữ liệu do doanh nghiệp kê khai, trong quá trình k iểm tra tại cơ quan thuế nếu thấy
có những nội dung người nộp thuế kê khai chưa đúng cơ quan thuế ban hành thông báo đề nghị giải trình T rong trường hợp người nộp thuế giải trình có cơ sở và phù hợp với quy định thì chấp nhận, trường hợp việc giải trình của người nộp thuế chưa rõ và không đúng với quy định của Luật thuế thì cơ quan thuế ban hành thông báo giả i trình lần hai Trường hợp người nộp thuế giải trình được thì chấp nhận, nếu không giải trình được thì cơ quan thuế ban hành quyết định thanh, tra k iểm tra tạ i đơn vị theo quy định của các Luật thuế và Luật quản lý thuế
- Các hình thức thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
+ Theo nội dung: bao gồm thanh tra, k iểm tra việc chấp hành những
quy định về đăng ký thuế, kê khai nộp thuế; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ thống kê, kế toán, hoá đơn và chứng từ; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện ngh ĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
+ Theo thời gian tiến hành: bao gồm thanh tra, k iểm tra thường
xuyên; thanh tra, k iểm tra đột xuất;
+ Theo phạm vi: bao gồm thanh tra, kiểm tra toàn diện; thanh tra,
kiểm tra có trọng điểm
1.2.5 Thu nợ, cưỡng chế thuế và xử phạt về thuế
Mục tiêu của công tác cưỡng chế thu nợ thuế là kịp thời phát hiện và
xử lý các đối tượng nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và các
Trang 37khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN, phù hợp với pháp luật thuế
- Nợ thuế là số tiền thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước
- Phân loại nợ thuế nhằm xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi
nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu
nợ thuế có hiệu quả Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ thuế dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo các tiêu thức đã phân tích, công chức được phân công theo dõi quản lý nợ tiến hành phân loại nợ như sau: Nợ khó thu, nợ chờ xử lý, nợ có khả năng thu.[19]
- Cưỡng chế thuế là việc cơ quan thuế áp dụng các biện pháp hành chính để thực th i các quyết định hành chính của cơ quan thuế đã ban hành nhưng người nộp thuế cố tình không thực hiện
- Các trường hợp bị cưỡng chế:
+ Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt v i phạm pháp luật về thuế
đã quá chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, nộp tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định
+ Người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế
+ Ngườ i nộp thuế còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn
- Các hình thức cưỡng chế thu nợ thuế và hình phạt thuế:
+ Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; yêu cầu phong toả tài khoản;
+ Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;
Trang 38+ Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu đủ tiền thuế, tiền phạt;
+ Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ;
+ Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu;
+ Thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hóa đơn;
+ Thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.[17]
- Xử lý vi phạm về thuế là việc cơ quan thuế áp dụng các hình thức xử
lý vi phạm hành chính hoặc chuyển cơ quan chức năng xử lý hình sự khi người nộp thuế vi phạm các quy định của Luật thuế làm thất thu cho Ngân sách nhà nước Hình thức xử lý vi phạm hành chính là: phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác Các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế gồm:
+ Vi phạm các thủ tục thuế
+ Chậm nộp tiền thuế
+ Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
+ Trốn thuế, gian lận thuế
1.2.6 Xử lý khiếu nại và tố cáo các vấn đề về thuế
- Khiếu nại là việc người nộp thuế, tổ chức, cá nhân đề nghị cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại quyết định của cơ quan quản lý thuế, hành vi hành chính của công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Tố cáo là việc người nộp thuế đề nghị cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại các hành vi vi phạm pháp
Trang 39luật về thuế của người nộp thuế, công chức quản lý thuế hoặc tổ chức, cá nhân khác g©y thiÖt h¹i hoÆc ®e do¹ g©y thiÖt h¹i lîi Ých cña Nhµ n−íc, quyÒn, lîi Ých hîp ph¸p cña c«ng d©n
- Xử lý khiếu nại, tố cáo là việc cơ quan thuế phải thực hiện giải quyết giải quyết các yêu cầu của người nộp thuế theo quy trình như: nhận các đơn từ, phân tích hồ sơ và kết quả xử lý có liên quan đến khiếu nại, tố cáo thu thập bằng chứng, tổ chức thẩm tra, phúc tra và xử lý kết quả kh iếu nại, tố cáo
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ NQD
Thứ nhất, nội dung của các sắc thuế: Nếu nội dung của các sắc thuế
quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế rườm rà sẽ khó khăn cho cả cán bộ thuế và các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các quy định về thuế
Thứ hai, trình độ hiểu biết về thuế và ý thức chấp hành luật thuế của các doanh nghiệp NQD: Nếu các doanh nghiệp NQD thực sự hiểu biết pháp
luật về thuế, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế sẽ cao Ngược lại, các doanh nghiệp NQD sẽ không hiểu biết về thuế thì ý thức chấp hành chính sách thuế kém thường dẫn đến các hành vi trốn thuế, gian lận về thuế, thậm chí còn thờ ơ, khuyến khích, đồng tình những tổ chức, cá nhân khác cùng vi phạm
Quản lý thu thuế ở nước nào cũng gặp khó khăn là: một số doanh nghiệp cố ý, tìm mọi thủ đoạn, dưới mọi hình thức gian lận các khoản tiền thuế phải nộp Các doanh nghiệp này không những không nộp thuế mà còn tìm cách chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước thông qua việc kê khai khống giá mua hàng, nhất là hàng xuất khẩu để được hoàn thuế Tình trạng trốn, lậu thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến ở nhiều khoản thu và diễn ra ở các địa bàn khác nhau, vừa làm thất thu cho ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội và đưa quản lý thu thuế vào nề nếp
Trang 40Thứ ba, các qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế xã hội tạo cơ sở cho quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD: Các qui định như: quản
lý thanh toán không dùng tiền mặt, quản lý xuất nhập khẩu của cơ quan hải quan, quản lý xuất nhập cảnh của cơ quan công an, quản lý đăng ký kinh doanh của cơ quan kế hoạch và đầu tư không được ban hành đồng bộ và triển khai thực hiện tốt; môi trường kiểm toán, kế toán còn nhiều hạn chế, trách nhiệm pháp lý chưa cao sẽ làm hạn chế rất nhiều đến kết quả quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD
Thứ tư, kinh tế phát triển mạnh là điều kiện thuận lợi để tăng thu cho
ngân sách nhà nước Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế sẽ làm cho số lượng và quy mô kinh doanh của người nộp thuế sẽ tăng, nếu việc quản lý của cơ quan nhà nước không theo kịp sự phát triển này thì dễ xảy ra tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước
Thứ năm, bộ máy và công tác cán bộ của ngành thuế: Bộ máy tinh gọn
hoạt động hiệu quả gắn kết với đội ngũ cán bộ ngành thuế có năng lực chuyên môn cao có đạo đức nghề nghiệp thì công tác quản lý thuế sẽ hiệu qủa, ngược lại sẽ làm cho công tác thuế trì trệ gây thất thu cho ngân sách nhà nước
Thứ sáu, hệ thống các phương tiện tác nghiệp của cơ quan thuế cũng
tác động rất lớn đến công tác quản lý thuế, nếu hệ thống cơ sở vật chất hiện đại (hệ thống máy tính), phương tiện tác nghiệp tốt thì góp phần rất lớn vào công tác quản lý thuế
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ T HUẾ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của Chi cục thuế Tam Kỳ
Chi cục thuế Tam Kỳ với số thu lớn trong những năm qua luôn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước với số thu năm sau cao hơn năm trước, góp phần quan trọng giữ vững ổn định tài chính vĩ mô, động viên nguồn lực phục vụ cho phát triển, giải quyết được nhiều vấn đề xã hội như