1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại lợn bình minh, xã phù lưu tế huyện mỹ đức thành phố hà nội và phác đồ điều trị

76 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 860,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những bệnh gây tổn thương cho lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy di

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Thái Nguyên - năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa

Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Công

ty cổ phần Bình Minh, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Tình hình mắc

bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại tại trại lợn bình minh, xã Phù Lưu

Tế, huyện Mỹ Đức, Thành Phố Hà Nội và phác đồ điều trị”

Qua 6 tháng thực tập tại cơ sở cũng như trong suốt thời gian học tập tại

trường, nhờ sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân,

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Lời đầu tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban

Giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm

khoa Chăn nuôi Thú y, tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dạy dỗ và dìu

dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với Thầy giáo TS Trần

Văn Thăng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực

tập tại cơ sở và trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Nhân dịp này, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bác Nguyễn Sỹ

Bình - Giám đốc Công ty cổ phần Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội, cùng toàn

thể gia đình và toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty đã tạo điều kiện và

giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn động

viên, giúp đỡ em về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập

tại trường, thực tập tại cơ sở và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh Viên

Lâm Thị Sáu

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 34

Bảng 3.2 Sơ đồ thử nghiệm hai phác đồ điều trị 35

Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh trại lợn nái 40

Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vắc xin trong trại 41

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 48

Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 50

Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi 52

Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái 53

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng động dục trở lại và phối giống sau cai sữa lợn con 54

Bảng 4.8 Sơ bộ hoa ̣ch toán chi phí điều tri ̣ bê ̣nh viêm tử cung 57

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở trong 2 năm 2015-2016 6

2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục và đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái 8

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái 17

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 33

3.1 Đối tượng 33

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33

3.3 Nội dung tiến hành 33

3.4 Phương pháp tiến hành 33

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 33

3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập số liệu 33

3.4.3 Thử nghiệm hai số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 34

3.4.4 Một số công thức tính toán các chỉ tiêu theo do 36̃i 3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

Trang 7

v

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37

4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 37

4.1.2 Công tác vệ sinh thú y 39

4.1.3 Công tác thú y 41

4.1.4 Các công tác khác 48

4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề nghiên cứu 49

4.2.1 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 49

4.2.2 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo các tháng theo dõi 52

4.2.3 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ điều trị 53

4.2.4 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng động dục trở lại và phối giống sau cai sữa lợn con 54

4.2.5 Sơ bộ hoa ̣ch toán chi phí điều tri ̣ bê ̣nh viêm tử cung 56

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Các trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp hiện này đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến và áp dụng quy trình vệ sinh phòng bệnh nghiêm ngặt Tuy nhiên, trong chăn nuôi lợn đặc biệt là chăn nuôi lợn nái sinh sản vẫn gặp phải không ít khó khăn, làm trở ngại đến năng suất

và hiệu quả của chăn nuôi Một trong những khó khăn và trở ngại đó là tình hình dịch bệnh trên đàn lợn vẫn xảy ra như dịch tiêu chảy cấp, bệnh về đường

hô hấp, bệnh sản khoa, Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những bệnh gây tổn thương cho lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản ở lợn nái Khi lợn bị bệnh viêm tử cung nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến hậu quả như: mất sữa, chậm động dục trở lại sau cai sữa, tỷ lệ thụ thai thấp và tăng tỷ lệ

Trang 9

Để thấy được thực trạng tình hình mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái sinh sản và tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất, chúng tôi tiến hành

thực hiện đề chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

Trang 10

3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở nơi thực tập

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Xã Phù Lưu Tế nằm trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam Phù Lưu Tế là xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Mỹ Đức có vị trí địa lý như sau:

- Phía Đông giáp xã Phùng Xá

- Phía Tây giáp xã Xuy Xá,

- Phía Nam giáp thị trấn Đại Nghĩa,

- Phía Bắc giáp xã Hòa Xá của huyện Ứng Hòa,

2.1.1.2 Điều kiện địa hình, đất đai

Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 6.71km2

Trong đó, đất nông nghiệp là 318.36 ha, chiếm 47.45%, đất phi nông nghiệp là 333.82 ha (chiếm 49.75%), đất chưa sử dụng

là 18.81 ha (chiếm 2.8%) Đất đai đa dạng, màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết

Xã Phù Lưu Tế nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 - 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 8 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữa các mùa

Trang 11

4

- Độ ẩm không khí: là xã nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh về mùa Đông, nóng ẩm về mùa Hè Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82% Độ ẩm cao nhất là 88% và thấp nhất là 67%

- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,157 mm, thấp nhất là 1,060 mm, trung bình là 1,567 mm, lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng

9 trong năm

- Về chế độ gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau

2.1.1.4 Điều kiện giao thông

Giao thông ở đây khá phát triển và thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu của người dân địa phương Hầu hết các tuyến đường đã được rải nhựa hoặc rải cấp phối Ở các thôn còn xây dựng các tuyến đường tự quản Hiện nay, xã đang nâng cấp tuyến đường 430, đoạn đường chạy ra trục 21B đi Hà Nam

2.1.1.5.Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của ông Nguyễn Sỹ Bình nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, Công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

- Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trang trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1.200 nái bao gồm các hạng mục công trình như: 6 chuồng đẻ,

Trang 12

5 mỗi chuồng có 56 ô, kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô; 2 chuồng bầu, mỗi chuồng

có 560 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô; 3 chuồng cách ly; 1 chuồng đực giống

và một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Hệ thống chuồng trại được xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; có 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, 2 quạt đối với chuồng cách ly và 2 quạt đối với chuồng lợn đực giống Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu vực phục

vụ chăn nuôi đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước cung cấp cho khu chăn nuôi là nguồn nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng bầu 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Cơ cấu nhân sự của trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại, 01 quản lý trại, 03 quản lý kỹ thuật, 01 kế toán, bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại, 10 công nhân và 19 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

Trang 13

6

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở trong 2 năm 2015-2016

2.1.2.1 Đối tượng sản xuất kinh doanh của trại

Đây là trang trại lợn nái sinh sản với quy mô là 1.200 lợn nái nên đối tượng sản xuất kinh doanh của trại là lợn con giống Yorkshire và Landrae

2.1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của trang trại

a Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,50 lứa/năm

Số con sơ sinh là 11,23 con/ổ, số con cai sữa 10,7 con/ổ Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của công ty chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại lợn giống của Công ty

Trong trại có 23 con lợn đực giống được chuyển về cùng một đợt, các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái

và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ hai giống lợn Landrace và Yorkshire Lợn nái khi động dục được phối giống 3 lần, cách nhau 6 giờ và được luân chuyển đực giống để tránh giao phối cận huyết

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,

do Công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

b Công tác thú y

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông Hàng ngày, luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động để đảm bảo tuyệt đối vô trùng trước khi vào chuồng trại chăn nuôi

Trang 14

7

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, để đảm bảo an toàn

và tránh lây lan mầm bệnh, công nhân chăn nuôi nên hạn chế đi lại giữa các chuồng; hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột; các phương tiện như ô tô, xe máy muốn vào trong trang trại đều phải được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào

Quy trình phòng bệnh cho lợn bằng vacxin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vacxin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vacxin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh

nên hiệu quả điều trị đạt từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn

2.1.2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại

Theo số liệu thống kê từ hệ thống sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn của trại 6 tháng năm 2016 được thể hiện ở bảng 2.1 và cơ cấu đàn lợn của trại 2 năm 2015-2016 thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn của trại qua 6 tháng năm 2016

Trang 15

2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục và đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái

2.2.1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái

Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và

cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong

Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy được nhưng bằng phương pháp gián tiếp người ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau

* Âm môn (vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi

* Âm vật (clitoris)

Âm vật của con cái được cấu tạo giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại, bên trong có các thể hổng Trên âm vật có các nếp da tạo

Trang 16

9

ra mũ âm, ở giữa âm vật gấp xuống dưới là chỗ tập trung các đầu mút các dây thần kinh

* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)

Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

* Âm đạo (vagina)

Âm đạo là một ống tròn, trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:

Lớp liên kết bên ngoài

Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung

Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm

* Tử cung (uterus)

Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung

Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau

do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002) [16]

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc

Trang 17

10

* Ống dẫn trứng

Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh

và phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng

đã có khoảng 60.000 trứng non Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

a Sự thành thục về tính

Thành thục về tính là tuổi con vật có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài

Trang 18

11 của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ thẫm và keo dính Tương ứng

là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có

sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch

b Chu kỳ tính

Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện

ra bên ngoài có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu

Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng, các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ

Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày, biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày

c Khoảng cách giữa các lứa đẻ

Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên như thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/ nái/ năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi

Trang 19

12

Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dƣỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/ nái/ năm

Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày lợn mẹ đƣợc phối giống lại Nhƣ vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất đƣợc 2,5 lứa

d Sinh lý quá trình mang thai và đẻ

* Sinh lý mang thai

Có thai là một hiện tƣợng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó bắt đầu từ khi trứng đƣợc thụ tinh đến khi đẻ xong Trong thực tế, sự có thai của gia súc đƣợc tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào điều kiện và các yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dƣỡng, sức khỏe

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], ở lợn thời gian mang thai dao động là 110 - 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày

+ Quá trình phát triển của phôi thai

Quá trình phát triển của bào thai có thể chia làm ba thời kỳ:

- Thời kỳ thứ nhất - thời kỳ trứng: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng đƣợc thụ tinh đến khi hình thành nang phôi - túi phôi

- Thời kỳ thứ hai - Thời kỳ phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 - 40

- Thời kỳ thứ ba - Thời kỳ bào thai: Là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh đẻ Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh

Trang 20

13 + Sự điều hòa thần kinh - thể dịch ở thời kỳ mang thai

Điều hòa sự phát triển của bào thai đảm bảo sự thống nhất của các hoạt động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do sự điều tiết thần kinh - thể dịch

Điều tiết thần kinh: Bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: Niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố dễ gây sảy thai ở thời điểm này

Điều tiết thể dịch: Có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesterone

là hormone an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Ở lợn progesterone chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là chủ yếu (Trần Tiến Dũng, 2004) [8]

+ Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai

- Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai:

Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất, của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai Trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng 15 - 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3 - 4 kg là protein) Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 - 1,3 lần so với trước khi phối giống

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], trường hợp thiếu canxi và photpho nghiêm trọng thì gia súc mẹ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn đến hiện tượng đẻ khó Canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần

Trang 21

14 Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu cung cấp ôxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số

hô hấp của mẹ tăng lên và có khi có biểu hiện trạng thái thở dốc Dưới tác dụng chèn ép cơ học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng hai chân sau Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi lần ít

- Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục

Buồng trứng: Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng

Tử cung: Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi

về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích, dây chằng tử cung dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung ( không kể thai ) nặng tới 2,5 - 6 kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 - 0,5 kg

* Sinh lý quá trình đẻ

Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triển đầy đủ, gia súc mẹ đẩy thai ra ngoài cùng với màng nhau, dịch thai Quá trình đó gọi là đẻ Thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tử cung

mở hoàn toàn đến khi thai ra khỏi cơ thể mẹ và số lượng bào thai ra hết ở những loài gia súc đa thai Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], ở lợn thời gian đẻ là từ 2 - 6 giờ

Trang 22

15 + Những biểu hiện của cơ thể mẹ trong thời gian gần sinh đẻ

Quá trình sinh đẻ của gia súc là quá trình sinh lý bình thường Cho nên cuối thời kỳ mang thai gia súc có những biểu hiện của quá trình sinh đẻ, chủ yếu là đường sinh dục và bầu vú

tử cung, kết quả làm mở rộng cổ tử cung Nhưng phải nhờ vào sự co bóp của

cơ ở bụng, hoành cách mô và toàn thân để đẩy thai ra ngoài

Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong kỳ 1 nhưng nói chung cơn rặn

Trang 23

16 này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặn lại dài từ 10 - 15 phút, mỗi cơn rặn thường từ 2 - 3 phút Nếu con mẹ rặn liên tục thì mạch máu của bào thai chèn ép, tuần hoàn đình trệ, dưỡng khí cung cấp cho thai yếu, thai ra chậm có thể bị ngạt

Cường độ co bóp chuyển từ sừng tử cung xuống thân tử cung, đến cổ tử cung ra ngoài âm đạo Nước ở trong tử cung và màng thai dồn ép ra ngoài, cổ

tử cung lúc này đã mở, màng thai một phần đã lọt ra ngoài Cùng với sức co bóp của tử cung tăng lên, màng thai tiếp tục chui ra, ép vào cổ tử cung làm cho cổ tử cung càng mở rộng Khi cổ tử cung đã mở rộng thì một phần của thai chui ra, lúc này giữa cổ tử cung và âm đạo không còn ranh giới nữa Cùng lúc thai ra ngoài có hiện tượng vỡ ối, màng ối và màng niệu vỡ ra Thứ

tự màng niệu vỡ trước, màng ối vỡ sau, nước ối và nước niệu đều ra cùng với màng ối, màng niệu cũng góp phần cho cổ tử cung mở rộng hoàn toàn đồng thời làm trơn đường sinh dục, cho thai đi ra ngoài dễ dàng

- Thời kỳ đẻ hay còn gọi là sổ thai

Thời kỳ này bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Ở thời kỳ này thai qua cổ tử cung và đi vào âm đạo Nếu đẻ bình thường, bộ phận ra trước nhất là chân và đầu Lúc này gia súc cái bồn chồn, đứng nằm không yên, có con chân sau đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn

Khi đầu của thai đã đi vào hố chậu, gia súc cái lại nằm xuống Đặc điểm là sức co bóp của tử cung trong thời kỳ này mạnh vì thân của thai tiếp xúc niêm mạc âm đạo, gây ra một ma sát lớn Trong lúc này gia súc thường kêu do bị đau vì dịch ối, dịch niệu chảy ra hết, thân thai tiếp giáp vào niêm mạc âm đạo

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], lợn rặn đẻ khác với gia súc khác, tử cung

co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng đoạn Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan đến đầu nhọn của sừng tử cung Hai sừng tử cung thay nhau co

Trang 24

17 bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, cũng có khi đứng lên nhưng lại nằm xuống ngay, màng thai của lợn không lòi ra ngoài âm hộ, nước ối ít, thai lợn

ra từng con một, sau mỗi lần rặn thường thai lợn ra dễ dàng

- Thời kỳ sổ nhau ( hay gọi là bong nhau )

Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục của gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,2 - 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng cường độ lúc này yếu hơn

Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ thì tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơn rặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là đưa nhau thai ra ngoài

Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra ngoài, do đặc tính của tử cung

co bóp từ mút sừng tử cung tới thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước, sau đó bong dần xuống sừng

tử cung, thân tử cung và ra ngoài

Thời gian bong nhau thai của các gia súc khác nhau do đặc điểm cấu tạo của núm nhau con và núm nhau mẹ trên niêm mạc tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], lợn sau khi thai ra hết toàn bộ, khoảng 10 – 50 phút nhau thai mới ra Nhau thai của lợn ra chia thành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chứa trong một sừng tử cung

2.2.2 Những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái

2.2.2.1 Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung

Lợn nái sinh sản đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ

Trang 25

18

các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cs (1995) [9], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm

tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao,… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung

Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:

Trang 26

19

* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý

Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung

Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây xát

Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung

Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau

* Chăm sóc quản lý vệ sinh

Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn

đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng

đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái

Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại, cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm

* Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung

* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe

Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung hơn Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung

Trang 27

20

* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh

Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động

của ruột kém

Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh

Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung,

âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung

2.2.2.2 Quá trình viêm tử cung

Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định

các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh

Sau khi quan sát hiện tượng di động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại các vật kích thích viêm gọi là hiện tượng thực bào (phagocytosis) Viêm gây tổn thương các mạch quản, tổ chức liên kết và hệ thần kinh đối với tính phản ứng của cơ thể

Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1], thì viêm là một phản ứng của cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật

Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào (Nguyễn Hữu Nam, 2005)[14]

Trang 28

21

* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm

Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:

+ Rối loạn chuyển hóa

+ Tổn thương ở mô bào

+ Dịch rỉ viêm

+ Tăng sinh ở mô bào

Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997) [10]

+ Các tế bào viêm

Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn

2.2.2.3 Phân loại viêm tử cung

a Viêm cổ tử cung (Cervitis)

Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược (Phạm Xuân Vân, 1982) [32]

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn, không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò

Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ

Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót

về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ

Trang 29

22 khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [7]

Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [25]

b Viêm tử cung

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [25]

Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], thì viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

* Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Madec và Neva (1995) [39], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái.Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung

Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn

thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Salmonella, Brucella, roi trùng xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt

khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn,

Trang 30

Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải

ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…

Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

+ Viêm nội mạc tử cung màng giả

Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…

Trang 31

24

* Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại

tử từng đám

Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối

* Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)

Theo Đặng Đình Tín (1986) [30], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng

Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ,

uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm

hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung

Trang 32

25 mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn

Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2.2.4 Các biện pháp phòng trị bệnh viêm tử cung

a Phòng bệnh

Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/ 1000

Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/ 1000 lên mình gia súc

Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng cồn, bôi trơn bằng valueline gel hoặc dầu thực vật Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/ 1000 hay nước muối sinh lý 9/

1000 hay Biocid - 30 1/ 2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2 - 5 g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,

b Biện pháp điều trị

Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật chóng hồi phục

Trang 33

26

+ Tiêm kháng sinh

Cách 1: Tiêm Amoxinject L.A: tiêm bắp liều 1 ml/ 10 kgTT/ ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp với Oxytocin tiêm vào mép âm môn 2 ml/ con/ ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày

Cách 2: Tiêm Pendistrep L.A: tiêm bắp 1 ml/ 10 kgTT/ ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày, kết hợp với Oxytocin tiêm vào mép âm môn 2 ml/ con/ ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày

+ Tiêm thuốc chống viêm: Dexamethasone, tiêm bắp 5 ml/ con/ ngày, dùng liên tục 3 ngày

+ Tiêm thuốc trợ sức: B.complex: tiêm bắp 1 ml/ 10 kgTT, Vitamin C tiêm bắp 1 ml/ 20 kgTT

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], điều trị bệnh viêm tử cung bằng cách dùng Benzil penicillin (Procain) 1.000.000 UI tiêm bắp Dùng Gentamycin Sulfate 200.000 UI tiêm bắp Điều trị 5 - 7 ngày

Theo Trần Minh Châu (1996) [4], điều trị bệnh bằng oxytocin và kháng sinh Ampicillin 25 mg/ 1 kgTT/ ngày hoặc Tetracylin 30 - 50 mg/ kgTT/ ngày cho kết quả điều trị tốt

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2001) [6], thụt rửa tử cung bằng Rivanol 0,1% mỗi ngày rửa một lần, mỗi lần 50 - 100 ml Sau đó dùng loại thuốc sau:

+ Tiêm bắp Kanamycin liều 10 mg/ kgTT/ ngày, ngày 2 lần

+ Tiêm bắp Gentamycin 4 UI/ kgTT/ ngày

+ Kanamycin bôi ngày 1 - 2 lần, kết hợp với uống 1 - 2 g/ 30 - 50 kgTT Uống liên tục trong 3 - 5 ngày Đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ Vitamin C, B Cafein cho kết quả tốt

Theo Lê Văn Năm (1997) [18], thụt rửa tử cung bằng dung dịch nước muối 1 – 2 % hay Streptocid 1%, thuốc tím KMnO4 0,05% (các loại thuốc hòa tan trong nước ấm 45 – 50 0

C) sau khi thụt rửa có thể dùng một số cách sau:

Trang 34

27

+ Tiêm bắp Canxifort liều 10 ml/ ngày/ 2 lần/ ngày

+ Bơm vào tử cung 1 triệu UI Penicillin hòa tan với 50 ml nước cất, ngày một lần cho kết quả tốt

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [19], cho biết: + Benzin Penicillin: 1.000.000 UI

+ Gentamycin: 200.000 UI

Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò đạt hiệu quả cao

+ Dùng viên nén Chlotetracylin: 1 viên đặt vào tử cung

Điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ, viêm tử cung, lộn tử cung, sót nhau

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2003) [11], dùng phác đồ điều trị:

+ Tiêm bắp Streptomycin: Dùng 15 - 20 mg/ kgTT Dùng liên tục từ 3

- 5 ngày (bệnh cấp tính), dùng 6 - 8 ngày (bệnh mãn tính)

+ Penicillin dùng 20.000 UI/ kgTT, dùng kết hợp với Streptomycin trong thời gian điều trị

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], dùng Oxytocin

20 - 40 UI/ con/ ngày Để dạ con co bóp, tống thải các chất ứ bẩn, dịch viêm

ra ngoài Thụt rửa âm đạo bằng Han-Iodine 5%: 75 ml pha với 4 lít nước sôi

để nguội, dùng kháng sinh tiêm liên tục trong 3 - 5 ngày

Trang 35

28

với 200 ml hoặc dùng Sulfanilamid 5 - 10 g pha với 20 ml nước bơm rửa vào

tử cung để phòng và điều trị bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Văn Thanh (2000) [22], dùng PGF2 với liều 25 mg tiêm dưới da 1 lần sau đó thụt dung dịch Lugol 200 ml vào tử cung lợn

Popkov (1999) [20], chữa bệnh viêm tử cung bằng cách: Sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao Streptomycin: 0,25 g, Penicillin: 500.000 UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml + Vitamin C

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những năm gần đây nền chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ, số lượng đầu lợn tăng lên không ngừng, song song với nó tình hình dịch bệnh cũng tăng theo, đặc biệt là các bệnh sinh sản Do đó công tác thú y ngày càng được chú trọng và phát triển nhằm khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi Có rất nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh từ

đó đưa ra các phương pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn có hiệu quả

Lê Xuân Cường (1986) [5], cho biết lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Cùng với nhận định trên, Lê Văn Năm (1997) [18], cho rằng: khi lợn nái đẻ khó cần

áp dụng kỹ thuật ngoại khoa, khi thực hiện không đúng kỹ thuật sẽ gây viêm niêm mạc đường sinh dục, có thể bị tổn thương gây viêm tử cung

Theo Nguyễn Thị Tho và cs (1995) [29] cho biết: phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung

Theo Hồ Văn Nam và Nguyễn Văn Thanh (1997) [17], bệnh viêm tử cung ở gia súc là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là nguyên nhân gây rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái Có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung

Trang 36

29 như: Dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khoẻ chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn là do vi sinh vật, các nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập vào

Nguyễn Văn Thanh (2002) [23] cho biết viêm tử cung là một trong những tổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Sau khi sinh có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm tử cung Ông cho biết lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84% (trong tổng số 1.000 lợn nái khảo sát) Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng (2004) [8], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [3], Phùng Thị Vân (2004) [33], cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [3], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau Nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ

từ 1 - 10 ngày

Theo Trần Ngọc Bích và cs (2016) [2] đã khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh và phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục,chiếm tỷ lệ 74,13 %

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [25], lợn nái ở lứa đẻ 1 và lứa ≥ 8 có

tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ cao hơn ở các lứa đẻ khác Tác giả cho rằng ở

Trang 37

30

lứa 1 do xoang chậu còn nhỏ nên lợn thường đẻ khó dẫn đến phải can thiệp và xây sát Mặt khác, lứa đẻ ≥ 8 do trương lực của cơ tử cung đã giảm nên lợn gặp khó khăn trong việc đẩy thai và các sản dịch ra khỏi tử cung sau khi đẻ Các nguyên nhân trên làm cho tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lứa 1 và lứa ≥ 8 cao hơn các lứa đẻ khác

Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [15] cho biết tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ của lợn nái là 76,38%, biến động từ 62,10 – 86,96% Hầu hết lợn nái phải can thiệp bằng tay khi đẻ đều bị viêm tử cung (96,47%) Trong khi đó lợn không cần sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung

là 69,06% Tỷ lệ viêm tử cung của lợn nái có thai chết lưu và lợn nái không

có thai chết lưu lần lượt là 81,63% và 73,91% Ở lợn nái lứa đẻ từ 1-6, tỷ lệ viêm tử cung biến động từ 70,07 – 93,33%

Khi phân tích các yếu tố liên quan đến viêm tử cung sau đẻ của lợn nái, Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [15] kết luận biện pháp can thiệp bằng tay và thời gian đẻ dài là các yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng tới tình trạng viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái Can thiệp bằng tay làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái lên đến 8,86 lần, trong khi đó thời gian đẻ kéo dài thêm 1h sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 1,36 lần

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], khi gia súc bị bệnh viêm

tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Tác giả đề nghị nên dùng Oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [26], đưa ra bốn phương pháp điều trị viêm tử cung ở lợn nái:

+ Phương pháp 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch rivanol 0,1% hay

Trang 38

31

thuốc tím 0,1% ngày 1 lần, sau khi thụt rửa đợi hay kích thích cho dung dịch thụt rửa đẩy ra hết ra ngoài hết, sau đó thụt kháng sinh vào tử cung ngày 1

lần liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày

+ Phương pháp 2: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó như etrumat,

oestrophan, prosolvin, hanprost, lutalyse,…tiêm dưới da theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, sau đó thụt vào tử cung 200 - 500ml dung dịch lugol ngày 1 lần,

liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày

+ Phương pháp 3: Oxytocin 6 - 8ml tiêm dưới da, lugol 200 - 500ml

kết hợp với kháng sinh bơm vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp

tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày

+ Phương pháp 4: Dùng PGF2α hay các chế phẩm của nó tiêm dưới da

theo liều chỉ dẫn, tiêm 1 lần, lugol 200 - 500ml kết hợp với kháng sinh thụt vào tử cung đồng thời dùng kháng sinh thích hợp tiêm bắp hay tĩnh mạch tai

ngày 1 lần, liệu trình điều trị từ 3 - 5 ngày

2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Sobko và Gia Denko (1987) [44], nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, sót nhau Bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở

Madec và Neva (1995) [39] cho biết khi điều tra 147 lợn nái 1 - 6 tuổi trong vòng 1 - 2 năm không chửa thấy 50% trường hợp bị viêm trong tử cung

và những biến đổi có u ở ống dẫn trứng, buồng trứng và tử cung

Ngày đăng: 21/11/2017, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyễn Hữu Mô (1990), Bài giảng sinh lý bệnh, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sinh lý bệnh
Tác giả: Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyễn Hữu Mô
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1990
2. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, 23(5), tr.51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
3. Nguyễn Xuân Bình (2005), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
4. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
5. Lê Xuân Cường (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
6. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
7. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Trần Tiến Dũng (2004), “Kết quả ứng dụng hormone sinh sản và điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau khi đẻ ở lợn nái”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, 2 (1), tr. 66 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ứng dụng hormone sinh sản và điều trị hiện tƣợng chậm động dục lại sau khi đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Năm: 2004
9. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1995), Bệnh ở lợn nái và lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp (1997), Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
12. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Thuốc thú y và cách sử dụng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Thị Hồng Minh (2014), Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng trị hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng và thử nghiệm biện pháp phòng trị hội chứng viêm tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA) ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh
Năm: 2014
14. Nguyễn Hữu Nam (2005), Giáo trình Bệnh lý học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bệnh lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
15. Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh (2016), “Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 14(5), tr. 720-726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2016
16. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình giải phẫu vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu vật nuôi
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh (1997), “Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc bệnh viêm tử cung”, Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật khoa CNTY 1996 – 1998, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng của trâu mắc bệnh viêm tử cung”, "Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật khoa CNTY 1996 – 1998
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
18. Lê Văn Năm (1997), Phòng và trị bệnh ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh ở lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
19. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (1994), Bệnh sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
20. Popkov (1999), “Điều trị viêm tử cung”, Tạp chí khoa học Thú y, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị viêm tử cung”, "Tạp chí khoa học Thú y
Tác giả: Popkov
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm