1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014

78 298 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 870,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn là một cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp xã hội theo pháp luật hiện hành cũng như cơ cấu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp, từ đó cùng với thực tiễn kinh doanh để đưa ra một s

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO

LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận văn không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA

DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 7

1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội 7 1.2 Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội 22

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

XÃ HỘI THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 334

2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 34 2.2 Thực trạng tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 46

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 61

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 61 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam 66

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện ở Vương quốc Anh từ thế kỷ XVII Trong các thế kỷ tiếp theo, lần lượt các mô hình tín dụng vi mô, hợp tác

xã, nhà ở xã hội ra đời và được nhân rộng ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980

Trong bối cảnh nước ta hiện nay đang phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội, môi trường như còn nhiều hộ nghèo và cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người bị nhiễm chất độc màu da cam, HIV/AIDS, người già neo đơn; tình trạng bạo lực xã hội, các vấn đề về giáo dục, y tế đều ở tình trạng quá tải, bất hợp lý; tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý rác thải,

ô nhiễm không khí , hiện đang ở mức báo động Song thực tế, Nhà nước ta vẫn chưa đủ nguồn lực để giải quyết tốt tất cả các vấn đề nói trên, bởi vậy, việc phát triển các doanh nghiệp xã hội là rất cần thiết cho sự phát triển bền vững của đất nước Cũng từ kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, để thúc đẩy doanh nghiệp xã hội phát triển và làm tròn sứ mệnh của mình đối với xã hội cần rất nhiều yếu tố tác động khác nhau Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội Pháp luật không những tạo dựng căn cứ pháp lý vững chắc để bảo vệ, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội phát triển, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xã hội

Ở Việt Nam, mặc dù trước đây đã có nền móng cho sự phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội cũng như ưu điểm của nó đối với nền kinh tế - xã hội, cụ thể là đã từng có rất nhiều tổ chức sử dụng kinh doanh như một công

Trang 5

cụ để đóng góp cho cộng đồng, đặc biệt là cho nhóm người yếu thế Một nghiên cứu năm 2011 do Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) - Hội đồng Anh phối hợp cùng với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã cho thấy, ở Việt Nam, có đến gần 200 tổ chức có đầy

đủ đặc điểm để trở thành một doanh nghiệp xã hội, trong số đó, được hình thành sớm nhất là Hợp tác xã Nhân đạo thuộc Hội người khuyết tật Hà Nội, thành lập năm 1973; Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng (RTCCD) thành lập tháng 5/1996; Trường Trung cấp Kinh tế - Du lịch Hoa Sữa thành lập năm 1994; Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) thành lập năm 2008; Trung tâm Nghị lực sống thành lập năm 2009…v.v Tuy nhiên, cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội, thì doanh nghiệp xã hội mới được pháp luật ghi nhận và nhận diện một cách khá đầy đủ

Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, ra đời vì mục tiêu và sứ mệnh cộng đồng, doanh nghiệp xã hội cần có một khung khổ pháp lý đồng bộ và phù hợp với thực tiễn xã hội để động viên các chủ thể kinh doanh cùng tham gia chia sẻ gánh nặng an sinh xã hội với Nhà nước Luật Doanh nghiệp năm

2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù mới tạo ra nền tảng cơ bản

về doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên, đó mới là những cố gắng bước đầu của Nhà nước đối với những mô hình vì xã hội và cộng đồng này, việc hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý để khẳng định vị trí và vai trò của doanh nghiệp xã hội là yêu cầu nhất thiết để thực hiện những mong muốn vô cùng tốt đẹp của các sáng lập viên doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở đó, để hiểu rõ hơn về địa vị pháp lý của loại hình doanh

nghiệp này, em đã chọn đề tài “Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo

Trang 6

Luật Doanh nghiệp 2014” Luận văn là một cái nhìn tổng quan về doanh

nghiệp xã hội theo pháp luật hiện hành cũng như cơ cấu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp, từ đó cùng với thực tiễn kinh doanh để đưa ra một số giải pháp phù hợp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Doanh nghiệp xã hội không phải là một vấn đề mới Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này Đến nay, các công trình nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp xã hội đã đạt được kết quả rất đáng trân trọng

Có thể kể đến các công trình như: Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP) với nghiên cứu: Khái niệm doanh nghiệp xã hội; khảo sát về

doanh nghiệp xã hội đăng trong: "Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp xã hội Việt Nam" năm 2011 của Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP)

và Hội đồng Anh tại Việt Nam… Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào khái niệm doanh nghiệp xã hội, lịch sử hình thành và pháp triển của nó Tuy nhiên, vì ra đời từ trước nên các công trình này mới chỉ có giá trị về mặt lý luận nghiên cứu, chưa có tính ứng dụng vào thực tiễn cho chế định này Ngoài

ra, ở cấp độ bài báo, tạp chí cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề

này, có thể kể đến các bài viết như: “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - khái niệm, bối cảnh và chính sách”; Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012); “Kỳ vọng từ mô hình doanh nghiệp

xã hội” của tác giả Trang Trần đăng trên Tạp chí Tài chính số ra ngày

14/3/2014 Bài viết đã đưa ra các khái niệm khác nhau về mô hình doanh nghiệp xã hội trên thế giới và điều kiện phát triển mô hình này tại Việt

Nam;“Hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam” Phan Thị Thanh Thủy, Tạp chí Luật học, số 4 (2015); “Giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội qua các trường đại học tại đồng bằng sông Cửu Long” Lê Nguyễn Đoan Khôi - Phòng Quản lý Khoa

học, Trường Đại học Cần Thơ (Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ);

Trang 7

“Thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay” ThS Nguyễn Như Chính - Khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội (Tạp chí Dân chủ và pháp luật); “Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Phan Thị Thanh Thủy, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 (279), 2015; “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội”, ThS Vũ Thị Hòa Như, Tạp chí Luật học số 3/2015… Các

công trình nghiên cứu này đề cập một số khía cạnh của mô hình phát triển doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý

Có thể khẳng định, từ trước tới nay chưa có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu toàn diện, đầy đủ vấn đề địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây sẽ là tư liệu tham khảo quý báu cho học viên trong

quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm rất mới ở Việt Nam, mặc dù ở thời điểm hiện tại trên cả nước đã có ít nhất gần 200 tổ chức được cho là đang hoạt động đúng theo mô hình doanh nghiệp xã hội Số lượng doanh nghiệp xã hội thực tế ở nước ta còn có thể lớn hơn rất nhiều con số trên Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài là nhằm tìm hiểu các vấn đề lý luận về doanh nghiệp xã hội, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp, liên hệ, phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của Luận văn được xác định là: (i) Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp xã hội, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội;

Trang 8

(ii) Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014, chỉ ra những điểm còn vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện;

(iii) Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp xã hội; hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về doanh nghiệp xã hội và thực tiễn thực hiện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn tập trung chủ yếu vào các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014, đồng thời, để làm rõ nội dung nghiên cứu, Luận văn có tham khảo kinh nghiệm pháp luật các nước về vấn đề này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu để thực hiện luận văn này bao gồm: phương pháp phân tích tổng hợp, miêu tả, so sánh, phân tích, đánh giá và dự báo…

- Bằng các phương pháp nghiên cứu này, luận văn trước hết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Chương 1

- Luận văn cũng vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đánh giá thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành tại Chương 2

- Đối với Chương 3, Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá kết hợp với phương pháp dự báo để đưa ra những định hướng

Trang 9

và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện, có

hệ thống về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp 2014

Kết quả nghiên cứu của luận văn hàm chứa nhiều thông tin pháp lý có giá trị tham khảo tốt đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng như hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của doanh nghiệp

xã hội

Chương 2: Thực trạng địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội theo

Luật Doanh nghiệp năm 2014

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị

pháp lý của doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH

NGHIỆP XÃ HỘI 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội

1.1.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp xã hội

Có thể nói doanh nghiệp xã hội ra đời sớm nhất là ở Vương quốc Anh

và phát triển mạnh nhất hiện nay Theo nghiên cứu của MacDonald M & Howarth C (2008), mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động Trong bối cảnh đó, Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt động từ thiện Thay cho những khoản đóng góp vật chất dễ gây nên tâm lý ỷ lại, lười biếng ở tầng lớp dân nghèo, họ chuyển sang các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành những thành viên hữu ích của quốc gia Quỹ tín dụng vi mô đầu tiên của nước Anh được thành lập ở Bath Trường dạy xe sợi, dệt vải và tạo việc làm cho những người mù nghèo khổ, mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục, được mở

ở Liverpool năm 1790 Trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân, vốn trước đó được coi là một trong các chức năng của ngành cảnh sát,

đã được Nhà nước công nhận và tài trợ

Trang 11

Hàng loạt sáng kiến xã hội khác như đào tạo nghề đi biển, nghề mộc cho trẻ em, sử dụng nguồn thu từ các hàng cà phê cũng được ghi nhận trong thời gian này Đặc biệt, các dự án cung cấp nhà ở xã hội đầu tiên đã đi theo

mô hình doanh nghiệp xã hội với mức lợi nhuận tối đa 5% được các nhà đầu

tư chấp nhận

Trong các thế kỷ tiếp theo, lần lượt các mô hình tín dụng vi mô, hợp tác

xã, nhà ở xã hội, hội ái hữu đã ra đời và được nhân rộng ở các nước Tây Âu

và Bắc Mỹ Tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội chỉ phát triển mạnh mẽ và trở thành một phong trào rộng lớn trên thế giới như hiện nay kể từ đầu những năm 1980, khi mô hình Nhà nước phúc lợi dần nhường chỗ cho quan điểm đổi mới vai trò của Nhà nước theo hướng tinh giản, nhỏ gọn, chia sẻ và chuyển một phần chức năng cung cấp phúc lợi xã hội cho khu vực thứ ba là các tổ chức đứng giữa khu vực công và các doanh nghiệp tư nhân Xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận Hợp tác xã, hội ái hữu, làng nghề đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên

Trên thực tế nhiều thư viện và bảo tàng ở châu Âu và Bắc Mỹ từ lâu đã

có truyền thống thực hiện kinh doanh, bán hàng lưu niệm, đấu giá nhằm mục đích gây quỹ cho các lĩnh vực hoạt động chính của mình Mặc dù không điển hình, nhưng đây cũng có thể được coi như những hoạt động mang tinh thần doanh nhân xã hội xuất hiện từ rất sớm Họ hướng đến kinh doanh như một công cụ để tăng cường tính bền vững của tổ chức, cũng như giải pháp xã hội

mà dựa vào đó tổ chức được thành lập [5, tr.13]

Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào doanh nghiệp xã hội đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu Hiện tại không có số liệu chính xác bao

Trang 12

nhiêu doanh nghiệp xã hội đang hoạt động tại bao nhiêu quốc gia, bởi mô hình khái quát về doanh nghiệp xã hội tuy đã được công nhận một cách rộng rãi, nhưng đi vào nội dung, tiêu chí cụ thể để định nghĩa, phân loại doanh nghiệp xã hội lại có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế, xã hội của từng nước và thậm chí là mục tiêu chính sách của từng Chính phủ Mặc dù vậy, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể nói doanh nghiệp xã hội đang hoạt động mạnh mẽ ở tất cả các khu vực trên thế giới từ Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc đến Mỹ La-tinh, Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á Không ít quốc gia đã ban hành văn bản pháp lý riêng về doanh nghiệp xã hội và tạo lập được các mạng lưới có tổ chức để tập hợp, chia sẻ và kết nối lên tới hàng nghìn doanh nghiệp xã hội ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế Trên phạm vi toàn cầu, phong trào doanh nghiệp xã hội cũng nở

rộ, điển hình nhất là mô hình Grameen Bank của Bangladesh và người sáng lập được trao giải thưởng Nobel năm 2006 Nhiều quốc gia đã chính thức công nhận doanh nghiệp xã hội và tạo lập khung khổ pháp lý, ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp xã hội ở nước mình để khu vực này trợ giúp lại Nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn các mục tiêu xã hội Mặc dù vậy, thực tiễn phong phú của các doanh nghiệp xã hội cũng làm cho các quan điểm về khái niệm doanh nghiệp xã hội rất đa dạng, nhiều chiều [16, tr.15]

Ở Việt Nam, trước đổi mới năm 1986, trong cơ chế tập trung bao cấp, nhà nước là chủ thể duy nhất có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ xã hội được phân phối tới người dân Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị

xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, gắn chặt với hệ thống quản lý nhà nước và là nơi duy nhất qua đó cá nhân có thể tham gia vào hoạt động cộng đồng Bên cạnh đó, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận là hai thành phần kinh tế chủ đạo của đất nước Trong bối cảnh ấy, hợp tác xã là hình thức tổ chức kinh tế-xã

Trang 13

hội phù hợp duy nhất được thành lập để đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt của

xã viên theo tinh thần cộng đồng: hợp tác, chia sẻ và cùng hưởng lợi Hợp tác

xã được coi là một tổ chức thuộc sở hữu cộng đồng, đồng thời là một đơn vị kinh tế độc lập Chính vì vậy, hợp tác xã có thể được coi là mô hình doanh nghiệp xã hội sớm nhất ở Việt Nam Trong số các hợp tác xã ra đời trong giai đoạn này, một số không nhỏ được thành lập để tạo việc làm, hỗ trợ cuộc sống cho những đối tượng yếu thế của xã hội, chủ yếu là người khuyết tật Hầu hết các hợp tác xã của người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, như mây tre, đan thêu, may mặc bởi đây được coi là những việc làm phù hợp với sức khỏe và điều kiện lao động của họ

Từ năm 1986 đến 2010, mặc dù doanh nghiệp xã hội đã manh nha xuất hiện dưới hình thức hợp tác xã từ lâu, nhưng các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu xã hội với đầy đủ các đặc điểm cơ bản của mô hình doanh nghiệp xã hội chỉ bắt đầu phát triển kể từ khi chính sách đổi mới được thực hiện vào năm

1986 Đây là cột mốc đánh dấu sự thừa nhận các thành phần kinh tế mới là kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ Nhờ

đó, vai trò chủ động của cá nhân và cộng đồng trong việc cung cấp và trao đổi các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dân đã được công nhận và phát triển Sau khi lệnh cấm vận của Mỹ được dỡ bỏ vào năm 1994, hàng trăm các tổ chức nhân đạo phát triển quốc tế đã vào Việt Nam, mang theo một nguồn viện trợ nhân đạo không hoàn lại và vốn ODA rất lớn Đây là giai đoạn nhà nước

có nhiều chính sách cởi mở, tạo lập khung khổ pháp lý cho sự phát triển các

tổ chức kinh tế và xã hội ngoài nhà nước Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản pháp quy ra đời năm 1998 lần đầu tiên chính thức khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách tại cộng đồng Để thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và phát triển cộng đồng, nhà nước đã có những bước đi tích cực thúc đẩy quan hệ hợp

Trang 14

tác giữa các tổ chức khác nhau, đặc biệt thông qua việc tăng cường sức mạnh các tổ chức chính trị xã hội Vai trò của các tổ chức cộng đồng được đặc biệt chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cộng đồng như quản lý tài nguyên nước, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế ban đầu, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường [17]

Các chính sách trên đã giúp các tổ chức và doanh nghiệp phát triển cộng đồng thực sự nở rộ Hầu hết tất cả các tổ chức này nhận hỗ trợ tài chính

từ các tổ chức quốc tế và nhà tài trợ để duy trì hoạt động và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức có tính cộng đồng như nhà văn hóa, câu lạc bộ và mảng phụ trách hoạt động kinh doanh thuộc các tổ chức chính trị - xã hội quần chúng (ví dụ: hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội người tàn tật, v.v.) và hàng nghìn đơn vị sự nghiệp đang thực hiện chức năng cung cấp phúc lợi xã hội của nhà nước (mang lại các dịch vụ công cộng như quản lý chất thải, nguồn nước, v.v.) Các tổ chức này đều có một số đặc điểm của doanh nghiệp xã hội và có khả năng chuyển thành doanh nghiệp xã hội trong tương lai Cùng với quá trình mở cửa và đổi mới toàn diện, Nhà nước cũng thực hiện cải cách trong lĩnh vực dịch vụ công theo hướng xã hội hóa, kêu gọi sự đầu tư và tham gia của các thành phần kinh tế, các cá nhân và tập thể vào việc chia sẻ gánh nặng cung cấp các dịch vụ công, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục và chăm sóc y tế Số lượng lớn các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật ngoài công lập ra đời theo định hướng chính sách này đã phần nào giải quyết các vấn đề xã hội và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân

Nhìn chung, giai đoạn đổi mới là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội ngoài Nhà nước, trong đó có doanh nghiệp xã hội Tuy nhiên, sự tách biệt hai lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội

cả trong tư duy lẫn hoạt động thực tế đã hạn chế sự ra đời của mô hình hỗn hợp như doanh nghiệp xã hội Khi nói đến doanh nghiệp người ta chỉ nói đến

Trang 15

lợi nhuận tài chính thuần túy, còn các hoạt động cộng đồng của doanh nghiệp thường chỉ mang dấu ấn cá nhân và được hiểu với ý nghĩa từ thiện đơn thuần Trong khi đó, các tổ chức xã hội thường được xếp cùng loại với các tổ chức

từ thiện nhân đạo, dựa vào nguồn lực huy động từ các nhà hảo tâm bên ngoài Điều này không những kìm hãm nãng lực sáng kiến xã hội mà khiến cho các doanh nghiệp xã hội có rất ít sự lựa chọn, hoặc hoạt động như tổ chức xã hội

từ thiện, hoặc như một doanh nghiệp thông thường Trong bối cảnh nguồn tài trợ bên ngoài cho các hoạt động phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam khá dồi dào, đa phần các tổ chức lựa chọn hình thức hoạt động là các tổ chức phi chính phủ Chỉ có một số không lớn các tổ chức, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, đã dũng cảm quyết định đi lên bằng chính nguồn lực của mình Họ tin tưởng vào sự bền vững và hiệu quả của việc áp dụng mô hình kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội và giúp đỡ cộng đồng Tuy chưa

nở rộ về số lượng và chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, sự tồn tại

và phát triển của các doanh nghiệp xã hội tiêu biểu này trong giai đoạn này đã minh chứng cho khả nãng kết hợp thành công mô hình kinh doanh vì mục tiêu phát triển xã hội, xóa bỏ hố sâu ngãn cách giữa hai khu vực kinh tế và xã hội,

mở ra một khu vực thứ ba cho các doanh nghiệp xã hội

Từ năm 2010 đến nay, nguồn vốn trong nền kinh tế Việt Nam đã dồi dào và chủ động hơn trước, tình trạng nghèo đói đã được cải thiện đáng kể trong số đông dân cư Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc thay đổi chính sách hỗ trợ nhân đạo và phát triển xã hội của các quốc gia và tổ chức quốc tế tại Việt Nam Trong bối cảnh đó, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) cùng các đối tác như Hội đồng Anh (British Council), Trung tâm Spark đã tích cực tuyên truyền, giới thiệu doanh nghiệp xã hội như một hướng giải quyết mới, một mô hình tổ chức thay thế phù hợp với bối cảnh chuyển đổi hiện nay Thế mạnh của doanh nghiệp xã hội là áp dụng mô hình kinh doanh dựa trên những nguyên tắc và động lực của thị trường để giải quyết

Trang 16

chính những thất bại của thị trường và các vấn đề xã hội Nói cách khác, doanh nghiệp xã hội giải quyết được cả hai mục đích xã hội và kinh tế, trong

đó mục tiêu xã hội là mục tiêu chủ đạo, đạt được mục tiêu kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu xã hội ở quy mô lớn hơn một cách bền vững Các doanh nghiệp xã hội ở giai đoạn mới này xuất phát từ 3 nhóm chính sau đây:

- Các tổ chức phi chính phủ: Chuyển đổi chiến lược hoạt động của tổ

chức, hoặc thành lập một doanh nghiệp xã hội thành viên nhằm tìm kiếm thu nhập để làm tăng nguồn quỹ tài trợ; và sử dụng và quản lý nguồn lực trong lĩnh vực cung cấp phúc lợi xã hội hiệu quả hơn dựa trên cơ chế mang tính thị trường

- Nhóm các doanh nghiệp theo đuổi các giá trị kép: Ở đó, việc tạo ra

các giá trị kinh tế được thực hiện theo cách mà nó cũng đồng thời tạo ra các giá trị cho xã hội, thông qua việc đáp ứng được nhu cầu và các thách thức xã hội Ở đây, giá trị kép không phải là trách nhiệm xã hội, từ thiện hoặc thậm chí là vì mục tiêu phát triển bền vững, nó là một cách mới để tạo ra các thành công về kinh tế Các giá trị xã hội được đưa vào chuỗi giá trị cốt lõi của doanh nghiệp như một thành tố không thể thiếu trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một số hướng phát triển của các doanh nghiệp theo phương thức này là: Thương mại công bằng như các doanh nghiệp như Mai Vietnam Handicrafts tại TP Hồ Chí Minh cung ứng các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, nông lâm thổ sản, tạo việc làm và thu nhập, đồng thời cung cấp cơ hội được giáo dục cho hàng trăm phụ nữ nghèo và gặp khó khăn tại nhiều vùng trên cả nước; các doanh nghiệp hướng tới Nhóm đáy (BoP), tìm kiếm cơ hội kinh doanh thông qua việc đáp ứng nhu cầu của cộng đồng nghèo bằng các dịch vụ phù hợp với chi phí hợp lý; các doanh nghiệp hướng tới giải quyết các vấn đề liên quan đến xã hội và môi trường

- Nhóm các doanh nghiệp xã hội mới: Sau khi khái niệm doanh nghiệp

xã hội được giới thiệu vào Việt Nam trong một vài năm gần đây và được

Trang 17

khuyến khích, hỗ trợ bởi các tổ chức trung gian đóng vai trò phát triển doanh nghiệp xã hội như CSIP và Spark, nhiều cá nhân đã khởi nghiệp bằng cách thành lập các doanh nghiệp xã hội, có thể hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

1.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp xã hội

Có thể thấy, hầu hết các doanh nghiệp xã hội thường được thành lập một cách khá tự phát, dựa vào sự sáng tạo của người sáng lập nhằm giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể nhất định Vì nhu cầu của một giải pháp xã hội, họ

có thể biến đổi tổ chức theo hướng kết hợp giữa mô hình từ thiện hoặc phi lợi nhuận và hoạt động kinh doanh, mà không biết tổ chức đang hoạt động theo

mô hình doanh nghiệp xã hội

Cho đến sau năm 2008, khi một số tổ chức trung gian phát triển doanh nghiệp xã hội như Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) và Spark ra đời, khái niệm doanh nghiệp xã hội mới chính thức được giới thiệu vào Việt Nam một cách rộng rãi Số lượng các doanh nghiệp xã hội được thành lập dưới hình thức vườn ươm hoặc giải thưởng giành cho sáng kiến xã hội hiện vẫn không phải là nhiều và ở quy mô nhỏ hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp xã hội xuất phát từ nền tảng tự phát như KOTO hay Grameen Bank Đây là chính một trong những điểm đặc thù quan trọng của doanh nghiệp xã hội, tạo cho mô hình tính năng động, linh hoạt rất cao, và cũng làm cho quan điểm về khái niệm doanh nghiệp xã hội rất đa dạng Ngay cả tại các diễn đàn quốc tế, cuộc tranh luận về khái niệm doanh nghiệp xã hội vẫn còn đang tiếp diễn

Theo nghĩa rộng, doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh, đem lại lợi nhuận, bề ngoài như các doanh nghiệp truyền thống khác, chỉ yêu cầu một điều kiện duy nhất là đặt sứ mệnh xã hội ở vị trí trung tâm, trong khi mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò hỗ trợ Một cách định nghĩa khác theo nghĩa rộng

Trang 18

cũng cho rằng: “Doanh nghiệp xã hội hoạt động như mọi doanh nghiệp nhưng việc quản lý và sử dụng lợi nhuận đều hướng vào các mục tiêu xã hội và môi trường”

Theo cách hiểu như trên thì doanh nghiệp xã hội bị đơn giản hóa và gần như đánh đồng với các doanh nghiệp truyền thống Chỉ nhìn bề ngoài thì đúng

là doanh nghiệp xã hội cũng có hoạt động kinh doanh, sổ sách kế toán, hệ thống cửa hàng, kho bãi, nhân viên kinh doanh như các doanh nghiệp truyền thống Nhưng đặc trưng của doanh nghiệp xã hội phải nêu bật được mục tiêu

xã hội là sứ mệnh thành lập và hoạt động của doanh nghiệp xã hội Như vậy, doanh nghiệp xã hội rất dễ bị hòa trộn với một doanh nghiệp truyền thống có họat động xã hội tốt Để xây dựng hình ảnh tốt đẹp và thân thiện với khách hàng, nhiều công ty sẵn sàng tuyên bố các sứ mệnh xã hội của mình, một cách hào phóng Trên thực tế, có không ít doanh nhân truyền thống thành lập doanh nghiệp từ những lý tưởng tốt đẹp cho xã hội

Tuy nhiên, câu hỏi là liệu mục tiêu xã hội có phải là lý do căn bản cho

sự tồn tại và hoạt động của tổ chức không mới là dấu hiệu phân biệt hai loại hình này Ở đây, các khái niệm đều không đề cập đến nội dung phân phối lợi nhuận Như vậy, rõ ràng không có đủ bằng chứng và khả năng thuyết phục để phân loại rõ mức độ cam kết vì xã hội hay vì lợi nhuận của một tổ chức

Theo nghĩa hẹp, yêu cầu doanh nghiệp xã hội không nên có gì đặc biệt hơn các doanh nghiệp khác, bởi sẽ dẫn đến sự đối xử không công bằng Tiêu cực thậm chí có thể nảy sinh bởi doanh nghiệp nào cũng muốn được ưu đãi nên sẽ chuyển sang doanh nghiệp xã hội để hưởng lợi Một số ý kiến còn phản đối doanh nghiệp xã hội, cho rằng doanh nghiệp nào cũng có ích cho xã hội (như cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo việc làm) chẳng qua từ trước đến nay lĩnh vực xã hội bị bỏ ngỏ, nên hình ảnh các công ty trở nên tiêu cực Nếu hoạt động xã hội được làm tốt, thì doanh nghiệp nào cũng là doanh nghiệp xã hội Ý kiến trên không thỏa đáng, bởi một doanh nghiệp truyền thống dù làm

Trang 19

hoạt động xã hội tới mức độ nào cũng không phải là doanh nghiệp xã hội Bởi hai mô hình này khác nhau từ bản chất, và từ cách tiếp cận ngay từ khi thành lập Quan điểm đánh đồng hai loại hình này, sẽ khiến xã hội bỏ lỡ một mô hình khơi dậy và phát triển các sáng kiến xã hội như doanh nghiệp xã hội

Trong Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” Cách định nghĩa này rất toàn diện, bám sát những đặc điểm

cơ bản của doanh nghiệp xã hội Một là, kinh doanh cần được hiểu như một

mô hình, phương án, giải pháp có và thông qua hoạt động kinh doanh hơn là ràng buộc doanh nghiệp xã hội vào hình thức công ty xơ cứng, vốn suy cho cùng cũng chỉ là công cụ tổ chức Hai là, mục tiêu xã hội được đặt ra như một

sứ mệnh cơ bản và trước tiên của việc thành lập tổ chức đó Doanh nghiệp xã hội phải là tổ chức được lập ra vì mục tiêu xã hội Ba là, về nguyên tắc lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa:

“Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp

lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế Doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ

xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngoài

ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.”

Tổ chức Hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng - CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm: “Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể Doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội làm

Trang 20

mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/môi trường và mục tiêu kinh tế’

Có thể nói, khái niệm của CSIP về doanh nghiệp xã hội là rất rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức này tuyển chọn, ươm tạo và phát triển phong trào doanh nghiệp xã hội vốn còn rất non trẻ ở Việt Nam

Trước hết, CSIP gắn doanh nghiệp xã hội với doanh nhân xã hội để

nhấn mạnh vai trò của người sáng lập tổ chức là những người kết hợp hài hòa được sáng kiến xã hội và tinh thần doanh nhân

Thứ hai, doanh nghiệp xã hội có thể đang hoặc sẽ hoạt động dưới nhiều

hình thức tổ chức và địa vị pháp lý khác nhau, vốn phù hợp với thực trạng phong phú của khu vực xã hội dân sự ở Việt Nam; đồng thời mở ra khả năng chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội từ các mô hình tổ chức khác như Quỹ Tín dụng vi mô, Quỹ Từ thiện, Hợp tác xã thậm chí có thể bao gồm các một

số loại hình từ tổ chức xã hội, Tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp dịch vụ công ích của khu vực nhà nước

Thứ ba, các tiêu chí chủ đạo để xác định doanh nghiệp xã hội trong

khái niệm của CSIP dường như tiếp thu trường phái định nghĩa của OECD khi yêu cầu doanh nghiệp xã hội phải theo đuổi đồng thời cả hai mục tiêu xã hội (chủ đạo) và kinh tế Tương tự như OECD, vấn đề phân phối lợi nhuận không được đề cập rõ ràng trong định nghĩa của CSIP

Luật Doanh nghiệp năm 2014 của Việt Nam không đưa ra định nghĩa

về doanh nghiệp xã hội nhưng có các tiêu chí để xác định doanh nghiệp xã hội Theo đó, doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, với mục đích hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường [5, điều 10]

1.1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội

Trang 21

Theo khái niệm ở trên, doanh nghiệp xã hội có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp xã hội phải có hoạt động kinh doanh: Doanh

nghiệp xã hội không thể không có các hoạt động kinh doanh Chính hoạt động kinh doanh là nét đặc thù cũng như thế mạnh của doanh nghiệp xã hội so với các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, các quỹ từ thiện chỉ đơn thuần nhận tài trợ và thực hiện các chương trình xã hội Do đó, giải pháp kinh doanh là một nửa không thể thiếu của mô hình doanh nghiệp xã hội Hơn thế nữa, doanh nghiệp xã hội phải cạnh tranh bình đẳng, công bằng với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng lĩnh vực

Khác với các Quỹ Từ thiện có thể kêu gọi lòng hảo tâm để nhà tài trợ đóng góp hoặc mua sản phẩm gây quỹ cho tổ chức Nói đúng hơn, doanh nghiệp xã hội phải vượt lên trên các Quỹ Từ thiện truyền thống Họ phải là người cung cấp các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ với chất lượng tốt và ở mức giá cạnh tranh so với thị trường Đây là cái khó của các doanh nghiệp xã hội, và chính điều đó lý giải tại sao danh nghiệp xã hội luôn gắn chặt với các sáng kiến xã hội, bởi giải pháp kinh doanh của doanh nghiệp xã hội phải có tính sáng kiến xã hội mới có thể đem đến mục tiêu xã hội dưới hình thức kinh doanh

Thứ hai, doanh nghiệp xã hội phải đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu:

Doanh nghiệp xã hội phải phải lấy mục tiêu xã hội làm sứ mệnh hoạt động tối thượng ngay từ khi thành lập, và điều này phải được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch Nói cách khác, mỗi doanh nghiệp xã hội phải được lập ra vì mục tiêu xã hội cụ thể của mình Sẽ có rất nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp truyền thống cũng có những hiệu quả xã hội tích cực Trừ một

số doanh nghiệp trong các lĩnh vực như sản xuất thuốc lá, rượu, kinh doanh

vũ trường, sòng bài, đa số doanh nghiệp còn lại đều làm ra sản phẩm phục vụ đời sống, tạo ra công cụ sản xuất, đem lại việc làm và thu nhập

Trang 22

Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ các doanh nghiệp truyền thống sử dụng việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay tìm đến các giải pháp xã hội như một công cụ nhằm đạt được lợi nhuận cho chủ sở hữu của doanh nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp xã hội phải sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để đạt được các mục tiêu xã hội của mình Do đó, doanh nghiệp xã hội phải có thể có lợi nhuận, thậm chí cần lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội, nhưng không vì lợi nhuận mà vì xã hội

Ví dụ, một cơ sở sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, tranh thêu cho khách

du lịch nước ngoài cũng sử dụng lao động là người khuyết tật Rõ ràng, họ có

ý nghĩa tích cực cho xã hội ở khía cạnh đó, nhưng vẫn là một doanh nghiệp thông thường, bởi mục tiêu nguyên thủy của tổ chức này là lợi nhuận Việc sử dụng lao động là người khuyết tật chỉ là một phần trong kế hoạch kinh doanh của họ, mà không phải là sứ mệnh xã hội để tổ chức này thành lập

Thứ ba, doanh nghiệp xã hội tái phân phối lợi nhuận: Mô hình doanh

nghiệp xã hội đòi hỏi lợi nhuận phải được tái phân phối trở lại cho hoạt động của tổ chức hoặc cho cộng đồng là đối tượng hưởng lợi Thực chất, hai đặc điểm ở trên về hoạt động kinh doanh và mục tiêu xã hội là những nét cơ bản nhất về doanh nghiệp xã hội Yêu cầu tái phân phối lợi nhuận chỉ là tiêu chí

để giúp phân định rõ đặc điểm vì lợi nhuận hay vì xã hội mà thôi Nguyên tắc

cơ bản của doanh nghiệp xã hội là không được phân phối lợi nhuận cho cá nhân Doanh nghiệp xã hội không thể được coi là một con đường làm giàu Muốn làm giàu cá nhân phải tìm kiếm ở mô hình kinh doanh truyền thống

Thứ tư, doanh nghiệp xã hội lấy việc mang lại những giá trị tốt đẹp đối

với toàn xã hội làm mục tiêu cơ bản và bản chất của doanh nghiệp Những

giá trị tốt đẹp của toàn xã hội được thể hiện ở phát triển quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa người với người trong xã hội, những quy tắc ứng xử, chuẩn mực và đạo đức xã hội được mọi người tôn trọng và tuân thủ như các hoạt động cứu trợ, từ thiện, quyên góp ủng hộ nhân dân vùng bị thảm họa thiên nhiên

Trang 23

Thứ năm, doanh nghiệp xã hội thường phục vụ nhu cầu của người

nghèo, cơ nhỡ: Một trong những sứ mệnh đặc thù của doanh nghiệp xã hội là

phục vụ nhu cầu của đối tượng những người nghèo và yếu thế nhất trong xã hội Đáng chú ý, nhóm đối tượng bao gồm người dân ở vùng sâu vùng xa, người khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em đường phố, thất học, phạm nhân mãn hạn tù tuy không hoàn toàn nằm trong nhóm đáy nhưng có

tỷ lệ và nguy cơ cao rơi vào nhóm đáy, do đó cũng là một địa bàn trọng yếu của các doanh nghiệp xã hội

Trong khi khu vực nhà nước không kham nổi gánh nặng phúc lợi xã hội của nhóm đáy, khu vực doanh nghiệp tư nhân lại bỏ qua nhóm này, thay vào

đó họ thường lấy các nhóm có khả năng chi trả cao hơn làm khách hàng mục tiêu Chính vì vậy, doanh nghiệp xã hội đóng vai trò rất quan trọng để lấp đầy khoảng trống mà cả thất bại của nhà nước và thất bại của thị trường để lại Chỉ có các doanh nghiệp xã hội mới có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho đối tượng này ở mức giá rẻ

1.1.3 Vị trí, vai trò của doanh nghiệp xã hội trong nền kinh tế thị trường

Doanh nghiệp xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường, góp phần tạo ra tổng sản phẩm trong nước, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề

xã hội như: tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, môi trường, Doanh nghiệp

xã hội còn là yếu tố quan trọng, quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế quốc dân như: Cơ cấu nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương Doanh nghiệp xã hội còn góp phần đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện

Trang 24

đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập

Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, lạm phát do các yếu tố trong nước cộng hưởng với lạm phát toàn cầu, an sinh xã hội là mục tiêu rất quan trọng Trước những biến động khó khăn của tình hình kinh tế trong nước và thế giới như hiện nay,

dù Nhà nước có cố gắng như thế nào thì vấn đề an sinh xã hội cũng khó mà được bảo đảm nếu như không có sự chia sẻ một cách chủ động tích cực hơn của các chủ thể khác, trong đó có doanh nghiệp xã hội

Thực hiện an sinh xã hội là một nội dung cơ bản và tất yếu trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xã hội Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung là một vấn đề khá cũ đối với các nước phát triển nhưng còn khá mới mẻ và nó đang được quan tâm ở Việt Nam hiện nay Doanh nghiệp thực hiện an sinh xã hội không đơn thuần chỉ là những hoạt động từ thiện, trợ giúp cộng đồng mà nó còn là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc quan tâm nâng cao chất lượng lao động

và đời sống cho người lao động, cho cộng đồng và cho toàn xã hội

An sinh xã hội là một nội dung quan trọng và tất yếu trong trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp, có khả năng góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đồng thời không mâu thuẫn với lợi ích kinh tế, lợi nhuận của doanh nghiệp Vì khi doanh nghiệp thực hiện tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tăng năng suất lao động, hiệu quả và lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, tăng năng suất, thúc đẩy sự phát triển bền vững Hơn nữa, nó còn có vai trò quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện ngày càng cao các tiêu chuẩn quốc gia cũng như quốc tế về điều kiện lao động, hỗ trợ cộng đồng… Đối với người lao động, doanh nghiệp quan tâm đến thực hiện an sinh xã hội tức là họ

sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi, nhân phẩm, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập,

Trang 25

giúp người lao động nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ…Và

do đó, doanh nghiệp sẽ tạo ra được một đội ngũ người lao động gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về công ty và làm việc hết mình vì lợi ích chung của

1.2 Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội

Theo cách hiểu truyền thống, địa vị pháp lý của một doanh nghiệp là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó được pháp luật ghi nhận, đảm bảo sự độc lập về mặt pháp lý và khả năng tham gia các quan

hệ pháp luật, trước hết là quan hệ luật kinh tế và từ đó có thể phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác Một doanh nghiệp không chỉ tham gia các quan hệ pháp luật kinh tế, các quan hệ kinh doanh mà có thể đồng thời tham gia nhiều quan hệ khác như quan hệ dân sự, hành chính, lao động… Khi xem xét địa vị pháp lý của một doanh nghiệp với tính chất tổng thể là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một doanh nghiệp, trong khoa học pháp lý đã có lúc có quan niệm xem xét vấn đề theo phương diện khái niệm thẩm quyền, bao gồm những quyền và nghĩa vụ trong nhiều lĩnh vực và phương diện tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp [1]

Thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh được coi là một nội dung chủ yếu trong hệ thống thẩm quyền của doanh nghiệp với lý do doanh nghiệp là tổ chức kinh tế… được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh Thẩm quyền kinh tế

Trang 26

của một doanh nghiệp bao gồm các quyền và nghĩa vụ của nó trong quá trình

tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hệ thống thẩm quyền này cũng có những điểm khác nhau Cũng chính vì vậy, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, pháp luật đều dành cho chúng những quy chế pháp lý riêng [10, tr 21]

Khi xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta phải gắn chúng với sự phát triển của các mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế mà trong khuôn khổ

đó các doanh nghiệp tồn tại và phát triển Như vậy, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản ánh và thể hiện ở những phương diện

sau: Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của

từng loại hình doanh nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong

mỗi loại hình doanh nghiệp; Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách

nhiệm của doanh nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của doanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đảm nhận trên cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động

Cho đến nay, những vấn đề về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội còn ít được nghiên cứu về mặt lý luận Vì vậy, để tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội cần xem xét toàn bộ quyền và nghĩa vụ của chúng được Nhà nước thừa nhận Một doanh nghiệp xã hội không chỉ có các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế mà còn có các quyền và nghĩa vụ khác Các chủ thể này không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật kinh tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như hành chính, hiến pháp, lao động, dân sự, môi trường, đất đai…

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội là những khái niệm chưa được thống nhất, chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên khi đề cập đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường dùng một khái niệm: tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được nhà nước thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập

Trang 27

Theo đó, tư cách chủ thể phản ánh vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy, cần có cách tiếp cận mới năng động và đa dạng đối với địa vị, vai trò mới của doanh nghiệp xã hội trong kinh tế thị trường Khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, việc đầu tiên chúng ta phải xác định khái niệm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội Chúng xuất hiện trên cơ sở pháp lý khác với các chủ thể kinh doanh khác, chúng được tồn tại và hoạt động trên cơ sở thừa nhận của các văn bản pháp luật Vì vậy, cần nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội trong sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chú trọng phân tích loại hình doanh nghiệp xã hội trong sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của nước ta Cũng như xem xét đánh giá trên thực tế và xác định những bất cập trong chế định địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội nói riêng để từ đó đề xuất các phương hướng, biện pháp củng cố hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, góp phần đổi mới và phát triển kinh tế

Tất cả các doanh nghiệp xã hội đều hoạt động trên cơ sở những quy định chung và thống nhất của pháp luật hiện hành, nhưng trên thực tế, mỗi doanh nghiệp xã hội có vai trò, vị trí, nhiệm vụ cụ thể riêng trong quá trình sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy, bên cạnh những quy định chung và thống nhất của Nhà nước về doanh nghiệp xã hội, các doanh nghiệp xã hội cụ thể hoạt động kinh doanh trên từng ngành, nghề khác nhau, trong chừng mực nhất định sẽ có sự khác nhau nhất định trong tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một doanh nghiệp xã hội nói chung Do đó, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội sẽ gồm hai bộ phận chủ yếu là: (i) Tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy định cho doanh nghiệp xã hội nói chung và (ii) Tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được xác định cho mỗi doanh nghiệp

xã hội cụ thể nói riêng Về hình thức pháp lý, hai bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội được thể hiện bằng hai hình thức khác nhau

Trang 28

- Bộ phận thứ nhất về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan Địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp và luật chuyên ngành Luật chuyên ngành có thể hiểu là luật quy định về hoạt động kinh doanh trong một chuyên ngành cụ thể nào đó

- Bộ phận thứ hai về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội là những quyền và nghĩa vụ phát sinh khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ xã hội không chỉ do các quy phạm pháp luật kinh tế mà còn các quy phạm của các ngành luật điều chỉnh

Như vậy, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội là tổng hợp những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm được pháp luật xác định phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng kinh tế và xã hội của doanh nghiệp xã hội trong quá trình sản xuất kinh doanh và những quyền, nghĩa vụ mà tự doanh nghiệp xã hội và chủ doanh nghiệp xã hội lựa chọn và đảm nhận trên cơ sở vận dụng những khả năng pháp luật cho phép hoặc không cấm khi tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động của mình Pháp luật không thể quy định chi tiết được tất cả mối quan hệ pháp luật mà doanh nghiệp tham gia mà chỉ

có khả năng xác định những vấn đề có tính nguyên tắc, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động Do đó, quyền và nghĩa vụ của từng doanh nghiệp xã hội cụ thể không hoàn toàn giống nhau

1.2.2 Nội dung địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 có thể hiểu doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, với mục đích hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, trong

đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường

Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì doanh nghiệp xã hội có tiêu chí đầu tiên là doanh nghiệp được đăng ký thành lập

Trang 29

theo quy định của Luật này Hiện nay, thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP)

Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không coi doanh nghiệp xã hội

là một loại hình doanh nghiệp đặc thù riêng mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp xã hội vẫn tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Để thành lập doanh nghiệp xã hội, người bỏ vốn để thành lập doanh nghiệp xã hội phải thực hiện các thủ tục pháp lý thông thường để thành lập một doanh nghiệp trong số các loại hình doanh nghiệp đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014 thiết kế Tiêu chí này thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xã hội, tương tự doanh nghiệp thông thường, đó là có hoạt động kinh doanh, đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, là yếu tố căn bản, quyết định đến sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, một thuộc tính không thể tách rời của doanh nghiệp

và là đích cuối cùng của các nhà kinh doanh Từ đó có thể hiểu, mục đích chính khi thành lập doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, còn việc giải quyết các vấn đề xã hội vì lợi ích của cộng đồng không phải là mục tiêu chủ yếu của kinh doanh

Ở khía cạnh khác, cũng xét từ định nghĩa doanh nghiệp, mục đích thành lập doanh nghiệp là nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp Trong khi đó, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì doanh nghiệp xã hội là một pháp nhân phi thương mại, vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên [4, tr.101]

Trang 30

Doanh nghiệp xã hội có tên riêng của mình Dựa trên các chuẩn mực về tên doanh nghiệp được pháp luật quy định, doanh nhân xã hội sẽ chủ động quyết định đặt tên cho doanh nghiệp xã hội Theo các quy định từ Điều 38 đến Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì không có quy định riêng trong việc đặt tên cho doanh nghiệp xã hội Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP thì có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp xã hội Quy định có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của doanh nghiệp xã hội là một quy phạm tùy nghi, do người thành lập doanh nghiệp xã hội tự quyết định Tuy nhiên, cả Luật Doanh nghiệp năm

2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cấm hay hạn chế các nhà đầu tư sử dụng cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường Hệ quả là thực tế có thể sẽ tồn tại những nhà đầu tư lợi dụng các cụm từ này trong việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình để Nhà nước, công chúng và đối tác nhầm lẫn về chủ thể nhằm kinh doanh không lành mạnh Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có quy định cấm việc sử dụng các cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt

“DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường, điều này cũng phù hợp với quy định pháp luật của Vương quốc Anh và Hàn Quốc

Doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề

xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương, cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, cung cấp nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm… Chính các mục tiêu xã hội này trở thành động lực thôi thúc các doanh nhân xã hội thành lập doanh nghiệp xã hội và sử dụng phương án kinh doanh để giải quyết các vấn đề xã hội Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP quy định doanh nghiệp

xã hội phải thông báo cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ

Trang 31

quan đăng ký kinh doanh, để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng

ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động Thông qua hành vi pháp lý này, một doanh nghiệp thông thường sẽ khoác lên mình chiếc áo doanh nghiệp xã hội, từ đó Nhà nước và xã hội có thể nhận biết được địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, kèm theo đó là các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội Tiêu chí này góp phần giúp chúng ta có cơ

sở để phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường khác

Cụ thể, ở doanh nghiệp thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thị trường để tìm ra nhu cầu của khách hàng, từ đó lên kế hoạch, chiến lược đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua hàng loạt các hoạt động kinh doanh được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận Chính lợi nhuận trở thành động lực

để nhà đầu tư quyết định tìm giải pháp kinh doanh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận cho mình, có được lợi nhuận, tức nhà đầu tư đã thành công Trong khi đó, đối với doanh nghiệp xã hội thì yếu tố

“sinh lợi” không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội Các vấn đề xã hội trở thành động lực để doanh nhân xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nhân xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của doanh nghiệp xã hội đã đạt được, dù có thể chính doanh nghiệp xã hội không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ

Doanh nghiệp thông thường và doanh nghiệp xã hội là các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải có doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất và đích đến, cho nên có quan điểm cho rằng: Doanh nghiệp xã hội có thể có lợi nhuận, thậm chí cần lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội nhưng không vì lợi nhuận mà vì xã hội [9,

tr 50] Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp xã hội cũng hay bị nhầm lẫn với

Trang 32

trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp [12, tr.56] Trách nhiệm xã hội là cam kết nỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng thông qua quá trình kinh doanh và đóng góp của các doanh nghiệp một cách tự nguyện Bản chất của trách nhiệm xã hội là ghi nhận sự cam kết tự nguyện của doanh nghiệp thực hiện những chuẩn mực đạo đức và xã hội vì mục tiêu con người và phát triển bền vững, mang tính chất là hoạt động bổ sung của doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội vẫn là các doanh nghiệp thông thường vẫn với mục tiêu và bản chất tìm kiếm lợi nhuận Trong khi đó, tôn chỉ, mục đích và toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp xã hội là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường đã xác định ngay từ khi thành lập và được duy trì trong suốt quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể, rõ ràng thông qua cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường, nếu doanh nghiệp xã hội có sự thay đổi hoặc chấm dứt mục tiêu xã hội thì doanh nghiệp xã hội phải thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Doanh nghiệp xã hội khi hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà doanh nghiệp

xã hội đang theo đuổi Tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là điểm phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường, thể hiện rõ nét tiêu chí vì xã hội Doanh nghiệp xã hội phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký Con số 51% là nhằm mục đích tạo điều kiện, cơ hội cho doanh nghiệp xã hội huy động vốn kinh doanh từ các nhà đầu tư, thành viên, cổ đông khác bằng việc bảo đảm có phần cổ tức nhất định cho các nhà đầu tư này, qua đó góp phần phát triển bền vững cho doanh nghiệp xã hội Tiêu chí này góp phần định lượng rõ ràng, cụ thể mục tiêu vì

xã hội của doanh nghiệp xã hội

Trang 33

Doanh nghiệp xã hội cũng có một số nét tương đồng với các doanh nghiệp công ích, cả hai đều hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu của xã hội,

có thể đều cung cấp sản phẩm là các dịch vụ mang tính chất phục vụ lợi ích chung của xã hội như cung cấp nước sạch, dọn rác thải, bảo vệ môi trường [12, tr.25-26] Ở một chừng mực nhất định, các doanh nghiệp này có thể được xếp chung vào nhóm doanh nghiệp có cùng mục đích hoạt động chủ yếu Tuy nhiên, về bản chất doanh nghiệp xã hội được thành lập tự nguyện bởi các doanh nhân xã hội, doanh nghiệp xã hội mang tính ổn định, nhất quán, được quyết định bởi mục tiêu xã hội, không phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Trong khi đó, doanh nghiệp công ích được Nhà nước thành lập nên để sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức giao nhiệm vụ và được hưởng các ưu đãi đặc biệt

Doanh nghiệp xã hội khác với các doanh nghiệp thông thường ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xã hội còn các quyền và nghĩa vụ đặc thù tương ứng với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội Các quyền và nghĩa

vụ quan trọng của doanh nghiệp xã hội bao gồm:

- Doanh nghiệp xã hội phải duy trì mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận trong suốt quá trình hoạt động Như đã phân tích, đặc trưng pháp lý để

phân biệt doanh nghiệp xã hội với các doanh nghiệp thông thường là ở mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận, vì vậy doanh nghiệp xã hội phải duy trì các tiêu chí này trong suốt quá trình hoạt động của mình Pháp luật doanh nghiệp quy định các cơ chế để đảm bảo việc tuân thủ mục tiêu xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội

- Doanh nghiệp xã hội được huy động và nhận tài trợ Theo tìm hiểu và

đánh giá của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, các doanh nghiệp

xã hội ở Việt Nam còn khá non trẻ, được thành lập chủ yếu từ những ý tưởng mang tính cá nhân, có vốn đầu tư ban đầu đa phần là vốn tự đóng góp của các

Trang 34

thành viên sáng lập với quy mô nhỏ Doanh nghiệp xã hội có đặc thù là không

vì mục tiêu lợi nhuận, lại kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư thương mại, cùng với đó là chi phí đầu tư cho nhân sự, quản lý của doanh nghiệp xã hội lại lớn hơn so với mức trung bình [3, tr.53-60] Vì vậy, doanh nghiệp xã hội đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tài chính, những khoản đóng góp, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân khác để phần nào bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp xã hội là rất cần thiết

- Doanh nghiệp xã hội không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký Trên cơ sở

mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích của cộng đồng mà các doanh nghiệp xã hội mới có thể huy động được các nguồn tài trợ, còn các nhà tài trợ khi tài trợ vào doanh nghiệp xã hội thì mong muốn khoản tài trợ ấy được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Xét về bản chất, khoản tài trợ do doanh nghiệp xã hội huy động được không phải là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp xã hội, nên việc quyết định sử dụng khoản tài trợ ấy như thế nào bị giới hạn Do đó, doanh nghiệp xã hội chỉ được sử dụng các khoản tài trợ để trang trải chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký Trường hợp doanh nghiệp xã hội vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định

số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội Với khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề về nhu

cầu an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu của những người nghèo, yếu thế nhất và đông nhất trong xã hội Đây là nhóm người lâu nay vẫn được bảo trợ từ các chính sách của nhà nước, hay nói cách khác, đây là gánh nặng của ngân sách

Trang 35

nhà nước [14, tr.73] Doanh nghiệp xã hội chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm, thu nhập và cơ hội để nhóm tầng lớp này tự tin, hòa nhập, từ đó giúp họ có cuộc sống ổn định hơn Doanh nghiệp xã hội đang ra sức giải quyết những vấn đề trong xã hội mà Nhà nước không làm xuể, giá trị mà các doanh nghiệp xã hội mang lại cho xã hội là rất lớn Do đó, Nhà nước cần xem doanh nghiệp xã hội là người bạn đồng hành cùng với mình trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và xây dựng các chính sách tạo điều kiện để doanh nghiệp xã hội phát triển

Kết luận Chương 1

Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam là một chủ thể đặc biệt, một doanh nghiệp hoạt động nhưng không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư mà phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội được phục

vụ cho cộng đồng Như vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với doanh nghiệp

xã hội cần xét đến các yếu tố đặc thù của mô hình này, để góp phần tạo nên

“hệ sinh thái” tốt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp xã hội phát triển như nhiều quốc gia trên thế giới

Mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và đem lại lợi ích cho cộng đồng là sứ mệnh cao cả của doanh nghiệp xã hội, đã làm cho doanh nghiệp xã hội khác hẳn với các doanh nghiệp thông thường và cũng không giống với các tổ chức từ thiện Doanh nghiệp xã hội mang đặc tính lai giữa doanh nghiệp thông thường và các tổ chức từ thiện [3, tr 10] Một bên là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính, còn một bên là các tổ chức phi Chính phủ được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy Vì vậy, doanh nghiệp xã hội là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai chủ thể này để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn

đề xã hội cụ thể, vì thế mà phần lớn lợi nhuận được dùng để phục vụ cho xã hội, môi trường

Trang 36

Nội dung Chương 1 đã trình bày một số vấn đề lý luận chung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, cụ thể bao gồm các nội dung như: Sự ra đời

và phát triển của doanh nghiệp xã hội, khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của doanh nghiệp xã hội Theo đó, trên cơ sở làm rõ khái niệm đã cho thấy, doanh nghiệp xã hội có một số đặc điểm như: Phải có hoạt động kinh doanh; phải đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu; tái phân phối lợi nhuận; lấy việc mang lại những giá trị tốt đẹp đối với toàn xã hội làm mục tiêu cơ bản và bản chất của doanh nghiệp và doanh nghiệp xã hội thường phục vụ nhu cầu của người nghèo, cơ nhỡ

Ngoài ra, nội dung Chương 1 còn trình bày về khái niệm, đặc điểm và nội dung địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội Cụ thể bao gồm các quy định pháp luật hiện hành về khái niệm, địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội Đây chính là tiền đề cho việc phân tích thực trạng về doanh nghiệp xã hội trong Chương 2

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI

THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở việt nam

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp xã hội theo pháp luật hiện hành

Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm mới được luật hóa quy định cụ thể tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, theo đó, mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể, nhưng Luật đã quy định về “Tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội” Cụ thể:

1 Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

(a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;

(b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;

(c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký

2 Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

(a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu

tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;

(b) Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;

Trang 38

(c) Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các

cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;

(d) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề

xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;

(đ) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp

3 Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội Có thể thấy, sau rất nhiều năm chờ đợi, lần đầu tiên doanh nghiệp xã hội được công nhận về mặt pháp lý Doanh nghiệp xã hội được hiểu một cách chung nhất là những doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Nó được thành lập với mục tiêu là để giải quyết một vấn đề xã hội nào đó mà doanh nghiệp đó theo đuổi, phần lớn lợi nhuận thu được dùng để phục vụ mục tiêu xã hội và môi trường

Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng Doanh nghiệp xã hội sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu

xã hội, môi trường như đã đăng ký Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội còn có một số quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp Cụ thể như sau:

- Duy trì mục tiêu và điều kiện về chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh

Trang 39

nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;

- Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;

- Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam

và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;

- Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề

xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;

- Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội

Hiện nay, có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp xã hội phải thuộc về khu vực tư nhân và xã hội; một số ý kiến khác yêu cầu doanh nghiệp xã hội phải đăng ký duới hình thức công ty mới đuợc coi là doanh nghiệp; một số khác lại cho rằng, không ít tổ chức cung cấp phúc lợi của Nhà nuớc cũng áp dụng kỹ năng kinh doanh và do đó có thể đi theo mô hình doanh nghiệp xã hội

Trên thực tế, doanh nghiệp xã hội có thể đuợc tìm thấy trong nhiều loại hình tổ chức và có địa vị pháp lý rất đa dạng Có thể nói các tổ chức doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay gồm có:

Ngày đăng: 21/11/2017, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Ngọc Ánh (2010), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2010
3. Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm (2012), “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - khái niệm, bối cảnh và chính sách” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - khái niệm, bối cảnh và chính sách
Tác giả: Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh, Trần Thị Hồng Gấm
Năm: 2012
4. Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
5. Gladius Kulothungan, University of East London (2012), Thách thức và cơ hội, Hội thảo “Phát triển doanh nghiệp xã hội qua các truờng Ðại học Việt Nam”, ngày 9/4/2012 tại Truờng Ðại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển doanh nghiệp xã hội qua các truờng Ðại học Việt Nam”
Tác giả: Gladius Kulothungan, University of East London
Năm: 2012
8. Bùi Xuân Hải chủ biên, Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
9. Nguyễn Thường Lạng, Tiềm năng phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt nam, Trường đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt nam
11. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật kinh tế
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
13. Phan Thị Thanh Thủy, “Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 (279), 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014
14. Nguyễn Viết Tý chủ biên, Giáo trình Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Hà Nội, tập 1, Nxb. Công an nhân dân, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
16. Nguyễn Thị Yến, “Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 11, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam
2. Cẩm nang pháp lý cho Doanh nhân và Doanh nghiệp xã hội - do CSIP phối hợp với InvestConsults và MSD thực hiện năm 2010, http://doanhnhanxahoi.org/document/cam-nang-phap-ly-dnxh-2010.pdf,truy cập 22/6/2017 Link
7. Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 hướng dẫn Luật Doanh nghiệp Khác
12. Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT quy định biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Nghị định 96/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh nghiệp Khác
15. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w