Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho con người, không những
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LA VĂN KHƯƠNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÕNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH
Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN TẠI TRANG TRAI LIÊN KẾT
VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN XNK BIOVET
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Lan Phương
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em
đã hoàn thành bản Khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, trại lợn liên kết với Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Biovet Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Đỗ Thị Lan Phương đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Đại học này
Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình
và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
La Văn Khương
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lƣợng đàn lợn của trại 4
Bảng 3.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 27
Bảng 3.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 29
Bảng 3.3 Lịch tiêm phòng vắc xin và thu ốc phòng bện cho đàn l ợn của tr ại chăn nuôi 30
Bảng 4.1 Kết quả tiêm phòng bằng vắc xin cho lợn 33
Bảng 4.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn tại trại chăn nuôi 34
Bảng 4.3 Kết quả một số công tác khác tại trại chăn nuôi 35
Bảng 4.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất tại trại chăn nuôi lợn 36
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 37
Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó ở lợn nái 40
Bảng 4.7 Công tác thực hiện chăm sóc nuôi dƣỡng gà đẻ trứng 42
Bảng 4.8 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho lợn con ở đại lý công ty Biovet 43
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh cho lợn và các công tác khác tại đại lý công ty Biovet 44
DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 1 Biểu đồ thể hiện tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái 37
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3
2.1.2 Cơ cấu đàn lợn của trại 4
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 5
2.2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2.2 Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái 15
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 19
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.4 Một số thuốc phòng và trị bệnh sinh sản của lợn nái 22
2.4.1 Thuốc amox 15% LA 22
2.4.2.Thuốc bio - decol 22
2.4.3 Thuốc oxytocin 23
2.4.4 Thuốc biodine 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 25
3.1 Đối tượng 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
Trang 7v
3.3 Nội dung tiến hành 25
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 26
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 26
3.4.4 Phương pháp xác định lợn mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú và đẻ khó 27
3.4.5 Công tác vê ̣ sinh phòng bê ̣nh ở trại chăn nuôi 28
3.4.6 Phương pháp điều trị bệnh ở đàn lợn nái tại trại 31
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Công tác phòng và chẩn đoán bệnh cho lợn ở trại chăn nuôi 33
4.1.1 Kết quả tiêm phòng bằng vắc xin cho lợn ở trại chăn nuôi 33
4.1.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn tại trại chăn nuôi 34
4.1.2 Công tác khác tại trại chăn nuôi 35
4.2.Tình hình mắc bệnh và kết quả điều trị bệnh sản khoa ở đàn lợn nái tại trại chăn nuôi lợn 36
4.2.2 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó ở lợn nái 39
4.3 Công tác thực hiện tại công ty cp Xuất nhập khẩu Biovet 41
4.3.1.Công tác chăm sóc nuôi dưỡng gà đẻ tại trại gà đẻ Mạc Văn Thuỷ,huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương từ ngày 1/9/2016 -30/9/2016 41
4.3.2 Công tác tiêm phòng và chẩn đoán bệnh cho lợn và các công tác khác ở đại lý thuốc thú y của công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Biovet 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
I Tài liệu tiếng Việt 47
II Tài liệu dịch 48
III Tài liệu Internet 48
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO ĐỀ TÀI
Trang 81
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho con người, không những cung cấp thực phẩm hàng ngày, có tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, mà còn là nguồn cung cấp sản phẩm phụ như da, mỡ cho các ngành công nghiệp chế biến, đồng thời với thực tế nước
ta là nước nông nghiệp thì chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt
Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu đời sống người dân ngày càng cao Đặc biệt là nhu cầu về nguồn thực phẩm có chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe hợp với giá cả thị trường Trên thực tế, thịt lợn là mặt hàng có giá cả ổn định tương đối cao và được tiêu thụ trên toàn thế giới Điều này chứng tỏ tính ưu việt cho ngành chăn nuôi lợn trong nước phát triển kinh tế và
ổn định thị trường Vì vậy nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư kinh phí phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng nhằm cung cấp cho thị trường khối lượng sản phẩm lớn chất lượng đảm bảo Tuy nhiên, việc phát triển đàn lợn gặp nhiều khó khăn do điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không phù hợp, thiếu cán bộ có chuyên môn điều trị bệnh không kịp thời Làm gia tăng dịch bệnh, thiệt hại lớn đến người chăn nuôi đặc biệt là những thiệt hại do bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng Trong đó, gây ảnh hưởng lớn nhất là các bệnh sản khoa Các bệnh này xảy ra phổ biến ở tất cả các lứa đẻ, làm giảm khả năng sinh sản giảm tỷ lệ thụ thai, chết thai Lưu thai Nếu nặng hơn, có thể làm mất khả năng sinh sản của lợn nái Do đó, ảnh hưởng tới việc
Trang 92
phát triển cơ cấu đàn lợn, giảm sự phát triển ngành chăn nuôi lợn nói chung
và gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợp trong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho
đàn lợn nái ngoại có hiệu quả, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Áp dụng
biện pháp phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh ở đàn lợn nái ngoại sinh sản
tại trang trại liên kết với công ty Xnk Biovet”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại lợn huyện Kỳ Sơn tỉnh
Hoà Bình
- Nghiên cứu và xác định được tình hình mắc bệnh sinh sản trên đàn
lợn nái ngoại và điều trị bệnh hiệu quả
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Nắm được tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn
huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình và các yếu tố ảnh hưởng
-Chẩn đoán, phòng và đưa điều trị bệnh sinh sản bằng phác đồ điều trị
bệnh của trại chăn nuôi
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài đóng góp một phần vào nguồn tư liệu về một số bệnh sinh sản trong chăn nuôi lợn nái
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh khi sử dụng phác đồ điều trị từ đó đưa
ra những liệu trình điều trị hiệu quả, kinh tế để áp dụng rộng rãi trong thực
tiễn chăn nuôi
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi
Trang 103
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
Trại heo nái sinh sản Phan Tấn Thành, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình
có diện tích 1.8ha nằm ở xã Dân Hạ huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, Trại nằm ở gần đường giao thông nên rất thuận tiện cho việc sản xuất Trại cách khá xa khu dân cư nên ít ảnh hưởng tới người dân, đặc biệt là ô nhiễm môi trường Đồng thời, cũng giúp cho trại có thể phòng chống được dịch bệnh lây lan từ bên ngoài khu dân cư cũng như dịch bệnh từ bên trong phát tán ra ngoài
Trại heo nái sinh sản Phan Tấn Thành nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc nên khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Mùa hè thường nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh
Trại bắt đầu được xây dựng vào năm 2013 đến tháng 9 năm 2014 thì bắt đầu đi vào chăn nuôi Trại gồm 2 khu là khu hành chính và khu sản xuất Khu hành chính gồm các phòng ban của trại như phòng ở của cô chú chủ trại, phòng họp, nhà ăn và nhà ở cho công nhân Có hệ thống phòng sát trùng tự động trước khi vào khu vực sản xuất, có phòng thay quần áo của công nhân
và khu sản xuất gồm 5 dãy nhà; có 8 chuồng, mỗi chuồng đều có diện tích là
700 Khu nuôi nhốt lợn đực có 80 Chuồng nuôi được xây dựng bằng gạch và xi măng Mái được lợp hai lớp bằng tôn Đầu chuồng được lắp đặt dàn mát là những tấm lưới lọc dày, bằng giấy hút ẩm, có hệ thống tưới nước
ẩm và hệ thống bạt che di động có thể chắn gió, mưa Cuối chuồng được lắp đặt hệ thống quạt hút gió Các ô chuồng được thiết kế bằng khung sắt chắc
Trang 114
chắn Nền chuồng bầu được lát bắng các tấm bê tông có lỗ đục Nền chuồng
đẻ được lát bằng các tấm đan bằng nhựa và tấm bê tông có lỗ đục Nền chuồng hậu bị và chuồng nuôi lợn cai sữa được láng bằng xi măng chắc chắn Trong chuồng nuôi hậu bị và lợn cai sữa còn có xây kênh nước Các máng ăn gồm có máng tự động, bán động bằng inox, máng inox nhỏ cho lợn con tập
ăn Nguồn nước uống cho lợn được lấy từ nước ngầm trên núi, sau đó qua hệ thống lọc, rồi theo hệ thống ống dẫn đến từng ô chuồng Tại đây có van uống đóng mở tự động khi lợn uống Chất lượng nước ở đây đã được sở Tài nguyên
và Môi trường kiểm tra và cấp giấy phép đạt tiêu chuẩn chăn nuôi Nhận thấy cách thức xây dựng chuồng trại ở đây là phù hợp Vì chuồng được xây theo hướng Nam nên mát về mùa hè và ấm về mùa đông Xung quanh chuồng có trồng cây xanh làm bóng mát Tất cả các thiết bị phục vụ chăn nuôi như điện, nước, máng ăn, máng uống được thiết kế, an toàn chắc chắn, dễ lau chùi và bảo dưỡng
2.1.2 Cơ cấu đàn lợn của trại
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 2 giống lợn là Landrace và Yorkshir Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày xuất chuồng
Bảng 2.1 Số lượng đàn lợn của trại
Chỉ tiêu
Số lợn qua các năm Năm
Lợn nái sinh sản (con) 130 200 350
Trang 125
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm; Số lợn nái hậu bị từ năm 2014 là 50 nái, tới tháng 5 năm 2015 tăng lên 120 nái, nái sinh sản từ 130 nái; năm 2014 tăng lên 350 nái ở tháng 5 năm
2016, lợn đực cũng tăng theo số lượng lợn nái từ 2 đực; năm 2014 tăng lên 6 đực đến tháng 5 năm 2016
Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”
2.2 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Bộ phận sinh dục bên ngoài:
Là bộ phận ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: âm hộ, âm
vật, tiền đình
Âm hộ (vulvae):đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái Âm hộ nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm môn Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin)
và khí quan cương cứng gọi là âm vật (clitoris)
Âm vật (clitoris):
Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn Là tổ chức cương cứng,
có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như bao quy đầu dương vật
Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào vận động bình thường
Trang 13 Bộ phận sinh dục bên trong:
- Buồng trứng (ovanrium) còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt buồng trứng sần sùi
Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái)
+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn Bên trong được chia thành hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt
+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết
Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 - 4 Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên Buồng trứng dài 1,5 - 2cm, khối lượng 3 - 5 gam
- Ống dẫn trứng (oviductus): ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20cm uốn khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng
Trang 147
trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần
Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mở ra trong xoang phúc mạc
Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử cung
Tử cung (dạ con) (uterus):
+ Cấu tạo giải phẫu tử cung:
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là
cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung Ở lợn tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai
Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung
Âm đạo (vagina):
Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ Đây là nơi tiếp nhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh
Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai Chiều
Trang 158
dài của âm đạo của lợn: 10 - 12cm
Ở lợn biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Cấu tạo giải phẫu tuyến vú
Tuyến vú chỉ có ở động vật có vú, tuyến này chỉ phát triển ở con cái khi đến tuổi thành thục về tính (dậy thì) và nó phát triển to nhất ở thời kỳ chửa,
đẻ Thời kỳ con vật đẻ, tuyến vú tiết ra sữa cung cấp dinh dưỡng cho con sơ sinh và lúc con còn non
+ Cấu tạo: tuyến vú là dạng đặc biệt của tuyến mồ hôi tạo thành, tất cả động vật có vú không kể đực, cái đều có tuyến vú Song chỉ ở con cái cùng với sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể, dưới ảnh hưởng điều hoà của các hocmone sinh sản mới được phát dục và hoàn thiện trước khi đẻ lần đầu tiên
Ở lợn có 6 - 10 đôi vú, thường là 6 đôi phân bố thành hai hàng từ vùng ngực tới vùng bẹn, đối xứng nhau qua đường trắng bụng Vú gồm có bầu vú và núm vú
Bầu vú: là nơi sản sinh và chứa sữa, ngoài cùng là lớp da mỏng mịn tùy theo vị trí mà lớp da này do da ngực, nách hay da bụng, bẹn kéo đến, tiếp đến là lớp cơ Trong cùng có hai phần cơ bản là bao tuyến và ống dẫn, xen kẽ giữa phần cơ bản ở trong là tổ chức mỡ, tổ chức liên kết, hệ thống mạch quản thần kinh bao vây và chia vú thành nhiều thuỳ nhỏ, trong đó có nhiều sợi đàn hồi Bao tuyến là nơi sản sinh ra sữa, giống như một cái túi, từ túi đó sữa theo
3 loại ống dẫn: nhỏ, trung bình, lớn rồi đổ vào xoang sữa ở đáy tuyến và
Trang 169
thông ra đỉnh ở đầu vú Để hình thành 1 lít sữa cần 540 lần lít máu đi qua tuyến vú, vì vậy sự cung cấp máu cho tuyến vú rất phong phú, mao mạch bao quanh bao tuyến dày đặc
Núm vú: một bầu có một núm vú, cấu tạo từ ngoài vào trong: da, tổ chức liên kết, cơ, ống dẫn sữa Lợn có từ 2-3 ống dẫn sữa Ở đầu núm vú sợi
cơ trơn xếp thành vòng tạo thành cơ vòng đầu vú, giữ cho đầu vú ở trạng thái khép kín khi không thải sữa
Sự phát triển của tuyến vú:
Động vật còn non tuyến vú chưa phát triển, khi đến tuổi thành thục,
hệ thống ống dẫn bắt đầu sinh trưởng và hình thành hệ thống ống dẫn nhỏ phân nhánh phức tạp, thể tích tuyến vú tăng lên, đoạn cuối ống dẫn hình thành bao tuyến chưa có xoang tiết
Đến thời kỳ chửa, nuôi con, bao tuyến có xoang tiết, ống dẫn tăng lên không ngừng, thể tích bầu vú lớn Qua một thời gian tiết sữa thể tích bao tuyến nhỏ dần, ống dẫn teo đi, lượng sữa giảm đến ngừng, bầu vú nhỏ lại
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
Sự thành thục về tính
Một số cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
Hiện tượng rụng trứng
Noãn bào dần dần lớn lên, nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng, dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất thì noãn bào vỡ ra giải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loại gia súc là khác nhau Ở lợn có 20 - 30 tế bào trứng trong 1 lần rụng
Trang 1710
Sự hình thành về thể vàng
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại nằm ở nửa xoang trứng, tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang, dịch và máu đông lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh (trong tế bào hạt có chứa lipoit của tế bào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ ở đầu xoang của tế bào trứng đó và nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối
đa rồi thoái hóa dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
Niêm dịch
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng, sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
Tính dục
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bề ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh Gặp con đực không kháng cự, tăng lên
về cường độ cho đến khi trứng rụng
Trang 1811
Tính hưng phấn
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loại biến đổi về bên ngoài thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì hưng phấn giảm đi rõ rệt
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục có biểu hiện biến đổi sinh
lý, bên trong âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại, gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi
đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện
Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
Trang 1912
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian ở lại ống trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng thì hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm xuống một chút trong 3 tuần đầu, sau đó duy trì
ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, trước ngày đẻ progesterone giảm đột ngột, estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức
độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là114 ngày
2.2.1.3 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái
Bệnh sản khoa được thể hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục
mở ra, máu và sản dịch ra nhiều điều đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập Sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng không những về mặt vật chất mà về cả mặt lượng cũng rất quan trọng, việc sử dụng thức ăn thích hợp theo nhu cầu của lứa tuổi có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng Cho ăn thiếu chất dinh dưỡng làm giảm sức đề kháng của cơ thể
Bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là một bệnh sinh sản thường gặp trong chăn nuôi lợn nái,
có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn nhưng thường xảy ra ở giai đoạn sau khi
Trang 20- Nguyên nhân mắc bệnh
Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân như:
+ Can thiệp không đúng kỹ thuật khi lợn đẻ khó, lợn bị nhiễm trùng từ chuồng trại do vệ sinh kém
+ Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin A, D, E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn
+ Cơ quan sinh dục ngoài bẩn
+ Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp
+ Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát, hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục
- Triệu chứng
Bệnh thể hiện ở dạng điển hình như lợn có biểu hiện mệt mỏi, sốt, hay nằm úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra trắng đục nếu nặng dịch có máu, đứng nằm, bứt rứt không yên, lợn con thường thiếu sữa, kêu nhiều Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt,
âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhày, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhày thường chảy không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt từ vài ngày đến một tuần Lợn nái thường không đậu thai hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lan sang thai
Trang 2114
- Hậu quả
Bệnh gây tổn thương cơ quan sinh dục, viêm xảy ra trong thời gian có chửa thì do biến đổi trong cấu trúc niêm mạc như: teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ thai Qua chỗ tổn thương, vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm bào thai phát triển không bình thường Nếu không phát hiện và điều trị triệt để sẽ làm tổn thất kinh tế cho người chăn nuôi
Bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú trên lợn nái thường gặp trong giai đoạn nuôi con, vú bị viêm dẫn đến sốt, kém ăn hoặc bỏ ăn, từ đó lượng sữa giảm, hoặc mất hẳn sữa Lợn con không được bú sữa đầu, hoặc bú sữa lợn mẹ viêm sẽ bị tiêu chảy, không thể chữa khỏi hoàn toàn
- Nguyên nhân
Do lợn mẹ bị viêm tử cung, vi khuẩn theo máu đến tuyến vú gây viêm
vú, lợn con có răng nanh, hoặc chuồng trại có nhiều cạnh sắc làm xây xát vú
mẹ tạo điều kiện vi trùng Staphylococcus, Streptococcus xâm nhập Lợn nái
nhiều sữa con bú không hết làm sữa ứ đọng nhiều, tạo môi trường cho vi trùng sản sinh gây viêm vú Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
- Hậu quả
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cơ thể lợn mẹ, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của lợn con theo mẹ Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì rất khó chữa, lợn nái sẽ bị chết Viêm vú kéo dài dẫn đến teo bầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa sau Nếu phát hiện
và điều trị kịp thời sẽ giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 2215
* Bệnh đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian ra thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau Không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả mẹ lẫn con có thể chết Do đó, đẻ khó gây thiệt về kinh tế cho ngành chăn nuôi
- Nguyên nhân:
Do chuồng chật; thiếu vận động; xương chậu lợn mẹ hẹp; lợn mẹ quá béo; khẩu phần ăn thiếu dinh dưỡng hoặc do thai to, thai ngược, thai chết
- Triệu chứng:
Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn
đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều và có lẫn máu (màu hồng nhạt) Có trường hợp lợn nái đẻ được một con, nhưng vẫn đẻ khó
ở con tiếp theo Khi đưa tay vào kiểm tra thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra), do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to
- Hậu quả:
Nếu không can thiệp kịp thời thì thai ngạt và chết, lợn mẹ kiệt sức Biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một số bệnh như: viêm tử cung, viêm vú, xảy thai truyền nhiễm khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến xảy thai, đẻ non, thậm trí là vô sinh
2.2.2 Chẩn đoán lâm sàng một số bệnh sinh sản của lợn nái
Phương pháp quan sát:
- Quan sát (Inspectio):
Trang 2316
Quan sát là phương pháp khám bệnh đầu tiên Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng hiệu quả cao, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán lâm sàng Bằng phương pháp quan sát này có thể xác định được trạng thái vật nuôi, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc, các triệu chứng bệnh Đồng thời quan sát cũng giúp chúng ta đánh giá chất lượng đàn vật nuôi, sàng lọc những con có nghi vấn mắc bệnh Khi quan sát tùy theo mục đích, vị trí nhìn, cần đứng xa hay gần con vật Tuy nhiên, nên quan sát từ
xa tới gần, từ tổng quát tới bộ phận
Quan sát toàn thân là quan sát trạng thái, cử chỉ, cử động, tình trạng dinh dưỡng, dáng điệu,… của vật bệnh
Quan sát cục bộ là quan sát lần lượt từ trước ra sau, từ trái qua phải, lần lượt các cơ quan bộ phận để phát hiện những thay đổi bất thường nếu có Nên quan sát khi đủ ánh sáng Nếu thiếu ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng đèn điện hay đèn chiếu Cần quan sát đối chiếu, so sánh giữa 2 bộ phận tương ứng của con vật và cần so sánh giữa cơ quan tổ chức bệnh với cơ quan tổ chức lành để thấy được những biến đổi bất thường
Phương pháp sờ nắn :
- Sờ nắn (Palpatio)
Người khám dùng tay sờ, nắn vào các bộ phận cơ thể gia súc bị bệnh để biết nhiệt độ, độ ẩm, độ cứng và độ mẫn cảm của tổ chức cơ thể gia súc Sờ nắn để bắt mạch, đo huyết áp, khám trực tràng là phương pháp thường dùng trong thú y
Sờ, nắn đây là phương pháp dùng cảm giác của ngón tay, bàn tay để kiểm tra chỗ khám, xác định thân nhiệt, độ ẩm, trạng thái,… và sự mẫn cảm của cơ thể vật nuôi Sờ, nắn cũng biết được cảm giác đau của con vật Qua sờ, nắn người khám còn xác định được tình trạng mạch của gia súc, khám qua trực tràng Sờ, nắn có 2 cách:
Trang 24+ Dạng khí thũng: sờ vào có cảm giác mềm, chứa đầy khí
Tuy nhiên, để sờ nắn có hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán
Phương pháp gõ:
Các khí quan, tổ chức trong cơ thể động vật có cấu tạo về mặt giải phẫu
và tổ chức khác nhau Vì vậy, khi gõ vào các cơ quan tổ chức đó âm hưởng thu được cũng khác nhau Lúc có bệnh, tính chất của tổ chức thay đổi thì âm hưởng phát ra lúc gõ cũng thay đổi Gõ là phương pháp khám bệnh dựa trên
cơ sở là âm hưởng, âm thanh do các vật thể chấn động tạo ra Các vật thể khác nhau, ở trong các trạng thái khác nhau, khi gõ sẽ cho các âm thanh khác nhau Các cơ quan, tổ chức trong cơ thể có cấu tạo và tính chất khác nhau nên khi gõ
sẽ phát ra các âm thanh khác nhau Trong trạng thái bệnh lý, các cơ quan tổ chức cũng thay đổi về tính chất, do đó âm phát ra khi gõ cũng thay đổi
- Kỹ thuật gõ
+ Gõ trực tiếp: Dùng ngón trỏ và ngón giữa của tay thuận gõ theo phương vuông góc với bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Với cách gõ này lực gõ không lớn, âm phát ra nhỏ, thường áp dụng với gia súc nhỏ
Trang 2518
+ Gõ gián tiếp: Là phương pháp gõ qua một vật trung gian Gõ qua ngón tay: dùng ngón giữa và ngón trỏ tay trái đặt sát lên bề mặt cơ quan, tổ chức cần khám, ngón giữa và ngón trỏ của tay phải gõ lên vuông góc với 2 ngón của tay trái Phương pháp này thường áp dụng để khám cho các loài gia súc nhỏ như dê, cừu, chó, mèo Gõ bằng búa gõ qua bản gõ: búa gõ có khối lượng và kích thước khác nhau tùy theo vóc dáng của gia súc Gia súc nhỏ dùng loại búa có trọng lượng từ 60 - 75 gam, gia súc lớn dùng loại búa 120 -
160 gam Bản gõ và búa gõ được làm cùng loại vật liệu, có thể bằng gỗ, sừng, nhựa hay kim loại
Bản gõ có dạng hình vuông, hình bầu dục hay hình chữ nhật,… sao cho thuận tiện, dễ thao tác, áp sát được vào thân con vật Cách gõ: tay trái cầm bản gõ, đặt sát lên bề mặt của cơ quan, tổ chức cần khám Tay phải cầm búa
gõ, gõ dứt khoát từng tiếng một lực gõ mạnh hay nhẹ phụ thuộc vào cơ quan,
tổ chức gõ lớn hay bé, ở nông hay sâu
Khi gõ mạnh các chấn động có thể lan 4 - 6 cm và sâu đến 7 cm, còn nếu gõ nhẹ các chấn động lan 2 - 3 cm và sâu 4 cm Khi gõ nên để gia súc nơi yên tĩnh, không có tạp âm bên ngoài để tránh làm lẫn tạp với âm gõ
Trang 2619
Phương pháp nghe dùng để khám hoạt động của các khí quan trong cơ thể như tim, phổi, dạ dày, ruột để biết được hoạt động của các tổ chức trên
Có hai phương pháp nghe là nghe trực tiếp và nghe gián tiếp
Nghe là phương pháp dùng tai hoặc dụng cụ chuyên dùng để nghe âm phát ra từ các cơ quan, bộ phận của cơ thể để biết được trạng thái và sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận đó Có 2 phương pháp nghe:
+ Nghe trực tiếp là dùng tai áp sát vào cơ thể vật nuôi để nghe Người nghe có thể dùng miếng vải hoặc miếng khăn sạch phủ lên vùng cần nghe để giữ vệ sinh Khi nghe phần ngực vật nuôi thì người khám quay mặt về phía đầu vật nuôi Còn khi nghe phần bụng của vật nuôi thì người nghe quay mặt
về phía sau của con vật Khi nghe tay phía bên trong của người nghe đặt lên sống lưng của con vật
+ Nghe gián tiếp là phương pháp nghe qua ống nghe Hiện nay người ta thường dùng ống nghe 2 loa, có độ phóng đại âm thanh lớn, sử dụng thuận lợi nhưng dễ lẫn tạp âm, làm tính chất âm thay đổi
- Điều kiện nghe
Để vật nuôi nơi yên tĩnh, tránh gió to, con vật phải đứng ở tư thế thoải mái Nghe từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, ở mỗi vị trí nghe đủ lâu để xác định rõ âm thanh nghe được Khi nghe phải có sự so sánh đối chiếu giữa 2 bên
2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Dixensivi Ridep (1997) [23], dùng rivanol 1% để thụt rửa tử cung đạt
- Ở Pháp Pierre Branillet và Beruard Faralt (2003) [24], đã nghiên cứu
và kết luận: điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú
- Ở Cuba các sĩ thú y sử dụng dung dịch Lugol 5% và dùng thuốc neometrina đặt để điều trị bệnh viêm tử cung cho kết quả điều trị cao
Trang 2720
kết quả cao và không ảnh hưởng tới gia súc
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], viêm tử cung là một quá bệnh
lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào
tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm
một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể
lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm
tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [10]
Theo Nguyễn Như Pho (2002) [16], lợn Yorkshire, Landrace trong giai đoạn nuôi con mắc bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ 15%, do chữa chạy kịp thời nên khỏi 100%, song đã ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn nái, phần lớn là do những trường hợp đẻ khó dẫn tới viêm tử cung
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [10], lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%; trên nhóm lai chiếm 50,48% Viêm tử cung xảy ra cao nhất là lứa 1 và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao nhiều hơn so với nhóm lợn không bị viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó cơ quan ngoài chiếm 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại cũng cao từ 1,82 - 23,33%
Theo Trần Minh Châu (1996) [2], điều trị bệnh bằng oxytocin và kháng sinh ampicillin 25 mg/1kgTT/ngày hoặc tetracyclin 30 - 50 mg/kg TT/ngày cho kết quả điều trị tốt
Trang 2821
Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2001) [4], khi lợn mắc bệnh viêm tử cung thụt rửa tử cung bằng rivanol 0,1% mỗi ngày một lần, mỗi lần 50 - 100
ml Sau đó dùng kết hợp các loại thuốc sau:
+ Tiêm bắp, kanamycin liều 10 mg/kg TT/ngày, ngày 2 lần
+ Tiêm bắp, gentamycin 4 UI/kg TT/ngày
+ Kanamycin bôi ngày 1 - 2 lần Đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ Vitamin C, B cafein cho kết quả tốt
+ Tiêm bắp canxifort liều 10 ml/ngày/2 lần/ngày
+ Bơm vào tử cung 1 triệu UI penicillin hòa tan với 50 ml nước cất, ngày một lần cho kết quả tốt
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [13], cho biết: + Benzin Penicillin: 1.000.000 UI
+ Gentamycin: 200.000 UI
Điều trị viêm tử cung ở lợn, đạt hiệu quả cao
+ Dùng viên nén chlotetracylin: 1 viên đặt vào tử cung
Điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ, viêm tử cung, lộn tử cung, sót nhau
Trang 29da, E.coli sưng phù đầu, sốt bỏ, ăn không rõ nguyên nhân Thuốc an toàn,
hiệu quả cho gia súc mang thai và nuôi con
Nơi thoáng mát tránh ánh sáng trược tiếp
Ngưng sử dụng thuốc trước kỳ khai thác sản phẩm (thịt) 21 ngày đối với trâu, bò, 14 ngày đối với dê, cừu
2.4.2.Thuốc bio - decol