1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại công ty cổ phần bình minh huyện mỹ đức thành phố hà nội

66 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của khoa Chăn Nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Nguyễn Thu Tran

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, để hoàn thành khóa luận của mình, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp

đỡ của các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y và Trại lợn nái ngoại Bình Minh,

Mỹ Đức - Hà Nội Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ, động viên của người thân trong gia đình

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thu Trang đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành

công khóa luận này

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thày cô giáo khoa chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Trại lợn nái Bình Minh, Mỹ Đức - Hà Nội chủ trang trại cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Lưu Thị Nhung

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2014 - 2016) 4

Bảng 4.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 33

Bảng 4.2 Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ 34

Bảng 4.3 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 35

Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con 35

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về khối lượng lợn con 36

Bảng 4.6 Lịch phòng bệnh trại lợn nái 38

Bảng 4.7 Lịch tiêm phòng vaccine trong trại 39

Bảng 4.8 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con 40

Bảng 4.9 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái 43

Bảng 4.10 Kết quả phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn con 45

Bảng 4.11 Kết quả thực hiện công tác khác 49

Trang 5

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

MMA: Agalacti - Mastitis - Metritisa

TT: Thể trọng

ĐVT: Đơn vị tính

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh 2

2.1.1.1 Quá trình thành lập 2

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 2

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 3

2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của trại 3

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến nội dung chuyên đề 4

2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề 4

2.2.1.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái 4

2.2.1.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ 23

2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 26

2.2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 26

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

Trang 7

3.3 Nội dung tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp theo dõi 30

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 32

4.2 Tình hình đẻ của đàn lợn nái 34

4.3 Số lượng và khối lượng con của các loại lợn nái 35

4.3.1 số lượng lợn con của các loại lợn nái 35

4.3.2 Khối lượng lợn con của các loại lợn nái 36

4.4 Công tác phòng bệnh 37

4.4.1 Vệ sinh phòng bệnh 37

4.4.2 Công tác phòng và trị bệnh bằng vaccine 39

4.5 Công tác chẩn đoán và diều trị bệnh cho lợn 40

4.5.1 Chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái 40

4.5.1.1 Bệnh viêm tử cung lợn 40

4.5.1.2 Bệnh viêm vú 41

4.5.1.3 Bệnh sót nhau 42

4.5.2 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn con 44

4.5.2.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con 44

4.5.2.2 Bệnh viêm phổi 44

4.6 Công tác khác 45

4.6.1 Đỡ lợn đẻ 45

4.6.2 Thao tác mài nanh, bấm số tai và tiêm sắt cho lợn con 46

4.6.3 Thiến lợn đực 46

4.6.4 Phát hiện lợn nái động dục và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 47

Trang 8

4.6.4.1 Phát hiện động dục 47

4.6.4.2 Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 48

4.6.4.3.Quy trình xuất bán lợn 48

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

I Tài liệu tiếng Việt 52

II Tài liệu dịch 53

III Tài liệu tiếng nước ngoài 53

PHỤ LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gia súc, gia cầm là một ngành có truyền thống lâu đời và phổ biến ở nước ta, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn đã gắn bó mật thiết với đời sống bà con nông dân Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất khí biogas làm nhiên liệu đốt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như: lông, da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái

là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công Nâng cao chất lượng chăn nuôi lợn nái sinh sản để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng của đàn lợn

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của khoa Chăn Nuôi Thú y, giáo viên hướng dẫn Nguyễn Thu Trang, chúng tôi đã thực hiện

chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ tại công ty cổ phần Bình Minh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

- Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn đẻ và giai đoạn nuôi con

- Trau dồi kiến thức thực tế, kinh nghiệm chuyên môn

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh

2.1.1.1 Quá trình thành lập

Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán

bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm chủ trại, cán bộ

kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân, bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 5400 lợn thịt bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích thước 7m × 7m/ô, 1 ô khích thức 3m × 7m/ô Hệ thống chuồng trại cho 1200 nái bao gồm: 6 chuồng lợn đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng nái chửa mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Trang 11

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 6 quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, đầu mỗi chuồng có 1 bể riêng để pha thuốc cho lợn uống phòng khi lợn ốm Nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

01 chủ trại

01 quản lý trại

03 kỹ thuật

01 kế toán

01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

7 công nhân và 19 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại

2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất của trại

- Đối tượng: lợn nái, lợn hậu bị, lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa

- Trong 3 năm gần đây kết quả sản xuất của trại như sau:

Trang 12

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại trong 3 năm (2014 - 2016)

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến nội dung chuyên đề

2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.2.1.1 Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái

Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa

+ Phương pháp phát hiện có chửa:

Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối

Trang 13

giống sẽ tác động biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản cho đàn lợn nái Còn nếu không có chửa thì có kế hoạch phối giống kịp thời

Thời gian có chửa của nái bình quân là 114 ngày, người ta chia thời gian chửa thành 2 thời kỳ:

Chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên

Chửa kỳ 2: là thời gian chửa từ ngày 85 đến khi đẻ

Có nhiều phương pháp phát hiện động dục nhưng trong thực tế thường dung phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái: tức là sau khi phối giống cho lợn nái 21 ngày mà lợn nái không động dục lại thì coi như lợn nái có chửa, tuy nhiên khi chẩn đoán bằng phương pháp này cần kết hợp với các biểu hiện bên ngoài của lợn nái sau khi phối giống: ở những lợn sau khi phối giống có biểu hiện mệt mỏi, thích ngủ, từ kém ăn sang phàm ăn, lông da ngày càng bóng mượt, tính tình thuần hơn, dáng đi nặng nề thì đó là những lợn nái có chửa Ngược lại khi quan sát thấy lợn nái sau khi ăn không chịu nằm, tai cúp, đuôi luôn ve vẩy, âm hộ có biểu hiện hơi xung huyết thì có thể lợn nái chưa có chửa, cần theo dõi để phối giống kịp thời và cần chú ý các trường hợp sau xảy ra:

 Hiện tượng động dục giả: là hiện tượng những lợn nái sau khi phối giống đã đạt kết quả nhưng vẫn có biểu hiện động dục

 Hiện tượng chửa giả: là hiện tượng những lợn nái sau khi phối giống không đạt kết quả nhưng không có biểu hiện động dục Nguyên nhân của hiện tượng này là do thể vàng buồng trứng tồn tại lâu, kìm hãm tuyến yên tiết FSH làm cho bao noãn không phát triển và thành thục nên không có biểu hiện động dục

+ Quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai:

Trang 14

Năm 1954 G.A.Smit đã chia thời kỳ phát triển thai của lợn làm 3 giai đoạn: giai đoạn phôi thai, tiền thai và thai Đòng thời trên cơ sở nghiên cứu của mình, kết hợp với các tài liệu khác Smit đã kết luận sự phát triển của các

cơ quan trong cơ thể lợn trong giai đoạn phôi thai và tiền thai không đều bằng giai đoạn thai

Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): đặc điểm của giai đoạn này là hợp

tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này nhau thai chưa hình thành, nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Phôi thai chịu tác động rất lớn của điều kiện ngoại cảnh như thức ăn thối mốc, hư hỏng sẽ làm cho thai trúng độc và chết, hoặc thức ăn có giá trị dinh dưỡng không đầy đủ, như thiếu một loại vitamin nào đó cũng có thể làm cho bộ phận trứng đã thụ tinh đình trệ phát triển và chết Cho nên ở giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ, khoa học

Giai đoạn tiền thai (23 - 38 ngày): ở giai đoạn này bắt đầu hình thành các cơ quan bộ phận của cơ thể Từ các lá phôi ngoài hình thành nên ống thần kinh đầu, lưng, tai, mắt và thần kinh ngoại biên của đầu Từ các lá phôi trong entoderma hình thành nên ống tiêu hóa và ruột, những nhánh lồi của

nó tạo thành gan và phổi Từ các lá phôi giữa mesoderma hình thành thận, phần lớn bộ xương và cơ quan sinh dục Thời kỳ này nhau thai đã được hình thành, nên đã có sự liên hệ giữa cơ thể mẹ và con, lợn mẹ đã có thể bảo vệ được cho phôi thai

Giai đoạn thai nhi (ngày thứ 39 - đẻ): đây là giai đoạn bào thai phát triển nhanh nhất về thể tích và khối lượng, hình thành đầy đủ các cơ quan bộ phận và hình thành đầy đủ đặc điểm của giống Theo các công trình nghiên cứu cho thấy, khối lượng thai nhi lúc sơ sinh lớn gấp 2 lần khối lượng bào thai lúc 3 tháng Thành phần hóa học của bào thai lợn cũng có sự thay đổi đáng kể theo sự tăng lên của tuổi Tỷ lệ nước có xu hướng giảm dần, trong

Trang 15

khi đó các thành phần như lipit, protit và khoáng có xu hướng tăng lên Vì vậy nuôi dưỡng lợn nái ở thời kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định khối lượng sơ sinh

+ Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa:

Trong quá trình có chửa lợn mẹ không động dục, quá trình đồng hóa chiếm ưu thế hơn so với quá trình dị hóa

Quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai tăng lên Đồng thời với quá trình trao đổi nhiệt là sự tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn mẹ tăng dần

Điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể lợn nái có chửa như nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trên cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó

+ Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái có chửa:

Việc chăm sóc lợn nái mang thai rất quan trọng đối với sự thành công của người chăn nuôi Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái có chửa

để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái hậu bị còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân tiếp tục lớn

Giai đoạn chửa kỳ 1: thời kỳ này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự trữ tạo sữa sau này Thiếu chất dinh dưỡng trong giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phôi thai như: hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống, khi đẻ ra chứa nhiều phôi thai khô Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn đến hiện tượng tiêu phôi và làm nái trở lên mập mỡ Dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 kcal/kg thức ăn hỗn hợp

Trang 16

Giai đoạn chửa kỳ 2: đây là giai đoạn thai lớn sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu mẹ để phát triển, do vậy việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ trong giai đoạn này rất quan trọng Khác với chửa kỳ 1, thời kỳ này cần cho nái vận động để có hệ cơ tốt, chân khỏe, khung xương chậu mở rộng (đối với nái đẻ lứa đầu) Thời kỳ này tầm vóc nái nặng nề nên chuồng trại phải khô, tránh mưa, gió lùa, mật độ phù hợp, theo dõi kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục, chuẩn

bị chuồng đẻ Khẩu phần của thời kỳ này giống chửa kỳ 1 nhưng mức ăn tăng lên từ 15 - 20%

Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái chửa/ngày chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau: giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn chửa, tình trạng sức khỏe lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ nái chửa kỳ 2 cho ăn nhiều hơn nái chửa kỳ 1, lợn nái gầy cho ăn nhiều hơn nái bình thường, mùa đông khi nhiệt độ xuống dưới 15oC thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ 25 - 30oC để tăng khả năng chống rét cho lợn

Đối với lợn nái tơ chửa lần đầu, có thể ăn tăng hơn từ 10 - 15% vì ngoài cung cấp chất dinh dưỡng để nuôi thai còn cần cho sự phát triển của cơ thể lợn mẹ

Thức ăn của lợn nái chửa yêu cầu nhiều thành phần, mùi vị phải thơm ngon, không bị thối mốc hư hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt

Trước khi lợn nái đẻ cần giảm số lượng thức ăn, nhưng cần duy trì đầy

đủ các chất dinh dưỡng bằng cách cho ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao

Không cho lợn nái có chửa ăn các loại thức ăn có chất độc, thức ăn bị ôi, các chất kích thích dễ gây sảy thai

Không cho lợn nái ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau khi phối giống có chửa

Trang 17

+ Công tác thú y đối với nái chửa:

Từ 3 - 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến, chuồng đẻ cần cọ rửa sạch phun thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng các loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

Trước khi đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng

Hàng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng không

Công tác tiêm phòng:

Tiêm phòng định kỳ các loại vaccine dịch tả, tụ - dấu, lepto 2 lần/nái/năm Chú ý không tiêm phòng cho lợn nái những loại vaccine trên khi lợn nái mang thai ở giai đoạn sau 60 ngày phối giống (trừ trường hợp có dịch xảy ra)

Cần tiêm vaccine E coli cho lợn nái chửa vào lúc 6 tuần và 2 tuần trước

khi đẻ, liều lượng: 2 ml/con, tiêm bắp

- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ

- Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn:

Công tác chuẩn bị trước khi đỡ đẻ cho lợn:

Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính xác, để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những trường hợp đáng tiếc có thể xảy ra

+ Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ:

Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ, tẩy rửa vệ sinh khử trùng toàn bộ chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, thoáng mát sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho lợn nái vào đẻ

Trước khi đẻ một tuần cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ Lợn nái được lau rửa đất hoặc phân dính trên người, dùng khăn thấm nước, xà phòng lau sạch bầu vú

Trang 18

và âm hộ Làm như vậy tránh nguy cơ lợn con mới sinh nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh cho lợn nái chúng ta chuyển lợn nái sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới + Chuẩn bị ô úm lợn con: ô úm có ý nghĩa rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết con, đặc biệt là những ngày mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phục Ô

úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt thích hợp

Vào những ngày dự kiến đẻ cần chuẩn bị xong ô úm của lợn con, kích thước ô úm: 1,2 - 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống

từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

+ Chuẩn bị dụng cụ

Cần chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ sau: dao, kéo, cồn sát trùng, kìm bấm nanh, kìm bấm số tai, cân để cân khối lượng sơ sinh, khăn mặt hoặc vải màn, đèn thắp sáng, khay dựng dụng cụ, xô chậu đựng nước, sổ sách, các loại thuốc như thuốc trợ đẻ, thuốc trợ sức, thuốc kháng sinh

- Trực và đỡ đẻ cho lợn

Trực đẻ rất cần thiết có thể hỗ trợ lợn nái trong những trường hợp bất thường Quan sát sát biểu hiện của lợn nái khi sắp đẻ, để có kế hoạch trực đẻ

và đỡ đẻ cho lợn nái

Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ:

Khi lợn nái sắp đẻ bụng đặc biệt to, khi lợn nằm thai cử động nhiều Trước khi đẻ 20 ngày, bầu vú to dần, đến lúc sắp đẻ thì bầu vú căng và hướng

ra ngoài có màu đỏ hồng Trước khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú bắt đầu cứng Trước khi đẻ 1 - 2 ngày nếu vắt thấy có sữa, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng, 2 bên gốc đuôi lõm xuống Khi thấy lợn có biểu hiện bắt đầu cắn ổ, đi lại không yên, có hiện tượng đái són là lúc lợn sắp đẻ: 10 giờ (đối với lợn chửa lứa đầu)

Trang 19

và 5 - 6 giờ đối với lợn đẻ nhiều lứa Khi lợn tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn là lợn bắt đầu đẻ, cần bố trí theo dõi đỡ đẻ kịp thời

Những biểu hiện khi lợn đẻ:

Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai

ra ngoài Khi thai ra rốn tự đứt, lợn là loài đa thai nhưng lợn đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì xem xét tác động ngay Khi lợn đẻ, lợn con tự làm rách nhau thai để ra, nhưng cũng có khi cả màng thai và lợn con ra cùng một lúc, gọi là hiện tượng đẻ bọc, lúc này cần nhanh chóng xé bọc tách màng thai ra tránh hiện tượng lợn con bị ngạt Lợn

đẻ ở trạng thái bình thường là đầu ra trước cùng với 2 chân trước úp xuống hoặc ngửa lên

Khi lợn nái đẻ hay nằm, nhưng cá biệt có con đứng và đi lại, trong trường hợp này cần tác động cho lợn nằm xuống như có thể xoa nhẹ vào mông, bụng để lợn nằm xuống đẻ

- Kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc lợn con khi sinh ra

Sau khi đẻ lợn sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây nghẽn đường thở Việc sách dốc ngược cũng giúp máu dồn về não nhờ đó não không bị liệt Nên nắm chặt cuống rốn, tránh chảy máu khi cuống rốn đứt rời cuống nhau, nên quan sát kỹ để phát hiện lợn con bị ngạt như da tím tái, dãn

cơ, heo mền nhũn không cử động Gặp trường hợp này nhanh chóng dùng khăn lau móc nhớt trong xoang miệng, mở rộng miệng và dùng tay bóp lồng ngực 60 lần/phút để tạo sự thông phổi Có thể tác động như thế trong vòng 15

- 20 phút kết hợp với việc lau

Khi thấy lợn con bắt đầu cử động tiến hành lau chất nhày toàn thân, cột rốn cách thành bụng 4cm và cắt rốn cách chỗ buộc 1cm Chỉ cột rốn và kéo

Trang 20

cắt rốn được sát trùng cẩn thận Sau khi cắt rốn kiểm tra lại xem rốn có bị rỉ máu vì cột không chặt, nhúng rốn vào dung dịch cồn Iốt 5% để sát trùng Lợn

sơ sinh được cắt bỏ 8 răng nhằm tránh đau bú mẹ khi bú

Nên úm lợn con nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh nhằm tránh tình trạng lợn con tiêu hao năng lượng để chống lạnh, nhiệt độ úm khoảng 30 - 33o

C, nên cho lợn con bú ngay khi chúng ủi nhau tìm sữa vì đói

Lau sạch vú bằng thuốc sát trùng trước khi cho lợn con bú Làm vệ sinh chuồng trại kỹ lưỡng khi lợn nái đẻ xong, lợn nái cần giữ cho thoáng mát, tránh nóng, tránh lạnh, tránh gió lùa mưa tạt

Phải cho tất cả lợn con được bú sữa đầu vì sữa đầu chỉ sản xuất trong khoảng 24 giờ sau khi đẻ và lợn con chỉ hấp thu sữa đầu tốt nhất trong 24 giờ sau sinh

Cắt đuôi cho lợn con trong vòng 24 giờ sau sinh để giảm stress cho lợn con Sử dụng kéo bấm đã được sát trùng để cắt đuôi cho lợn con cách khớp nối với cơ thể 2,5cm, bôi thuốc sát trùng vào vết thương Đuôi sẽ lành trong vòng 7 - 10 ngày, cắt đuôi quá ngắn hay quá đài đều không tốt

Bấm số tai: là phương pháp thông dụng để đánh dấu trong việc theo dõi quản lý đàn lợn vĩnh viễn

Cân khối lượng sơ sinh và ghi chép sổ sách cẩn thận

 Xử lý những trường hợp những trường hợp bất thường khi lợn nái đẻ:

 Các biện pháp can thiệp khi lợn đẻ khó

Các nguyên nhân đẻ khó có thể do: chuồng chật, lợn mẹ thiếu vận động hoặc xương chậu của lợn hẹp, lợn mẹ quá béo do ăn quá nhiều tinh bột, thiếu

Ca, P; lợn nái già nên khi đẻ co bóp của cơ yếu, không đủ sức đẩy thai ra Cũng có thể là thai quá to ngôi thai không thuận, hoặc thai chết

Những trường hợp này thường có biểu hiện: nước ối có màu đỏ, sau 2 - 3 giờ rặn đẻ mà thai không ra, thai ra nửa chừng không ra hết vì con to, thai ra 1

Trang 21

- 2 con sau đó không ra được vì lợn mẹ yếu, trong trường hợp lợn đẻ lâu tức

là thời gian đẻ dài nên cho lợn mẹ uống nước ấm pha với muối, đồng thời dùng tay hỗ trợ các động tác đỡ đẻ Hoặc có thể dùng lợn con đẻ trước cho vào bú lợn mẹ để kích thích lợn mẹ đẻ

Nếu can thiệp bằng các biện pháp trên không được thì ta có thể tiêm oxytocin cho lợn nái, chú ý không tiêm oxytocin khi cổ tử cung chưa mở Trong trường hợp quan sát thấy lợn nái rặn nhiều lần kèm theo co chân mà không đẻ được thì phải can thiệp bằng tay, chú ý phải vệ sinh cẩn thận khi thao tác

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái đẻ

Thức ăn dùng trong giai đoạn này là thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,

dễ tiêu hóa, không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi đẻ phải căn cứ vào tình hình sức khỏe của lợn nái để

có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn

Những ngày lợn nái đẻ phải căn cứ vào tình hình sức khỏe của lợn nái,

sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ nuôi dưỡng hợp lý

Xử lý một số trường hợp sau khi lợn nái đẻ

Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [16] hội chứng viêm

tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA: Agalacti - Mastitis - Metritisa) là một hội chứng phức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn nái trước và sau khi đẻ Giống tên gọi của nó, hội chứng bao gồm hiện tượng viêm vú trên lợn nái (trong giai đoạn trước khi đẻ), bệnh viêm tử cung ở lợn nái (trong giai đoạn sau đẻ khoảng 1 tuần), hiện tượng mất sữa ở lợn nái (trong giai đoạn lợn nái nuôi con) Hội chứng này nằm trong nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được

Trang 22

triệu chứng lâm sàng và điển hình của lợn nái mắc hội chứng MMA là: sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung, không cho con bú, viêm sưng vú

Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và huyết sắc tố trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều cao hơn các chỉ tiêu ở lợn bình thường

- Bệnh viêm tử cung

 Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs

2002 [9], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng nên khi phối giống vi khuẩn có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm

Trang 23

không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Theo Đoàn Kim Dung và cs 2002 [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm tử

cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết

(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…

Theo Lê Văn Năm và cs (1999) [11] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân

từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của

dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

 Triệu chứng bệnh viêm tử cung:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 42oC, trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

Trang 24

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

 Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn

nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu + Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại + Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ

Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới

200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ

ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Trang 25

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy

ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

- Bệnh viêm vú

 Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

Theo Trần Minh Châu (1996) [2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không

đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn

đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây

ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là

môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm

+ Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn

Trang 26

con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000) [8]

+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

 Triệu chứng bệnh viêm vú

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [14], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42o

C kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy xung quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết

+ Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt

và sót lại

Trang 27

+ Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được

+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo + Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi

+ Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung → giảm sức rặn của con mẹ

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh

truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu

tạo của nhau làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ

* Triệu chứng: theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2014) [10] căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 3 loại:

+ Sát nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai còn dính trên niêm mạc tử cung của con mẹ

+ Sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa nhau thai ở gia súc đơn thai, chứa ít thai ở gia súc đa thai thì nhau thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung của con mẹ Phía còn lại nhau thai còn dính chặt trong tử cung + Sát nhau từng phần: phần lớn màng nhau đã tách khỏi niêm mạc tử cung, chỉ một phần màng nhau hoặc núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung của con mẹ

Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn có sót nhau hay không

 Điều trị: theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [26] can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra

Trang 28

ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quá trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó

là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,

cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn

bổ sung đạm động, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

 Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

1 - 2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

Trang 29

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu

có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [13], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20oC, độ ẩm 70 - 75%

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ

có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Do

Trang 30

vậy việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rất quan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiết sữa và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề ra biện pháp kỹ thuật có hiệu quả

- Sinh lý tiết sữa

Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có

bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ

Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vào bầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc

vú mẹ, những kích thích này truyền nên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ

đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích

tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau, những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau

Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúc lợn

mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần trên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/ con

Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần

Trang 31

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống,

cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc

2.2.1.2 Kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ

Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ để có biện pháp tác động thích hợp

 Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giai đoạn này để giảm tỷ lệ chết

 Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn

mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi

đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập ăn sớm cho lợn con

 Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu

là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn

Trang 32

này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp

Chú ý: trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiến hành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:

+ Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con

+ Bổ sung sắt cho lợn con

+ Tập cho lợn con ăn sớm

 Cho bú sữa đầu:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng  globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai,

để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++

thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao

 Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày, lượng sắt

Trang 33

thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc 3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn Bình Minh tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung sắt một lần

Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng Hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy,

ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong

Có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc cho ăn nhưng người ta thường tiêm ở cổ

 Tập cho lợn con ăn sớm:

Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách

dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)

Ngày đăng: 21/11/2017, 08:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Ph ng tr bệnh heo nái - heo con - heo th t, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, Trang 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph ng tr bệnh heo nái - heo con - heo th t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
2. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
5. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Ph ng và tr bệnh lợn nái đ sản xuất lợn th t siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph ng và tr bệnh lợn nái đ sản xuất lợn th t siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
7. Phan Xuân Hảo (2001), “Xác đ nh một số chỉ tiêu sinh sản, năng suất và chất lượng lợn th t Landrace và Yorkshire với các ki u Halothan khác nhau”, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác đ nh một số chỉ tiêu sinh sản, năng suất và chất lượng lợn th t Landrace và Yorkshire với các ki u Halothan khác nhau”
Tác giả: Phan Xuân Hảo
Năm: 2001
8. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều tr các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều tr các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000
9. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp ph ng tr , tập II, Nxb Nông nghiệp, Trang 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp ph ng tr
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
10. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ (2014), Bệnh của lợn tại Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2014
11. Lê Văn Năm (1999), Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn ph ng và tr bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn ph ng và tr bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
12. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông
Năm: 2002
13. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
14. Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và ph ng tr bệnh cho lợn, Nxb Lao động - Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chăn nuôi và ph ng tr bệnh cho lợn
Tác giả: Ngô Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội Hà Nội
Năm: 2006
15. Đỗ Quốc Tuấn (2005), Bài giảng sản khoa và bệnh sản khoa gia súc, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản khoa và bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Đỗ Quốc Tuấn
Năm: 2005
16. Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010), Một số bệnh trên heo và cách điều tr tập 2, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà NộiII. Tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh trên heo và cách điều tr tập 2
Tác giả: Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2010
17. A.V. Trekaxova, L.M. Đaninko, M.I. Ponomareva, N.P. Gladon (1983), Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản
Tác giả: A.V. Trekaxova, L.M. Đaninko, M.I. Ponomareva, N.P. Gladon
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1983
18. Pierre Brouillet và Bernard Faroult (2003), Điều tr viêm vú lâm sàng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.III. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tr viêm vú lâm sàng
Tác giả: Pierre Brouillet và Bernard Faroult
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội. III. Tài liệu tiếng nước ngoài
Năm: 2003
19. Smith B. B., Martineau, G., Bisaillon A. (1995), “Mammary gland and lactation problems”, In disease of swine, 7 th edition, Iowa state university press, pp. 40 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammary gland and lactation problems”, "In disease of swine," 7th "edition
Tác giả: Smith B. B., Martineau, G., Bisaillon A
Năm: 1995
20. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia in Pig”, production in Autralia, Butterworths”, Sydney Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metritis - Mastitis - Agalactia in Pig”, production in Autralia, Butterworths”
Tác giả: Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C
Năm: 1990

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm