Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không trùng lặp, không sao chép bất kỳ công trình nghiên cứu nào; những tài liệu, số liệu, dẫn chứng sử dụng trong Luận văn là trung thực và chính xác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan trên./
Người cam đoan
Phạm Văn Khải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 7
1.1 Lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự 7 1.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm 12
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29
2.1 Khái quát tình hình kháng nghị phúc thẩm hình sự 29 2.2 Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm hình sự, những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân 32
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 54
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm hình sự 54 3.2 Những giải pháp về công tác tổ chức cán bộ tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 59
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5Tòa án nhân dân Viện kiểm sát VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thống kê số lượng án được thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Khoản 1, Điều 2 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiếp pháp
và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Thật vậy, với vị trí và vai trò của mình, VKSND tiến hành các hoạt động tố tụng xuyên suốt ngay từ quá trình nhận thông tin tố giác tội phạm cho đến khi bản án, quyết định được thi hành Chức năng thực hành quyền công tố của VKS thể hiện thông qua việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp
lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Bên cạnh đó, VKSND còn thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án Để đảm bảo việc pháp luật được thực hiện nghiêm minh, đúng đắn, trong trường hợp việc xét xử của Tòa án vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật hình sự (LHS) hay tố tụng hình sự (TTHS), hoặc sau phiên tòa xét xử sơ thẩm (PTXXST) mà phát hiện thấy quá trình tố tụng từ khi khởi tố vụ án hình sự đến truy tố, xét xử có vi phạm pháp luật, cả về hình thức và nội dụng thì Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm nhằm sửa chữa, khắc phục các sai lầm của tòa án cấp sơ thẩm khi ra các bản án hoặc quyết định đó Trong rất nhiều hoạt động của ngành kiểm sát, kháng nghị là một trong những hoạt động quan trọng nhằm thực hiện chức năng của ngành
Trang 82
Những năm qua, thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm của ngành Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh, đã có những chuyển biến nhất định.Chất lượng kháng nghị được từng bước nâng lên và cải thiện không ngừng Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm trên địa bàn thành phố còn không ít bất cập về mặt khách quan và chủ quan, cần phải nhanh chóng loại bỏ Trong khi đó, chưa có một công trình nghiên cứu về vấn
đề này thông qua thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm ở Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Với mong muốn từ quá trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự nói chung và kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, qua đó, tìm ra nguyên nhân và kiến nghị nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm thời gian tới, tác giả lựa
chọn đề tài: "Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được nhiều học giả, các luật gia, các Kiểm sát viên giàu kinh nghiệm nghiên cứu dưới nhiều góc độ, các phương diện khác nhau Hiện nay, có tương đối nhiều tài liệu phân tích về chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự thể hiện dưới dạng sách chuyên khảo, bình luận trên báo, tạp chí, các bài viết đăng tải trên Internet Trong quá trình sưu tầm tìm hiểu phục vụ việc nghiên cứu hoàn thiện đề tài, tác giả thấy các tài liệu này tập trung chia thành 4 nhóm sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận về kháng
nghị phúc thẩm hình sự: Đinh Văn Quế (2007), Bàn thêm về kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát (số 15); Ngô Thanh Xuyên
(2012), Bàn về khái niệm kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hình sự, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số 6); Nguyễn Thúy Vân (2007), Căn cứ để kháng
Trang 9Hiếu (2015), Khái niệm hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm trong tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học (số 1); Hoàng Thị Minh Sơn
(2013), Một số bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm, Tạp chí Luật học (số 8);…
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật về
kháng nghị phúc thẩm hình sự: Vũ Đức Thành (2010), Đôi điều rút ra qua
thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Tạp chí Kiểm sát (số 16); Lê Thanh Hùng (2008),Kết quả, kinh nghiệm của viện kiểm sát trong việc kháng nghị phúc thẩm hình sự các bản án, quyết định của toà án cấp huyện, Tạp chí Kiểm sát (số 4)…
Thứ tư, các công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự: Phạm Ngọc Cảnh (2010), Bàn về tăng cường
công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của viện kiểm sát hai cấp tại Hải Phòng, Tạp chí Kiểm sát (số 16); Nguyễn Thị Lan (2017), Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hải Phòng, Tạp chí Kiểm sát (số 3); Ngô Thanh Xuyên
& Đỗ Mạnh Phương (2014), Hoàn thiện các quy định về kháng nghị phúc
thẩm hình sự trong Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành, Tạp chí Kiểm sát (số
17) …
Nhìn chung, các bài viết, công trình nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm nhiều nhưng, mỗi bài viết, công trình nghiên cứu chỉ tập trung giải quyết một hoặc một vài nội dung cụ thể liên quan đến chế định kháng nghị phúc
Trang 104
thẩm hình sự, hoặc chỉ nghiên cứu ở mức độ khái quát chung (Ví dụ: Bùi
Luyện (2013), Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự
của Viện Kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội); hoặc chỉ nghiên cứu ở địa phương khác không
phải là Thành phố Hồ Chí Minh (Ví dụ: Trần Minh Ngọc (2011).Kháng nghị
phúc thẩm các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội)
Các công trình được nghiên cứu từ khá lâu, khi luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 chưa có hiệu lực, cũng như chưa có sự so sánh, đối chiếu với những điểm sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015
Do đó, đề tài nghiên cứu của luận văn lựa chọn vấn đề cơ bản còn tồn tại và chưa hiệu quả trong công tác kháng nghị phúc thẩm của thành phố, so sánh, đối chiếu với các quy định mới của pháp luật, đồng thời đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp tăng cường chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm sáng rõ một số vấn đề lý luận về kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm của Viện kiểm sát
Trang 115
Thứ hai, phân tích, đánh giá toàn diện về việc thực hiện pháp luật và
thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ chí Minh Qua đó, rút ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại, đưa ra những nguyên nhân nội tại của vấn đề
Thứ ba, đề xuất những kiến nghị, những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả, chất lượng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành kiểm sát nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát các cấp, có
sự so sánh, đối chiếu trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015, Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và năm 2014, liên hệ với thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi của luận văn là sự đánh giá toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ chí Minh và các Viện kiểm sát nhân dân trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, từ đó rút
ra những điểm tích cực và hạn chế về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trên địa bàn thành phố
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, về cải cách tư pháp
Để nghiên cứu về đề tài và hoàn thiện luận văn, tác giả đã vận dụng những kiến thức đã được tiếp thu, sưu tầm, tổng hợp các tài liệu liên quan đến
Trang 126
kháng nghị phúc thẩm, kết hợp với xem xét, đánh giá, chọn lọc các bản án các quyết định kháng nghị phúc thẩm hình sự đã thu thập được để phân tích và làm rõ vấn đề nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp người viết đã sử dụng kết hợp đó là: Phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp chứng minh,…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về mặt khoa học: Đề tài đã góp phần làm rõ bản chất pháp lý, cơ sở lý
luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam và đề ra giải pháp hoàn thiện một số vấn đề lý luận về thủ tục phúc thẩm
- Về mặt thực tiễn:Các kết quả nghiên cứu của Đề tài góp phần nâng
cao hiệu quả áp dụng thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ chí Minh Với ý nghĩa đó, kết quả nghiên cứu của Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào
Trang 137
Chương 1
LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 1.1 Lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định pháp luật [38, tr 9,10]
Để bảo đảm các nguyên tắc của tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình
sự (BLTTHS) ngoài quy định trình tự khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự còn quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan
hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố, bảo vệ quan điểm truy tố theo cáo trạng và bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội Ngoài ra, VKSND còn thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án Nếu việc xét xử của Tòa án vi phạm nghiêm trọng về pháp luật hình
sự và tố tụng hình sự hoặc sau phiên tòa xét xử sở thẩm mà phát hiện thấy trong suốt quá trình từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vì lý do khách quan hoặc chủ quan mà đã có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình thức (Luật Tố tụng Hình sự) và nội dung (Luật Hình sự) thì Viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát cấp trên trực tiếp sử dụng một quyền năng pháp lý đặc biệt để yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, đó là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trang 148
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ "kháng nghị" là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [20, tr 894]; "phúc thẩm" là xét lại những vụ án do tòa
án dưới đưa lên [20, tr 1087]
Theo Từ điển Luật học thì, "kháng nghị" của Viện kiểm sát là việc
VKS khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với toàn
bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản
án đó để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đảm bảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [8, tr 731];
Tại Điều 232 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định:
“Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng
nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Điều 36 BLTTHS 2003 quy
định: “…2 Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: i) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án"
Điểm o, Khoản 2, Điều 41 BLTTHS 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát, theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát có
quyền: "o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản
án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này"
Trang 159
Tại điểm c, Khoản 3, Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 quy định: "Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện
kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật"
Như vậy, pháp luật quy định, Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm đối với những bản án và quyết định
sơ thẩm khi xét thấy vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động xét xử của Tòa
án Kháng nghị phúc thẩm hình sự cho thấy quyền năng pháp lý xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử
Hiện nay, trong BLTTHS hiện hành và các văn bản pháp lý khác, cũng như trong các công trình nghiên cứu của các luật gia chưa có một định nghĩa
đồng nhất về khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự” Trên cơ sở các tài
liệu tác giả nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm của các nhà khoa học về tố tụng hình sự và phân tích nội dung, đặc điểm, đặc trưng cũng như mục đích của kháng nghị phúc thẩm hình sự, tác giả đưa ra định nghĩa về kháng nghị
phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng
pháp lý đặc biệt mà Nhà nước giao cho Ngành Kiểm sát được thể hiện bằng văn bản để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng, thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng là quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Trang 16và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, đây là một quyền năng được Hiến định, được quy định tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam năm 2013 Chỉ có VKS mới được Nhà nước giao thực hiện chức năng này
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Khoản 1, Điều 5) quy
định: "Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị"
Bên cạnh đó, kháng nghị (của VKS) không chỉ là thuật ngữ pháp lý duy nhất chỉ có trong trình tự phúc thẩm mà nó còn là căn cứ để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu đó là căn cứ để xét xử tái thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm [10]
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong những biểu hiện rõ nhất về quyền năng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa
án nhân dân
Khi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên toà sơ thẩm hình sự, nếu xét thấy
Trang 1711
bản án và quyết định của Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và mọi quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát phải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ án lên Toà
án cấp trên trực tiếp xét xử lại bằng quyền năng pháp lý do luật định đó là kháng nghị phúc thẩm
Như vậy, qua phân tích về đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự
có thể thấy, kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc kháng nghị phúc thẩm hình sự trong trường hợp phát hiện bản án, quyết định
sơ thẩm của Toà án cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời
1.1.3 Ý nghĩa của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
a) Ý nghĩa chính trị
Việc quy định kháng nghị phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Quy định này nhằm góp phần quan trọng vào thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, tính pháp chế XHCN, không
ngừng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
b) Ý nghĩa pháp lý
Việc quy định và thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là căn
cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, đồng thời cũng xác định phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm BLTTHS quy định về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tương đối cụ thể và phù hợp với mục đích của xét xử phúc thẩm là kiểm tra lại tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm đồng thời xét xử lại vụ án về mặt nội dung Qua đó, một mặt bảo vệ
Trang 18bản của luật TTHS, nó là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế độ
hai cấp xét xử” Để vụ án hình sự có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp
phúc thẩm; nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
1.2 Quy định pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.2.1 Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự
BLTTHS 2003 không quy định đối tượng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong một điều khoản nhất định nhưng khi nghiên cứu các quy định về phúc thẩm thì có thể thấy đối tượng kháng nghị được “quy định ẩn” trong
Điều 220 và điều 232 BLTTHS như sau: “Xét xử phúc thẩm là việc tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm, mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng
Trang 19án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là những bản án, quyết định
sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị [28]
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải tất cả các quyết định sơ thẩm của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật đều có thể bị kháng nghị như quyết định hoãn phiên tòa, quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; quyết định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; quyết định về việc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án…
Để khắc phục quy định của BLTTHS về kháng nghị phúc thẩm đối với các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao đã có văn bản hướng dẫn thi hành tại Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm của BLTTHS”, theo đó quyết định sơ
thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm bao gồm: “Quyết định tạm đình
chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án; quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và các quyết định khác”, tuy nhiên văn bản này cũng không thể
hiện rõ các quyết định khác là quyết định nào
Khoản 2 Điều 330 BLTTHS năm 2015 đã liệt kê cụ thể các quyết định
sơ thẩm là đối tượng kháng nghị phúc thẩm hình sự Đó là, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này
Các quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của BLTTHS gồm có: Quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử được quy
Trang 20Điều 32 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007) đã nêu cụ thể là: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp tỉnh
Trang 2115
Tuy nhiên, khi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có hiệu lực thi hành quy định về hệ thống VKSND gồm có 04 cấp: VKSND tối
cao; VKSND cấp cao; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(VKSND cấp tỉnh); VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (VKSND cấp huyện) Đồng thời, sau khi Nghị quyết 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội về việc thi hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Đây là quy định mới thay đổi về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm của ngành kiểm sát Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao không còn có chức năng kháng nghị phúc thẩm mà chuyển quyền năng này cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
Như vậy, chủ thể kháng nghị phúc thẩm theo quy định hiện hành gồm có: Viện trưởng kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Việc kháng nghị của Viện kiểm sát khi phát hiện ra những sai lầm, thiếu sót của bản án, quyết định sơ thẩm là quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa
án, nhằm mục đích bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Viện kiểm sát có thể kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định, đối với tất cả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hay chỉ với một số người Hướng kháng nghị của Viện kiểm sát cũng không bị hạn chế
Trang 2216
Do cả Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đều
có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án sơ thẩm nên sẽ có những trường hợp xảy ra như:
Một là, nếu hai bản kháng nghị có tính chất bổ sung cho nhau thì tòa án
cấp phúc thẩm sẽ chấp nhận để xét xử theo cả hai bản kháng nghị đó
Hai là, nếu hai bản kháng nghị mâu thuẫn nhau mà VKS cùng cấp
không rút kháng nghị của mình, VKS nhân dân cấp trên không hủy kháng nghị của VKS nhân dân cấp dưới thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp [13, tr 22] do nguyên tắc hoạt động của VKS nhân dân là hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành
1.2.3 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự
Cả BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đều chưa có quy định
cụ thể về những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm hình sự Tuy nhiên, căn cứ vào yêu cầu việc xét xử sơ thẩm và tính đúng đắn của bản án, quyết định sơ thẩm cũng như thực tiễn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân bảo đảm tính thống nhất và nâng cao hơn nữa chất lượng các bản kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007, tại Điều 33 xác định, bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1.2.3.1 Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ
Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa là phiến diện nếu khi xét hỏi chỉ thiên về một mặt, một khía cạnh, không điều tra xét hỏi đầy đủ các mặt, các khía cạnh của vấn đề đó, không làm rõ và xác định những vấn đề cần phải
Trang 2317
chứng minh được quy định tại điều 63 BLTTHS 2003 (ví dụ: điều tra xét hỏi các mặt, các khía cạnh chỉ thiên về buộc tội mà không điều tra xét hỏi các mặt, các khía cạnh gỡ tội)[49];
Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa bị coi là không đầy đủ trong trường hợp: Nếu tại phiên tòa, việc điều tra xét hỏi bỏ sót một hoặc một số tình tiết
về từng sự việc và về từng tội của vụ án hoặc không điều tra xét hỏi đối với người tham gia tố tụng dẫn đến việc không đảm bảo đủ để giải quyết vụ án hình sự theo quy định tại điều 66 BLTTHS 2003 (ví dụ: không hỏi người bị hại; không cho phép người tham gia tố tụng đã được triệu tập đến phiên tòa trình bày ý kiến )[49];
1.2.3.2 Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án
Điều này có nghĩa là, trong phần xét thấy, trong phần quyết định của bản án hoặc quyết định có những vấn đề không phù hợp với những tình tiết khách quan đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà hoặc những tình tiết khách quan đã được làm rõ tại phiên toà qua xét hỏi, tranh luận
Kết luận trong bản án hoặc quyết định bị coi là không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án có thể là một trong các trường hợp sau: Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được điều tra, xác minh tại phiên tòa; tại phiên tòa không xem xét tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án mà tòa án dựa vào đó để kết luận về
vụ án; có sự mâu thuẫn giữa các chứng cứ
1.2.3.3 Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự
Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS là việc áp dụng sai điểm, khoản, điều luật của BLHS dẫn đến xét xử bị cáo về tội nặng hơn hoặc tội nhẹ hơn, về khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn không đúng với
Trang 2418
nguyên tắc xử lý vụ án Cũng coi như sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS nếu áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của BLHS nhưng xử quá nhẹ hoặc xử quá nặng; buộc bồi thường không đúng
Việc áp dụng Bộ luật Hình sự của Toà án cấp sơ thẩm phải đảm bảo phương châm kết án đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt người phạm tội Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Toà
án cấp sơ thẩm vẫn có những sai lầm nghiêm trọng dẫn đến bản án hoặc quyết định đối với bị cáo không nghiêm minh, không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa, thậm chí có trường hợp làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt người phạm tội hoặc quyết định đối với người tham gia tố tụng không đúng pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Thực tiễn xét xử cho thấy, những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự của Toà án cấp sơ thẩm là những sai lầm sau: Kết án người không có hành vi phạm tội (làm oan người vô tội); Kết án người mà hành vi của họ không cấu thành tội phạm; Kết án người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Toà án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm; Kết án sai tội danh;
Áp dụng điều khoản của Bộ luật Hình sự không đúng
1.2.3.4 Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng theo quy định tại Điều 46, 185 BLTTHS năm 2003 hoặc thuộc các trường hợp Hội đồng xét xử
sơ thẩm không đúng Hội đồng xét xử trong quyết định đưa vụ án ra xét xử
Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử là trường hợp BLTTHS quy định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục tố tụng đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc không thực hiện đúng, dẫn đến việc xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân
Trang 2519
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện (hướng dẫn tại tiểu mục 4.4 mục 4 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003)
Tuy nhiên, những căn cứ được nêu trong Điều 33 Quy chế cũng chỉ đáp ứng được một phần những vướng mắc trong công tác kháng nghị phúc thẩm, bởi nội dung của quy chế trên thực tế cũng chưa thật đầy đủ Vì ngoài những
vi phạm nêu trong Điều 33 Quy chế thì còn những vi phạm khác có thể là căn
cứ kháng nghị phúc thẩm nhưng chưa được quy định, như: Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà có sai lầm nghiêm trọng, quyết định bồi thường thiệt hại không hại không đúng với quy định của BLDS; việc xác định người tham gia tố tụng không đúng với BLTTHS, quyết định kê biên tài sản không đúng
1.2.4 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
Thời hạn kháng nghị là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của pháp luật để chủ thể có quyền kháng nghị thực hiện quyền kháng nghị của mình
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị
Hệ quả của việc kết thúc thời hạn kháng nghị sẽ làm mất quyền kháng nghị của VKS, làm cho bản án, quyết định của TA cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật Do đó dẫn tới việc kháng nghị quá hạn trở nên vô hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận Lý do chính đáng của việc kháng nghị quá hạn là trường hợp do trở ngại khách quan không thể vượt qua dẫn đến việc chủ thể có quyền kháng nghị tuyệt đối không thể thực hiện việc kháng nghị trong thời hạn luật định [13, tr 23]
Trang 2620
Điều 234 và Điều 239 BLTTHS 2003 quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm: Đối với bản án sơ thẩm, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày; thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày Đối với quyết định sơ thẩm, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày; thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày
Không tách biệt quy định tại 2 điều luật khác nhau về thời hạn kháng nghị đối với Quyết định hay bản án của TA cấp sơ thẩm, thời hạn kháng nghị
trong BLTTHS 2015 được tập hợp tại điều 336, theo đó: " 1 Thời hạn kháng
nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên
án
2 Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định"
Ngoài ra, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định về thời hạn kháng nghị như sau: Thời hạn là ngày tiếp theo từ ngày tuyên án hoặc ra quyết định và thời điểm kết thúc là ngày cuối cùng của thời hạn Nếu là ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ
đó
1.2.5 Hậu quả của kháng nghị phúc thẩm hình sự
Hậu quả của việc kháng nghị được quy định tại Điều 237 BLTTHS
2003 (tương ứng với Điều 339 BLTTHS 2015)
Theo quy định của BLTTHS 2003 thì khi có kháng nghị, những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy
Trang 27Bộ luật này Khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này
Như vậy, có thể thấy, BLTTHS năm 2015 quy định bổ sung về hậu quả của việc kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong cùng một điều luật với hậu quả của việc kháng nghị đối với bản án Đồng thời, BLTTHS năm
2015 cũng bổ sung các trường hợp ngoại lệ khi kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án
Theo đó, quy định về việc khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của BLTTHS năm 2015
Trước đây BLTTHS năm 2003 quy định khi có kháng nghị đối với toàn
bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành nhưng BLTTHS năm
2015 quy định khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn
bộ bản án chưa có hiệu lực thi hành nhưng trừ những trường hợp quy định tại Điều 363 của BLTTHS năm 2015, đó là các trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị
Trang 2822
Sau khi có kháng nghị, các trường hợp xảy ra được dự liệu trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 là giống nhau, gồm có các trường hợp: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; sửa bản án
sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Ngoài ra, liên quan đến hậu quả của việc kháng nghị theo quy định tại Khoản 2 Điều 249 BLTTHS năm 2003 và Khoản 3 Điều 357 BLTTHS năm
2015 thì đối với các bị cáo trong cùng vụ án hình sự mà không bị kháng nghị, nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp; áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn; giảm hình phạt cho bị cáo; giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định
xử lý vật chứng; chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo
1.2.6 Giới hạn của kháng nghị phúc thẩm hình sự
Pháp luật Tố tụng hình sự không có quy định về giới hạn của kháng nghị hay giới hạn của kháng nghị phúc thẩm hình sự Theo Th.S Mai Thanh Hiếu (trường Đại học Luật Hà Nội) thì giới hạn của việc kháng nghị phúc thẩm là phạm vi quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật phù hợp với tư cách pháp lý tố tụng của chủ thể kháng nghị Chủ thể kháng nghị chỉ được kháng nghị trong phạm vi liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của mình Nói cách khác, phạm vi kháng nghị phải phù hợp với tư cách pháp lí của chủ thể trong tố tụng hình sự Chủ thể của quyền công tố nhân danh xã hội hoặc nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nên chỉ có quyền kháng nghị về hình sự như tội phạm, hình phạt, biện pháp tư pháp mà không có quyền kháng nghị về mức bồi thường, bồi hoàn Vì vậy, quy định tại khoản khoản 3 điều 249 BLTTHS 2003 (nay là điểm b khoản 2 Điều 357 BLTTHS
Trang 2923
2015) về quyền kháng nghị tăng mức bồi thường thiệt hại của viện kiểm sát là không hợp lí, chỉ nên quy định đây là quyền kháng cáo cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan [13, tr 22]
Tác giả hoàn toàn đồng tình với quan điểm cho rằng: Giới hạn của việc kháng nghị phúc thẩm là phạm vi quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật phù hợp với tư cách pháp lý tố tụng của chủ thể kháng nghị Tuy nhiên,
tư cách pháp lý tố tụng của chủ thể kháng nghị trong tố tụng hình sự phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không chỉ được hiểu trong phạm vi quyền công tố
Như chúng ta đều biết, Luật Hiến pháp năm 2013 (Điều 107) đã quy định bên cạnh chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Đồng thời, quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2014 quy định: “Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan,
cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Viện kiểm sát nhân dân phải kháng nghị Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật”
Như vậy, có thể thấy, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động xét xử trong vụ án hình sự của Tòa án, ngoài những vi phạm nghiêm trọng liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, nếu phát hiện có những vi phạm nghiêm trọng của Tòa
Trang 3024
án, xâm phạm đến quyền và lợi ích của cá nhân, cụ thể: Trong trường hợp, xét thấy mức bồi thường thiệt hại mà bản án đã quyết định là chưa thỏa đáng, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của bị hai thì Viện kiểm sát vẫn có quyền quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo hướng tăng mức bồi thường thiệt hại Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm trong trường hợp này là thực hiện chức năng và nhiệm vụ hiến định
Như vậy, quan điểm của tác giả về giới hạn kháng nghị phúc thẩm hình
sự được hiểu là phạm vi quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự theo quy định của pháp luật phù hợp với tư cách pháp lý tố tụng của chủ thể kháng nghị đã được pháp luật quy định Chủ thể kháng nghị phúc thẩm hình sự kháng nghị trong phạm vi liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm của mình đã được Hiến pháp và các văn bản pháp luật quy định
1.2.7 Bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Thẩm quyền rút kháng nghị không chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị mà còn do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên cũng có quyền rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới
Vấn đề bổ sung, thay đổi kháng nghị, tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng, nếu thời hạn kháng nghị chưa hết thì người có quyền kháng nghị có thể bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Cách hiểu như vậy hoàn toàn không trái với quy định tại Điều 238
Bộ luật Tố tụng Hình sự, vì trong thời hạn kháng nghị có thể có nhiều kháng nghị khác nhau thậm chí trái ngược nhau Ví dụ: Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo nhưng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp lại kháng nghị theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo hoặc ngược lại,
Trang 3125
hoặc Viện kiểm sát cùng cấp đã rút kháng nghị nhưng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không rút kháng nghị thậm chỉ còn bổ sung, thay đổi kháng nghị Mặt khác, cùng với kháng nghị vụ án có thể còn có kháng cáo của người tham gia tố tụng Việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo cũng tương tự như kháng nghị và trong thời hạn kháng cáo thì người kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo theo bất cứ hướng nào Tuy nhiên, để việc bổ sung hoặc thay đổi kháng nghị có căn cứ pháp lý, thì trong quyết định bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo cần nêu lý do và nhận xét là kháng nghị trước đó không đầy đủ hoặc không có căn cứ Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo nên
để Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện, mặc dù Viện kiểm sát cùng cấp vẫn có quyền, nhưng nên để Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện kháng nghị trên cơ sở nhận xét kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới là chưa đầy
đủ hoặc có thiếu sót, như vậy vừa bảo đảm tính khách quan, vừa tránh được
sự hiểu lầm không cần thiết
Việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát có thể thực hiện bất cứ lúc nào, rút một phần hay toàn bộ kháng nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới Việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát nói chung không có vấn đề vướng mắc
và cũng đã được quy định tương đối cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật Tố tụng Hình sự chưa có quy định, đối với quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát rõ ràng không có căn cứ thì giải quyết như thế nào? Thực tiễn xét xử đã có trường hợp việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên rõ ràng là không có căn cứ nên việc việc khắc phục sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm chỉ có thể được thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm Cách giải quyết này vừa kéo dài vụ án vừa không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Ví dụ: Trường hợp Toà án nhân dân thành phố H phạt Quản Ngọc N tù chung thân về tội mua bán trái phép chất ma tuý; sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
Trang 3226
thành phố H kháng nghị yêu cầu Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét
xử phúc thẩm tăng hình phạt đối với Quản Ngọc N, nhưng trước khi mở phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lại rút kháng nghị Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm thấy hình phạt tù chung thân đối với Quản Ngọc N là quá nhẹ nhưng buộc phải y án sơ thẩm Sau khi xét xử phúc thẩm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy việc rút kháng nghị là không
có căn cứ nên đã kháng nghị bản án phúc thẩm đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm huỷ cả bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng tăng hình phạt đối với Quản Ngọc N Như vậy để sửa sai quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát phải huỷ cả hai bản án mà lẽ ra nếu có quy định huỷ quyết định rút kháng nghị thì vụ án chỉ phải xét xử phúc thẩm một lần Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi nên có quy định cho Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân có quyền rút quyết định “rút kháng nghị” của Viện kiểm
sát cùng cấp hoặc cấp dưới nếu như xét thấy việc rút kháng nghị đó là không
có căn cứ để việc xét xử phúc thẩm được tiến hành theo luật định [14]
Kết luận Chương 1
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý xuất phát từ
từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử Trên cơ sở các tài liệu tác giả nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm của các nhà khoa học
về tố tụng hình sự và phân tích nội dung, đặc điểm, đặc trưng cũng như mục đích của kháng nghị phúc thẩm hình sự, tác giả đưa ra định nghĩa về kháng
nghị phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền
năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước giao cho Ngành Kiểm sát được thể hiện bằng văn bản để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản
án, quyết định sơ thẩm của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật
Trang 3327
Kháng nghị phúc thẩm hình sự mang hai đặc điểm cơ bản, đó là: Quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát và là công cụ đặc biệt biểu hiện rõ nhất về quyền năng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Hậu quả của việc kháng nghị được quy định tại Điều 339, theo đó những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này Khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật này
Với ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị, pháp lý và xã hội, Nhà nước
đã xây dựng pháp luật tương đối chặt chẽ trong tố tụng hình sự về chế định này, theo đó:
Đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị gồm: Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; Quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử và Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Chủ thể kháng nghị là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp
Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự bao gồm: Việc điều tra, xét hỏi
tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự; Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng;
Trang 3428
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm được tính kể từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị Theo đó, Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án; Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định
Hiện nay, pháp luật Tố tụng hình sự không có quy định về giới hạn của kháng nghị hay giới hạn của kháng nghị phúc thẩm hình sự Tuy nhiên, theo tác giả, giới hạn của kháng nghị không những tập trung vào các vấn đề liên quan đến hình sự như tội phạm, hình phạt, biện pháp tư pháp mà liên quan cả đến vấn đề về bồi thường, bồi hoàn
Trên cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân, tác giả trình bày thực trạng về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây tại phần sau của luận văn
Trang 3529
Chương 2 THỰC TIỄN KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát tình hình kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tại Thành phố
Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, đặc biệt sau khi có Chỉ thị 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 (Chỉ thị 03) của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và sau đó là Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 (Chỉ thị 08) của Viện trưởng VKSNDTC về việc tiếp tục tăng cường công tác kháng nghị án hình sự, thì công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự đã đi vào nề nếp, khắc phục được nhiều vi phạm pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo đảm việc giải quyết các vụ án hình sự đúng pháp luật, nghiêm minh, góp phần bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Quốc hội và của Ngành giao Qua số liệu thống
kê của VKSND Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2016, cho thấy trung bình mỗi năm:
Đối với việc thụ lý phúc thẩm, tỷ lệ số bị cáo bị VKS kháng nghị (816
bị cáo) so với tổng số bị cáo thụ lý phúc thẩm (6.701 bị cáo) là 12,18%
Đối với việc giải quyết phúc thẩm, tỷ lệ giữa số bị cáo bị kháng nghị
(688 bị cáo) so với tổng số bị cáo đã đưa ra giải quyết phúc thẩm (5.487 bị
cáo) là 12,53%
Đối với việc xét xử phúc thẩm, tỷ lệ giữa số bị cáo bị kháng nghị (688
bị cáo) so với tổng số bị cáo đã xét xử phúc thẩm (4.360 bị cáo) là 15,7%
Tỷ lệ giữa số bị cáo bị rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị (32 bị cáo) so với tổng số bị cáo bị kháng nghị đã giải quyết phúc thẩm (688 bị cáo),
là 4,65%
Trang 3630
Tỷ lệ kháng nghị được chấp nhận (319 kháng nghị) so với tổng số kháng nghị đã đưa ra giải quyết (470 kháng nghị) là 67,87%
Tỷ lệ số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa án (1.961 bị cáo) trên tổng số bị cáo Tòa án đưa ra xét xử (4.360 bị cáo), chiếm 44,97% Tỷ lệ số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa án thông qua kháng nghị (485 bị cáo)
so với tổng số bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy, sửa (1.961 bị cáo) là 24,73% Như vậy, số bị cáo bị Tòa án phúc thẩm sửa án vẫn chủ yếu thông qua kháng cáo (lớn hơn 75%) so với số bị cáo bị Tòa án phúc thẩm hủy, sửa
án thông qua kháng nghị
Theo số liệu năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016, VKS quận, huyện đã kháng nghị 80 vụ với 120 bị cáo; xét xử 75 vụ, 100 bị cáo; được Viện kiểm sát thành phố chấp nhận bảo vệ kháng nghị 57 vụ, trong đó được Tòa án chấp nhận 37 vụ đạt tỷ lệ 49,3% so với số vụ đã xét xử, không chấp nhận kháng nghị chiếm 50,7% [41]
Các Viện kiểm sát ban hành nhiều kháng nghị như:
+VKSND quận Thủ Đức: 17 vụ, rút kháng nghị 01 vụ; đưa ra xét xử 14
vụ, chấp nhận 07 vụ, đạt 50%;
+ VKSND Quận 8: 08 vụ, chấp nhận 02 vụ, đạt 25%;
+ VKSND Quận 12: 07 vụ, rút kháng nghị 01 vụ, đưa ra xét xử 6 vụ, chấp nhận 3 vụ (đạt 50%); hủy án 1 vụ (chiếm 16,7%)
+ VKSND huyện Bình Chánh: 08 vụ, xét xử 05 vụ, chấp nhận 3 vụ, đạt 60%;
+ VKSND Quận 11: 05 vụ, chấp nhận 2 vụ, đạt 40%
+ Một số đơn vị ban hành kháng nghị rất ít, như: Quận 1, Quận 2, Quận
7 mỗi đơn vị 01 vụ Quận 4 nhiều năm liền không kháng nghị phúc thẩm (VKS kháng nghị trên cấp 03 vụ)
Trang 3731
Từ năm 2012 đến 2016 có 02 đơn vị Viện kiểm sát cấp quận, huyện không ban hành kháng nghị phúc thẩm Năm 2013, Viện kiểm sát thành phố không ban hành kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án cùng cấp Trong khi đó có bình quân 44,97% số bị cáo phải hủy, sửa ở cấp phúc thẩm
Kháng nghị trên một cấp vẫn còn ít, sự phối kết hợp giữa hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm trong công tác kháng nghị còn hạn chế Từ năm 2012 đến
2016, Viện kiểm sát thành phố kháng nghị đối với 394 bị cáo, chiếm 48,28% tổng số bị cáo do hai cấp kháng nghị
Vẫn còn có vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng, về áp dụng pháp luật, bỏ lọt tội phạm phải huỷ án để điều tra hoặc xét
xử lại nhưng không kịp thời kháng nghị phúc thẩm mà phải kháng nghị hoặc báo cáo cấp trên kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Mặc dù công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa đạt được kết quả như mong đợi nhưng
có thể nhận thấy, Viện kiểm sát nhân dân 02 cấp tại Thành phố Hồ chí Minh
đã từng bước nâng cao chất lượng, số lượng kháng nghị, các kháng nghị được Tòa án chấp nhận ngày càng tăng Cụ thể: Năm 2012 và 2013, mức chấp nhận kháng nghị chỉ trên 46,5%, tuy nhiên trong năm 2014, tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận đã tăng lên 74,07% và gia tăng qua các năm là 76,52% (năm 2015),77,7% (năm 2016)
Nguồn kháng nghị chủ yếu thông qua công tác kiểm sát xét xử, kiểm sát bản án hoặc một số ít thông qua đơn, công văn đề nghị kháng nghị
Phần lớn kháng nghị của VKS thành phố là đề nghị tăng án, chuyển hình phạt từ cho hưởng án treo sang hình phạt tù; về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về cách tính thời gian thử thách đối với
Trang 3832
án treo, về án phí dân sự sơ thẩm; hủy án do lọt người, lọt tội, lọt hành vi phạm tội hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng…
2.2 Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm hình sự, những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân
2.2.1 Những kết quả đạt được về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự và nguyên nhân
2.2.1.1 Những kết quả đạt được về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự
Phần lớn các kháng nghị được cấp phúc thẩm chấp nhận đều là những kháng nghị yêu cầu khắc phục những sai sót của Tòa án cấp sơ thẩm như vấn
đề áp dụng điểm, khoản, điều luật áp dụng; về mức hình phạt; về việc cho hưởng án treo, về định tội danh, về tuyên bị cáo không phạm tội cũng như những vấn đề khác về mức bồi thường, hình phạt bổ sung
Các sai phạm của Tòa án bị Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị thường tập trung vào các vấn đề sau:
a) Sai khoản của Điều luật:
Điển hình như vụ Đinh Quang Duy, về tội: "Vi phạm quy định về điều khiển an toàn giao thông đường bộ" (Bản án hình sự phúc thẩm số 44/2014/HSPT ngày 20/01/2014)
Vào lúc 00 giờ 45 phút ngày 08/05/2013, Đinh Quang Duy điều khiển
xe ô tô biển số 56S-6012 lưu thông trên đường Trần Hưng Đạo, hướng từ Nguyễn Khắc Nhu về Nguyễn Văn Cừ Khi đến trước nhà số 228 Trần Hưng Đạo đã để xe đụng vào anh Ngô Quang Thọ (công nhân vệ sinh) mặc áo phản quang đang quét rác tại dãy phân cách giữa tim đường Tai nạn xảy ra làm anh Thọ bị thương nặng được đưa cấp cứu tại bệnh viện sau đó chết do đa chấn thương
Trang 3933
Cáo trạng truy tố và Tòa sơ thẩm đã áp dụng khoản 1, Điều 202 BLHS
xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Sau khi xét xử
sơ thẩm, VKS quận nhận thấy có sai lầm trong việc xác định khoản truy tố là chưa đúng nên kháng nghị đề nghị thay đổi khoản của điều luật, với lý do: Bị cáo Duy điều khiển xe ô tô trong trạng thái có uống rượu, bia với nồng độ cồn trong máu là 2g/l=200mg/100ml Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng nghị sửa án; Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 202 BLHS xử phạt bị cáo Duy 03 năm tù
Qua vụ án cho thấy cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc vận dụng pháp luật, không nắm vững các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, không đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bỏ qua tình tiết quan trọng là bị cáo đã sử dụng rượu, bia khi điều khiển ô tô (vi phạm khoản
8, Điều 8 Luật giao thông đường bộ) gây tai nạn với hậu quả nghiêm trọng phải bị truy tố, xét xử theo điểm b, khoản 2, Điều 202 BLHS
b) Chuyển hình phạt tiền sang hình phạt tù
Điển hình là vụ án Nguyễn Thị Ngọc Bích, về tội "Đánh bạc" (Bản án hình sự phúc thẩm số 351/2014/HSPT ngày 03/6/2014)
Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 17/09/2013, Công an thị trấn Nhà Bè kiểm tra nhà Trần Thị Ba tại số 11/7, khu phố 4, thị trấn Nhà Bè phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang các đối tượng Võ Thị Kim Em, Trần Thị Kim Vân, Nguyễn Thu Thảo, Bùi Thị Bích Diệp và Nguyễn Thị Ngọc Bích đang đánh bài tứ sắc ăn tiền, thu giữ trên chiếu bạc 3.400.000 đồng, 08 bộ bài tứ sắc… Riêng Thảo và Bích trốn thoát, nhưng sau đó đến Cơ quan Công an đầu thú
Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Bích hình phạt tiền, với mức phạt 20.000.000 đồng VKS huyện kháng nghị vì cho rằng bị cáo Bích
có 01 tiền án về tội "Đánh bạc", chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội Như vậy, bị cáo Bích xem thường pháp luật, cần có thời gian cách ly bị cáo một
Trang 40Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 27/01/2014, Trần Đình Chiến điều khiển
xe ô tô đầu kéo 51C-074.21 kéo sau romooc biểm kiển soát 51R-012.64 chở một container lưu thông trên quốc lộ 1A hướng từ Thủ Đức về cầu vượt An Sương Khi đến trước nhà số 10, Quốc lộ 1A, khu phố 5, phường Trung Mỹ Tây, Chiến cho xe chuyển làn đường qua bên phải của cabin, mặt ngoài bên phải thùng đựng nhiên liệu va quẹt vào chụp đuôi bảo hiểm bằng kim loại của tay lái bên trái và chụp kính đèn soi của mô tô biển số 63B4-062.24 do bà Huỳnh Thị Nga điều khiển chở phía sau cháu ngoại tên Lê Thúy Vy, sinh năm
2005 đang lưu thông phía trước cùng chiều Tai nạn xảy ra làm bà Nga và cháu Vy té ngã xuống đường, cháu Vy bị bánh sau bên phải trục thứ IV của rơ mooc cán qua người tử vong tại chỗ Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đình Chiến 05 tháng 18 ngày tù, trả tự do tại phiên tòa VKS Quận kháng nghị đề nghị tăng hình phạt Do mức hình phạt 05 tháng 18 ngày tù quá nhẹ, chưa tương xứng tính chất, hành vi phạm tội, chưa đủ mức răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, nên Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng nghị sửa bản án tăng hình phạt bị cáo lên 01 năm tù
+ Vụ Đặng Minh Trường, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" (Bản
án hình sự phúc thẩm số 689/2014/HSPT ngày 16/9/2014)
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 04/12/2013, Công an huyện Cần Giờ kiểm tra nhà nghỉ Quốc Tiến, bắt quả tang Nguyễn Văn Anh đang phân lẻ Methamphetamie (MA) để bán cho đối tượng nghiện Vật chứng thu giữ gồm