1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)

81 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 640,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan bài luận văn là công trình nghiên cứu của tôi

Nội dung của bài luận văn và các số liệu chứng minh là trung thực, không sao chép từ bất cứ các công trình nào khác

Người cam đoan

Bùi Văn Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH

SỰ 7

1.1 Người bào chữa trong Tố tụng hình sự 7 1.2 Người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 20 1.3 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 25 1.4 Những yếu tố tác động đến vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 31

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36

2.1 Khái quát thực tiễn hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.2 Kết quả hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 40 2.3 Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trong hoạt động của người bào chữa ở giai đoạn xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 44

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

60 3.1 Quan điểm nâng cao vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 60 3.2 Các giải pháp nâng cao hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét

xử phúc thẩm vụ án hình sự 62

KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự

- BCVND Bào chữa viên nhân dân

- CQĐT Cơ quan điều tra

- CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng

- HĐXX Hội đồng xét xử

- HLPL Hiệu lực pháp luật

- NBC Người bào chữa

- NĐDHP Người đại diện hợp pháp

- TAND Tòa án nhân dân

- TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

- VKSND Viện kiểm sát nhân dân

- VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- VPPL Vi phạm pháp luật

- XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở nước ta được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Đảm bảo thực hiện các quyền hiến định

và luật định trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và

vì dân, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Quyền con người được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống là thước đo của nền dân chủ, văn minh, của

tự do và tiến bộ xã hội Qua đó, thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước

Trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp, thì nhu cầu bào chữa cũng như quyền bào chữa của công dân, đặc biệt là công dân bị buộc tội ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu Khi ấy, vai trò của NBC trong TTHS ngày càng trở nên quan trọng Từ nhận thức đó, ngay trong Hiến pháp - văn bản pháp lý cao nhất quốc gia - quyền bào chữa đã được ghi nhận như một nguyên tắc được bảo đảm thực hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án Ngày nay, nguyên tắc này cũng được thể chế trong BLTTHS, thể hiện tính nhân văn của nhà nước ta và

phù hợp với xu hướng tiến bộ của các quốc gia trên thế giới

Hiến pháp năm 2013 quy định “ Người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam,

khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào

chữa trong tố tựng hình sự đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách quan, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về “ Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của NBC trong TTHS có ý nghĩa quan trọng

Trang 7

trong việc bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị buộc tội trong TTHS nói riêng - một nhiệm vụ trọng tâm của các

thiết chế nhà nước và pháp luật dân chủ

Do đó, nhằm góp phần làm rõ thêm về mặt lý luận, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng của chế định NBC trong hoạt động bào chữa, đặc biệt là

ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh” với mong muốn đóng góp một số ý kiến, giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của người bào chữa trong quá trình tham gia tố tụng, đặc biệt là trong xét xử phúc thẩm vụ án

hình sự

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

NBC tham gia vào hoạt động TTHS với vị trí, vai trò rất quan trọng Hoạt động của NBC trong TTHS góp phần bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS Việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về chế định NBC có ý nghĩa không chỉ về mặt nhận thức mà cả về hoạt động thực tiễn tố tụng hình sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hạn chế tình trạng oan sai trong TTHS, giúp cơ quan THTT giải quyết

vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác nhau của nhiều tác giả như: “Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Thủy; “ Vai trò của luật sư bào chữa trong giai đoạn xét xử

vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Cảnh Tuyến; “Người bào chữa trong TTHS” của tác giả Trần Văn Bảy; “Các chức năng tố tụng cơ bản trong TTHS” của tác giả Lê Tiến Châu; “Luật sư và hoạt động bào chữa của luật sư” của tác giả Đinh Văn Quế… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu một vài khía cạnh liên quan đến vai trò của NBC nói chung, mà chưa đi sâu nghiên cứu về vai trò của NBC trong giai đoạn xét xử phúc thẩm VAHS

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của đề tài

“Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến vai trò của NBC, liên quan đến tính chất và ý nghĩa của việc quy định trình tự phúc thẩm, để từ đó thấy được vai trò của NBC trong giai đoạn phúc thẩm được thể hiện như thế nào, qua

đó nghiên cứu về những quy định của pháp luật liên quan đến chế định của NBC trong xét xử phúc thẩm từ lý luận đến thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất một số ý

kiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa của người bào chữa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự; Thực trạng vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm VAHS tại Thành phố Hồ Chí Minh và những quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ VAHS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa, về tính chất ý nghĩa của việc quy định trình tự xét xử

vụ án hình sự, đặc biệt là xét xử phúc thẩm VAHS, để qua đó thấy được vai trò

của người bào chữa được thực hiện như thế nào trên thực tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động của NBC ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, còn những vấn

đề khác, tác giả chỉ nghiên cứu một cách khái quát tạo điều kiện để tiếp cận vấn

đề mà luận văn muốn hướng đến

Trang 9

- Về thời gian, nghiên cứu việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ

án hình sự giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật,

về cải cách tư pháp

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Vai trò của người bào chữa trong xét

xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, luật học so sánh và dự báo qua những tài liệu thứ cấp để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài

Cụ thể:

Thứ nhất, phương pháp tiếp cận hệ thống, nhằm làm rõ vị trí, vai trò của

người bào chữa trong quá trình tham gia xét xử vụ án hình sự nói chung và giai đoạn xét xử phúc thẩm nói riêng

Thứ hai, phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân

tích các tư liệu, nhất là tư liệu sơ cấp (các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam) làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng của pháp luật Tố tụng hình sự trong việc đảm bảo việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trên thực tiễn

Thứ ba, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn được sử dụng xuyên

suốt trong luận văn nhằm phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật TTHS liên quan đến việc thực hiện quyền bào chữa cũng như vai trò của NBC trong xét

xử phúc thẩm VAHS để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giải pháp nhằm

Trang 10

đảm bảo cho hoạt động bào chữa của người bào chữa, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của người bào chữa trong xét xử VAHS nói chung và giai đoạn xét xử phúc thẩm VAHS nói riêng

Thứ tư, phương pháp luật so sánh (so sánh các quy định pháp luật trong

các thời kỳ lịch sử) để thấy được những điểm mới, tiến bộ của pháp luật, tạo cơ

sở pháp lý vững chắc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách quan, đúng pháp luật

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn trong việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến quyền bào chữa và NBC, qua đó giúp cho người đọc có nhận thức đúng đắn và thống nhất về vai trò của NBC, đặc biệt là vai trò của NBC trong giai đoạn phúc thẩm

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cho thấy những hạn chế trong thực tiễn hoạt động và áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến NBC trong xét xử phúc thẩm, từ đó, đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của NBC nói chung và hoạt động của NBC trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cơ cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của người bào

chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Chương 2 Thực trạng vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm

VAHS tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa

trong xét xử phúc thẩm vụ VAHS

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Người bào chữa trong Tố tụng hình sự

1.1.1 Khái quát chức năng bào chữa trong Tố tụng hình sự

Các chức năng cơ bản của TTHS bao gồm: Chức năng bào chữa, chức năng buộc tội, chức năng xét xử Mỗi chức năng có một vị trí và vai trò nhất định Muốn nhận thức được một một cách đầy đủ và toàn diện từng chức năng tố tụng cơ bản, thì phải đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng giữa các chức năng với nhau Vì vậy, khi tìm hiểu về chức năng bào chữa chúng ta phải tìm hiểu sơ qua hai chức năng: Chức năng buộc tội và chức năng xét xử

Chức năng buộc tội: Là một trong những chức năng cơ bản của TTHS, là một dạng họat động tố tụng nhằm phát hiện tội phạm, chứng minh lỗi của người

đó, đảm bảo phán xử và hình phạt đối với họ “Chức năng buộc tội - nhất là hình

thức buộc tội nhân danh Nhà Nước - có vai trò là động lực của TTHS Nó được

coi là trục chính thu hút hoạt động của tất cả những người tham gia phiên tòa”

[21, tr 24] Chức năng buộc tội được tiến hành bởi quyền công tố của VKS và với trách nhiệm chứng minh sự thật vụ án thuộc về cơ quan điều tra - điều tra viên

Ở giai đoạn điều tra, điều tra viên có nghĩa vụ thu thập chứng cứ, tài liệu

để xác định sự thật vụ án Khi có đầy đủ chứng cứ xác định có tội phạm và bị can thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị VKS truy tố

Ở giai đoạn xét xử, hoạt động buộc tội thuộc về VKS, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ quyền công tố chính thức buộc tội bị cáo trước phiên tòa bằng bản cáo trạng Trong TTHS, không có chức năng buộc tội sẽ không có chức năng

bào chữa, bởi vì buộc tội xuất hiện thì bào chữa mới xuất hiện “ở đâu có buộc

tội, ở đó có bào chữa” Chức năng bào chữa xuất hiện cùng lúc với buộc tội và

hệ quả tất yếu của hai chức năng này là chức năng xét xử

Trang 13

Chức năng xét xử: Là hoạt động tố tụng của Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định người bị buộc tội có tội hay không có tội và các biện pháp tư pháp đối với người có tội

Chức năng xét xử có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho TTHS vận hành theo đúng quy định của pháp luật Để bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý và công bằng trong

xã hội Chức năng xét xử được coi là chức năng trung tâm của TTHS giữ vai trò

quyết định Điều 9 BLTTHS “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội

của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [23] Điều này đã khẳng định Tòa án là

chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử, và chỉ có Tòa án thông qua hoạt động xét xử của mình thì mới có quyền kết tội đối với một người Vì vậy, nếu không có chức năng xét xử thì các chức năng trước đó, chức năng buộc tội và chức năng bào chữa bị xem là vô nghĩa Hoạt động xét xử được thực hiện tại phiên tòa với sự tham gia của các bên, trên cơ sở đánh giá và làm rõ các tình tiết mang tính buộc tội và các tình tiết có ý nghĩa gỡ tội, Tòa án ra phán quyết cuối cùng cho bị cáo Thông qua hoạt động xét xử, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm ngày càng được nâng cao

Chức năng bào chữa: Là một dạng hoạt động tố tụng được pháp luật đảm bảo cho người bị buộc tội khả năng bằng cách tự mình hay nhờ người khác đưa

ra những chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự buộc tội, làm giảm nhẹ TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho họ trong quá trình tố tụng [5]

Chức năng bào chữa có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết

VAHS, là điều kiện tiên quyết trong việc thực hiện nhiệm vụ xét xử “đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật”, thông qua việc thực hiện chức năng bào chữa,

tính dân chủ và pháp chế được đảm bảo Chức năng này được đảm bảo thực hiện

bởi cơ quan nhà nước Điều 103 Hiến Pháp 2013 ghi nhận: “Quyền bào chữa

của bị cáo được bảo đảm…” [24] Việc pháp luật ghi nhận quyền bào chữa của

Trang 14

người bị buộc tội không chỉ bởi vì nó là một trong những quyền tự nhiên của con người được thừa nhận ở bất cứ đâu, trong bất kỳ phạm vi không gian nào mà còn

là do vai trò quan trọng, không thể thiếu của chức năng bào chữa Bởi lẽ, khi người bị buộc tội chưa bị kết án bởi Tòa án thông qua phiên tòa công khai, bình đẳng, thì họ phải được hiểu theo hướng không có tội Cho nên chúng tôi cũng

hoàn toàn đồng ý khi cho rằng “sẽ là phi dân chủ và không khoa học nếu không

thừa nhận trong TTHS song song tồn tại với chức năng buộc tội còn có chức năng bào chữa” [14]

Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của chức năng buộc tội hiện nay trong TTHS vẫn còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất Tuy nhiên, theo quan điểm

cá nhân, chúng tôi cho rằng chức năng bào chữa xuất hiện từ khi khởi tố bị can

và kết thúc từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp có người bị tạm giữ thì chức năng bào chữa sẽ xuất hiện từ lúc có quyết định tạm giữ Đây là quan điểm chính thống, được thể hiện trong pháp luật

hình sự nước ta Cụ thể, tại điều 11 BLTTHS quy định: “Người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”[23] Theo đó,

chủ thể thực hiện chức năng bào chữa là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa cho họ

1.1.2 Quyền bào chữa trong Tố tụng hình sự

Quyền con người, quyền công dân là yếu tố quan trọng trong mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy nó là chế định cơ bản nhất trong các bản Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự phát triển của lịch

sử nhân loại đã chứng minh sức mạnh của nhu cầu về quyền và tự do của con người

Khác hẳn về chất so với các xã hội trước đây, quyền con người ngày nay luôn được tôn trọng ở mọi xã hội, trong đó, xã hội XHCN luôn tạo ra mọi khả năng và điều kiện thuận lợi để đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân

“Quyền con người ngày nay ghi nhận ở Hiến pháp và các văn bản pháp luật của

Trang 15

mỗi quốc gia Song nó sẽ chỉ là những dòng chữ chết nếu các quốc gia không tạo những điều kiện cần thiết để thực hiện và đảm bảo quyền con người, khả năng

để con người thực hiện các quyền của mình là tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và

văn minh của xã hội” [13,tr.48]

Ở nước ta quyền con người được ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật

Cụ thể, tại điều 14 Hiến pháp 2013 “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa

và xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[24]

Trong lĩnh vực TTHS cũng vậy, làm thế nào để pháp luật được công minh, đảm bảo được quyền công dân, đặc biệt là những người bị buộc tội Với nhu cầu như vậy thì pháp luật đã trang bị cho người bị buộc tội một vũ khí sắc bén đó là quyền bào chữa và nó được pháp luật TTHS ghi nhận là một nguyên

tắc cơ bản Đó là “nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo” trong TTHS [23] Nguyên tắc này được tất cả các nước trên thế giới

ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong BLTTHS Vì việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong TTHS chẳng những thể hiện tính dân chủ mà còn thể hiện tính nhân đạo của họat động tư pháp trong xã hội XHCN - điều mà trong các xã hội bóc lột trước đây hoặc không thể có hoặc không thể nào thực hiện được trong thực tế

Hiện nay, trong khoa học luật TTHS có nhiều ý kiến khác nhau về quyền bào chữa, nhưng tựu trung hầu hết các tác giả thường tập trung vào bốn loại quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố

tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm

giảm trách nhiệm của bị can [14, tr.14] Cùng với quan điểm trên, quyền bào

chữa cũng được hiểu đó là quyền của bị can, tuy nhiên, quyền bào chữa của bị can theo tác giả này được hiểu rộng hơn, đó là quyền bào chữa không chỉ dừng

Trang 16

lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm nhẹ TNHS của bị can mà nó còn được thể hiện trong việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ TNHS của bị can trong vụ án [14, tr.18]

Theo chúng tôi, cách hiểu trên là quá hẹp và không chính xác, bởi lẽ, một người TGTT với tư cách là bị can khi cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định họ là người đã thực hiện hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố bị can đối với họ (khoản 1, Điều 49 và khoản 1, điều 126 BLTTHS Việt Nam) Mặt khác, trong TTHS Việt Nam, khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau đó, nếu vụ án được tiếp tục thì

họ TGTT với tư cách là bị cáo (khoản 1, Điều 50 BLTTHS Việt Nam) Và nếu chỉ thừa nhận quyền bào chữa của bị can thì vô hình chung chúng ta tước bỏ đi quyền bào chữa đối với chủ thể này Bởi vì, rõ ràng trong giai đoạn này họ vẫn là đối tượng bị buộc tội, việc buộc tội đối với bị cáo thể hiện ở việc truy tố của VKS và Tòa án xem xét bị cáo có tội hay không có tội, thực tiễn cho thấy, chính trong giai đoạn này, quyền bào chữa của bị cáo mới được thể hiện rõ nét nhất, vì

họ được bình đẳng công khai đưa ra các chứng cứ, được tham gia tranh luận tại phiên toà… để thanh minh, bác bỏ lời buộc tội, thực hiện quyền bào chữa của mình Chính vì vậy, quyền bào chữa không thể chỉ là quyền của bị can trong VAHS

Quan điểm thứ hai khác hẳn với quan điểm trên, cho rằng quyền bào chữa

không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về những người TGTT khác như

người bị kết án [14, tr.29-30] Thậm chí, có một số tác giả còn cho rằng “không

chỉ có bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa, nhân chứng, giám định viên và cả người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại” [39,

tr.107]

Theo chúng tôi hiểu như vậy là quá rộng và không hoàn toàn đúng với ý nghĩa bào chữa trong TTHS Mặt khác, việc hiểu như trên dẫn đến sự nhằm lẫn

Trang 17

giữa khái niệm quyền bào chữa với khái niệm chung về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Theo đó, quan điểm trên không được chấp nhận

Quan điểm thứ ba cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo

chứ không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác

bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo [31, tr.41]

Đây là quan điểm được nhiều người đồng tình ủng hộ, và quan điểm này được Bộ luật TTHS Việt Nam ghi nhận trong một thời gian khá lâu kể từ khi BLTTHS đầu tiên ra đời cho đến thời điểm trước khi BLTTHS sữa đổi lần thứ tư

có hiệu lực vào ngày 01/07/2004 Những người theo quan điểm trên cũng xuất phát từ quan niệm cho rằng trong TTHS sự buộc tội và bào chữa phải song song tồn tại, ở đâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa Bị can, bị cáo có quyền bào chữa bởi họ bị buộc tội, những người TGTT khác không bị buộc tội nên vấn đề bào chữa không đặt ra đối với họ [31, tr.41]

Tuy nhiên, hiểu như trên vẫn chưa hoàn toàn chính xác Mà chúng tôi ủng

hộ với quan điểm BLTTHS Việt Nam hiện hành khi quy định “người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” [23] Như ở

phần trên chúng tôi đã phân tích, thì ngoài bị can, bị cáo có quyền bào chữa thì người bị tạm giữ cũng có quyền bào chữa, bởi vì người bị tạm giữ cũng là đối tượng bị buộc tội trong TTHS, vì vậy, họ đương nhiên cũng là chủ thể của quyền bào chữa

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra kết luận:

Thứ nhất, bào chữa trong TTHS được hiểu là tất cả những hành vi mà

người bị buộc tội và NBC sử dụng để chống lại toàn bộ hay một phần sự buộc tội, làm sáng tỏ những tình tiết về sự vô tội của người bị buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm cho họ Như vậy, khi nói đến chủ thể thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS, thì đối với người bị buộc tội là quyền, còn đối với NBC thì đó

là nghĩa vụ NBC có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để

Trang 18

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bảo vệ Điều này cho thấy, nội dung của chức năng bào chữa chính là quyền và nghĩa vụ mà pháp luật TTHS quy định cho người bị buộc tội và NBC sử dụng để chống lại sự buộc tội, làm sáng tỏ những tình tiết về sự vô tội, làm giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội

Thứ hai, quyền bào chữa chỉ có thể là quyền của người bị buộc tội Hay

nói cách khác, quyền bào chữa chính là tổng thể các quyền mà pháp luật cho phép người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho họ Và vấn đề đặt ra ở đây là tại sao bào chữa lại coi là quyền của người bị buộc tội? Để lý giải vấn đề này, chúng tôi cho rằng:

- Một là, bào chữa tồn tại khách quan như là một trong những quyền cơ

bản của con người Trong TTHS, sự buộc tội luôn chỉ hướng tới một con người, một cá nhân cụ thể Do đó, một người khi tham gia tố tụng với tư cách là người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, điều đó có nghĩa là họ trở thành đối tượng của chức năng buộc tội, bản thân họ bị hạn chế về quyền hiến định, đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể Do đó, họ có nhu cầu được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, một trong những quyền đó là quyền bào chữa

- Hai là, như đã phân tích, TTHS có ba chức năng cơ bản: buộc tội, bào

chữa và xét xử, mỗi chức năng tồn tại là một thành tố đảm bảo sự tồn tại của các chức năng còn lại Chức năng buộc tội sẽ không tồn tại nếu thiếu các chức năng bào chữa, chức năng xét xử và ngược lại Trong TTHS, việc xác định chân lý khách quan của vụ án không thể thực hiện được nếu chủ thể không sử dụng biện pháp so sánh, đánh giá các dữ kiện và cọ xát với các quan điểm khác nhau của bên buộc tội và bên bào chữa [13] Vì vậy, trong TTHS, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc tội như một nhu cầu tất yếu khách quan Mặt khác, sẽ không xuất hiện sự tranh tụng nếu TTHS chỉ đơn thuần hoặc là bào chữa hoặc là buộc tội Chính sự tồn tại khách quan của các chức năng cơ bản

Trang 19

trong TTHS, trong đó có chức năng bào chữa là cơ sở tồn tại quyền bào chữa trong TTHS

Thứ ba, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo Theo quy định của BLTTHS Việt Nam thì:

Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội

quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (khoản 1, Điều 48)

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1, Điều 49)

Bị cáo là người đã bị TA quyết định đưa ra xét xử (khoản 1, Điều 50)

Vậy quyền bào chữa chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất trong TTHS, đó là người bị buộc tội, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau thì người bị buộc

tội có những tên gọi khác nhau

Nhằm bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của

mình, Hiến pháp và pháp luật TTHS nước ta quy định: “Người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan Điều tra, VKS, TA có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ” Ngoài việc quy định người bị buộc tội có quyền bào

chữa, Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định cả những bảo đảm cần thiết để

quyền bào chữa của họ được thực hiện

Để tạo điều kiện để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của mình, thì pháp luật còn quy định người bị buộc tội có quyền nhờ người khác bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa trở thành một bộ phận cấu thành nội dung quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mặt khác, pháp luật còn quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc đảm bảo cho người

bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của mình Bản thân các cơ quan, người THTT khi thực hiện một biện pháp gây bất lợi cho người bị buộc tội cũng phải

hết sức thận trọng vì nhiệm vụ của họ không chỉ là “không bỏ lọt tội phạm” mà còn “không làm oan người vô tội” Chính vì vậy, chế định quyền bào chữa được

Trang 20

ghi nhận trong TTHS nước ta sẽ không trở nên mang tính hình thức khi trong quá trình thực hiện nó, đã được đảm bảo bởi một cơ chế do pháp luật quy định Việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không mâu thuẫn với việc giải quyết đúng đắn VAHS, ngược lại, khi các hoạt động bào chữa được thực hiện có hiệu quả tức là việc buộc tội oan sai đã được hạn chế ở mức tối đa

1.1.3 Người bào chữa trong Tố tụng hình sự

Như chúng tôi đã phân tích, thì quyền bào chữa là quyền đặc thù của người bị buộc tội trong TTHS, cụ thể là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong đó quyền có người bào chữa chiếm vị trí quan trọng Việc tham gia tố tụng của người bào chữa sẽ góp phần cùng với cơ quan tư pháp nhanh chóng tìm ra sự thật vụ án, nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và nhà nước Người bị buộc tội bằng cách tự mình hoặc nhờ người bào chữa thực hiện quyền bào chữa của mình phù hợp với quy định pháp luật Việc nhờ người bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình là một công cụ pháp lý quan trọng mà pháp luật đã trang bị cho người bị buộc tội – người có vị

thế yếu trong TTHS

Vì vậy, tham gia tố tụng với tư cách là bên thứ ba, người có vị trí, vai trò đặc biệt, tách biệt với cơ quan công quyền (CQĐT, VKS, Tòa án) là hết sức quan trọng Tuy nhiên, cho đến nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng vẫn chưa đưa ra được khái niệm người bào chữa một cách thống nhất Xung quanh vấn đề người bào chữa đã xuất hiện không ít các quan niệm khác nhau, có

nhiều cách hiểu khác nhau về người bào chữa Có quan điểm cho rằng“ Người

bào chữa là người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra bản án có căn cứ và đúng pháp luật”[45,

tr.53] và theo giải thích của PGS.TS Luật học Võ Khánh Vinh, trong quyển

“Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự”, thì: “Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật

Trang 21

của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của

bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết”[44, tr.128-129]

Một quan điểm khác lại cho rằng “Người bào chữa là người TGTT để

giúp đỡ Toà án” [16]

Tuy nhiên, mục đích cũng như ý nghĩa của việc tham gia tố tụng đầu tiên của người bào chữa là xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Họ TGTT để góp phần vào mục đích chung đó là bảo vệ quyền lợi công dân (người bị buộc tội) đảm bảo công bằng, dân chủ trong hoạt động tố tụng, bên cạnh đó, giúp cơ quan THTT thực hiện được nhiệm vụ giải

quyết vụ án được “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật” tránh được những sai

sót cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Điều đó không có nghĩa là họ là những người THTT, nhân danh quyền lực công để giúp đỡ Tòa án, họ cũng không phải là một bên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, mà họ là người

tham gia tố tụng có vị trí độc lập, và vị trí độc lập của họ là độc lập “phái sinh”,

bởi lẽ, việc họ TGTT không phải đương nhiên mà phải xem xét đến lợi ích của người được họ bào chữa

Trên thực tế, có quan điểm cho rằng NBC là người tham gia tố tụng với vị trí độc lập, họ cho rằng khi thực hiện chức năng bào chữa, NBC được pháp luật trao cho những quyền và nghĩa vụ nhất định và họ có thể tự bày tỏ quan điểm mà không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội Như chúng tôi đã phân tích ở trên, quyền bào chữa là quyền năng pháp lý thuộc về một chủ thể duy nhất là người bị buộc tội, NBC tham gia tố tụng để giúp người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả, qua đó góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa hai chức năng đối trọng nhau trong TTHS (chức năng buộc tội và chức năng bào chữa), vì vậy, chúng tôi cho rằng, quyền của NBC được bắt nguồn từ quyền của người bị buộc tội, và việc pháp luật quy định cho NBC có những quyền và nghĩa vụ cụ thể khi tham gia tố tụng, đó chỉ là công cụ pháp lý

để đảm bảo cho NBC thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình đó là bảo vệ

Trang 22

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế XHCN trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo cho NBC có những quyền và nghĩa vụ nhất định cũng

có nghĩa là đảm bảo cho NBC (chủ thể thực hiện chức năng bào chữa) được bình đẳng với bên buộc tội trong việc thực hiện chức năng buộc tội, có như vậy mới bảo đảm được công bằng, dân chủ trong TTHS, vì vậy, không thể coi NBC là người TGTT với vị trí độc lập như là một chủ thể của quyền bào chữa, theo

chúng tôi “NBC là người tham gia tố tụng để bênh vực, bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp cho người bị buộc tội”

Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về NBC thì chúng ta cần phân biệt khái niệm NBC trong TTHS với người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án

BLTTHS đã đưa ra tiêu chí để phân biệt 2 khái niệm trên là “dựa vào chức năng

và đối tượng mà họ bào chữa, bảo vệ” [43]

NBC tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Trong khi đó, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự TGTT chủ yếu là

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án

Nghiên cứu về NBC thì BLTTHS năm 2003 không đưa ra khái niệm về

NBC mà chỉ quy định “NBC có thể là: Luật sư; Người đại diện hợp pháp của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân”[23] Tuy nhiên,

BLTTHS năm 2015 đã chính thức đưa ra khái niệm về NBC trong TTHS, cụ thể tại điều 72 quy định: “ Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”[27] Như vậy, theo quy định trên thì NBC có thể là:

Luật sư: Theo quy định tại Điều 2 Luật luật sư năm 2006, được sửa đổi,

bổ sung năm 2012 thì: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề

theo quy định của Luật này, thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”[25] Như vậy, luật sư là NBC chuyên nghiệp, và theo

Trang 23

Điều 10 của Luật này thì chỉ những người hội đủ các điều kiện sau mới được

tham gia vào Đoàn Luật sư: “Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ

quốc;Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;Có phẩm chất đạo đức tốt;Có bằng cử nhân luật; Đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư; Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư”[25]

Như vậy, một người hội đủ những điều kiện theo quy định của Điều 2 và Điều 10, đồng thời không rơi vào trường hợp cấm theo khoản 4 Điều 17 của Luật luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 thì được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, và đủ điều kiện được TGTT với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật Và chỉ những luật sư TGTT bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong VAHS mới được gọi

là NBC Điều này cũng được hiểu tương tự đối với BCVND và NĐDHP của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Việc nhấn mạnh này có ý nghĩa trong việc hiểu đúng và chính xác về luật sư và NBC Bởi vì, trong TTHS khi luật sư TGTT bảo

vệ quyền lợi cho những người khác không phải là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ TGTT với tư cách là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Người đại diện của người bị buộc tội:

Cho đến hiện nay, BLTTHS của nước ta chưa có một quy định một cách

cụ thể về NĐDHP của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong VAHS Tìm hiểu vấn đề này, Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn một số quy định của BLTTHS trong đó có phần hướng dẫn về NĐDHP của bị cáo là người chưa thành niên với nội dung: “đại diện hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đở đầu của họ”

Theo đó, vấn đề “người đại diện hợp pháp” của người bị buộc tội chỉ đặt ra khi

họ là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần Và NĐDHP có thể là cha mẹ hoặc người đỡ đầu của những người này Từ

Trang 24

đó cũng có thể hiểu người đủ 18 tuổi trở lên, không có nhược điểm về thể chất hoặc nhược điểm về tâm thần sẽ không có NĐDHP khi TGTT với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Bào chữa viên nhân dân: ngoài luật sư, người đại diện của người bị buộc

tội thì BLTTHS còn quy định BCVND cũng có thể TGTT với tư cách là NBC Ở nước ta, trước khi có Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 thì việc bào chữa cho

bị can, bị cáo do BCVND đảm nhận Hoạt động bào chữa của BCVND không phải là chuyên nghiệp mà chỉ mang tính chất nghiệp dư Từ khi BLTTHS năm

1988 có hiệu lực thi hành cho đến khi BLTTHS năm 2015 được ban hành vẫn chưa có một văn bản chính thức nào quy định khái niệm về BCVND Tuy nhiên, tại khoản 3, điều 72 BLTTHS năm 2015 đã chính thức đưa ra khái niệm về

BCVND, cụ thể: “BCVND là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành

với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình”[27]

Chính vì vậy, bào chữa viên nhân dân có thể được hiểu là thành viên của

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc được

tổ chức mình cử ra để tham gia tố tụng nhằm thực hiện chức năng bào chữa, trợ giúp pháp lý cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức[15,

tr.21]

Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý: được tham gia TTHS với tư cách là NBC

là một trong những quy định mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm

2003 Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 thì Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn

sau đây: “Có năng lự hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt; Có bằng

cử nhân luật; Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; Có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên; Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành

Trang 25

nhiệm vụ được giao”[28] Và theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì trợ giúp

viên trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là NBC “trong trường hợp

người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý”[27]

1.2 Người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Người bào chữa tham gia vào hoạt động TTHS với một sứ mệnh cao cả

Sự tham gia của người bào chữa đã thể hiện rõ nét tính nhân dân trong tố tụng hình sự, với sự hiểu biết pháp luật và bản lĩnh nghề nghiệp, họ TGTT với vị trí khách quan, ngang bằng với bên buộc tội, giúp cơ quan THTT kịp thời phát hiện những sai lầm thiếu sót, khắc phục kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng

Trong TTHS, vai trò của NBC thể hiện cụ thể qua các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, đó là khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử VAHS

Ở giai đoạn điều tra, thì thông qua việc thực hiện quyền năng tố tụng của thì NBC góp phần tích cực cùng với cơ quan điều tra trong việc thu thập chứng

cứ, những tình tiết có lợi cho người bị buộc tội Việc tham gia tố tụng của NBC trong giai đoạn điều tra vừa giúp cho người bị buộc tội đảm bảo quyền lợi của mình, bên cạnh đó, nâng cao trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong công tác điều tra nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội, hạn chế tình trạng oan sai và những vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng kịp thời và chính xác

Ở giai đoạn xét xử, đây là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa quyết định bị cáo có tội hay không ? và vấn đề hình phạt?

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, NBC có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo Tại đây, NBC sẽ tranh luận dân chủ công khai với bên buộc tội, đưa ra những chứng cứ, luận cứ để thuyết phục HĐXX, thực hiện nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả nhất tại phiên toà, góp phần giúp cơ quan THTT xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp toà án

Trang 26

ra một bản án có căn cứ, hợp pháp, có sức thuyết phục, qua đó bảo vệ một cách

có hiệu quả lợi ích của thân chủ mình

Phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hoạt động tố tụng nói chung và xét xử nói riêng Tuy nhiên, trong xã hội dân chủ và tiến bộ ngày nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được thừa nhận rộng rãi Vì vậy, trong TTHS khi nói đến phiên tòa tức là nói đến phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm Mặc dù vậy, hầu hết các ý kiến đều cho rằng vai trò của NBC trong giai đoạn sơ thẩm là quan trọng nhất, vì vậy đến phiên tòa phúc thẩm hầu như không được đề cập và chưa có tác giả nào đi nghiên cứu về vai trò của NBC trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Như chúng tôi đã phân tích, sự tham gia của NBC trong TTHS là cần thiết khách quan, sự cần thiết trước tiên được thể hiện ở vai trò của họ trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS, trong thực tế, sự tham gia của NBC trong TTHS không chỉ là nét dân chủ của luật TTHS xã hội chủ nghĩa, mà đi xa hơn nữa là chính nó đã tạo điều kiện để TTHS đạt được những mục đích đặt ra, trong đó có mục đích bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ở mỗi giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án, người bị buộc

tội tham gia tố tụng với tên gọi khác nhau, pháp luật quy định “Người bị bắt,

người bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”[24] Từ quy định trên, cho ta thấy

quyền bào chữa xuất hiện từ rất sớm trên cơ sở “ở đâu có buộc tội ở đó có bào

chữa” NBC khi tham gia vào hoạt động tố tụng luôn phải thực hiện đồng thời

hai nhiệm vụ: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội; tôn trọng

và tuân thủ pháp luật

Đây là hai nhiệm vụ quan trọng, gắn bó với nhau, đòi hỏi phải được thực hiện có hiệu quả và phải có cơ chế để bảo đảm nó được thực hiện

Trang 27

Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn quan trọng, hơn nữa bản án phúc thẩm được tuyên sẽ có hiệu lực pháp luật ngay, vì vậy, bản án phúc thẩm phải luôn chính xác và giải quyết được nhiệm vụ chung của TTHS, hạn chế đến mức tối đa tình trạng oan sai trong TTHS Tuy nhiên, vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây là ở giai đoạn này, sự tham gia của NBC có còn cần thiết hay không? Và vai trò của NBC trong giai đoạn này được thể hiện như thế nào?

Bởi lẽ, cho đến thời điểm này, trong khoa học pháp lý, vẫn còn nhiều quan niệm hạ thấp vai trò của NBC, cho rằng ở giai đoạn phúc thẩm thì vai trò của NBC là không còn cần thiết nữa, nguyên nhân của nó cũng xoay quanh mấy vấn đề đang tranh cãi sau đây:

- Vấn đề thứ nhất, cho rằng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, VKS không còn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố mà chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vậy chức năng buộc tội ở giai đoạn này có tồn tại hay không?

- Vấn đế thứ hai, trong trường hợp VKS kháng nghị, người bị hại kháng cáo theo hướng giảm nhẹ hình phạt hoặc theo hướng có lợi cho bị cáo thì vấn đề nhờ người khác bào chữa có đặt ra nữa hay không?

- Vấn đề thứ ba, ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ thì việc buộc tội chỉ tồn tại ở giai đoạn xét xử và đối với họ thì vai trò luật sư chỉ được thể hiện ở phiên toà sơ thẩm và khi phiên toà này kết thúc thì coi như luật sư đã làm xong nhiệm vụ Vì vậy, ở phiên toà phúc thẩm đối với họ hầu như không có sự xuất hiện của NBC, bên cạnh đó, tỉ lệ kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

ở các nước này rất thấp, chiếm khoảng 10% bản án sơ thẩm Thực tế như vậy, ít nhiều ảnh hưởng đến cách nhận thức ở nước ta

Thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta phát sinh nhiều vấn đề như vậy là

do pháp luật nước ta chưa quy định một cách cụ thể, còn nhiều quy phạm mang tính tuỳ nghi hoặc khó hiểu, mà lại chưa có một văn bản hướng dẫn chính thức dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế không thống nhất

Trang 28

Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng, vai trò của NBC ở giai đoạn xét xử phúc thẩm là rất quan trọng, bỡi lẽ:

+ Thứ nhất: ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, mặc dù VKS không thực hiện

hành vi buộc tội đối với bị cáo bằng bản cáo trạng, nhưng không có nghĩa là đã

chấm dứt hành vi buộc tội Tại điều 9 BLTTHS nước ta quy định: “không ai bị

coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật” [23], có nghĩa là, trong trường hợp bản án sơ thẩm được tuyên ra

nếu được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm thì bản án sơ thẩm đó chưa có HLPL, thì bị cáo vẫn được coi là chưa có tội và vấn đề bị cáo có phạm tội hay không vẫn đang trong quá trình chứng minh thông qua phiên tòa phúc thẩm Mặt

khác, Điều 247 BLTTHS quy định “Phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến này

như phiên toà sơ thẩm” [23], vậy tại phiên tòa phúc thẩm, việc thẩm vấn, tranh

luận vẫn được đặt ra Điều này cũng có nghĩa là, hoạt động tại phiên toà phúc thẩm vẫn là hoạt động tìm kiếm chân lý, tại phiên toà việc thẩm vấn đối với bị cáo, NBC và những người TGTT khác là thủ tục bắt buộc, để mục đích cuối cùng là tìm ra sự thật khách quan của vụ án Hoạt động này đối với bị cáo được

hiểu là hoạt động buộc tội và khi đó thì “ở đâu có buộc tội, ở đó có bào chữa”

Vì vậy, ở giai đoạn này thì quyền bào chữa vẫn phải được tôn trọng và bảo vệ,

có như vậy mới đảm bảo được dân chủ, công bằng, khách quan trong việc giải

quyết vụ án, là tiền đề quan trọng trong việc tuyên một bản án “đúng người,

đúng tội và đúng pháp luật”

+ Thứ hai: việc kháng cáo, kháng nghị chỉ là cơ sở làm phát sinh thủ tục

phúc thẩm, còn nội dung của kháng cáo, kháng nghị có được Tòa án chấp nhận hay không phải qua cuộc điều tra công khai tại phiên toà Vì vậy, không thể cho rằng trong trường hợp VKS kháng nghị, người bị hại kháng cáo theo hướng có lợi cho bị cáo thì quyền và lợi ích của bị cáo đã được đảm bảo và vì thế là không cần thiết phải có sự tham gia của NBC nữa Hơn nữa, NBC lại là một trong những nhân tố đảm bảo cho hoạt động tố tụng được vận hành theo đúng yêu cầu

Trang 29

của pháp luật, là một nhân tố mà khi có sự xuất hiện của nó thì cơ quan THTT sẽ thận trọng hơn, cân nhắc kỹ lưỡng mọi hành động cũng như lời nói của mình, tạo điều kiện nâng cao tinh thần trách nhiệm cho người THTT

Thực tiễn xét xử cho thấy rằng, bản án sơ thẩm có thể là không hợp pháp hoặc thiếu căn cứ không chỉ ở những phần bị kháng cáo, kháng nghị, mà ở những phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị cũng có khả năng

bị sai sót Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp các chủ thể có quyền kháng cáo hay kháng nghị đều có thể phát hiện ra những sai sót đó hoặc có thể phát hiện nhưng vì lý do nào đó mà họ không kháng cáo, kháng nghị Chính vì lẽ

đó mà không thể chỉ căn cứ vào nội dung kháng cáo, kháng nghi mà khẳng định giới hạn xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm, mà trên cơ sở có kháng cáo kháng nghị hợp pháp làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm

sẽ xem xét lại toàn bộ vụ án nếu thấy cần thiết [23]

Vì vậy, hoạt động xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm cần phải khắc phục những sai phạm mà cấp xét xử ban đầu đã mắc phải Bởi lẽ, nếu các sai phạm ở cấp xét xử sơ thẩm không được khắc phục thì sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động xét xử, mục đích của tố tụng không đạt được, hoặc được khắc phục ở những giai đoạn tố tụng tiếp theo (giám đốc thẩm, tái thẩm), thì các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân sẽ có thể được khôi phục nhưng chắc chắn không đầy

đủ, thậm chí có thể không bao giờ khôi phục lại được Trong những trường hợp này lòng tin của công dân vào công lý sẽ giảm sút nghiêm trọng Đây là hậu quả đáng kể nhưng không phải lúc nào cũng nhận thấy được

Từ những phân tích trên, chúng tôi thấy rằng, việc tham gia của NBC trong phiên toà phúc thẩm là rất cần thiết, sự cần thiết này không chỉ là góp phần bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị cáo mà còn có ý nghĩa góp phần cùng

cơ quan THTT giải quyết vụ án được nhanh chóng, khách quan và chính xác

Trang 30

1.3 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

Vị trí, vai trò của NBC được khẳng định một cách cụ thể thông qua những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định Trên cơ sở thực hiện những quyền

và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho mình khi TGTT, bảo đảm cho NBC thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả Tương ứng với mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, hoạt động của NBC sẽ gắn với những quyền và nghĩa vụ nhất định, tuy nhiên, cùng với việc cố gắng thực hiện một cách có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ ấy, thì các cơ quan THTT còn có trách

nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện nhiệm vụ của mình

Điều 58 BLTTHS quy định NBC có những quyền sau:

- NBC có quyền TGTT từ khi khởi tố bị can trong trường hợp bắt người

phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì NBC TGTT từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng VKS quyết định

để NBC TGTT từ khi kết thúc điều tra

Với quy định này sẽ tạo điều kiện cho NBC TGTT sớm hơn trong trường hợp có người bị tạm giữ, tạo điều kiện cho NBC bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội Quy định này có ý nghĩa tạo điều kiện cho NBC tham gia sớm vào vụ án, NBC sẽ có điều kiện tìm hiểu, nắm bắt nội dung

vụ án ngay từ đầu, bảo đảm cho việc phát hiện, thu thập đầy đủ các chứng cứ có lợi cho thân chủ mình, bên cạnh đó, sẽ giúp cho công tác điều tra được tiến hành

nhanh chóng, kịp thời

-NBC có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung

bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can, có mặt

trong các hoạt động điều tra khác…

Trang 31

Đây là một quyền có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả Sự có mặt của NBC trong các buổi hỏi cung bị can hoặc lấy lời khai người bị tạm giữ không những giúp cho người bị buộc tội trong những trường hợp này bình tĩnh hơn khi khai báo, mặt khác NBC sẽ dễ dàng phát hiện những tình tiết có lợi cho người bị tạm giữ cũng như bị can, điều này cần thiết cho NBC trong việc minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can Bên cạnh đó, sự có mặt của NBC sẽ góp phần ngăn ngừa hoặc hạn chế sự vi phạm tố tụng từ phía cán bộ điều tra, đồng thời tránh tình trạng vẫn xảy ra trong thực tế là khi ra tòa bị cáo phản cung, khiếu nại về việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung Đồng thời, để đảm bảo cho NBC thực hiện tốt quyền

của mình, pháp luật còn quy định: “NBC có quyền đề nghị CQĐT báo trước về

thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can” (điểm b,

khoản 2, Điều 58)

-NBC có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào

chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác

Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động bào chữa, bởi chỉ trong quá trình thu thập chứng cứ, NBC mới có khả năng phát hiện ra những tình tiết của vụ án, từ có mới có phương án bào chữa nhằm bảo vệ cho thân chủ của mình, mặt khác, với quy định này NBC sẽ góp phần bảo đảm tính khách quan, chính xác và đúng pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ án

- NBC có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ

án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật

Có thể nói, một trong những biện pháp quan trọng của hoạt động bào chữa

là việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, bởi lẽ, qua đó NBC biết được nội dung vụ án, những chứng cứ, lý lẽ buộc tội bị can, bị cáo để trên cơ sở đó chuẩn bị quan

Trang 32

điểm và phương án bào chữa Vì vậy, việc pháp luật ghi nhận NBC có quyền đọc

hồ sơ vụ án giúp cho NBC có một cách nhìn toàn diện, qua đó NBC có điều kiện tìm hiểu xem diễn biến hành vi phạm tội trong bản kết luận điều tra có đúng không, các chứng cứ mà CQĐT sử dụng vào việc chứng minh tội phạm có đảm bảo không… từ đó có thể có phương án bào chữa hợp lý hoặc thu thập thêm các

chứng cứ có lợi cho thân chủ mình

Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy việc BLTTHS quy định cho phép NBC được quyền sao chụp những tài liệu liên quan có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện nghiên cứu một cách đầy đủ những vụ án lớn, có số bút lục dày Đây là một điểm mới, tiến bộ trong pháp luật nước ta

- NBC có quyền tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên toà

Giai đoạn xét xử là giai đoạn trung tâm của TTHS Phiên tòa là cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra tính hợp pháp của các chứng cứ qua việc xét hỏi bị cáo, nhân chứng… nhằm làm rõ sự thật khách quan về vụ án để HĐXX có phán quyết chính xác Xét hỏi và tranh luận là những hoạt động quan trọng trong quá trình xét xử vụ án tại phiên toà Đối với NBC, nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho bị cáo tại phiên toà có ý nghĩa rất quan trọng, bởi tại phiên toà, việc đối chất và đưa

ra các chứng cứ mới, bác bỏ những chứng cứ buộc tội có nhiều thuận lợi khi có mặt tất cả những người TGTT Chính vì vậy, NBC phải chú ý lắng nghe những câu hỏi và trả lời, so sánh đối chiếu các tình tiết của vụ án và phát hiện những tình tiết có lợi cho bị cáo và những lời khai không phù hợp với các tình tiết trong

vụ án để kịp thời đưa ra những câu hỏi yêu cầu những người TGTT làm rõ khi

được chủ toạ dành cho quyền hỏi

Ngoài ra, khi TGTT người bào chữa còn có các quyền như: quyền đề nghị, quyền khiếu nại, tố cáo… khi phát hiện có hành vi VPPL từ phía chủ thể THTT hoặc bất cứ tổ chức, cá nhân nào Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, NBC còn được quyền kháng cáo trong những

trường hợp do pháp luật TTHS quy định

Trang 33

Với tất cả những quyền năng tố tụng trên, NBC có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do luật định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo, giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Tuy nhiên, như chúng tôi đã khẳng định, khi TGTT, ngoài nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội thì NBC đồng thời phải khách quan, tôn trọng sự thật và tôn trọng pháp luật Mặt khác, để bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì NBC chỉ được sử dụng những biện pháp bào chữa do pháp luật quy định Chính vì vậy, bên cạnh việc quy định các quyền cho NBC,

pháp luật cũng quy định một số nghĩa vụ đối với họ, đó là:

- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình

tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo…;

- Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ;

- Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà

mình đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng;

- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật

- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc

bào chữa;…

Việc quy định này nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm của NBC trong

việc thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình

1.3.2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Ngày nay, cùng với nhu cầu hoàn thiện về pháp luật tố tụng hình sự, các quy định liên quan đến NBC cũng này càng được hoàn thiện, vị trí, vai trò của NBC trong TTHS ngày càng được nâng cao, Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ

Trang 34

Chính trị đã nhấn mạnh “đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, NBC và những

người TGTT khác… Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia xét hỏi, nghiên cứu hồ sơ, tranh tụng dân chủ tại phiên toà”

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luât định Ở giai đoạn này, NBC này thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho mình, cụ thể:

Để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo, Điều 231 BLTTHS quy định

“NBC có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc

người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”[23] Quyền kháng cáo là quyền

cơ bản và rất quan trọng của bị cáo Qua việc kháng cáo, bị cáo bày tỏ quan điểm của mình đối với phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và thể hiện nguyện vọng của mình cần được xem xét ở phiên toà phúc thẩm Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp bị cáo đều có khả năng để thực hiện tốt quyền kháng cáo mà pháp luật quy định cho mình, đặc biệt là đối với những bị cáo mà khả năng nhận thức của họ kém hoặc nhận thức chưa đầy đủ Vì vậy, trong những trường hợp này, sự tham gia của NBC là rất cần thiết, NBC có thể giúp bị cáo rất nhiều trong việc kháng cáo, hoặc đối với những bị cáo là người chưa thành niên hoặc người

có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì NBC có quyền kháng cáo thay cho

bị cáo và quyền kháng cáo của NBC trong trường hợp này là quyền kháng cáo độc lập Đây là một quy định tiến bộ nhằm đảm bảo hiệu quả quyền bào chữa của bị cáo

Chúng tôi cho rằng, để nhằm bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, thì pháp luật không nên chỉ quy định NBC chỉ có quyền kháng cáo trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà

Trang 35

trong những trường hợp khác thì NBC cũng phải có quyền kháng cáo thay cho bị cáo Bởi lẽ, quyền kháng cáo là quyền quan trọng, việc thực hiện tốt quyền này trên thực tế sẽ góp phần bảo đảm quyền lợi cho bị cáo Bên cạnh đó, phần lớn những người TGTT với tư cách là NBC đều là những người có kiến thức, am hiểu pháp luật, việc pháp luật thừa nhận quyền kháng cáo cho họ sẽ làm tăng thêm khả năng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân và tăng khả năng phát hiện kịp thời phát hiện những sai sót của TA cấp sơ thẩm

Nội dung kháng cáo là cơ sở để Tòa án cấp phúc thẩm xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có HLPL Theo quy định tại Điều 236 Bộ luật TTHS, khi có kháng cáo, kháng nghị, NBC còn được TA thông báo về việc kháng cáo hoặc kháng nghị Việc thông báo này có ý nghĩa tạo điều kiện để NBC chuẩn bị những điều kiện cần thiết khi tham gia bào chữa cho thân chủ mình tại phiên toà, đảm bảo cho việc bào chữa của NBC mang lại hiệu quả

Một trong những quyền quan trọng của NBC trong giai đoạn phúc thẩm là

quyền có mặt tại phiên toà Điều 245 quy định “NBC được triệu tập tham gia

phiên toà” Việc có mặt của NBC tại phiên toà sẽ giúp NBC thực hiện một cách

có hiệu quả các quyền mà pháp luật quy định cho mình nhằm bảo vệ thân chủ

mình như quyền được đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người

phiên dịch (điểm d, khoản 2, Điều 58) khi cho rằng sự TGTT của họ là không

khách quan hoặc quyền được khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người

có thẩm quyền THTT (điểm k, khoản 2, Điều 58) Vì vậy, cũng giống như xét xử

sơ thẩm, việc NBC có mặt tại phiên toà phúc thẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, kịp thời phát hiện những vi phạm có thể xảy ra trong quá trình THTT để từ đó có kiến nghị và khắc phục kịp thời, đảm bảo khách quan cho quá trình giải quyết vụ án

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, “Trước khi xét xử hoặc trong khi xét

hỏi, NBC cũng có quyền bổ sung tài liệu, đồ vật ” (Điều 246) Trên cơ sở đó, bản

án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ củ và chứng cứ mới Có thể nói, việc

Trang 36

xác định chân lý khách quan của vụ án luôn là vấn đề chủ yếu của việc giải quyết VAHS, vì vậy, việc NBC được quyền bổ sung chứng cứ mới tại phiên toà sẽ tạo điều kiện cho Tòa án cấp phúc thẩm có điều kiện xem xét một cách toàn diện, đầy đủ những chứng cứ mang tính buộc tội và những chứng cứ mang tính gỡ tội,

để từ đó có phán quyết chính xác

NBC chỉ có thể thực hiện được hiệu quả những quyền mà pháp luật quy định cho mình khi mà trong quá trình thực hiện nhiệm vụ NBC tuân thủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho mình Trên cơ sở thực hiện những quyền và nghĩa vụ của NBC trong giai đoạn phúc thẩm, cho thấy, sự tham gia của NBC trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là rất cần thiết Vì vậy, việc tạo điều kiện cho NBC thực hiện có hiệu quả những quyền này là tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án

Nói tóm lại, ở giai đoạn phúc thẩm, pháp luật Việt Nam đã quy định

tương đối đầy đủ về chế định NBC, đảm bảo cho NBC có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn này, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật thì vẫn chưa thống nhất, do còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập với nhiều nguyên nhân khác nhau Vì vậy, trong thực tiễn xét xử ngoài những kết quả đạt được trong công tác bào chữa thì vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc gây khó khăn cho NBC trong hoạt động của mình, vấn đề đặt ra là phải khắc phục được những hạn chế vướng mắc, có như vậy vai trò của NBC mới được phát huy một cách tuyệt đối

1.4 Những yếu tố tác động đến vai trò của người bào chữa trong xét

xử phúc thẩm vụ án hình sự

NBC muốn thực hiện được tốt nhiệm vụ của mình, thì khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án cần phải có một cơ chế bảo đảm tuyệt đối, có như vậy thì dù có tham gia bào chữa ở bất cứ giai đoạn nào đi nữa cũng thực hiện hữu hiệu vai trò của mình Sự bảo đảm này thể hiện ở hai yếu tố, đó là bảo đảm về

pháp lý và bảo đảm về nhận thức:

Trang 37

Bảo đảm về pháp lý: được thể hiện ở việc nâng cao chất lượng công tác

lập pháp và hoàn thiện các chế định về NBC, trên cơ sở hoàn thiện các chế định

về quyền bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS Việc hoàn thiện các chế định quyền bào chữa trong TTHS, có vai trò quan trọng tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động của NBC Như chúng ta đã biết, kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết và văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước và pháp luật Đối với hoạt động tư pháp, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam

đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về một số nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách tư pháp, tạo cơ sở cho những hoạt động cải cách tư pháp tại Việt Nam nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa bắt đầu từ đầu thiên niên

kỷ mới Liên quan đến đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, Nghị quyết

08/NQ-TW đã yêu cầu phải có sự thay đổi sâu sắc trong thủ tục tố tụng đó là phải nghiên cứu và chuyển đổi thủ tục tố tụng thẩm vấn sang thủ tục tố tụng tranh tụng, đồng thời khẳng định và nâng cao địa vị và vai trò của luật sư nhằm bảo

đảm tối đa quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử

Cụ thể, để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã yêu cầu phải “đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh” Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 cũng định hướng “xây dựng và hoàn thiện pháp luật

về bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định, cảnh sát tư pháp ) theo hướng đáp ứng ngày càng đầy đủ, thuận lợi các nhu cầu đa dạng về hỗ trợ pháp

lý của nhân dân, doanh nghiệp; thực hiện xã hội hoá mạnh mẽ các hoạt động bổ trợ tư pháp; kết hợp quản lý nhà nước với tự quản của các tổ chức xã hội nghề nghiệp”…

Trang 38

Do đó, trước mắt các chế định liên quan đến quyền bào chữa nói chung và người bào chữa nói riêng phải được nghiên cứu và hoàn thiện, đặc biệt ở giai đoạn phúc thẩm các quy định về quyền và nghĩa vụ của NBC phải được quy định

rõ ràng và thống nhất Nhà nước có nhiệm vụ bảo đảm quyền công dân, đặc biệt

là công dân bị buộc tội, trong đó có quyền bào chữa và hơn thế nữa là quyền được nhờ người khác bào chữa trong TTHS theo đúng tinh thần của Điều 103 Hiến pháp năm 2013 “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích

hợp pháp của đương sự được bảo đảm”[24]

Bảo đảm về nhận thức: Khi tham gia tố tụng, NBC không chỉ bảo vệ

quyền lợi cho bị cáo mà còn có nhiệm vụ tôn trọng pháp luật Vai trò quan trọng

đó của NBC đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và triệt để từ phía cơ quan THTT, người TGTT và mọi công dân, có như vậy nhiệm vụ của NBC mới được thực hiện có hiệu quả Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định, người tiến hành tố tụng khi tham gia một vụ án phải giữ được sự vô tư, khách quan trong mọi trường hợp [23] Họ phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành công việc của mình với thái độ công tâm, khách quan, vô tư, không được để những quan hệ, những tình cảm cá nhân chi phối công việc Không được có thái độ thiên vị hay định kiến đối với bất kỳ người tham gia tố tụng nào Đây cũng được

coi như là một trong những nguyên tắc cơ bản khi tiến hành tố tụng

Nhằm bảo đảm sự chính xác hiệu quả của pháp luật cũng như bảo đảm quyền lợi cho bị cáo, tránh sự lạm quyền trong khi thi hành công vụ, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn đối với địa vị của từng chức danh pháp lý cụ thể Theo đó, thẩm phán sẽ thực hiện nhiệm vụ theo

sự phân công của Chánh án, trong phạm vi thẩm quyền của mình được phép áp dụng các quy định của pháp luật [23] để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc

thẩm quyền xét xử của Tòa án

Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, bồi dưỡng nâng cao năng lực, nhận thức pháp luật nói chung, đối với tất cả các cơ quan, người THTT, người TGTT

Trang 39

và đối với mọi người dân để họ nhận thấy vị trí, vai trò quan trọng của NBC trong VAHS, đặc biệt đối với vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm, là giai đoạn rất quan trọng, cần sự thận trọng chính xác từ phía cơ quan có thẩm quyền khi quyết định, họ phải cân nhắc vì đây là quyết định cuối cùng, đối với bị cáo, sau khi tuyên án thì bản án có hiệu lực pháp luật ngay, chỉ một cần sai sót nhỏ cũng

có thể gây hậu quả hết sức nghiêm trọng Với nhận thức như vậy, thì việc tham

gia TTHS của NBC là không thể thiếu

Do đó, hoạt động bào chữa của NBC trong TTHS sẽ ngày càng nâng cao hiệu quả, nếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của họ, chúng ta đáp ứng đầy

đủ các yếu tố bảo đảm về pháp lý và bảo đảm về nhận thức Ngoài ra, cũng cần phải kể đến sự phối hợp ăn ý trên tinh thần tôn trọng pháp luật, tôn trọng lẫn nhau giữa các cơ quan THTT, người THTT trong quá trình giải quyết VAHS, có như vậy mới bảo đảm được nhiệm vụ của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, phát huy dân chủ Bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Kết luận Chương 1

Thứ nhất, hoạt động TTHS luôn được đặc trưng bởi ba chức năng cơ bản bao gồm: Chức năng bào chữa, chức năng buộc tội, chức năng xét xử Việc nhận thức được đúng đắn đầy đủ của các chức năng cơ bản của TTHS là hết sức cần thiết và quan trọng Nó đảm bảo cho mục đích của tố tụng đạt được Mỗi chức năng cơ bản đều giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động TTHS Trong đó, chức năng bào chữa chiếm vai trò rất quan trọng đảm bảo cho việc giải quyết vụ

án được “khách quan, toàn diện và đầy đủ”

Thứ hai, việc tham gia tố tụng của người bào chữa sẽ góp phần cùng với

cơ quan tư pháp nhanh chóng tìm ra sự thật vụ án, nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và nhà nước Người bị buộc tội bằng cách tự mình hoặc nhờ người bào chữa thực hiện quyền bào chữa của mình phù hợp với quy định pháp luật Việc nhờ người bào

Trang 40

chữa bảo vệ quyền lợi cho mình là một công cụ pháp lý quan trọng mà pháp luật

đã trang bị cho người bị buộc tội – người có vị thế yếu trong TTHS

Thứ ba, vị trí, vai trò của NBC được khẳng định một cách cụ thể thông qua những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định Trên cơ sở thực hiện những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho mình khi TGTT, bảo đảm cho NBC thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách có hiệu quả Tương ứng với mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, hoạt động của NBC sẽ gắn với những quyền và nghĩa vụ nhất định, tuy nhiên, cùng với việc cố gắng thực hiện một cách có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ ấy, thì các cơ quan THTT còn

có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện nhiệm vụ của mình

Ngày đăng: 21/11/2017, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Kim Anh (2015), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam – Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Võ Thị Kim Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
Năm: 2015
2. Nguyễn Ngọc Ái (2011), Vai trò của người bào chữa trong việc nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người bào chữa trong việc nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Ái
Năm: 2011
3. Nguyễn Như Bích (2003), Một số biện pháp khắc phục tình trạng hoãn phiên tòa phúc thẩm, Tạp chí TAND (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp khắc phục tình trạng hoãn phiên tòa phúc thẩm
Tác giả: Nguyễn Như Bích
Năm: 2003
5. Lê Tiến Châu (2001), Các chức năng tố tụng cơ bản trong tố tụng hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chức năng tố tụng cơ bản trong tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2001
7. Thành Chương (1963), Tính chất của công tác phúc thẩm, Tập san tư pháp (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất của công tác phúc thẩm
Tác giả: Thành Chương
Năm: 1963
8. Ngô Hướng Đàm (1997), Về quyền bào chữa của bị can bị cáo ở nước CHXHCN Việt Nam, Tạp chí luật học (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền bào chữa của bị can bị cáo ở nước CHXHCN Việt Nam
Tác giả: Ngô Hướng Đàm
Năm: 1997
12. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Phạm Hồng Hải (1999), Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 1999
14. Phạm Hồng Hải (1999), Vị trí của luật sư bào chữa tại phiên toà xét xử, Tạp chí luật học, (số 4),tr.14-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của luật sư bào chữa tại phiên toà xét xử
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
15. Phan Văn Hòa (2012), Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Hòa
Năm: 2012
16. Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ Luật – Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2012
17. Liên đoàn luật sư Việt Nam (2012), Báo cáo đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá thực trạng bảo đảm quyền bào chữa và quan điểm sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Liên đoàn luật sư Việt Nam
Năm: 2012
18. Nguyễn Đình Lộc (2001), Về pháp lệnh luật sư 2001, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (số chuyên đề về luật sư), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về pháp lệnh luật sư 2001
Tác giả: Nguyễn Đình Lộc
Năm: 2001
19. Nguyễn Đức Mai (1999), Vấn đề tranh tụng, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ của Viện kiểm sát Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tranh tụng
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 1999
20. Nguyễn Thái Phúc (2003), Dự thảo bộ luật tố tụng sửa đổi và nguyên tắc tranh tụng, Tạp chí Nhà nước Pháp luật, (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo bộ luật tố tụng sửa đổi và nguyên tắc tranh tụng
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2003
21. Nguyễn Thái Phúc (1999), Một số vấn đề quyền công tố của Viện Kiểm Sát, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Viện Khoa học kiểm sát, viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quyền công tố của Viện Kiểm Sát, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 1999
22. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2015
23. Quốc hội (2009), Bộ luật tố tụng hình sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2009
24. Quốc hội (2015), Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
25. Quốc hội (2014), Luật luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật luật sư năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia – sự thật
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm