Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THỊ THỦY DUYÊN
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG THỊ THỦY DUYÊN
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHÙNG THỊ THỦY DUYÊN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động định tội danh 7 1.2 Lý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12 1.3 Các yếu tố tác động đến định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 19
Chương 2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Khái quát tình hình xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 36 2.2 Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành cơ bản 41
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH ĐÚNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 57
3.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 57 3.2 Các giải pháp khác nhằm bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 64
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật Hình sự
CQĐT Cơ quan điều tra
TTHS Tố tụng hình sự
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Thống kê số vụ và số bị can/bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017)
Bảng 2.2: So sánh số vụ án và số bị can bị khởi tố, điều tra về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với số
vụ án, bị can bị khởi tố, điều tra về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên phạm vi cả nước (Từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017)
Bảng 2.3: Thống kê số vụ án và số bị can bị khởi tố, điều tra về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017
Bảng 2.4: Thống kê số vụ án và số bị can bị Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung
đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017)
Bảng 2.5: Thống kê mức hình phạt đối với bị cáo do Tòa án nhân dân 2 cấp
của Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Từ năm 2013 đến 06 tháng đầu năm 2017)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Định tội danh là một vấn đề phức tạp trong khoa học pháp lý hình sự Quá trình giải quyết vụ án hình sự cần đảm bảo tính khách quan, khoa học và chính xác Định tội danh là yếu tố đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đúng theo các điều khoản tương ứng của Bộ luật hình
sự (BLHS), không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn hiện nay, khi mà công cuộc Cải cách tư pháp đã và đang được triển khai thực hiện trong hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết
49-NQ/TW của Bộ Chính trị “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”,
thì việc định tội danh đúng càng trở nên bức thiết nhằm phục vụ hiệu quả cho tiến trình cải cách tư pháp và đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự
Định tội danh đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu quy định tại Chương XIV của BLHS là quá trình rất phức tạp và khó khăn bởi các tội phạm này đều liên quan đến quan hệ sở hữu và nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Do vậy, để xác định được người phạm tội vi phạm quy định nào trong số các tội phạm này, cần phải căn cứ vào hành vi khách quan của người phạm tội, thời điểm người phạm tội nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản cũng như thời điểm họ thực hiện hành vi chiếm đoạt Việc xác định sai thời điểm cũng như nhận định không đúng, không chính xác về thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội sẽ dẫn đến việc định tội danh không đúng, không truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, làm hạn chế mục đích mà BLHS khi ban hành hướng đến Trong trường hợp này, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những ví dụ điển hình Lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phải là hành vi mới, tuy nhiên để định tội danh đúng đối với người phạm tội cần phải xác định thật chính xác thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt của
Trang 8người phạm tội, tránh trường hợp định nhầm tội danh, xâm phạm đến quyền
và lợi ích chính đáng của người phạm tội
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất của cả nước, nơi tập trung một lượng lớn dân nhập cư từ khắp các tỉnh thành sinh sống, học tập và làm việc nên là địa phương dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế với tổng thu ngân sách cũng như thu nhập bình quân đầu người
ở mức cao Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và các thành tựu mà Thành phố đã đạt được thì vấn đề đáng báo động nhất là tình hình tội phạm không ngừng gia tăng, đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Từ thực tiễn công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các
vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua cho thấy về cơ bản việc định tội danh được thực hiện tương đối chính xác Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp giữa Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và Tòa án nhân dân (TAND) trong quá trình giải quyết vụ án xuất hiện quan điểm khác nhau về định tội danh dẫn đến có vụ án phải trả hồ sơ nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết và ảnh hưởng đến nhiều đối tượng khác nhau Thực trạng trên đặt ra yêu cầu phải có sự nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trên cơ sở đó đưa
ra các giải pháp khắc phục hạn chế, hướng đến việc nâng cao chất lượng định
tội danh tội phạm này trong thực tiễn Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" làm Luận văn thạc sĩ nhằm đáp ứng yêu
cầu cấp thiết của thực tiễn đấu tranh chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung trong thời gian tới
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo nghiên cứu của tác giả, trong những năm qua, có khá nhiều công trình khoa học, bài viết, đề tài đề cập và có liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm - quyển 1, NXB Hồng Đức, Hội Luật gia
Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam,
NXB Công an nhân dân, Hà Nội
Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh và quyết định hình phạt, Sách
chuyên khảo, NXB Lao động xã hội, Hà Nội
Võ Khánh Vinh (2013), Lý luận chung về định tội danh, Sách chuyên
khảo, NXB Khoa học xã hội, Chi nhánh TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Đức Mai (2013), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) - Phần các tội phạm, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội
Mai Bộ (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tạp chí Tòa án nhân dân
(số 12), tr.6 Nguyễn Thị Phương Thảo (2012), “Bàn về yếu tố “chiếm đoạt tài sản” trong các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “lừa đảo
chiếm đoạt tài sản””, Tạp chí kiểm sát, (số 09), tr.52
Trang 10Lê Tiến Hải (2013), Hoạt động của lực lượng cảnh sát Điều tra tội phạm
về trật tự xã hội Công an tỉnh Gia Lai trong điều tra tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Luận văn Thạc sĩ luật học,Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
Nguyễn Thị Thùy Liên (2016), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong pháp luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học,Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh
Những công trình khoa học, bài viết nói trên đều có giá trị khoa học và thực tiễn cao Nhiều công trình đã nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về vấn đề tội danh hoặc các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như thực trạng định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Vì vậy, trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu đề
tài: "Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích các
quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong việc định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm này trong thực tiễn
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, trong quá trình
nghiên cứu đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 11+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
+ Phân tích, đánh giá các quy định của BLHS về các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
+ Đánh giá thực tiễn định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
+ Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định của BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cũng như nâng cao
chất lượng hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quan điểm khoa học và
quy định của BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như thực tiễn hoạt động định tội danh đối với loại tội này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động định tội danh
của Tòa án trong quá trình xét xử vụ án hình sự liên quan đến hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong thời gian từ năm 2013 đến 6 tháng đầu năm 2017
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép biện chứng duy vật và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, Pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, về chính sách hình sự đối với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp so sánh, phân tích, phương pháp tổng hợp, khảo sát, thống kê hình sự… nhằm làm rõ những nội dung cơ bản của đề tài
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý
luận liên quan đến các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Về thực tiễn: Bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận, luận văn sẽ góp
phần củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cả nước nói chung và trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Bên cạnh đó, luận văn còn có thể trở thành nguồn tư liệu quý báu, tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho cán bộ tham gia công tác giảng dạy, học tập cũng như cán bộ công tác thực tiễn về vấn đề định tội danh nói chung
và định tội danh đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương Cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề ý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Chương 2 Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Các giải pháp bảo đảm định tội đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH
TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động định tội danh
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm định tội danh
Định tội danh thực chất là quá trình đi tìm sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện bởi các chủ thể nhất định với các yếu
tố cấu thành tội phạm tương ứng trong BLHS, xác định hành vi đã được thực hiện là tội phạm, là cơ sở để phân biệt với các loại vi phạm pháp luật khác nhau phát sinh trong thực tiễn Định tội danh là cơ sở cần thiết đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, dựa trên việc xác định hành vi của người đó phạm tội gì, quy định tại điều, khoản nào của BLHS mà Tòa án sẽ quyết định cho họ mức hình phạt tương xứng Do đó, để công tác này được thực hiện có hiệu quả đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ cần phải nghiêm túc, đánh giá khách quan, toàn diện, không mang tính định kiến, chủ quan, suy diễn, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng có liên quan Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và
cá thể hóa hình phạt được chính xác
Ở mỗi giai đoạn, quá trình định tội danh mang tính chất và những đặc điểm khác nhau; do vậy, khi đề cập đến khái niệm này, có nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy phạm pháp luật hình sự quy định” [6, tr 24.] Quan điểm này đưa ra những nhận định chính xác về bản chất của hoạt động định tội danh nhưng lại
Trang 14không xác định chủ thể trực tiếp cũng như không đưa ra quy trình cụ thể cho việc thực hiện hoạt động định tội danh
Quan điểm thứ hai cho rằng “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật TTHS, được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự, để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [7, tr 716] Điểm tích cực của quan điểm này là đã có sự nhận thức đúng đắn khi xác định nội dung của hoạt động định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic
và chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập qua các hoạt động tố tụng, tuy nhiên, điểm hạn chế của
nó là không chỉ ra được chủ thể của hoạt động này là ai và việc định tội được tiến hành dưới hình thức nào
Quan điểm thứ ba cho rằng “Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong
Tố tụng hình sự (TTHS) nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được
mô tả trong BLHS, để giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật” [18, tr 10] Ưu điểm của quan điểm này là xác định được chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động định tội danh là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và chỉ ra được việc định tội được thể hiện qua kết quả cuối cùng là văn bản tố tụng Tuy vậy, quan điểm này lại chưa chỉ ra được những căn cứ cần thiết để các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình định tội
Trang 15Quan điểm thứ tư cho rằng “Định tội danh là một trong những giai đoạn hoạt động áp dụng pháp luật do các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành [40, tr 12] Những người theo quan điểm này thừa nhận rằng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã căn cứ vào các tình tiết được xác định
về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể nào đó
mà quyết định xem hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đã được pháp luật quy định Đây là quan điểm đưa ra nhận thức rất rõ về bản chất của hoạt động định tội cũng như các chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động này, đó chỉ có thể là những chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là không có một quy trình cụ thể nào cho hoạt động định tội danh được đưa ra để làm cơ sở cho các chủ thể có thẩm quyền thực hiện nó
Quan điểm thứ năm lại nhận định “Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự bao gồm việc tiến hành đồng thời ba quá trình:
1 - Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án;
2 - Nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS;
3 - Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự tương ứng để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế, trên cơ sở
đó đưa ra kết luận có cơ sở, có căn cứ về sự đồng nhất giữa hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội phạm được quy định trong điều hoặc khoản của điều luật tương ứng Kết luận đó được trình bày dưới dạng văn bản áp dụng pháp luật” [40, tr 13]
Các quan điểm được đưa ra trên cơ sở nhận thức đầy đủ các bước cần tiến hành để đảm bảo quá trình định tội danh được chính xác và khẳng định kết quả của hoạt động định tội danh được thể hiện dưới hình thức là văn bản
Trang 16áp dụng pháp luật Tuy nhiên, điểm hạn chế của các tác giả theo quan điểm này là không xác định chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động định tội
Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về định tội danh, mỗi một quan điểm đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, nhưng điểm thống nhất ở các quan điểm trên về bản chất của hoạt động định tội danh đều cho rằng đây là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi người phạm tội thực hiện với quy định của BLHS Do vậy, trên cơ sở nhận thức khác nhau về định tội danh, dưới góc độ
quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng: “Định tội danh là hoạt động nhận thức
có tính logic, hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện trên cơ sở pháp luật hình sự và pháp luật TTHS nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội do người phạm tội thực hiện với các dấu hiệu tương ứng trong quy định của BLHS để từ đó ban hành văn bản áp dụng pháp luật thích hợp”
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm về định tội danh, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của định tội danh như sau:
Thứ nhất, về chủ thể Định tội danh là hoạt động chỉ có thể được tiến
hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Tòa án nhân dân (TAND) và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Bộ đội biên phòng,…) cũng như những người tiến hành tố tụng được quy định trong Bộ luật TTHS Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này đòi hỏi các chủ thể phải nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và phải được giao thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Bộ luật TTHS
Thứ hai, về căn cứ Định tội danh là hoạt động phức tạp đòi hỏi phải
được thực hiện dựa vào những yếu tố cấu thành tội phạm nhằm đảm bảo tính
có căn cứ, đầy đủ, khách quan, toàn diện từ đó mới đảm bảo việc đánh giá
Trang 17chính xác bản chất của hành vi được quy định trong BLHS và tính hợp pháp của quyết định tố tụng sẽ ban hành
Thứ ba, về bản chất Định tội danh thực chất là hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự và pháp luật TTHS được thực hiện bởi các chủ thể tiến hành tố tụng thông qua việc ban hành các văn bản tố tụng với mục đích cuối cùng là giải quyết vụ án hình sự Việc định tội danh phải đảm bảo đồng thời sự tuân thủ đối với các quy phạm pháp luật hình sự (luật nội dung) và quy phạm pháp luật TTHS về trình tự, thủ tục (luật hình thức), việc đánh giá không dựa trên các căn cứ pháp luật là nguyên nhân khiến cho hoạt động định tội danh không đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp, việc định tội danh không chính xác trong những trường hợp nhất định có thể dẫn đến oan, sai
Thứ tư, về mục đích Mục đích cuối cùng của việc định tội danh là xác
định chính xác ai là người thực hiện hành vi phạm tội, người đó thực hiện tội phạm gì và thuộc điều, khoản nào của BLHS để buộc họ phải chịu các mức hình phạt tương xứng
1.1.2 Ý nghĩa của định tội danh
Định tội danh với tính chất là hoạt động quan trọng trong quá trình
áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án hình sự mang lại những ý nghĩa nhất định sau:
Thứ nhất, định tội danh đúng là xác định chính xác tội phạm mà người
phạm tội thực hiện, từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có cơ sở áp dụng mức hình phạt đúng đắn, tương xứng với hành vi của người phạm tội Do đó, định tội danh đúng là cơ sở quan trọng đảm bảo cho các hoạt động tố tụng diễn ra thuận lợi, tránh tình trạng oan, sai làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cũng như bản thân người phạm tội, đồng thời tạo tiền đề pháp lý quan trọng đảm bảo cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự cũng như cá thể hóa hình phạt
Trang 18Thứ hai, định tội danh đúng là thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp,
góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân vào Nhà nước Pháp luật hình sự được ban hành nhằm mục đích điều chỉnh và định hướng hành vi của con người trong xã hội thông qua hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng Định tội danh đúng thể hiện hoạt động có hiệu quả của các cơ quan này, qua
đó góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động tố tụng và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, định tội danh đúng là cơ sở quan trọng đảm bảo cho việc áp
dụng các quy định của pháp luật TTHS về thời hạn điều tra, các biện pháp ngăn chặn cũng như các biện pháp khác ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, tôn trọng và đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền bào chữa của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, bị tạm giam đặc biệt là đối với những trường hợp bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa
Thứ tư, định tội danh đúng góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả công
tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm thông qua việc ghi nhận và xác định chính xác về tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội,… Mặt khác, định tội danh đúng cũng góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh phòng, chống Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng và tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung Ngược lại, việc định tội danh sai sẽ dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng người, đúng tội và quyết định hình phạt không phù hợp, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà người phạm tội đã thực hiện
1.2 Lý luận về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Như đã trình bày, định tội danh nói chung là quá trình hoạt động có tính
tư duy logic, là việc đánh giá, xem xét sự phù hợp giữa hành vi phạm tội xảy
ra trên thực tế với các yếu tố cấu thành tội phạm trong nội dung của từng điều
Trang 19luật cụ thể xem có thỏa mãn hay không để từ đó đưa ra cách giải quyết phù hợp, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, vì vậy khái niệm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa mãn các các dấu hiệu đặc thù nói riêng
Khoản 1 Điều 139 của BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu, người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật,
có thể bằng lời nói hoặc hành động để chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trước đó người này đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản
Như vậy, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương tự như các tội phạm khác, cũng là quá trình hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng
sử dụng các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS, đánh giá hành
vi của người phạm tội có thỏa mãn các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS hay không, trên cơ sở đó đưa
ra nhận định chính xác về tội danh cũng như mức hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu
Tóm lại, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là dạng hoạt động của nhận thức, là quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền nhằm xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành cụ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS, xác định chính xác người thực hiện
Trang 20hành vi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không để buộc người đó phải gánh chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ của hành
vi mà mình đã thực hiện Đây là cơ sở quan trọng để xác định các đặc điểm cụ
thể của hoạt động định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Từ khái niệm nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Một là, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động có tính
logic, bởi vì đây là quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để tìm kiếm, so sánh, đối chiếu sự phù hợp giữa hành vi với các yếu
tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định tại Điều 139 BLHS với mục đích tìm ra điểm tương đồng, trên cơ sở đó kết luận hành vi có phải tội phạm hay không, là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay là tội phạm khác
Hai là, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động áp
dụng pháp luật được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tố tụng như CQĐT, VKSND, TAND và một số chủ thể có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật TTHS Đây là những chủ thể đã được trang bị vốn kiến thức nhất định về pháp luật, được sử dụng tất cả các công cụ cần thiết cũng như các biện pháp nghiệp vụ mà pháp luật cho phép nhằm xác định sự tương thích giữa hành vi phạm tội với dấu hiệu cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trên cơ sở đó đảm bảo cho việc định tội danh được chính xác
Ba là, định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một dạng của hoạt
động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, được tiến hành theo các bước nhất định, bao gồm:
Bước 1 Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án Giai đoạn này thể hiện bằng việc phân tích hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập nhằm xác định xem có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên thực tế hay không, hay là tội phạm khác hoặc chỉ đơn thuần là những vi phạm dân sự, kinh tế
Trang 21Bước 2 Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy
phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành, đặc biệt là quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS
Bước 3 So sánh, đối chiếu và kiểm tra các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS
Bước 4 Ra văn bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận về
sự phù hợp của hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 139 BLHS
Ý nghĩa của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Định tội danh đúng là tiền đề cho việc quyết định hình phạt đảm bảo tính chính xác, là cơ sở để áp dụng đúng các quy định tố tụng hình sự, đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội
Định tội danh đúng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện ý thức tuân thủ pháp luật, trình độ chuyên môn, hiệu quả hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng, góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan bảo vệ pháp luật
Định tội danh đúng sẽ giúp cho việc điều tra, xử lý tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sản có căn cứ, từ đó góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng và các tội xâm phạm sở hữu nói chung và ngược lại
1.2.2 Nội dung của định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Là một tội phạm tương đối khó chứng minh trong thực tiễn, do đó, hoạt động định tội danh đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần thiết phải được thực hiện theo từng bước nhất định với những nội dung cụ thể sau:
Trang 22Thứ nhất, xác định hành vi phạm tội Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình
sự một người về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu người này sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Vì vậy, cần phải đánh giá một cách khách quan giữa các hành vi đã được thực hiện với hậu quả nhất định của tội phạm là gây ra thiệt hại về tài sản cho người khác Nghĩa là, cần xác định, có hành vi phạm tội xảy ra hay không? Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Thủ đoạn gian dối là gì? Có lỗi hay không có lỗi? Người thực hiện hành vi phạm tội
có năng lực trách nhiệm hình sự hay không? Rất dễ nhầm lẫn giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các vi phạm dân sự, kinh tế nên cần chú ý, chỉ khi nào xác định chính xác có hành vi phạm tội xảy ra mới thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần chứng minh người phạm tội
có được tài sản bằng cách nào? Người thực hiện hành vi có ý định chiếm đoạt tài sản hay không? Ý định chiếm đoạt tài sản xuất hiện trước hay sau khi có được tài sản? Giá trị tài sản bị chiếm đoạt có đủ hai triệu đồng hay không? Trường hợp dưới hai triệu thì xác định thuộc vào một trong các trường hợp nào được quy định tại Khoản 1 Điều 139 BLHS
Thứ hai, nhận thức các yếu tố của cấu thành tội phạm Định tội danh là
hoạt động đi tìm sự tương thích giữa hành vi mà người phạm tội thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm được ghi nhận trong một điều luật cụ thể, do
đó, cần phải đối chiếu, so sánh hành vi được thực hiện với quy định của Điều
139 BLHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi quy định này là căn cứ pháp
lý quan trọng nhất để định tội danh Vì vậy, nhận thức đúng và đầy đủ các yếu
tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ sở quan trọng đảm bảo cho việc định tội danh đối với tội phạm này được chính xác
Thứ ba, tìm ra sự tương thích giữa hành vi phạm tội và các yếu tố cấu
thành tội phạm, xác định xem hành vi mà người phạm tội thực hiện có phù
Trang 23hợp với các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu đã phù hợp thì phải xác định thuộc khoản, điểm nào của điều luật, từ đó kết hợp với các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ cũng như các yếu tố về nhân thân người phạm tội, tội phạm được thực hiện có đồng phạm hay không, tội phạm kết thúc ở giai đoạn nào để quyết định hình phạt cho hợp lý
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Để đảm bảo việc định tội danh được chính xác, có căn cứ, hợp pháp đòi hỏi quy trình thực hiện phải nghiêm túc và việc đánh giá phải khách quan, toàn diện với sự kết hợp giữa nhiều yếu tố khác nhau, như:
Sự hoàn thiện của pháp luật Pháp luật hình sự và pháp luật TTHS là
nền tảng pháp lý quan trọng đảm bảo cho hoạt động định tội danh được chính xác, các chủ thể có thẩm quyền chỉ có thể đưa ra kết luận chính xác về hành
vi của một người là tội phạm hay không nếu hành vi ấy được ghi nhận trong BLHS và được thu thập đầy đủ, hợp pháp bằng các hoạt động tố tụng cụ thể được Bộ luật TTHS quy định Vì vậy, sự hoàn thiện của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS mà quan trọng nhất là BLHS và Bộ luật TTHS sẽ đảm bảo cho việc định tội danh là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh việc định tội không có căn cứ và mang tính định kiến, chủ quan của chủ thể có thẩm quyền
Năng lực của chủ thể có thẩm quyền trong việc định tội danh Định tội
danh là hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, là những người được đào tạo, có kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ phát hiện
và xử lý tội phạm, cho nên trình độ năng lực của họ là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến tính chính xác của công tác định tội danh Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động quan trọng và đòi hỏi tính chính xác cao nên đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng cần phải có những hiểu biết nhất định về
Trang 24pháp luật, phải có tinh thần trách nhiệm, am hiểu và vận dụng tốt các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS mới đảm bảo cho việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được đúng đắn Mặt khác, là tội phạm có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật dân sự và bản thân tội phạm này cũng bắt nguồn từ các giao dịch dân sự, cho nên các chủ thể có thẩm quyền ngoài việc nắm rõ các quy định của pháp luật hình sự còn phải có vốn kiến thức nhất định
về pháp luật dân sự, khả năng đánh giá sự việc và đưa ra kết luận, đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay là vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế, từ đó mới
có thể kết luận chính xác về tội danh của người phạm tội
Hoạt động đảm bảo áp dụng pháp luật Được tiến hành bởi con người
cụ thể cho nên hoạt động định tội danh nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng cần sự kiên định, vững vàng của tất cả các chủ thể, vượt qua những cám dỗ về lợi ích vật chất cũng như những ảnh hưởng từ các chủ thể khác, phải chắc chắn trong nhận định hành vi của người phạm tội mới có thể đưa ra quyết định đúng đắn Do đó, ngoài việc am hiểu và nắm vững kiến thức pháp luật, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chủ thể tiến hành tố tụng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết sâu sắc về các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo, linh hoạt các quy định của pháp luật trong thực tiễn giải quyết từng vụ án, tuân thủ sự chỉ đạo của cấp trên nhưng cần mạnh dạn đưa ra những quan điểm mang chính kiến cá nhân để tìm cách để bảo vệ quan điểm đó Để làm được điều này thì sự thay đổi trong cách thức tổ chức, quản lý là cần thiết nhằm tạo
ra sự độc lập giữa các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trên cơ
sở có sự kết hợp và trao đổi ý kiến, quan điểm để đưa ra kết luận chính xác và thống nhất về hành vi của người phạm tội, đồng thời cần có chính sách hợp lý
để đảm bảo điều kiện sống, làm việc của các chủ thể tiến hành tố tụng để họ
an tâm công tác, làm việc và cống hiến, từ đó mới có cơ sở để nâng cao chất lượng của hoạt động định tội
Trang 25Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động định tội danh Với sự phức tạp
và những phán xét làm ảnh hưởng đến quyền con người thì việc tồn tại một cơ chế hữu hiệu với chức năng giám sát hoạt động trên là điều cần thiết Do vậy, Quốc hội đã giao cho VKSND hai chức năng cơ bản để thực hiện nhiệm vụ trên và VKSND phải đảm bảo cho mọi quyết định, hành vi tố tụng được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền là có căn cứ và hợp pháp, đảm bảo tất cả các hành vi phạm tội đều bị xử lý nhanh chóng, kịp thời, không gây oan, sai cho người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Đồng thời, để hoạt động giám sát đem lại hiệu quả cao cần thiết phải có sự kết hợp giữa nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội, các tổ chức xã hội, cơ quan Nhà nước và tất cả mọi công dân, đây là cơ chế giám sát hiệu quả nhất góp phần phát hiện nhanh chóng các sai sót trong hoạt động định tội danh và là cơ sở quan trọng để xử lý có hiệu quả các vi phạm phát sinh
1.3 Các yếu tố tác động đến định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Các yếu tố tác động đến định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng là tổng hợp các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS nhằm đảm bảo cho việc xác định chính xác hành
vi của người phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm quy định tại điều, khoản, điểm nào của BLHS, là cách thức các chủ thể lựa chọn các quy phạm tương ứng để điều chỉnh hành vi cũng như các quy định của pháp luật TTHS về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cần áp dụng để việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được tiến hành nhanh chóng, chính xác, khách quan
1.3.1 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mỗi tội phạm khác nhau đều có những đặc trưng khác nhau với mục đích phân biệt với các tội phạm khác được quy định trong BLHS Như đã
Trang 26trình bày, định tội danh là hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đi tìm sự tương thích giữa hành vi với các yếu tố cấu thành được ghi nhận trong BLHS Do vậy, muốn hoạt động định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được chính xác, toàn diện thì việc phân tích các yếu tố cấu thành của tội phạm này là cần thiết Tương tự các tội phạm khác trong BLHS, việc phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này cũng được xác định gồm các yếu tố cụ thể sau:
1.3.1.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu về tài sản Đây là điểm khác biệt giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác xâm hại đồng thời nhiều khách thể khác nhau như tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản… vì các tội này ngoài xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội còn nhắm đến khách thể quan trọng khác đó là quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của người bị hại Như mọi hành vi phạm tội khác, hành vi xâm phạm sở hữu cũng có đối tượng tác động cụ thể, đó là tài sản được quy định tại Điều 105 BLDS 2015, nhưng phải là những tài sản được phép chuyển dịch trong giao lưu dân sự, có giá trị và giá trị sử dụng Vì vậy, không phải tất cả tài sản đều
là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những tài sản thuộc loại đối tượng là hàng hóa bị cấm lưu thông hoặc hạn chế lưu thông như ma túy, vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chất phóng xạ, vật liệu nổ… thì tùy từng trường hợp sẽ xử lý ở các tội danh tương ứng khác như tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật (Điều 230), tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232), tội chiếm đoạt chất phóng xạ (Điều 236),…chứ không
xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó, các tài sản này không được coi
là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 27Như vậy, pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo
vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mọi hành vi xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu bất hợp pháp không bị coi là phạm tội (A trộm cắp tài sản của B, C dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó từ A) Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dù xâm phạm đến tài sản bất hợp pháp cũng bị coi là hành vi trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc xử lý này không nhằm hướng đến việc bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu bất hợp pháp của tài sản mà gián tiếp bảo vệ cho quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp, duy trì và đảm bảo trật tự an toàn chung của xã hội
1.3.1.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm, không có mặt khách quan thì không có tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi khách quan; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra; các điều kiện khác cần thiết cho việc thực hiện tội phạm như: công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội…
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành tội phạm vật chất Cũng như một số tội phạm khác cùng chương như tội trộm cắp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản,… tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng đòi hỏi hậu quả là yếu tố bắt buộc để xác định có hay không hành vi phạm tội xảy ra, xác định thời điểm tội phạm hoàn thành
Vì vậy, việc nghiên cứu những yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Cụ thể có các dấu hiệu đặc trưng sau:
Trang 28Thứ nhất, dấu hiệu hành vi khách quan: Trong mặt khách quan của tội
phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội là nội dung cơ bản nhất Theo quy định của BLHS hiện hành, hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện thông qua hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi cố ý chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình Hành vi chiếm đoạt trong tội này có hai hình thức thể hiện cụ thể: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối, vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người
bị lừa dối đã giao nhầm tài sản Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế, đây là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo; Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản của người phạm tội đáng lẽ phải giao lại, thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu tài sản nhận nhầm tài sản hoặc không nhận
Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối được người phạm
tội sử dụng là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của thủ đoạn gian dối Điều này có nghĩa là, thủ đoạn gian dối luôn luôn phải có trước hành vi chiếm đoạt tài sản, là cách người phạm tội sử dụng trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt Người phạm tội có thể sử dụng nhiều hành vi khác nhau trong thủ đoạn gian dối như thông qua lời nói, qua việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm cụ thể (cân, đo, đong, đếm thiếu), giả danh người có chức vụ quyền hạn,…để làm cho người khác tin vào đó mà giao tài sản, sau đó chiếm đoạt
Trang 29Thủ đoạn gian dối là đặc trưng cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không phải là dấu hiệu duy nhất của tội phạm, mà ngoài thủ đoạn gian dối, người phạm tội còn phải có hành vi chiếm đoạt tài sản Nếu chỉ có thủ đoạn gian dối nhưng không có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc có sử dụng thủ đoạn gian dối nhưng nhằm tiếp cận tài sản trước khi chiếm đoạt thì tuỳ từng trường hợp cụ thể người có hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản hoặc chỉ là quan hệ dân sự, kinh tế Ví dụ: Trong lúc đi chợ
A nhặt được một cái ví (bóp), trong đó không có tiền mà chỉ có một chìa khóa
xe máy và thẻ giữ xe của nhà xe trong chợ và A ra nhà xe lấy xe và đi về Ở tình huống này, A có dùng thủ đoạn gian dối làm cho người giữ xe là người được giao quản lý xe tạm thời tin tưởng giao xe, tuy nhiên, hành vi gian dối của A không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà cấu thành tội trộm cắp tài sản bởi hành vi của A thể hiện sự lén lút đối với người chủ sở hữu tài sản bởi thẻ giữ xe là thật và hợp đồng gửi, giữ tài sản giữa người chủ sở hữu
và người giữ xe chưa kết thúc Ở đây, yếu tố gian dối chỉ là tiền đề để A lén lút chiếm đoạt tài sản, nên chỉ truy cứu A về tội trộm cắp tài sản, không thể là lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên đã giao nhầm tài sản Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và đó cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành
- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng nhẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người
Trang 30phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản bị chiếm đoạt, đây là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ở đây cần chú ý, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra Như vậy hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương tự với hành vi khách quan của nhiều tội khác Vì vậy, để định tội danh chính xác phải đặt hành vi khách quan trong mối liên hệ với các yếu tố khác, nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố của cấu thành tội phạm
Thứ hai, dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội phạm là thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội, là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Mặc dù có cấu thành tội phạm vật chất nhưng hậu quả không phải trong mọi trường hợp đều là yếu tố bắt buộc để định tội, có những trường hợp mặc dù hậu quả chưa xảy ra nhưng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đó là những trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt được quy định tại Điểm a Khoản 3 hoặc Điểm a Khoản 4 Điều 139 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định thông qua giá trị thực của tài sản bị chiếm đoạt, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi của người phạm tội thuộc cấu thành cơ bản hay cấu thành tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong mọi trường hợp giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ hai triệu đồng trở lên được coi là đạt đến mức
“nguy hiểm đáng kể” để truy cứu trách nhiệm hình sự Cụ thể, nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên luôn cấu thành tội phạm, trong
Trang 31trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội khi hành vi lừa đảo gây ra hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc
bị kết án về hành vi chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội Cụ thể, có thể hiểu trường hợp người phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây (hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999) (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP):
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ
lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100% nếu không thuộc các trường hợp: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị
từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng
Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản nêu trên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người phạm tội còn gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây
Trang 32ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,… Những thiệt hại này để đánh giá được chính xác, các cơ quan tiến hành tố tụng cần căn cứ vào từng địa phương, khu vực cụ thể mới có căn cứ để xử lý được
Đối với tình tiết “đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt”, Thông
tư 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP có hướng dẫn như sau: “Bị coi
là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt”, nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (nay là Luật xử lý vi phạm hành chính) hoặc đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệnh, Điều lệ của lực lượng vũ trang nhân dân hoặc đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền”
Trường hợp người phạm tội “đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án tích” được sử dụng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi giá trị của tài sản không vượt quá hai triệu đồng được hướng dẫn tại Mục 1.3 của Thông tư liên tịch số 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP Đó là trường hợp người phạm tội trước khi phạm tội lừa đảo họ đã bị kết án về một trong những hành vi chiếm đoạt được quy định tại các điều luật tương ứng trong BLHS năm 1999 như tội cướp tài sản (Điều 133), tội trộm cắp tài sản (Điều 138), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137),…
Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả:
Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là nguyên nhân làm phát sinh thiệt hại
về tài sản và phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phương tiện, hoàn cảnh, điều kiện phạm tội… Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, cũng như thực hiện tội phạm trong điều kiện, hoàn cảnh như thế nào không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội
Trang 331.3.1.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy Người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 13 BLHS 1999 (sửa đổi,
bổ sung 2009)
Theo quy định của Điều 12 BLHS chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự trong mọi trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản Người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu có hành vi thuộc khoản 3, khoản 4 Điều 139 BLHS Do chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không có ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa đảo trên lãnh thổ Việt Nam, trừ một
số người được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao Ngoài ra, khi nghiên cứu về chủ thể của tội phạm này cũng cần chú ý tới đặc điểm nhân thân của người phạm tội như: nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa, kinh tế, ý thức pháp luật, tiền án, tiền sự… Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như các biện pháp đấu tranh phòng người tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.3.1.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan Nếu mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là
Trang 34hoạt động tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Dấu hiệu lỗi trong BLHS, nguyên tắc lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Theo nguyên tắc này, BLHS không chấp nhận việc truy cứu trách nhiệm hình sự con người chỉ trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của
họ Điều 139 BLHS quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội Tuy nhiên, xét theo bản chất và tính chất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện:
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác
- Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối đưa đến kết quả
là chiếm đoạt được tài sản của người khác
- Động cơ, mục đích phạm tội: Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong muốn chiếm đoạt được tài sản Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi phạm tội Có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, người phạm tội
có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể có nhiều động cơ khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, có thể để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân, do tham lam… và đó là động cơ tư lợi Đối với tội lừa đảo
Trang 35chiếm đoạt tài sản dấu hiệu động cơ phạm tội không có ý nghĩa đối với việc định tội danh, chúng chỉ có ý nghĩa trong quyết định hình phạt
1.3.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác
1.3.2.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS)
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm tương đối khó phân biệt với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hai tội phạm này
có điểm tương đồng nhất định ở các yếu tố khách thể, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm, chỉ khác nhau ở mặt khách quan Quy định tại Điều 139 BLHS cho thấy, hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác còn theo Điều 140 BLHS thì hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng ngay thẳng nhưng sau đó đã dùng thủ đoạn gian dối; hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [19, tr 3] Cụ thể:
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ban đầu người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt tài sản, việc giao kết hợp đồng chỉ nhằm mục đích vay, mượn, thuê… được tài sản Người phạm tội nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp thông qua hợp đồng đã giao kết trước và trong khi nhận tài sản không có ý thức chiếm đoạt tài sản nhưng sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt Do đó, hành vi chiếm đoạt ở đây là hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết bao gồm các hành vi vay, mượn, thuê nhận tài sản bằng hình thức hợp đồng rồi chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng trả nợ Như vậy, việc xem xét người phạm tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay tội lừa
Trang 36đảo chiếm đoạt tài sản phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội ban đầu trước khi giao kết hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện ở việc đưa ra những thông tin không đúng sự thật với nhiều chiêu thức khác nhau như qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả, giả danh người khác, giả danh cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội… làm người này tin
là thật và giao tài sản, việc giao tài sản cho người có thủ đoạn gian dối hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện của người bị lừa dối do đánh giá không đúng
về thông tin được đưa ra, từ đó mới giao tài sản cho người phạm tội Hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao giờ cũng có trước hoặc đi liền với hành vi nhận tài sản từ người khác và được coi là điều kiện để thực hiện việc chiếm đoạt Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp của việc chuyển dịch tài sản từ người quản lý sang người phạm tội [22, tr 52]
Như vậy, người phạm tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản Còn người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin do hành vi gian dối tạo ra
1.3.2.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng (Điều 162 BLHS)
Có thể nói, về bản chất của tội lừa dối khách hàng là lừa đảo chiếm đoạt tài sản tội lừa dối khách hàng vẫn tồn tại trong BLHS hiện hành là biểu hiện của sự rơi rớt của tư tưởng và quan điểm lập pháp trong thời kỳ duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa, khi mà chế độ tem phiếu, phân phối hàng hóa chỉ được thực hiện thông qua hệ thống các cửa hàng thương nghiệp hoặc cửa hàng thực phẩm của Nhà nước Hành vi này không phù hợp trong nền kinh tế thị trường; thực tế cho thấy, hầu như hành vi lừa dối khách hàng rất ít khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù hành vi này xảy ra tương đối phổ biến
Trang 37Thoạt đầu, nếu chỉ căn cứ vào hành vi khách quan mà điều luật mô tả sẽ rất dễ
bị nhầm lẫn với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Người phạm tội lừa dối khách hàng cũng có hành vi “dùng thủ đoạn gian dối” nhằm mục đích thu lợi nhuận (chiếm đoạt tài sản của người khác) Tuy nhiên, giữa hai điều luật có những điểm khác biệt nhất định:
Thứ nhất, căn cứ vào yếu tố khách thể: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
là tội phạm được quy định tại chương thứ XIV BLHS về các tội xâm phạm sở hữu, do đó, khách thể mà tội phạm này tác động là quan hệ sở hữu tài sản của
cá nhân, tổ chức và đối tượng tác động của tội phạm này có thể là bất kỳ loại tài sản nào được phép chuyển dịch trong giao lưu dân sự (bao gồm cả động sản và bất động sản) Trong khi đó, tội lừa dối khách hàng xâm hại đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trật tự quản lý thị trường của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (người mua)
Thứ hai, căn cứ vào hành vi khách quan: Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi dùng thủ đoạn gian dối có thể diễn ra trong bất kỳ lĩnh vực nào, người phạm tội sử dụng mọi phương pháp để che giấu bằng cách đưa ra những thông tin sai sự thật nhằm đánh lừa người có tài sản, làm họ tin tưởng
đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội Hành vi gian dối của người phạm tội có thể được thể hiện thông qua các hình thức như dùng lời nói dối trá; giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ, quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên Hành vi gian dối của người phạm tội là căn cứ để người bị hại tự nguyện giao tài sản cho họ Còn đối với tội lừa dối khách hàng, mặc dù người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản nhưng hành
vi gian dối này chỉ diễn ra trong lĩnh vực mua bán đơn thuần, người phạm tội thực hiện hành vi cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc
Trang 38dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng Như vậy, chỉ có khách hàng mới là người bị thiệt hại của tội phạm này
Ngoài ra, là tội phạm có cấu thành vật chất, người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng
có kèm theo một số yếu tố khác: Gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Trong khi đó, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa dối khách hàng nếu hành vi lừa dối của họ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho khách hàng, không căn cứ giá trị tài sản bị thiệt hại là bao nhiêu Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm trong tội lừa dối khách hàng, hậu quả đó có thể là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất như: tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác
về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội mà trước tiên là gây thiệt hại vật chất cho khách hàng, làm cho khách hàng mất đi một phần số lượng hàng hoá hoặc hàng hoá không bảo đảm chất lượng Việc mua phải hàng hóa không được đảm bảo chất lượng như lời người bán giới thiệu khiến cho người mua hàng gặp phải những rủi ro không đáng có Ví dụ: Khách hàng bị dị ứng khi dùng sản phẩm
1.3.2.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội đánh bạc (Điều
248 BLHS)
Vì trên thực tế có những quan điểm khác nhau trong trường hợp có hành vi gian dối trong đánh bạc thì xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội đánh bạc? Nên cần phải phân biệt hai tội này về mặt lý luận dựa trên các căn cứ pháp lý sau:
Trang 39- Về khách thể: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ
sở hữu về tài sản Đó là quyền của chủ sở hữu về tài sản bao gồm quyền chiếm giữ, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Ngoài ra nó còn tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội Khách thể của tội đánh bạc là trật tự công cộng, những hình thức đánh bạc như xóc đĩa, đỏ đen, tổ tôm, tam cúc, chẵn lẻ,
số đề, cá cược, chơi bài, … đã không còn lạ lẫm đối với mọi người Tuy nhiên, hiện nay xuất hiện các hình thức đánh bạc biến tướng thông qua các trò chơi điện tử, các máy chơi games bằng xèng và đặc biệt phổ biến là các trò chơi quay số trúng thưởng tại các hội chợ Có 2 trường hợp xảy ra: Nếu các trò chơi này được thực hiện bằng những máy móc không có hỗ trợ con chip điện tử điều khiển từ xa mà chúng hoạt động hoàn toàn mang tính khách quan, may rủi (tức là không có yếu tố gian dối) thì những người tổ chức trò chơi phạm tội tổ chức đánh bạc và những người tham gia trò chơi phạm tội đánh bạc Trường hợp thứ hai, nếu các trò chơi quay số trúng thưởng được gắn chip điều khiển từ xa (có yếu tố gian dối), thì phải xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới là chính xác
Ngoài ra còn có trường hợp thu hút tội danh Cụ thể là khi hành vi có dấu hiệu của hai tội danh trở lên thì theo nguyên tắc thu hút tội danh, hành vi
đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn Trong trường hợp hành
vi có dấu hiệu của cả tội đánh bạc và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì sẽ định vào tội có mức hình phạt nặng hơn, đó là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Bên cạnh đó, một hành vi có thể xâm hại nhiều khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ Vì vậy, khi định tội, chúng ta phải xác định được khách thể trực tiếp để xác định tội danh một cách chính xác nhất Hành vi xâm hại trực tiếp đến khách thể nào là chính, là khách thể cuối cùng mà tội phạm hướng đến thì được xem là hành vi phạm tội đó
Trang 40- Về hành vi khách quan: Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi khách quan là những hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật và chiếm đoạt tài sản của người Thủ đoạn gian dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối với hành vi trao tài sản của người bị hại phải có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau Thủ đoạn gian dối của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp của việc chuyển dịch tài sản từ người quản lý hoặc chủ tài sản sang người phạm tội Thủ đoạn gian dối có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, việc đánh bạc cũng được xem là phương thức để chiếm đoạt tài sản của người cùng chơi
Tội đánh bạc là hành vi dùng tiền hay các lợi ích vật chất để giải quyết việc được thua trong các trò chơi Ở tội đánh bạc không quy định có "thủ đoạn gian dối" nhưng có thể họ sẽ sử dụng những mưu mẹo, gian dối để giành phần thắng nhưng những mưu mẹo đó phải phát sinh trong quá trình chơi hoặc cũng có thể có sự chuẩn bị từ trước những sự chuẩn bị đó không có ý nghĩa quyết định được việc thắng thua mà nó chỉ làm ảnh hưởng phần nào đến kết quả đánh bạc Nếu có đầy đủ cơ sở để chứng minh người chủ động rủ rê, lôi kéo người khác tham gia đánh bạc mà lại sử dụng thủ đoạn gian dối (như làm sai lệch thiết bị ) để người chơi luôn thua bạc thì đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chứ không phải là hành vi đánh bạc nữa