Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN NHẬT
XÁC ĐỊNH DẤU HIỆU GIÁ TRỊ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN NAM
HÀ NỘI - 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 6
1.2 Cơ sở pháp lý của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 15
1.3 Phương thức định giá tài sản 22
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TẠI QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
2.1 Tình hình định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của HĐĐGTS và các cơ quan tiến hành tố tụng tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 36
2.2 Đánh giá thực trạng tình hình định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh 53
2.3 Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế, khó khăn vướng mắt trong quá trình định giá tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt 58
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN ĐÚNG TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 62
3.1 Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật 62
3.2 Tăng cường tổng kết thực tiễn việc định giá tài sản 67
3.3 Nâng cao trình độ, nhận thức cho đội ngũ áp dụng pháp luật 70
3.4 Tăng cường phối hợp giữa Hội đồng định giá và các cơ quan tiến hành tố tụng dựa trên các quy định pháp luật để giải quyết tốt vấn đề định giá tài sản trong pháp luật hình sự 71
3.5 Tăng cường cơ sở vật chất 73
3.6 Kiến nghị, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng pháp luật hình sự 74
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 4CQĐT : Cơ quan điều tra
ĐTV : Điều tra viên
HĐĐGTS : Hội đồng định giá tài sản
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị
quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49/NQ-
TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, đảng lãnh đạo thực hiện với
quyết tâm cao và đạt được nhiều kết quả Nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội đối với công tác cải cách tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đã được những kết quả nhất định, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Bình Tân là quận ven của Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên cơ sở Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ huyện Bình Chánh cũ Có vị trí địa lý là cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Tây có tốc độ phát triển kinh tế vượt bật trong những năm qua Song song với sự phát triển của xã hội, điều đáng quan tâm chính là tình hình tội phạm của quận Bình Tân cũng diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng Đặc biệt những năm gần đây nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu chiếm tỉ lệ tội phạm cao nhất so với các nhóm tội phạm khác (chiếm khoảng trên dưới 65%)
Về nguyên nhân dẫn đến tình hình nhóm tội phạm này ngày càng tăng, có thể thấy bên cạnh sự phát triển của kinh tế, xã hội, kéo theo là các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật và các vấn đề khác có liên quan đến tình hình an ninh trật tự của địa phương Do đó, việc áp dụng pháp luật đúng, đảm bảo trong việc phòng, chống tội phạm được hiệu quả hơn Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự nói chung, các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng tại địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy việc định tội danh, quyết định hình phạt chính xác, đúng pháp luật, là tiền đề,
là điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt
Trong BLHS có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá trị tài sản bị xâm
Trang 6phạm (hư hỏng, huỷ hoại, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái phép ) là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Vì vậy, việc xác định giá trị tài sản bị xâm phạm có ý nghĩa quan trọng và mang tính bắt buộc để xác định hành vi xâm phạm về tài sản có phải là tội phạm hay không Bên cạnh đó, việc xác định giá trị tài sản còn là căn cứ để xác định khung hình phạt; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi lượng hình và xác định mức bồi thường cho người bị thiệt hại Xuất phát từ nhận thức đó, nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt cũng như góp phần giải quyết những vướng mắc trong việc quyết định hình phạt, bồi thường thiệt cho người bị thiệt hại đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân,
Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn vấn đề “Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học là đáp ứng yêu cầu
khách quan hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu là tội phạm
có tính chất nhạy cảm cao, phức tạp và đã được một nhà luật học đề cập đến trong một số sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
có liên quan đến đề tài luận văn, đó là:
Nhóm các sách, bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành có
TS Đỗ Văn Đương, TS Lê Hữu Thể, ThS Nguyễn Thị Thủy (2013) Những vấn đề
lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb chính trị quốc gia; Ths Vũ Mạnh Thông, Luật sư Nguyễn Ngọc Điệp (2009) Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Lao động; TS Võ Thị Kim Oanh (2016) Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Hồng Đức
Bên cạnh đó, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu khoa học như: Ths Đinh Văn Quế (2012) Bình luận khoa học Bộ Luật Hình Sự 1999, phần các tội phạm, tập II Các tội phạm xâm phạm sở hữu, Nxb Lao động; TS Cao Thị Oanh (2010) Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, Chương IV, Các tội xâm phạm quyền sở hữu, Nxb Giáo
Trang 7dục; GS.TS Võ Khánh Vinh (2014) Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Nxb Khoa học xã hội
Chu Xuân Quyền (2016), Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở
hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, Học Viện Khoa Học Xã Hội - Thành phố Hồ Chí Minh Lê Phong Toàn (2017), Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, Học Viện Khoa Học
Xã Hội - Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Thanh (2016), Các tội xâm phạm
sở hữu theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến
sĩ luật học, Học Viện Khoa Học Xã Hội - Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy, một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, một số lại chưa đề cập đến một khía cạnh của xác định giá trị tài sản theo pháp luật hình sự Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chuyên sâu về vấn đề này đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy
định của pháp luật hình sự về việc “Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” có ý nghĩa rất quan trọng việc định tội danh, quyết định hình phạt, bồi thường
thiệt hại đối với các tội xâm phạm sở hữu từ những địa phương cụ thể vẫn còn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới Đây là đề tài hoàn toàn mới không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào đã nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xác định giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, qua đó, đưa ra giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là làm rõ các nội dung liên
Trang 8quan đến việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, với các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề về lý luận, quy định của pháp luật về hoạt động định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình hoạt động định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong các vụ án hình sự xảy ra trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất những giải pháp khả thi, phù hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xác định
dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Phạm vi nghiên cứu
Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt là một vấn đề rộng, lớn và rất phức tạp Do đó, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật hình sự Việt Nam về định giá tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Nghiên cứu thực tiễn thông qua các số liệu về định giá tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các bản án và các báo cáo
công tác của HĐĐGTS, CQĐT, VKS, TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí
Minh trong năm năm, từ năm 2012 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm
Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:
Phương pháp khảo sát;
Trang 9Phương pháp đối chiếu so sánh;
Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu khoa học Những đề xuất, kiến nghị thay đổi nâng cao hiệu quả của luận văn có thể làm luận chứng khoa học phục vụ tốt hơn cho công tác áp dụng Bộ luật hình sự liên quan đến nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nước ta hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về định giá tài sản trong các tội xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt
Chương 2: Thực tiễn định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp nhằm bảo đảm định giá tài sản đúng trong các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm
Định giá tài sản có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt những nước có nền kinh tế phát triển Ở nước ta, trong những năm gần đây, nghề định giá tài sản cũng được phát triển rất nhanh chóng, khi Đại hội lần thứ VI năm 1986 của Đảng Cộng Sản Việt Nam mở đường cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam thì các hoạt động của kinh tế thị trường mới có điều kiện hình thành và phát triển Thực hiện chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường và cũng là cơ hội tất yếu phải có sự xuất hiện của nghề thẩm định giá để đáp ứng việc mở cửa nền kinh tế với thế giới Ban đầu, nghề thẩm định giá được thừa nhận năm 1998 từ một trung tâm sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài chính để thực hiện thí điểm sau đó được thừa nhận và phát triển mạnh trên toàn quốc vào khoảng giữa năm 2005 theo quy định của Nghị định 101/2005/NĐ-CP ngày 03/08/2005 của Chính phủ về dần chuyển sang mô hình doanh nghiệp vào đầu năm 2006 Theo Bộ Tài chính, hiện nay tại Việt Nam không còn các đơn vị nhà nước hoạt động theo mô hình sự nghiệp trong lĩnh vực giá mà phải đổi thành mô hình doanh nghiệp, hoạt động bình đẳng trước pháp luật không có sự can thiệp,
ưu đãi đặc biệt của Nhà nước Với nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia thị trường
và đội ngũ cán bộ định giá chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy góp phần hình thành một nghề mới “Định giá tài sản” trong xã hội Định giá tài sản là hoạt động định giá mang tính chất khách quan tồn tại trong đời sống kinh tế xã hội của mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, đặc biệt đối với những nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, có liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau
Như vậy, sự ra đời của nghề định giá là tất yếu khách quan đã, đang và
sẽ đem lại nhiều tiện ích cho xã hội, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của các thành phần trong xã hội trong thời kỳ hội nhập Quốc tế
Trang 11Khi nghiên cứu về khái niệm định giá, thẩm định giá, giới nghiên cứu học thuật trên thế giới đó đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo giáo sư W.Seabrooke - Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh:
“Thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đó được xác định” [40, tr 2]
Theo Ông Fred Peter Marrone - Giám đốc Marketing của AVO, Úc “Thẩm định giá là việc xác định giá trị của bất động sản tại một thời điểm có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của thẩm định giá Do vậy, thẩm định giá là áp dụng các dữ liệu của thị trường so sánh mà các thẩm định viên thu thập được và phân tích chúng, sau đó so sánh với tài sản được yêu cầu thẩm định giá để hình thành giá trị của chúng” [40, tr 2]
Theo GS Lim Lan Yuan - Singapore: “Thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất
cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”
[40, tr 2]
Theo TS Phạm Thị Ngọc Mỹ, hiệu trưởng trường đại học BC Marketing:
“Thẩm định giá là một khoa học hay là một khoa học về sự ước tính giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế hoặc quốc gia” [40, tr 2]
Theo Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/04/2002 của Việt
Nam, trong thẩm định giá được định nghĩa như sau: “Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”
Theo Luật giá số 11/2012/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/06/2012, Thẩm định giá
được định nghĩa như sau: “Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục
vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá”
Trang 12Nghiên cứu chế định về “Định giá tài sản” hay xác “xác định dấu hiệu giá trị tài sản” theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam, thì đây là một vấn đề khá mới
mẻ đối với chúng ta, cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng
Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng Bộ trưởng quy định
về giám định tư pháp “Giám định tư pháp là sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Toà
án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục
vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử”
Theo pháp lệnh số 24/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/09/2004 quy định về
giám định tư pháp “Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn
đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là
vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án”
Theo luật số 11/2012/QH13 ngày 20/06/2012 Luật giá quy định tại khoản 5
Điều 4 “Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ”
Từ những khái niệm về “Định giá” hay “Thẩm định giá” nêu trên, tác giả có
thể khái quát và đưa ra khái niệm định giá tài sản trong các vụ án hình sự: Là việc
cơ quan, tổ chức có trình độ chuyên môn, có chức năng định giá tài sản hoặc được giao nhiệm vụ thực hiện việc định giá tài sản được quy đổi thành tiền theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, để phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự theo đúng trình tự thủ tục quy định pháp luật
Do vậy, chúng ta có thể hiểu “Định giá” hay “Thẩm định giá” theo quy định của pháp luật Việt Nam là việc cơ quan, tổ chức có chức năng xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của BLDS phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định, theo tiêu chuẩn thẩm định giá
Việt Nam đang tồn tại hai khái niệm “Định giá” và khái niệm “Thẩm định
Trang 13giá” nhưng trên thực tế không có sự phân biệt rõ ràng giữa “Định giá” và “Thẩm định giá” vì công việc của định giá và thẩm định giá đều là xác định giá trị tài sản
để tìm ra giá cả của tài sản trong một tập hợp giả định các điều kiện trên thị trường nhất định, tại không gian và thời gian nhất định Công việc này được thực hiện bởi các nhà chuyên môn được đào tạo, có kiến thức, kinh nghiệm, có tính trung thực và tuân theo các tiêu chuẩn thẩm định giá do Nhà nước quy định
1.1.2 Đặc điểm của định giá tài sản
Mặc dù có nhiều định nghĩa, khái niệm khi đề cập đến việc định giá tài sản đều có chung một số yếu tố nhất định là:
- Thứ nhất, định giá hay thẩm định giá là sự ước tính giá trị tài sản tại thời
điểm nhất định Giá trị của tài sản được xác định là giá trị theo thị trường
Thị trường là một môi trường trong đó sự trao đổi hàng hoá hay dịch vụ giữa người mua và người bán được thực hiện thông qua cơ chế giá cả Thị trường chỉ ra rằng hàng hoá và dịch vụ có thể được trao đổi giữa người bán và người mua mà không có sự hạn chế nào trong hoạt động của mình
Đặc điểm của thị trường:
+ Thị trường có thể bao gồm số lượng đáng kể người mua và người bán, hay
có thể theo tính chất mà hạn chế số người tham gia
+ Thị trường trong đó tài sản được trưng bày để bán, quảng bá thương hiệu hay hình ảnh của tài sản mà không có sự ngăn cấm nào
+Thị trường có thể là thị trường địa phương, thị trường trong vùng, thị trường quốc gia hoặc thị trường quốc tế
- Thứ hai, định giá tài sản được biểu hiện chủ yếu bằng hình thái tiền tệ
Thị trường là một cơ chế, trong đó người mua và người bán tương tác lẫn nhau để xác định giá cả hàng hóa dịch vụ Trong hệ thống thị trường mọi thứ điều
có giá của nó Đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được xác định bằng tiền Giá cả thể hiện mức mà mọi người và các doanh nghiệp tự nguyện trao đổi mua bán nhiều loại hàng hóa khác nhau
Sau khi các bên đã ước tính giá cả hàng hóa dịch vụ được bằng tiền thì các bên sẽ tiến hành thực hiện các giao dịch về hàng hóa dịch vụ theo nhu cầu của mình
mà không bị ràng buộc bởi một thế lực nào hay chịu sự ép buộc của một cá nhân
Trang 14hay tổ chức nào
Trong trường hợp đặc biệt thì hàng hóa dịch vụ đặc biệt chịu sự điều chỉnh, chi phối của nhà nước để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc phải đặt lợi ích toàn dân lên hàng đầu thì giá cả hàng hóa dịch vụ này do nhà nước quyết định
- Thứ ba, định giá hay thẩm định giá là việc ước tính giá trị đó phải được đặt
trong một địa điểm, một thị trường nhất định với những điều kiện nhất định và tại một thời điểm cụ thể
Theo Thông tư số 158/2014/TT-BTC ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính, ban hành tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam, có khái niệm giá trị thị trường làm cơ sở cho thẩm định giá tài sản như sau: Giá trị thị trường là mức giá ước tính của tài sản tại thời điểm, địa điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin, các bên tham gia hành động một cách có hiểu biết, thận trọng và không bị
ép buộc, trong đó:
+ Thời điểm, địa điểm thẩm định giá là thời gian, không gian cụ thể tương ứng với thời gian, không gian mà giá trị của tài sản thẩm định giá được thẩm định viên định giá tài sản gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thị trường
+ Người mua sẵn sàng mua là người có khả năng thanh toán và có nhu cầu mua tài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường
+ Người bán sẵn sàng bán là người có tài sản hợp pháp và có nhu cầu muốn bán tài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường
+ Giao dịch khách quan, độc lập, có đủ thông tin là giao dịch giữa các bên không có mối quan hệ đặc biệt gây ảnh hưởng đến giá giao dịch của tài sản và các bên tham gia có đủ thời gian cần thiết để khảo sát, tiếp cận đầy đủ thông tin về tài sản và thị trường tài sản sau quá trình tiếp thị thích hợp Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và cạnh tranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chế người mua, người bán
- Thứ tư, định giá hay thẩm định giá được thực hiện theo những yêu cầu và
Trang 15mục đích nhất định của chủ thể yêu cầu
Thẩm định giá có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị trường, được biểu hiện như sau:
+ Thẩm định giá đưa ra kết quả tư vấn về giá trị, giá cả tài sản giúp các chủ thể tài sản, các bên có liên quan và công chúng đầu tư đưa ra các quyết định liên quan đến việc mua, bán, đầu tư, cầm cố, cho vay tài sản, giải quyết các vấn đề khác
có liên quan đến tài sản
+ Trong kinh tế thị trường, thẩm định giá tài sản được áp dụng cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau như mua bán, thế chấp, cho thuê, bảo hiểm, tính thuế, thanh lý, đầu tư Tương ứng với từng mục đích kinh tế, với cùng một tài sản, cùng một thời điểm thẩm định sẽ cho kết quả giá trị tài sản thẩm định là khác nhau Do vậy, kết quả thẩm định giá sẽ được sử dụng để ra quyết định trong nhiều tình huống khác nhau, ví dụ như:
+ Giải quyết tranh chấp trong dân sự hoặc trong một vụ án hình sự có liên quan đến tài sản;
+ Báo cáo tài chính theo yêu cầu doanh nghiệp để phục vụ cho việc quản lý tài sản doanh nghiệp, thanh quyết toán thuế
+ Mua sắm, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, bảo hiểm, tính thuế, đền bù, cho thuê tài sản;
Làm căn cứ cho phê duyệt các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, dự án đầu
tư công trình sử dụng vốn của Nhà nước, đề án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,
dự toán cấp phát kinh phí, mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách nhà nước, vay nợ của Chính phủ, vay nợ nước ngoài có sự bảo lãnh của Chính phủ…
Làm căn cứ để sáp nhập, chia tách, phá sản hay giải thể doanh nghiệp
- Thứ năm, việc thẩm định giá phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn thẩm định
giá và phương pháp thẩm định giá nhất định
Để kiểm soát và quản lý hoạt động thẩm định giá phát triển đúng hướng, phát huy được vai trò tích cực trong nền kinh tế, Chính phủ quan tâm xây dựng hành lang pháp lý, quản lý và điều hành bằng pháp luật
Khi xem xét báo cáo kết quả thẩm định giá của một thẩm định viên khác, thẩm định viên phải nhận xét một cách độc lập, khách quan và kết luận thống nhất
Trang 16hay không thống nhất với một phần hay toàn bộ nội dung của báo cáo đó
Người thẩm định giá phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ ràng khi thực hiện thẩm định giá Phải trung thực về trình độ, kinh nghiệm và năng lực chuyên môn của mình; phải bảo đảm bản thân và các trợ lý, nhân viên dưới quyền của mình tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật về thẩm định giá và hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam khi thực hiện thẩm định giá Phải từ chối thực hiện thẩm định giá nếu xét thấy không có đủ điều kiện thực hiện thẩm định giá hoặc nếu bị chi phối bởi những ràng buộc có thể làm sai lệch kết quả thẩm định giá
Người thẩm định giá, doanh nghiệp thẩm định giá phải công bằng, tôn trọng
sự thật khách quan và không được thành kiến, thiên vị trong việc thu thập tài liệu và
sử dụng tài liệu để phân tích các yếu tố tác động khi thẩm định giá Không được tiến hành công việc thẩm định giá khi những ý kiến, kết luận thẩm định và kết quả thẩm định giá đã được đề ra có chủ ý từ trước hoặc tiến hành thẩm định dựa trên những điều kiện có tính giả thiết mà không có biện luận chặt chẽ, khả thi, xác đáng
Mọi tài liệu thể hiện tính pháp lý và đặc điểm, kỹ thuật của tài sản cần thẩm định giá phải thể hiện rõ trong các báo cáo, kết quả thẩm định giá phải được trình bày đầy đủ, rõ ràng Báo cáo kết quả thẩm định giá phải nêu rõ các phạm vi công việc, điều kiện hạn chế, giả thiết đặt ra của người thẩm định giá
- Thứ sáu, thẩm định giá đòi hỏi tính chuyên môn, nghiệp vụ thẩm định giá
Do đặc điểm của hoạt động thẩm định giá liên quan đến lợi ích kinh tế của các thành phần kinh tế chủ thể kinh doanh, chủ thể sử dụng trong xã hội nên nếu muốn được xã hội thừa nhận tất yếu đòi hỏi người làm thẩm định giá phải đạt một
số tiêu chuẩn và phẩm chất nhất định khi tham gia hoặc thực hiện hoạt động dịch vụ này, đó là:
+ Có bằng cấp chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo và phải trải qua một số năm hoạt động về thẩm định giá
+ Là người có kinh nghiệm nghề nghiệp trong lĩnh vực thẩm định giá
+ Phải tuân thủ quy tắc hành nghề thẩm định giá do Nhà nước hoặc các tổ chức nghề nghiệp quy định Phải có đạo đức nghề nghiệp, đó là sự trung thực, sự công bằng, đảm bảo bí mật và không gây ra mâu thuẫn về lợi ích cho khách hàng
+ Phải có giấy phép hành nghề theo quy định pháp luật
Trang 17- Thứ bảy, định giá hay thẩm định giá được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng
các dữ liệu, các yếu tố của thị trường
Khi nhận được yêu cầu định giá thì cơ quan, tổ chức tiến hành yêu cầu cung cấp thông tin nếu thấy cần thiết thì đưa ra những giả thiết và những điều kiện đối với những yêu cầu và mục đích thẩm định giá của chủ thể yêu cầu; những yếu tố ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về tính pháp lý, công dụng của tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng để phục vụ cho việc xác định giá trị tài sản
Thực tế việc định giá tài sản để phục vụ cho một mục đích nhất định của chủ thể yêu cầu nhưng việc xác định chính xác giá trị tài sản là điều vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi cơ quan, tổ chức phải thực hiện rất nhiều công việc như lập kế hoạch khảo sát, thu thập thông tin, phân tích thông tin, thống kê, kể cả thông qua một tổ chức khác để tiến hành một số công việc cụ thể theo yêu cầu nhất định liên quan đến chuyên môn, công nghệ cao mới cho ra được kết luận định giá hoàn chỉnh
và chuẩn về nội dung và hình thức
1.1.3 Ý nghĩa của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Lịch sử lập pháp hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến nay đã xây dựng và ban hành được 03 BLHS, đó là BLHS năm 1985, BLHS năm
1999 và BLHS năm 2015 Quá trình lập pháp đã kế thừa phát huy những mặt tích cực của Bộ luật hình sự trước, đồng thời loại bỏ những mặt hạn chế không còn phù hợp với tình hình hiện nay, đồng thời bổ sung các quy định mới, tiến bộ nhằm đáp ứng yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội, góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự
BLHS năm 1985 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung chưa đáp ứng được sự phát triển của xã hội Cụ thể như: các tội về xâm phạm sở hữu tài sản: Cướp tài sản
xã hội chủ nghĩa, tội Cướp tài sản của công dân, tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tội Trộm cắp tài sản của công dân không quy định về giá trị tài sản bị chiếm đoạt là bao nhiêu để xác định cấu thành cơ bản; về định khung hình phạt tăng nặng được quy định bằng trọng lượng lương thực là gạo (tấn gạo) để làm căn cứ xử
lý Cơ quan tiến hành tố tụng xác định giá trị tài sản bị xâm hại căn cứ vào lời khai của người bị hại, sau đó quy đổi ra trọng lượng gạo theo bảng giá gạo từng thời
Trang 18điểm do cơ quan tài chính quy định để xử lý Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến tài sản thì thông thường người bị hại khai báo với cơ quan tiến hành tố tụng về giá trị tài sản bị xâm hại cao hơn giá trị thực tế dẫn đến tình trạng gây bất lợi cho bị can, bị cáo; Về phía bị can, bị cáo thường khai báo giá trị tài sản mà bị can, bị cáo chiếm đoạt có giá trị thấp hơn giá trị thực tế nên khi cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, quyết định hình phạt áp dụng đối bị cáo thì bị cáo thường kháng cáo với lý do TA áp dụng hình phạt là không đúng và quá nặng Trong những trường hợp cụ thể thì việc định tội danh, quyết định hình phạt còn mang tính chất tùy nghi, chưa đánh giá được tính chất mức độ của vụ án, sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nhẹ đối với bị cáo Từ những bất cập này, xã hội đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn xác định giá trị tài sản bị xâm hại để làm căn
cứ xử lý không gây bất lợi cho bị can, bị cáo, đồng thời đảm bảo quyền tài sản của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn dân sự
Khắc phục các bất cập nêu trên, BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm
2009 đã quy định cơ bản các tội về xâm phạm sở hữu cấu thành phải có định lượng giá trị tài sản là tiền Việt Nam đồng; khung hình phạt tăng nặng cũng được quy định giá trị tài sản bị xâm hại có định lượng là tiền Việt Nam đồng Song hành với các quy định nêu trên của BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 về xác định giá trị tài sản bị xâm phạm, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 quy định về định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ tài chính ban hành Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/06/2006 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ HĐDGTS trong tố tụng hình sự
Hơn 10 năm thực hiện các quy định về HĐĐGTS trong TTHS cho thấy
có nhiều bất cập; nhiều nơi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự chưa làm hết trách nhiệm của mình, có nơi HĐĐGTS làm quá phạm vi chức trách của mình như: tài sản bị chiếm đoạt không thu giữ được thì HĐĐGTS từ chối không định giá tài sản hoặc chung chung không rỏ ràng hoặc HĐĐGTS khi tiến hành định giá tài sản chưa tiến hành đầy đủ các bước để làm căn cứ định giá, các thiếu sót này là vi phạm các quy định về phạm vi, trách nhiệm của HĐĐGTS trong TTHS được quy
Trang 19định tại Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ, dẫn đến vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục TTHS, hậu quả là việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, nghiêm trọng hơn là khả năng xảy ra tình trạng oan sai
Thực tiễn, quá trình thực thi những quy định của BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 về chứng cứ đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, trong đó những quy định về chứng cứ còn hạn hẹp, không còn phù hợp với việc chứng minh tình hình tội phạm hiện nay Để khắc phục những tồn tại và khó khăn trên, BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi, bổ sung quan trọng theo hướng quy định
rõ hơn những vấn đề cần phải chứng minh, mở rộng các loại nguồn chứng cứ… Đặc biệt, “Kết luận định giá tài sản” đã được BLTTHS năm 2015 quy định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng của quá trình chứng minh Trong một số trường hợp nếu không có kết quả của việc định giá tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể giải quyết được vụ án Ngoài ra, “Kết luận định giá tài sản” cũng là một trong những yếu tố để xác định căn cứ để buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội Xuất phát từ tầm quan trọng của các kết luận giám định khi giải quyết các vụ án hình sự và một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003
là trong một số vụ án cần phải định giá tài sản, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm nguồn chứng cứ mới đó là “Kết luận định giá tài sản” được quy định tài Điều 101 BLTTHS năm 2015
Cho đến nay, Nhà nước ta chưa có văn bản luật về định giá tài sản trong TTHS Tuy nhiên, Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 về HĐDGTS trong TTHS và những năm vừa qua, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã vận dụng văn bản pháp lý này để tiến hành định giá tài sản, làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ án hình sự Vì vậy, với những sự chỉnh lý, sửa đổi bổ sung lần này BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được hạn chế, thiếu sót trong các quy định về chứng cứ từ thực tiễn thi hành của BLTTHS năm 2003; tạo hành lang pháp lý cho quá trình thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cứ đồng thời góp phần điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
1.2 Cơ sở pháp lý của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
1.2.1 Quy định pháp luật về tài sản
Trang 20Thứ nhất, các quy định của Bộ luật dân sự về tài sản:
Tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Tài sản luôn biến đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của thời gian, của điều kiện xã hội, sự nhận thức con người về giá trị vật chất, nên tài sản qua mỗi thời kì lại được nhìn nhận ở một góc độ khác nhau
Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định tại Điều 172 BLDS năm 1995:
“Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Theo đó, cụm từ “vật có thực” theo quy định của BLDS năm 1995 đã được sửa lại thành “vật” Như vậy, không phải vật có
thực mới có thể trở thành tài sản mà ngay cả những vật hình thành trong tương lai cũng được coi là tài sản Việc thay đổi này có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác lập, thực hiện và bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp trong quan hệ dân sự, phản ánh đúng tình hình phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội qua từng thời kỳ khác nhau Sự thay đổi này đã làm cho khái niệm tài sản được hiểu theo nghĩa rộng hơn
và được đánh giá là một trong những ưu điểm của BLDS năm 2005, phù hợp với yêu cầu cuộc sống, đáp ứng nhu cầu về giao dịch trong nền kinh tế thị trường
BLDS năm 2015 đã trình bày theo hướng tiếp cận mới Cụ thể là, Điều 105
BLDS năm 2015 quy định về tài sản như sau “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” Mặt khác, BLDS năm 2015 còn bổ sung Điều 108 để giải thích rõ khái niệm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai Theo đó:
“1 Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch
2 Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
Trang 2102/05/2012 về nghiệp vụ phát hành tiền; bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy
tờ có giá trong hệ thống ngân hàng nhà nước, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Chế định tài sản được quy định tại BLDS năm 2015 là sự kế thừa chế định tài sản trong các BLDS trước đó, đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề quan trọng thể hiện sự phát triển chế định này trong lịch sử xây dựng luật dân sự Đây là một đòi hỏi tất yếu của quá trình hoàn thiện các quy định của BLDS, trong
đó chế định tài sản là một trong những chế định trung tâm của BLDS, cho nên việc
bổ sung, hoàn thiện chế định này là rất quan trọng, làm cơ sở tiền đề để xây dựng cũng như áp dụng thống nhất các chế định có liên quan
Thứ hai, pháp luật có liên quan về giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu )
Theo nghĩa rộng, giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác
Với chức năng là một công cụ tín dụng thì giấy tờ có giá gồm: hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc…
Với chức năng là phương tiện tín dụng là các loại hàng hóa được ghi giá trên thị trường tài chính, bao gồm các phương tiện ngắn hạn như các chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kì phiếu và các phương tiện tín dụng dài hạn
Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá gồm: cổ phiếu và trái phiếu Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Quyết định số 02/2005/QĐ–NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 04/01/2005 Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức
tín dụng để huy động vốn trong nước “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa
tổ chức tín dụng và người mua”
Tuy nhiên, trong pháp luật dân sự không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là một loại tài sản trong giao lưu dân sự Đối với các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm… không
Trang 22được coi là giấy tờ có giá Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó
Giấy tờ có giá là một loại tài sản thường gặp trong giao dịch dân sự nhưng thực tế nhiều người lại có sự nhầm lẫn về giấy tờ có giá và các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản như giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
BLDS năm 2015 không định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá là gì mà chỉ nêu giấy tờ có giá là một loại tài sản Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 2010 “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”; Khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 quy định: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy
tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác" Khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN ngày 15/04/2016 “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác” Theo khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định “Giấy tờ có giá bao gồm
cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”
Căn cứ vào nội dung giải đáp về giấy tờ có giá tại Công văn KHXX của Tòa án nhân dân tối cao ngày 21/09/2011, có thể liệt kê một số loại giấy
141/TANDTC-tờ có giá như sau:
Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005;
Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005;
Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 Luật quản lý nợ công 2009;
Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm
Trang 23chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật chứng khoán sửa đổi 2010)
Thứ ba, các văn bản pháp luật quy định về kim khí quý, đá quý:
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều Thông tư số 17/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 quy định về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý
“Kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quý khác Đá quý bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc), emorot (lục bảo ngọc), saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quý khác”
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 40/2012/NĐ-CP ngày 02/05/2012 về nghiệp vụ phát hành tiền; bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy
tờ có giá trong hệ thống ngân hàng nhà nước, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (“Tài sản quý” bao gồm: Vàng, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ tiền mặt và các loại tài sản quý khác)
Thứ tư, quy định của pháp luật hình sự về tài sản:
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, đối với các tội xâm phạm sở hữu thì vật, tiền bạc có giá trị chứng minh cho tội phạm, người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án, vật rất phong phú, đa dạng, do vậy, tùy thuộc vào từng loại án, mối liên hệ giữa vật chứng và đối tượng chứng minh cũng như giá trị chứng minh của nó để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng cho phù hợp Vật chứng minh cho tội phạm bao gồm vật chứng minh cho cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc cấu thành tội phạm giảm nhẹ cũng như các tình tiết khác có ý nghĩ tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Theo định tại Điều 74 BLTTHS năm 2003 quy định về vật chứng “Vật chứng
là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”
Ngày 27/11/2015 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua BLTTHS, quy định về vật chứng Điều 89 “Vật chứng
là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm,
Trang 24vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”
So với BLTTHS năm 2003 ngày 26/11/2003 thì BLTTHS năm 2015 ngày 27/11/2015 thì chỉ bổ sung thêm “hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Việc
bổ sung như trên là hợp lý, vì trong vụ án hình sự có liên quan đến dân sự (bồi thường thiệt, làm hư tài sản thì người có hành vi xâm phạm tài sản phải có biện pháp khắc phục) Hiện nay, tình hình sự tội phạm diễn biến rất phức tạp, hành vi phạm tội rất tinh vi Đồng thời, các sản phẩm do con người tạo ra ngày càng phong phú và đa dạng nên nhà làm luật không cụ thể hóa, rõ ràng chi tiết thì sẽ dẫn đến thiếu sót
1.2.2 Quy định pháp luật về định giá tài sản
Trong quá trình thực thi những quy định của BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 về chứng cứ đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, trong đó những quy định về chứng cứ còn hạn hẹp, không còn phù hợp với việc chứng minh tình hình tội phạm hiện nay Để khắc phục những tồn tại và khó khăn trên, BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi, bổ sung quan trọng theo hướng quy định
rõ hơn những vấn đề cần phải chứng minh, mở rộng các loại nguồn chứng cứ… Đặc
biệt, “Kết luận định giá tài sản” được quy định là một trong những nguồn chứng cứ
quan trọng của quá trình chứng minh Trong một số trường hợp cụ thể, nhất là đối với các tội xâm phạm sở hữu việc định giá tài sản là hết sức quan trọng, làm cơ sở cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, khi vụ án không thể xác định chính xác giá trị tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu Ngoài ra, “Kết luận định giá tài sản” cũng là một trong những căn cứ để buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội Xuất phát từ tầm quan trọng của “Kết luận định giá tài sản” khi giải quyết các vụ án hình
sự và một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003, trong một số vụ án cần phải định giá tài sản, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm nguồn chứng cứ mới đó là “Kết luận định giá tài sản” được quy định tài Điều 101 BLTTHS năm 2015 Cụ thể như sau:
“Kết luận định giá tài sản là văn bản do HĐĐGTS lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu
HĐĐGTS kết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó
Trang 25Kết luận định giá tài sản phải có chữ ký của tất cả thành viên HĐĐGTS Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản do Hội đồng quyết định thì thành viên của Hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận định giá tài sản thì phải nêu rõ lý do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này
Kết luận định giá của HĐĐGTS vi phạm quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án”
Không dừng lại việc bổ sung quy định “Kết luận định giá tài sản” là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng của quá trình chứng minh vụ án, “Kết luận định giá tài sản” là căn cứ để buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội nên BLTTHS năm 2015 khẳng định người định giá tài sản phải có chuyên môn về định giá tài sản, quy định quyền hành và trách nhiệm của người thực hiện công việc định giá tài sản,
theo quy định tại khoản 1 Điều 69 BLTTHS “Người định giá tài sản là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giá, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật”
Theo Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định tại khoản 1 Điều 2 “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn
đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này”
Theo Luật giá số 11/2012/QH13 ngày 20/06/2012 thì không quy định các vấn đề liên quan đến việc định giá tài sản trong các vụ án hình sự, mà chỉ quy định liên việc đến các vấn đề thẩm định giá để xác định giá trị một tài sản trong việc kinh doanh hay thực hiện việc đầu tư sản xuất, bán đấu giá tài sản Luật giá năm 2012 chỉ phục vụ chủ yếu cho việc xác định giá trị tài sản để thực hiện việc giao kết hoặc thỏa thuận dân sự, phục vụ công tác quản lý giá của nhà nước, các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động thẩm định giá tài sản
Trang 261.3 Phương thức định giá tài sản
1.3.1 Quy trình định giá tài sản bị xâm phạm
Để giải quyết những vấn đề liên quan đến tài sản trong TTHS, theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, việc định giá tài sản sẽ được tiến hành thông qua HĐDGTS Nhằm đảm bảo sự khách quan, trung thực trong việc định giá tài sản, Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ và Thông tư 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn HĐDGTS dựa trên những nguyên tắc như đã phân tích nêu trên và quy trình định giá như sau:
+ HĐDGTS trong TTHS được pháp luật quy định thành lập ở ba cấp là cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện, có nhiệm vụ quyền hạn định giá tài sản theo nguyên tắc phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm, định giá tài sản phải trung thực, khách quan, công khai và kịp thời
+ HĐDGTS cấp huyện về thủ tục thành lập và thực hiện chức năng tương tự như Hội đồng định giá cấp tỉnh nhưng chỉ khác ở chỗ do Chủ tịch UBND cấp huyện thành lập theo đề nghị của Phòng tài chính và chỉ thực hiện việc định giá tài sản theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
Trình tự định giá tài sản được thực hiện theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu định giá tài sản của cơ quan tiến hành tố tụng phải thể hiện các nội dung chính sau đây: tên cơ quan yêu cầu định giá (tức là tên cơ quan tiến hành tố tụng), tên HĐĐGTS được yêu cầu (tức là Hội đồng định giá cấp trung ương, Hội đồng định giá cấp tỉnh hoặc Hội đồng định giá cấp huyện); thông tin về tài sản cần định giá (ví dụ như: tài sản cần định giá là xe ôtô thì phải cung cấp các thông tin về xuất xứ, năm sản xuất, lời khai của người chủ phương tiện, thời gian sử dụng phương tiện ); nội dung yêu cầu định giá về phần thiệt hại được tính bằng tiền Việt Nam đồng; thời gian kết luận định giá tài sản
Khi tiến hành định giá tài sản, HĐĐGTS dựa trên các căn cứ là: Giá phổ biến trên thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm hại; giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; giá trên tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá (nếu có); giá trị thực tế của tài sản cần định giá; các căn cứ khác về tài sản cần định giá
Trong quá trình định giá, khảo sát giá là một bước bắt buộc và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định giá trị tài sản cần định giá Do vậy, HĐĐGTS phải
Trang 27khảo sát giá thị trường theo giá bán buôn hoặc bán lẻ đối với tài sản cùng loại hoặc tương đương còn mới, có chất lượng đạt một trăm phần trăm; nghiên cứu bảng giá tài sản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định để thực hiện tại địa phương; tham khảo giá trên tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá
QUY TRÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Thời gian tiếp nhận,
Bước 2
HĐDGTS tiến hành xem tài sản, nghiên cứu thông tin, tài liệu liên quan đến tài sản cần định giá, thực hiện khảo sát giá tài sản; mời các thành viên hội đồng, đại diện cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu định giá tài sản, đại diện các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản cần định giá họp định giá tài sản HĐDGTS lập biên bản về việc định giá và văn bản kết luận định giá tài sản
Bước 3
HĐDGTS gửi Biên bản và Kết luận định giá tài sản cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu định giá tài sản
bưu điện
Trang 28THÀNH PHẦN, SỐ LƯỢNG HỒ SƠ
Thành phần, số
lượng hồ sơ
a) Thành phần hồ sơ:
- Hồ sơ gửi Hội đồng định giá:
Văn bản yêu cầu định giá tài sản bao gồm các nội dung chính sau: Tên cơ quan yêu cầu định giá; tên HĐDGTS được yêu cầu; thông tin về tài sản cần định giá; nội dung yêu cầu định giá; thời gian nhận kết quả định giá
- Hồ sơ, tài sản cung cấp cho HĐDGTS xem khi định giá tài sản:
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu định giá tài sản có trách nhiệm tổ chức cho HĐDGTS xem tài sản hoặc mẫu tài sản và nghiên cứu các thông tin, tài liệu có liên quan đến tài sản cần định giá
b) Số lượng hồ sơ: 1 bộ
Thời hạn giải quyết
Thực hiện định giá tài sản theo đúng thời hạn được yêu cầu của cơ quan yêu cầu định giá; trong trường hợp cần có thêm thời gian để thực hiện định giá thì phải thông báo kịp thời
cho cơ quan yêu cầu định giá biết
Cơ quan thực hiện
- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: HĐDGTS trong TTHS quận
- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Phòng Tài chính Kế hoạch quận
- Cơ quan phối hợp: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu định giá tài sản và các đơn vị có liên quan
Trang 291.3.2 Các trường hợp định giá tài sản bị xâm phạm
Trong BLHS có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá trị tài sản bị xâm phạm là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Vì vậy, việc định giá tài sản bị xâm phạm có ý nghĩa quan trọng và mang tính bắt buộc để xác định hành vi xâm phạm về tài sản có phải là tội phạm hay không Bên cạnh đó, việc định giá tài sản còn là căn cứ để xác định khung hình phạt; đánh giá tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi lượng hình và xác định mức bồi thường cho người bị thiệt hại Đối với các hành vi xâm phạm sở hữu việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt có ý nghĩa rất quan trọng Trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự để nhằm mục đích không bỏ lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội
Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được định giá theo giá thị trường của tài sản
đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu thì lấy giá trị tài sản đó
để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm
Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi xâm phạm sở hữu có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâm đến giá trị tài sản bị xâm phạm, thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm phạm tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm
1.3.3 Các căn cứ định giá tài sản bị xâm phạm
BLHS năm 1999 quy định tại chương XIV về các tội xâm phạm sở hữu bao gồm 13 Điều (từ Điều 133 đến Điều 145) So với BLHS năm 1988, thì BLHS năm
1999 đã quy định cụ thể và đầy đủ về định lượng tài sản bị xâm phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm Tại chương XIV, có 9 Điều (từ Điều 137 đến Điều 145) quy định cụ thể giá trị tài sản bị xâm phạm là tình tiết định tội, còn 4 Điều (từ Điều 133 đến Điều 136) thì giá trị tài sản bị xâm hại chỉ có tính chất định khung hình phạt Do đó, xác định chính xác giá trị tài sản bị xâm phạm là một vấn
đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đối với các tội xâm phạm sở hữu
Trang 30Để có căn cứ định giá tài sản bị xâm phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng thường căn cứ vào biên bản giám định tư pháp của cơ quan chuyên môn để xác định giá trị tài sản làm cơ sở xác định một hành vi có bị xử lý về mặt hình sự, hay chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc mức độ nguy hiểm của hành vi đó Vậy cần phải xem xét các văn bản liên quan đến giám định tư pháp bao gồm: BLTTHS năm 1988 đã quy định tại Điều 44 về Người giám định và các Điều từ 130 đến 134
về trình tự và thủ tục giám định Ngoài ra, Nghị định 117/HĐBT ngày 21/07/1988 quy định về Giám định tư pháp và Thông tư số 78 – TT/QĐ ngày 26/01/1989 hướng dẫn thực hiện Nghị định 117/HĐBT ngày 21/07/1988 đã quy định cụ thể về công tác, tổ chức giám định tư pháp và giám định viên tư pháp
Tuy nhiên, trong thực tế một số cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng chưa đúng những quy định của pháp luật về giám định tư pháp, nhất là việc định giá các tài sản bị xâm hại để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự còn nhiều tùy tiện và nhiều trường hợp không trưng cầu giám định, chỉ căn cứ vào lời khai giá trị tài sản
bị chiếm đoạt, bị thiệt hại của người bị hại và lời nhận tội của bị cáo Nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định chưa theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật nói trên
Theo Thông tư liên tịch số 02/2001TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân tối cao - Bộ
Công an - Bộ Tư pháp hướng dẫn: “Giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chiếm giữ trái phép, bị sử dụng trái phép, bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng được xác định theo giá trị thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản đó bị chiếm đoạt….(điểm 1, mục II)” Tại điểm 4 mục II quy định: “Để xác định đúng giá trị tài sản bị xâm phạm trong trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa, cơ quan điều tra cần lấy lời khai của người biết về tài sản này để xác định đó là tài sản gì; nhãn, mác của tài sản đó như thế nào; giá trị tài sản đó theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu; tài sản đó còn khoảng bao nhiêu % để trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm”
Việc định giá tài sản trong vụ án hình sự là rất quan trọng, vì đó chính là cơ
sở để xác định tính chất mức độ, hành vi đã đến mức phạm tội hay chưa, tài sản
Trang 31thiệt hại do hành vi nguy hiểm gây ra Do đó việc định giá tài sản phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên đến hoạt động định giá, cụ thể:
1.3.3.1 Thực hiện đúng nguyên tắc định giá tài sản
Thứ nhất, theo Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định về các nguyên tắc trong hoạt động giám định tư pháp, cụ thể như sau:“Tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn; Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời; Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định”
Thứ hai, theo quy định tại Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005
của Chính phủ quy định về nguyên tắc định giá tài sản, cụ thể như sau:
“Phù hợp với giá thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm, trung thực, khách quan, công khai và kịp thời”
Thứ ba, Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính,
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 Định giá tài sản trong tố tụng hình sự phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm
và nơi tài sản bị xâm phạm; phải đảm bảo sự trung thực, khách quan, công khai và kịp thời, cụ thể như sau:
- Giá thị trường của tài sản là giá mua, bán, giao dịch theo thỏa thuận của tài sản cùng loại hoặc tương đương trên thị trường trong điều kiện thương mại bình thường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm
Đối với tài sản bị xâm phạm là loại tài sản Nhà nước định giá, thì giá của tài sản cần xác định là giá do Nhà nước quy định tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm
Đối với tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường (tài sản chuyên dùng, đơn chiếc), giá tài sản cần xác định phải bảo đảm được chi phí tái tạo lại tài sản hoặc chi phí nhập khẩu tài sản đó tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm
- Mức giá tài sản được xác định để làm cơ sở cho việc định giá là mức giá bình quân của tháng Thời gian để thu thập mức giá tài sản bị xâm phạm là một tháng (30 ngày) trước và một tháng (30 ngày) sau ngày tài sản bị xâm phạm; nếu trong thời gian trên mà không thu thập được đầy đủ thông tin làm cơ sở cho việc
Trang 32định giá thì mở rộng thời gian thu thập thông tin về giá thêm một tháng về trước và một tháng về sau
Khi tiến hành điều tra thu thập thông tin về giá của tài sản bị xâm phạm phải được gắn với những yếu tố về cung, cầu, thị hiếu và sức mua trên thị trường trong điều kiện thương mại bình thường
Điều kiện thương mại bình thường là việc mua bán được tiến hành khi các yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến do chịu tác động của thiên tai, địch họa…các thông tin cung, cầu, giá cả tài sản bị xâm phạm được thể hiện công khai trên thị trường
- Giá tài sản được xác định làm căn cứ khi định giá tài sản bị xâm phạm phải được thu thập tại nơi tài sản bị xâm phạm
- Nơi tài sản bị xâm phạm được tiến hành khảo sát là các trung tâm thương mại, các tổ chức và cá nhân có sản xuất các tài sản cùng loại hay tài sản tương đương với tài sản bị xâm phạm thuộc phạm vi đơn vị hành chính huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện)
- Tài sản cùng loại với tài sản bị xâm phạm là tài sản có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Tài sản cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau
- Tài sản tương đương với tài sản bị xâm phạm là tài sản có đủ các đặc trưng
cơ bản giống với tài sản bị xâm phạm, gồm:
+ Có đặc trưng vật chất của tài sản giống nhau;
+ Có thông số kỹ thuật tương đồng;
+ Có cùng chức năng mục đích sử dụng;
+ Có thể thay thế cho nhau trong sử dụng;
+ Chất lượng tương đương nhau
Cho đến nay, Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ về HĐDGTS trong TTHS và những năm vừa qua, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã vận dụng văn bản pháp lý này để tiến hành định giá tài sản, làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ án hình sự Vì vậy, với những
sự chỉnh lý, sửa đổi bổ sung lần này BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được hạn
Trang 33chế, thiếu sót trong các quy định về chứng cứ từ thực tiễn thi hành của BLTTHS năm 2003; tạo hành lang pháp lý cho quá trình thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cứ đồng thời góp phần điều tra, truy tố, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Căn cứ định giá tài sản
- Thứ nhất, giá phổ biến trên thị trường của tài sản tại thời điểm và nơi tài sản
bị xâm phạm Giá phổ biến trên thị trường là giá mua, bán theo thỏa thuận đối với tài sản cùng loại hoặc tương đương và là mức giá có số lần xuất hiện nhiều nhất trên thị trường trong thời gian, địa điểm tài sản bị xâm phạm
- Thứ hai, giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định đã được áp
dụng tại địa phương nơi tài sản bị xâm phạm và tại thời điểm tài sản bị xâm phạm
- Thứ ba, giá của tài sản cần định giá được xác định trong tài liệu hồ sơ hợp
pháp về loại tài sản đó của chủ sở hữu tài sản (nếu có)
Giá trị thực tế của tài sản cần định giá:
+ Đối với tài sản mới: HĐĐGTS xác định giá tài sản theo tài sản cùng loại hoặc tài sản tương đương và còn mới 100%
+ Đối với tài sản đã qua sử dụng: HĐĐGTS phải kiểm định, đánh giá chất lượng còn lại của tài sản, hàng hóa sau khi đã tính phần hao mòn đã qua sử dụng để xác định giá trị còn lại của tài sản đó
- Thứ tư, các căn cứ khác về giá trị của tài sản cần định giá là những căn cứ
xác định giá trị thị trường của tài sản cần định giá như những thông tin, dữ liệu về mặt kỹ thuật và về mặt pháp lý của tài sản; giá chuyển nhượng tài sản thực tế có thể
so sánh được trên thị trường; mức độ sử dụng tốt nhất có khả năng mang lại giá trị cao nhất, hiệu quả nhất của tài sản; quan hệ cung cầu về tài sản…
Khảo sát giá
- Thứ nhất, tùy theo tính chất, đặc thù và điều kiện lưu thông trên thị trường
của từng loại tài sản bị xâm phạm mà HĐĐGTS tiến hành khảo sát giá tài sản bị xâm phạm theo một trong 2 loại sau: giá bán buôn hoặc giá bán lẻ đối với tài sản cùng loại hoặc tài sản tương đương
Để HĐĐGTS có được đánh giá tổng quát thì việc khảo sát giá mỗi loại giá nêu trên đều phải thực hiện trên cả 3 khu vực: trên thị trường, trên hồ sơ tài liệu, tại
cơ quan có thẩm quyền đã định giá loại tài sản đó
Trang 34Các thành viên của HĐĐGTS tiến hành khảo sát giá thực hiện theo phương pháp điều tra trực tiếp (mẫu 01-KSG, mẫu 02-KKTS kèm theo Thông tư này)
- Thứ hai, các bước khảo sát giá:
Bước 1: Lập kế hoạch khảo sát
Bước 2: Xác định địa điểm nơi tài sản bị xâm phạm: xã (phường) và đơn vị hành chính cấp Huyện
Bước 3: Xác định tình trạng tài sản bị xâm phạm cần khảo sát giá:
- Đối với tài sản bị xâm phạm không còn nữa thì HĐĐGTS phải lấy lời khai
và hồ sơ tài liệu (nếu có) của người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người có hành vi xâm phạm tài sản để xác định tài sản bị xâm phạm là tài sản gì (chủng loại, mẫu mã, nhãn mác, chất lượng…)
+Trong trường hợp cần thiết thì HĐĐGTS có thể yêu cầu người làm chứng nhận dạng tài sản bị xâm phạm trước khi tiến hành xác định giá
+ Đối với tài sản bị xâm phạm đã qua sử dụng (hoặc đã có thay đổi về kết cấu cơ bản của tài sản) thì HĐĐGTS phải tiến hành kiểm định, đánh giá chất lượng tài sản, hàng hóa cần định giá sau khi đã tính đến khấu hao phần đã sử dụng để xác định giá trị còn lại của tài sản đó
+ Đối với tài sản bị xâm phạm cần định giá là kim khí quý, đá quý hoặc những đồ vật mang yếu tố nghệ thuật, lịch sử… HĐĐGTS phải dựa trên kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực đó
Bước 4: Xác định thời điểm tài sản bị xâm phạm và quyết định ngày, tháng, năm cụ thể để tiến hành khảo sát giá
Bước 5: Phối hợp với chính quyền các cấp có liên quan tại địa phương nơi tài sản bị xâm phạm để khảo sát giá
Bước 6: Lựa chọn đối tác khảo sát: Chọn những đối tác cụ thể để thu thập số liệu như: cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, cá nhân tổ chức có am hiểu từng loại tài sản bị xâm phạm hay tài sản tương đương, các đại lý, cửa hàng, trung tâm thương mại, nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Bước 7: Thu thập các mức giá của tài sản bị xâm phạm:
Trang 35+ Việc thu thập các mức giá trên thị trường của tài sản phải tuân thủ theo Khoản a, Điểm 2, Mục II, Thông tư này
+ Thu thập các mức giá (trên thị trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, tại hồ sơ kèm theo tài sản) phải đúng mẫu biểu kèm theo Thông tư này
+ Thu thập các mức giá phải được thực hiện ít nhất là 03 phiếu điều tra cho một vụ việc yêu cầu định giá
Bước 8: Tổng hợp số liệu thu thập được, làm văn bản báo cáo cụ thể để trình HĐĐGTS
1.3.3.2 Các trường hợp định giá tài sản hư hỏng, không tìm thấy tài sản
Kể từ ngày ban hành Nghị định 26/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ, đến nay đã hơn 10 năm, quá trình thực hiện đã đạt được nhiều kết quả giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng xác định được giá trị các loại tài sản bị xâm hại, chiếm đoạt tạo thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá chính xác hành vi, hậu quả
do các bị can, bị cáo, gây ra để truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định cấu thành tội phạm, các tình tiết định khung đối với hành vi của từng bị can, bị cáo; đảm bảo tính khách quan, xác thực và tính có căn cứ trong việc xử lý vụ án
Tuy nhiên, việc áp dụng Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 trong thực tế giải quyết các vụ án hình sự vẫn còn nảy sinh những cách làm chưa được thống nhất, còn gặp những khó khăn Thực tế trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, khi thực hiện Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 một số trường hợp định giá không có tài sản, tài liệu trong hồ sơ định giá chỉ có lời khai của người bị hại, người làm chứng, giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của tài sản, vẫn định giá được giá trị thiệt hại
Ví dụ: Hội đồng định giá quận Bình Tân tiến hành định giá xe máy nhãn hiệu Wave Alpha biển số 84H4-8060 trong vụ án Huỳnh Trí Tiến và đồng bọn trộm cắp tài sản xảy ra vào tháng 10/2012 Tài sản có đầy đủ tài liệu như: tờ khai đăng ký xe, hóa đơn GTGT, phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng, phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông Đây là trường hợp mất tài sản không thu hồi được nhưng vẫn tiến hành định giá được Điều này phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 20
Nghị định 26/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ “Trong trường hợp tài sản cần định giá bị thất lạc hoặc không còn, thì việc định giá tài sản được thực hiện
Trang 36trên hồ sơ của tài sản, trên cơ sở các thông tin, tài liệu thu thập được về tài sản cần định giá”
Trong trường hợp này, HĐĐGTS dựa và hóa đơn mua hàng, phiếu xuất kho, giấy đăng ký xe và biên bản ghi lời khai của bị hại, phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, lập kế hoạch khảo sát giá trị thị trường tại thời điểm tài sản bị xâm hại Dựa vào các thông tin, dữ liệu thu thập được Hội đồng định giá kết luận tài sản bị xâm phạm là xe máy nhãn hiệu Wave Alpha biển số 84H4-
8060 giá trị là 9.500.000 đồng và chuyển Biên bản, Kết luận định giá cho cơ quan điều tra tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật
Có trường hợp Hội đồng định giá quận Bình Tân không kết luận giá trị tài sản hoặc có tính chung chung, không rõ ràng, cụ thể
Ví dụ: Vụ án Lê Thị Thanh Vân trộm cắp 01 máy tính xách tay không thu hồi được tài sản, qua điều tra Công an có tiến hành lấy lời khai, xác minh sự việc là
có thật nhưng không có đầy đủ thông tin về tài sản bị mất trộm như: hóa đơn mua hàng, phiếu xuất kho, phiếu bảo hành Hội đồng định giá quận Bình Tân không định giá được và chỉ đưa ra giá tham khảo của loại máy tính cùng loại có giá trị từ 2.000000 đồng đến 4.000.000 đồng, nên các cơ quan điều tra rất lúng túng trong việc xác định được giá trị chính xác là bao nhiêu để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã có hành vi xâm phạm tài sản Bởi vì, đây là giá trị tài sản
để tham khảo hoặc khi thu hồi được tài sản và rất khó để xác định giá trị thực của tài sản, từ đó gây lúng túng cho việc xác định cấu thành tội phạm, định khung tăng nặng khi điều tra, truy tố và xét xử
Tình hình như trên tại địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh là rất nhiều, do tại địa phương có rất nhiều Khu công nghiệp và công nhân đang sinh sống
và làm việc, diễn biến tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt cũng diễn ra hết sức phức tạp, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự của địa phương Điều này cũng gây ra sự lo lắng bất an trong quần chúng nhân dân
Đối với tài sản bị chiếm đoạt hư hỏng được định giá theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị chiếm đoạt và bị hư hỏng Tài sản thu hồi được, thì cơ quan điều tra cần lấy lời khai của những người biết về tài sản
này để xác định đó là tài sản gì; nhãn, mác của tài sản đó như thế nào; giá trị tài sản
Trang 37đó theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu; tài sản đó còn khoảng bao nhiêu phần trăm khả năng sử dụng hoặc hư hỏng hoàn toàn… để trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm HĐĐGTS được thực hiện theo nguyên tắc trên hồ sơ của tài sản do Cơ quan điều tra chuyển sang, trên cơ sở các thông tin tài liệu thu thập được về tài sản cần định giá, như: lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai của nguyên đơn dân sự, lời khai của bị đơn dân sự, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người có hành vi xâm phạm tài sản để xác định tài sản bị xâm phạm là tài sản thuộc chủng loại, mẫu mã, nhãn mác, chất lượng của tài sản
đó như thế nào; giá trị tài sản đó theo thời giá thực tế tại địa phương vào thời điểm tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu; tài sản đó còn khoảng bao nhiêu phần trăm… để trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm
Đối với các hành vi xâm phạm sở hữu nói chung và xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói riêng thì việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc đã chiếm đoạt được rồi làm hư hỏng tài sản đã chiếm đoạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng đúng khung hình phạt, bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại về tài sản là hết sức quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hình sự
1.3.4 Các trường hợp định giá tài sản bị xâm phạm không có vật cùng loại
là cổ vật, cây cảnh
Theo Quyết định số 39/2012/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 05/10/2012 Quy chế quản lý cây cảnh, cây bóng mát, cây cổ thụ quy định như sau:
“Cây cảnh, cây bóng mát bao gồm những cây thân gỗ có cả rễ, thân, cành, có
hoặc không có lá, đường kính thân cây tại vị trí sát gốc (vị trí vết mặt đất cây mọc
tự nhiên) từ 25 cen-ti-met (cm) trở lên và chiều dài thân cây từ vị trí sát gốc đến vị trí phân cành từ 1mét (m) trở lên
Cây cổ thụ bao gồm những cây thân gỗ có cả rễ, thân, cành, có hoặc không
có lá; có độ tuổi trên 50 năm hoặc đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m từ 50 cm trở lên”
Trang 38Ở một tác phẩm cây cảnh (Bonsai), tất cả các yếu tố rễ, thân, cành, lá, chậu
và sự hài hòa giữa các yếu tố này đều có tầm quan trọng nhất định Chúng ta cần lượng hóa mức độ quan trọng của chúng đến từng chi tiết bằng điểm số cụ thể Đây
là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi vì quan điểm thẩm mỹ và mức độ cảm thụ của mỗi người khác nhau Tiêu chuẩn về cái đẹp là vô cùng, vô tận và mang đậm chất cảm tính Vấn đề định giá tài sản là cây cảnh rất phức tạp và mang nhiều cảm tính Hiện tại thì chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ về vấn đề này Khi áp dụng kết quả định giá để giải quyết trong vụ án hình sự là rất khó khăn Cơ quan định giá thường dựa vào cảm tính là chủ yếu Bởi vì rất khó xác định giá trị thị trường vì chỉ có một loại cây cảnh duy nhất, không có cây cảnh cùng loại để so sánh, đối chiếu
Luật di sản văn hóa năm 2001 đã được Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2001, quy định về
Cổ vật tại khoản 6 Điều 4 “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”
Như vậy, với tang vật của vụ án là loại tài sản không mua bán trên thị trường, cũng không phải đối tượng là loại tài sản Nhà nước định giá như tang vật vi phạm cần định giá là Cổ vật cần được ưu tiên bảo vệ, giữ gìn theo quy định, thì rất khó xác định được giá trị tài sản bị xâm hại hoặc tuy xác định được nhưng không bảo đảm cơ sở pháp lý Từ đó, việc xử lý của các cơ quan tố tụng không bảo đảm tính chính xác, gây ra tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, mà nguyên nhân chính do quy định của pháp luật trong lĩnh vực này chưa thật sự phù hợp với thực tiễn Vấn đề này hiện nay cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn chưa có đầy đủ văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho hoạt động định giá tài sản, nên cũng rất khó vận dụng quy định này vào thực tiễn
Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 BLHS thì “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật” Trên
thực tế hiện nay còn có hành vi vi phạm pháp luật chưa xử lý được do sự bất cập trong áp dụng pháp luật
Trang 39Kết luận chương 1
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt trong phần mở đầu và chương 1, luận văn đã làm rõ được những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về định giá tài sản và các vấn đề có liên quan đến việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt Trên cơ sở nhận xét, đánh giá một số khái niệm khác nhau
về việc định giá hoặc thẩm định giá tài sản, tác giả đã rút ra được khái niệm định tài sản trong TTHS và từ đó nêu ra đặc điểm và ý nghĩa của định giá tài sản trong TTHS Mặt khác chương 1 đã phát triển và làm rõ các quy định pháp luật về tài sản theo quy định của BLDS và pháp luật có liên quan, các căn cứ quy định về định giá tài sản trong TTHS Ngoài ra luận văn còn phân tích cách thức định giá tài sản để người đọc hiểu rõ hơn và có cái nhìn toàn diện hơn về định giá tài sản trong TTHS,
“Kết luận định giá tài sản”, làm cơ sở để quyết định hình phạt và giải quyết các vấn
đề khác có liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Trang 40Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TẠI QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tình hình định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của HĐĐGTS và các cơ quan tiến hành tố tụng tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Tình hình tội phạm xảy ra có dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Tình hình các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2016, trước hết cần phải xem xét số liệu thụ lý
và xét xử các tội xâm phạm sở hữu thông qua số vụ phạm tội và số bị cáo đã bị Tòa
án xét xử, tuyên bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Theo số liệu thống kê của TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, số vụ án và số bị cáo bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận từ năm 2012 đến năm 2016 diễn biến
như sau: Xem bảng 2.1 phần Phụ lục
Qua bảng số liệu thống kê trên cho thấy, trong thời gian năm năm (từ 2012 đến 2016), TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử 1.823 vụ án với 2.333 bị cáo, trong đó xét xử 1.106 vụ án với 1.528 bị cáo về các tội xâm phạm
sở hữu Số vụ án mà TAND quận Bình Tân xét xử từ năm 2012 đến năm 2016 có
xu hướng giảm Đối với các tội xâm phạm sở hữu, năm 2012 xảy ra nhiều nhất với
295 vụ án và 392 bị cáo, năm 2016 xảy ra ít nhất với 135 vụ án và 220 bị cáo Bảng
số liệu này cho biết tổng số vụ án và số bị cáo đã được đưa ra xét xử và bị Tòa án tuyên bản án buộc tội các tội xâm phạm sở hữu có liên quan đến tài sản
Xem bảng 2.2 phần Phụ lục
Qua bảng tổng kết đánh giá tình hình thụ lý, xét xử các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu bao gồm các tội như Cướp tài sản Điều 133; Cưỡng đoạt tài sản Điều 135; Cướp giật tài sản Điều 136; Trộm cắp tài sản Điều 138; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 139 Các vụ án xâm phạm sở hữu chiếm số lượng lớn và số lượng bị cáo cũng rất đông Điều này cho thấy tình hình diễn biến tội phạm trên địa bàn cũng hết sức phức tạp