Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (gọi tắt là Khu di tích Yên Tử) là nơi Vua Trần Nhân Tông tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm sau khi quyết định nhường ngôi cho con. Suốt hơn nửa Thiên niên kỉ kể từ khi Vua Trần Nhân Tông tìm đến Vùng núi này, Yên Tử đã trải qua nhiều thăng trầm trong xây dựng và phát triển song ngày càng khẳng định vai trò và vị thế1. Nằm trên tuyến du lịch Hà nội – Hạ Long, Yên tử là một điểm dừng chân hấp dẫn trên tuyến Côn Minh – Lào Cai Hà nội Quảng Ninh. Là một trung tâm Phật Giáo lớn của cả nước, có nhiều giá trị văn hoá lịch sử, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, Yên Tử là một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống du lịch văn hoá tín ngưỡng của vùng Hà Nội đồng thời có nhiều cơ hội liên kết với các loại hình du lịch khác trong vùng Thủ đô. Khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp Quốc Gia từ năm 197422. Tuy nhiên trong phát triển kinh tế xã hội, phát triển đô thị, và khu vực xung quanh di tích do thiếu sự kiểm soát chặt chẽ nên đã và đang làm biến đổi khung cảnh danh thắng theo chiều hướng xấu và giảm đi giá trị cảnh quan khu di tích. Hình thức kiến trúc các công trình xây dựng mới theo phong cách hiện đại, không hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và công trình di tích lịch sử. Các hoạt động phát triển kinh tế như khai thác than, khai thác lâm sản, đã làm mất đi nhiều cảnh quan sinh thái vốn là đặc trưng rất riêng biệt của cảnh quan linh thiêng của vùng núi Yên Tử. Trong nhiều năm qua do điều kiện khách quan và chủ quan, kinh phí dành cho đầu tư nâng cấp, phát triển hạ tầng kỹ thuật, trùng tu các công trình di tích, Tôn tạo cảnh quan thiên nhiên rất hạn chế đã làm giảm đi giá trị, sự hấp dẫn cũng như khả năng khai thác di tích phục vụ du lịch. Những thực trạng nêu trên đang là thách thức trong bảo vệ di tích Yên Tử trước các mục tiêu: “phát triển kinh tế xã hội” với “ bảo tồn khai thác và phát triển 2 bền vững, mối liên kết vùng”.Nhằm định hướng tổ chức không gian các khu chức năng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, quản lý quá trình xây dựng và ngăn chặn sự xâm hại của các yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, nhằm phát huy giá trị lịch sử văn hóa của khu di tích thành điểm du lịch tâm linh và trở thành một trong những vùng trọng điểm trong định hướng phát triển du lịch của cả nước thì việc đề xuất các giải pháp quy hoạch xây dựng để bảo tồn và phát huy giá trị của quần thể di tích lịch sử danh thắng Yên Tử là rất cần thiết, là cơ sở quan trọng và là bước đi đầu tiên.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (gọi tắt là Khu di tích Yên Tử) là nơi Vua Trần Nhân Tông tu hành và lập nên Thiền phái Trúc Lâm sau khi quyết định nhường ngôi cho con Suốt hơn nửa Thiên niên kỉ kể từ khi Vua Trần Nhân Tông tìm đến Vùng núi này, Yên Tử đã trải qua nhiều thăng trầm trong xây dựng và phát triển song ngày càng khẳng định vai trò và vị thế[1]
Nằm trên tuyến du lịch Hà nội – Hạ Long, Yên tử là một điểm dừng chân hấp dẫn trên tuyến Côn Minh – Lào Cai- Hà nội - Quảng Ninh Là một trung tâm Phật Giáo lớn của cả nước, có nhiều giá trị văn hoá lịch sử, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, Yên Tử là một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống du lịch văn hoá tín ngưỡng của vùng Hà Nội đồng thời có nhiều cơ hội liên kết với các loại hình du lịch khác trong vùng Thủ đô Khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp Quốc Gia từ năm 1974[22]
Tuy nhiên trong phát triển kinh tế xã hội, phát triển đô thị, và khu vực xung quanh di tích do thiếu sự kiểm soát chặt chẽ nên đã và đang làm biến đổi khung cảnh danh thắng theo chiều hướng xấu và giảm đi giá trị cảnh quan khu di tích Hình thức kiến trúc các công trình xây dựng mới theo phong cách hiện đại, không hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và công trình di tích lịch sử
Các hoạt động phát triển kinh tế như khai thác than, khai thác lâm sản, đã làm mất đi nhiều cảnh quan sinh thái vốn là đặc trưng rất riêng biệt của cảnh quan linh thiêng của vùng núi Yên Tử
Trong nhiều năm qua do điều kiện khách quan và chủ quan, kinh phí dành cho đầu tư nâng cấp, phát triển hạ tầng kỹ thuật, trùng tu các công trình di tích,
Tôn tạo cảnh quan thiên nhiên rất hạn chế đã làm giảm đi giá trị, sự hấp dẫn cũng như khả năng khai thác di tích phục vụ du lịch
Những thực trạng nêu trên đang là thách thức trong bảo vệ di tích Yên Tử trước các mục tiêu: “phát triển kinh tế xã hội” với “ bảo tồn khai thác và phát triển
Trang 2bền vững, mối liên kết vùng”.Nhằm định hướng tổ chức không gian các khu chức năng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, quản lý quá trình xây dựng và ngăn chặn sự xâm hại của các yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, nhằm phát huy giá trị lịch sử văn hóa của khu di tích thành điểm du lịch tâm linh và trở thành một trong những vùng trọng điểm trong định hướng phát triển du lịch của
cả nước thì việc đề xuất các giải pháp quy hoạch xây dựng để bảo tồn và phát huy giá trị của quần thể di tích lịch sử danh thắng Yên Tử là rất cần thiết, là cơ sở quan trọng và là bước đi đầu tiên
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng giá trị di sản, cảnh quan khu di tích
- Xác định những thách thức trong tổ chức phát triển không gian khu di tích trong giai đoạn tới
- Đề xuất các giải pháp quy hoạch để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên môi trường sinh thái khu di tích danh thắng Yên
Tử
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Quần thể khu di tích kiến trúc, văn hóa, lịch sử và danh thắng Yên Tử để đề
xuất các giải pháp quy hoạch bảo tồn, khai thác hiệu quả và phát huy thế mạnh của toàn khu, góp phần phát triển nền kinh tế xã hội
Tổng diện tích tự nhiên khu nghiên cứu khoảng: 9.295 ha;
Ranh giới được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Sơn Động, Bắc Giang;
Trang 3Hình 0.1: Bản đồ ranh giới nghiên cứu[22]
+ Phía Nam giáp xã Phương Đông;
+ Phía Tây giáp xã Hồng Thái Đông và xã Tràng Lương, huyện Đông Triều;
+ Phía Đông giáp khu vực than Thùng xã Thượng Yên Công, TX Uông Bí
4 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá lại hiện trạng trên cơ sở quan điểm mới gắn kết với phát huy yếu
tố quốc tế
- Tổng hợp các tư liệu để đề xuất tìm những tiềm năng thách thức mới
- Đề xuất phân vùng chức năng
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thu thập thông tin: Thu thập từ các nguồn
như sở Xây dựng, Bộ Xây dựng, các Viện chuyên ngành về các phạm trù liên quan,
các số liệu thống kê tổng hợp, chủ trương và các chính sách liên quan nội dung
nghiên cứu nhằm xác định vấn đề nghiên cứu, phục vụ bàn luận kết quả nghiên cứu,
phân tích và tổng hợp để đưa ra những đề xuất có thể áp dụng và mở rộng
Trang 4Phương pháp khảo sát hiện trạng và nghiên cứu khu di tích Yên Tử: Là phương pháp cơ bản, phổ biến để tiếp cận thực tế, thu thập tài liệu hiện trạng làm cơ
sở cho việc đánh giá và đưa ra các giải pháp kiến nghị một cách khoa học và hợp lý
Phương pháp phối hợp nghiên cứu:Kết hợp nghiên cứu với các chuyên gia tư vấn chuyên ngành khác về địa điểm nghiên cứu nhằm đưa ra những định hướng cơ bản
Phương pháp đối chiếu so sánh: Đối chiếu so sánh giữa thực trạng, nhu cầu,
và những đề xuất
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị luận văn có 3 chương
Chương I: Thực trạng công tác quy hoạch, bảo tồn và khai thác di tích kiến trúc văn hóa - lịch sử
Chương II: Cơ sở khoa học của việc quy hoạch bảo tồn và phát huy giá
trị khu di tích danh thắng Yên Tử
Chương III: Giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích
danh thắng Yên Tử
Trang 5SƠ ĐỒ CẤU TRÚC LUẬN VĂN
GIẢI PHÁP QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐỂ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH
2.2 CÁC CƠ
SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP
LÝ
2.4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC DỰ BÁO PHÁT TRIỂN
2.5 KINH NGHIỆM
VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐỂ BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH CỦA NƯỚC NGOÀI
ĐÁNH GIÁ CHUNG
3.3 HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP
3.2 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH XÂY DỰNG
3.4 CÁC GIẢI PHÁP QUẢN
LÝ
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Thực trạng về công tác quy hoạch xây dựng bảo tồn và phát huy
giá trị khu di tích lịch sử - danh thắng Yên Tử
1.1 Khái niệm khoa học, thuật ngữ
Các thuật ngữ và khái niệm dùng trong luận văn (theo Luật Di sản Văn hóa
số 28/2001/QH10 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001)
- Di sản tự nhiên: là các di tích tự nhiên được tạo thành bởi các cấu trúc hình
thể và sinh vật hoặc bởi các nhóm cấu trúc như vậy, có một giá trị đặc biệt về phương diện thẩm mỹ hoặc khoa học; các cấu trúc địa chất học và địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới đã được xác định là nơi cư trú của các giống động vật có nguy cơ bị tiêu diệt, có giá trị đặc biệt về phương diện khoa học và bảo tồn; các cảnh vật tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới đã được xác định cụ thể,
có giá trị đặc biệt về phương diện khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên
- Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
- Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di tích lịch sử - văn hóa: là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
- Cảnh quan: là không gian chứa đựng vật thể nhân tạo, thiên nhiên và
những hiện tượng xảy ra trong quá trình tác động giữa chúng với nhau và giữa chúng với bên ngoài
- Thiết kế cảnh quan :là hoạt động sáng tạo môi trường vật chất –
Trang 7không gian bao quanh con người đáp ứng nhu cầu sử dụng, vệ sinh và thẩm
mỹ
- Cảnh quan di tích :là là nơi diễn ra các sự kiện có ý nghĩa lịch sử, là
cảnh quan có các công trình kiến trúc được xếp hạng di tích
- Phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh : là hoạt động
nhằm phục hưng lại di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học vềdi tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó
- Bảo tồn di tích :là những hoạt động chuyên môn nhằm đảm bảo sự tồn tại
lâu dài, ổn định của di tích (không làm thay đổi hình dạng) để có thể sử dụng và phát huy các giá trị của chúng
- Tôn tạo di tích :là hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng và phát
huy giá trị di tích nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn, sự hài hoà của di tích với cảnh quan lịch sử
- Quy hoạch bảo tồn :là quy hoạch xây dựng trên cơ sở tuân theo các nguyên
tắc bảo vệ di tích
- Các khu vực bảo vệ di tích: bao gồm
+ Khu vực bảo vệ I: gồm di tích và vùng được xác định là yếu tố gốc cấu
thành di tích, phải được bảo vệ nguyên trạng (tiến hành các hoạt động tu bổ, trùng
tu, phục chế…không làm biến dạng di tích)
+ Khu vực bảo vệ II: là vùng bao quanh khu vực I của di tích, có thể xây
dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích Các công trình có thể được xây dựng trong khu vực này như nhà trưng bày bổ sung (xây dựng riêng hoặc có thể sử dụng một phần diện tích của di tích), tượng đài, bia
kỷ niệm, vườn, công viên, bãi đỗ xe, đường thăm
quan, khu dịch vụ công cộng (quầy dịchvụ văn hoá, ăn uống, y tế, vệ sinh
công cộng), hệ thống cấp, thoát nước, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc
- Tài nguyên du lịch: là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử
- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
Trang 8có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên
du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường
- Tuyến du lịch: là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung
cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không
1.2 Tổng quan công tác quy hoạch xây dựng bảo tồn và phát huy giá trị các di tích kiến trúc văn hóa - lịch sử
1.2.1 Công tác quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị các di tích kiến trúc văn hóa – lịch sử với phát triển kinh tế
Việt Nam là nước có quá trình phát triển lịch sử và là cái nôi văn hóa của khu vực Đông Nam Á Trải qua nhiều biến động nhưng Việt Nam vẫn giữ được nét văn hóa riêng
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Nhà nước luôn có định hướng khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử với những định hướng nổi bật:
- Bảo tồn phát triển danh lam thắng cảnh luôn có ý nghĩa chiến lược với mỗi quốc gia
- Quảng bá giá trị di sản, khai thác tiềm năng di sản
- Phát triển các đặc khu du lịch Mỗi địa điểm cần xác định các đặc trưng từng vùng để tạo sức hút
Phát triển kinh tế, khai thác các di tích kiến trúc - văn hóa - lịch sử phải gắn với bảo
vệ môi trường di tích và bản thân di tích
1.2.2 Quy hoạch xây dựng bảo tồn và phát huy giá trị các di tích kiến trúc văn hóa – lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 9a Tại Việt Nam
Quy hoạch xây dựng bảo tồn đã được chú trọng phát triển từ giai đoạn ngay sau thống nhất đất nước Đã có hẳn những định hướng phát triển Tuy nhiên di sản đang chịu sức ép của chiến tranh, kinh tế thị trường, của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Việc biến sức ép đó ngược trở lại, tạo đà phát triển cho các khu di tích kiến trúc văn hóa, lịch sử là thách thức đối với phát triển và quản lý Một số vấn
đề nẩy sinh cần được giải quyết:
Mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ với yêu cầu bảo vệ các di sản văn hóa – thiên nhiên
-Mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tiễn của bảo tồn với khả năng đầu tư kinh phí hạn hẹp của Nhà nước
Bảo tồn các di sản văn hóa – thiên nhiên ở nước ta đang trong tình trạng báo động, thậm chí có nguy cơ bị hư hại và mất mát Các di tích đến nay chưa được phát hiện đầy đủ, do đó chưa được đặt dưới sự quản lý của luật pháp Tình trạng xuống cấp còn phổ biến, các hiện tượng vi phạm, phá hoại di tích vẫn chưa chấm dứt; công tác bảo tồn, trùng tu, quản lý và khai thác chưa đáp ứng được tình hình thực tế của
di sản và các yêu cầu do xã hội đưa ra trong thời kỳ mới
Trong những năm vừa qua, một số địa phương đã triển khai công tác lập quy hoạch bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa – thiên nhiên và thực hiện theo quy hoạch rất
có hiệu quả, góp phần khai thác các di tích tốt hơn, đồng thời bảo tồn được các di sản cũng như nâng cao được nhận thức của cộng đồng Đó là quy hoạch bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vịnh Hạ Long đến năm 2020; quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích cố đô Huế; quy hoạch bảo tồn và khai thác khu di tích đô thị
cổ Hội An; quy chế đô thị Sa Pa năm 2004; quy hoạch bảo tồn khu di tích Cổ Loa
Hà Nội, quy hoạch bảo tồn phát huy giá trị khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long Hà Nội
Trang 10b Nước ngoài
Cũng như ở Việt Nam, việc bảo tồn các di tích lịch sử - văn hoá ở các nước khác trên thế giới cũng gặp phải những khó khăn, mâu thuẫn giữa phát triển với bảo tồn Mỗi nước có một chính sách, quan điểm và nguyên tắc quy hoạch bảo tồn di tích khác nhau.Trong những năm 90 (thế kỷ XX) thế giới đã có sự chuyển biến đáng chú ý trong quan điểm của các tổ chức quan trọng như Ngân hàng thế giới về di sản Thay vì quan niệm bảo vệ di sản là một cản trở đối với phát triển thì hiện nay, hai khái niệm này được công nhận là có thể cùng đi đôi với nhau để đem lại những chương trình có hiệu quả cao hơn nhằm nâng cao điều kiện sống ở các nước đang phát triển và trên phạm vi toàn thế giới
Với những kinh nghiệm của nước ngoài thì Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện:
- Hiến chương về trùng tu di tích lịch sử năm 1931
- Hiến chương Venice: hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và
di chỉ 1964
- Hiến chương Burra về bảo vệ và quản lý địa điểm có di sản văn hóa 1979
- Hiến chương Washinton bảo vệ thành phố và đô thị lịch sử 1978
- Nguyên tắc về giáo dục, đào tạo về bảo vệ di tích cụm công trình và di chỉ
1993
- Văn kiện Nara về tính xác thực 1994
Đây là cơ sở để nâng tầm công tác bảo tồn trong giai đoạn hội nhập hiện nay
Qua nghiên cứu công tác bảo tồn của nước ngoài cho thấy để đạt được thành công trong lĩnh vực bảo tồn di tích, nhìn chung các nước đều phải có kế hoạch, quy hoạch cụ thể Chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, quản lý cùng với sự tham gia, phối hợp của nhiều thành phần, nhất là có sự nhiệt tình ủng hộ và tham gia của cộng đồng Đó cũng là những kinh nghiệm quý giá có thể áp dụng đối với Việt Nam và
có thể cân nhắc đối với khu di tích và danh thắng Yên Tử
Trang 111.3.Thực trạng phát triển khu di tích danh thắng Yên Tử
1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Yên Tử, ngày xưa được gọi là Tượng Sơn (núi Voi) có lẽ bởi hình dáng núi giống như một con voi khổng lồ Sử sách cũ lại gọi Yên Tử là Bạch Vân sơn (núi mây trắng) phủ trên đỉnh núi Có tài liệu còn ghi là Tổ Sơn (có lẽ là núi cao nhất trong khu vực)
Gần 1000 năm trước, sử sách đã ghi lại rằng, Yên Tử được coi là "phúc địa thứ 4 của Giao Châu" Nhiều tài liệu cũ đều thống nhất ghi nhận "Năm Tự Ðức thứ 3, núi Yên Tử được liệt vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ”
Phải chăng, chính sự linh thiêng huyền bí ấy mà từ xưa các tín đồ đạo phật Việt Nam đã đến Yên Tử dựng am cỏ cầu kinh niệm Phật Cũng vì thế mà từ thế kỷ thứ
10, đạo sĩ An Kỳ Sinh (Yên Kỳ Sinh) đã đến nơi này tu hành và đắc đạo Những năm sau đó, nhiều thế hệ tăng ni phật tử Việt Nam tiếp tục tìm đến Yên Tử tu hành, xây dựng chùa tháp và nhiều công trình khác
Ðặc biệt, từ thời Trần đã đầu tư xây dựngYên Tử thành khu quần thể kiến trúc chùa tháp có qui mô lớn Khởi đầu là ông Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông) đến Yên Tử tháng 4 năm Bính Thân (1236) Sau đó, Trần Nhân Tông (Trần Khâm)- ông vua anh hùng của 2 cuộc kháng chiến đại thắng quân Nguyên-Mông (1285-1288) mang lại thanh bình cho đất nước, vào lúc triều đại đang hưng thịnh vẫn nhường ngôi cho con để yên tâm nghiên cứu đạo Phật và tìm đến Yên Tử tu hành
Năm 1299 (cách đây hơn 700 năm), Trần Nhân Tông đã xây dựng nên dòng Thiền Trúc Lâm bằng cả một hệ thống lý thuyết và hành động gắn đạo với đời Ông được coi là vị Sư Tổ thứ nhất của Phật phái Trúc Lâm mang Phật danh Ðiều Ngự Giác Hoàng Kế tục sự nghiệp của ông là Sư Tổ Pháp Loa và Huyền Quang Tôn Giả Cả
3 vị được gọi chung là Trúc Lâm Tam Tổ Từ đó, Yên Tử trở thành kinh đô tư tưởng của Phật phái Trúc Lâm, đánh dấu sự phát triển triết học và tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong các thế kỷ 12, 13, 14 Gắn liền với lịch sử phát triển dòng thiền Trúc Lâm tại Yên Tử là việc xây dựng và hình thành một quần thể các công trình kiến trúc gồm 11 chùa và hàng trăm am, tháp, mộ, bia, tượng Quần thể kiến trúc đồ
Trang 12sộ này được đặt trong một tổng thể cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng trải dài gần 20km tạo thành Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử mang tầm quốc gia
Không biết lễ hội Yên Tử được hình thành từ bao giờ, chỉ biết rằng, từ thế kỷ 17-18, trên đỉnh Yên Tử, ở độ cao 1.068m đã hiện diện một ngôi chùa (Thiên Trúc Tự) mái lợp ngói đồng, trong chùa có 2 tượng đồng, cạnh chùa là một phiến đá lớn bằng phẳng được gọi là Bàn cờ Tiên cùng với một chữ Phật khốt lớn khắc vào vách đá Tất cả đều nói lên sự linh thiêng, huyền bí và sức cuốn hút kỳ diệu của Yên Tử Hiện nay, chùa cũ không còn và đã được làm lại bằng đồng vào tháng 11/2007 [1] Hàng năm, Lễ hội Yên Tử được tổ chức từ ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch và kéo dài trong 3 tháng mùa xuân Sau phần nghi lễ long trọng được chính quyền địa phương tổ chức dưới chân núi Yên Tử là cuộc hành hương của hàng vạn người đến với đỉnh cao nhất của Yên Tử-chùa Ðông Ðường lên đỉnh Yên Tử uốn lượn, gập ghềnh, luồn dưới những bóng cây đại thụ, xuyên qua những vạt rừng thông, trúc Với thời gian trung bình 3 giờ leo núi mới có thể đến được chùa Ðồng Đường lên đỉnh Yên Tử là một cuộc thử thách đức tính, kiểm chứng lòng thành với Phật Ðến được chùa Ðồng, những tín đồ của Phật có cảm giác mãn nguyện như đến được cội nguồn cõi Phật Dường như nơi đây là chốn đào viên để Tiên, Phật đánh cờ, luận đàm kinh pháp, truyền cho các bậc hiền triết của trần gian
Rải đều trên các cung bậc của hành trình Hội xuân Yên Tử là những cụm kiến trúc chùa, bia, am, tháp Lúc náu mình trong rừng cổ nguyên sinh, khi phô bày giữa không gian thoáng đãng, nhiều lúc ẩn hiện trong mây, huyền ảo như trong chuyện
cổ tích, vừa quyến rũ du khách, vừa khích lệ tinh thần chinh phục Ðến đỉnh Yên Tử
du khách có cảm giác như lên tới cổng trời cưỡi mây nhìn xuống hạ giới Phóng tầm mắt ra phía đông là Vịnh Hạ Long mênh mông với hàng ngàn đảo đá nhấp nhô như chuỗi ngọc Nhìn về phía Nam là TP Hải Phòng với dòng sông Ðá Bạc, Bạch Ðằng lững lờ như một dải sa tanh lấp lánh Trông về Tây là đồng bằng trù phú Hải Dương, Bắc Ninh, còn phía Băc điệp trùng rừng núi Tất cả gợi lên niềm phấn khích tự hào, lâng lâng trong niềm vui chiến thắng và chinh phục Vào dịp lễ hội, trong dòng người thập phương đổ về Yên Tử, có nhiều người hành hương tìm đến
Trang 13cõi Phật để thể hiện đức tin, cầu lộc, cầu tài Có những người đến Yên Tử để ngưỡng cảm ý chí thông tuệ và đức độ thanh cao của các bậc cha ông Có người về Yên Tử để du xuân, vãn cảnh, thưởng ngoạn không khí thanh bình Nam nữ thanh niên đi Yên Tử để khám phá, chinh phục non cao Yên Tử Nhiều Việt kiều về nước tìm dến Yên Tử đắm mình trong những giá trị nhân văn, tinh hoa dân tộc Rất nhiều khách nước ngoài đã biết đến Yên Tử như một điểm hấp dẫn du lịch tâm linh, lịch
sử, văn hóa và sinh thái
Bất kỳ ai đến với lễ hội Yên Tử, nhất là đến được chùa Ðồng đều cảm thấy choáng ngợp bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên Những giá trị tinh thần, văn hoá của tổ tiên; sự dâng hiến tinh khiết, trong hoa lá Ðâu phải vô tình mà Yên Tử làm nơi hành đạo 1.3.2 Vị trí, điều kiện tự nhiên khu vực Yên Tử
Hình 1.1: Sơ đồ vị trí và mối quan hệ liên vùng[22]
Trang 14
a.Vị trí, ranh giới
Khu di tích Yên Tử có toạ độ địa lý:
- Từ 21 05’ đến 21 09’ vĩ độ Bắc;
- Từ 106 43’ đến 106 45’ kinh độ Đông
Qui mô khu di tích lịch sử - văn hoá - danh thắng Yên Tử là: 2.686,5ha
Tổng diện tích tự nhiên khu vực nghiên cứu khoảng: 9.295 ha;
- Ranh giới được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Sơn Động, Bắc Giang; + Phía Nam giáp xã Phương Đông;
+ Phía Tây giáp xã Hồng Thái Đông và xã Tràng Lương, huyện Đông Triều; + Phía Đông giáp khu vực than Thùng xã Thượng Yên Công, TX Uông Bí.[22]
b Địa hình, địa mạo
Hình 1.2: Địa hình, độ cao các đỉnh núi chính khu di tích Yên Tử [22]
Trang 15Khu vực Yên Tử được bao bởi hệ giông chính Yên Tử về phía Bắc từ đỉnh 660m đến đỉnh 908m và hai giông phụ theo hướng Bắc nam gồm:
- Phía Tây từ đỉnh 660m về suối Vàng Tân
- Phía Nam gồm các hệ thuỷ suối Vàng Tân, Giải Oan, Bãi Dâu
- Phía Đông từ đỉnh 908m về suối Bãi Dâu
Ba hệ thống này ôm gọn hai hệ thuỷ suối Vàng Tân và suối Giải Oan Có đỉnh Yên Tử cao nhất (+1.068m)
Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 20 25 Đất trong khu vực Yên Tử có những đặc tính tơi xốp, dễ thoát nước, khả năng dính kết kém, dễ bị xói mòn rửa trôi;Tình trạng địa chất vỏ kiến tạo của Yên Tử là không ổn định
Khu di tích Yên Tử trải theo cao độ 1.068m đến +1,2m Thấp dần từ Bắc xuống Nam
c.Khí hậu, thuỷ văn
Chế độ gió: Có hai hướng gió thịnh hành là Đông Nam thổi vào mùa hè và
Đông Bắc vào mùa đông
Độ ẩm không khí: Trung bình năm 81%, cao nhất 89,3%, thấp nhất 50,8%
Khu di tích Yên Tử chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông Bắc Bắc bộ mang nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa đông Với đặc điểm khí hậu như vậy, Uông Bí có điều kiện tương đối thuận lợi để phát triển sản xuất Tuy nhiên với lượng mưa bão tập trung, địa hình dốc là những nguyên nhân chính gây nên các hiện tượng xói mòn, úng lụt, ảnh hưởng bất lợi đến phát triển kinh tế, xã hội của khu di tích Yên Tử nói chung
Thuỷ văn
Trang 16Trong khu di tích Yên Tử có 3 hệ thuỷ chính đều bắt nguồn từ dãy Yên Tử là: hệ suối Vàng Tân, hệ suối Giải
Oan và hệ suối Bãi Dâu
1.3.3 Hiện trạng dân số, đất đai, hạ
yếu trên địa bàn xã Thượng Yên
Công và xã Phương Đông thuộc thị
xã Uông Bí
Dân số Xã Thượng Yên
Công là 4.382 người Xã Thượng
Yên Công có 996 hộ Dân số toàn
xã Phương Đông là 10.624 người,
dân số nằm trong khu vực nghiên
cứu khoảng 6.375 người Ngoài dân địa phương, trong khu vực di tích còn có một
số đơn vị bộ đội đóng quân và 5 đơn vị khai thác mỏ than
Điều kiện kinh tế
Vì là hai xã miền núi có nhiều dân tộc thiểu số cư trú cùng sinh sống, do đó nền kinh tế phát triển thấp với cơ cấu khá đơn giản chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và một số hoạt động khác
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng ngày càng được quản lý chặt chẽ, nên đời sống của nông dân cũng gặp rất nhiều khó khăn Nhà nước và chính quyền địa phương cũng như Trung tâm quản lý di tích đã cố gắng tìm nhiều biện pháp giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo qua các công việc dịch vụ, thương mại trong khu di
Hình 1.3: Hiện trạng dân cư[22]
Trang 17tích, chính việc tạo điều kiện cho người dân trong khu vực tăng thêm nguồn thu nhập, giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên của khu di tích Yên Tử
Tổng diện tích theo phạm vi nghiên cứu là 2.686,0 ha, trong đó :
- Diện tích có rừng là 2.145ha chiếm 80% diện tích, trong đó rừng tự nhiên (l.736ha) chiếm 80,9% diện tích có rừng và chiếm 64,6% diện tích tự nhiên
- Diện tích đất không có rừng: 331ha chỉ chiếm 12,3% diện tích tự nhiên
- Diện tích đất kinh doanh sản xuất nông nghiệp 131,0ha chiếm 4,9% diện tích
- Diện tích đất khác (đất xây dựng, thổ cư, sông suối, đường ) là 79,0ha chiếm 2,8% diện tích
Nhà ở trong khu vực di tích Yên Tử chủ yếu tập trung thành 2 khu vực chính
là khu vực dọc theo đường từ Dốc Đỏ đến chùa Suối Tắm và khu vực Năm Mẫu
Kiến trúc theo kiểu tự phát không có các yếu tố kiến trúc truyền thống
Trang 18Chất lượng công trình thấp chủ yếu là nhà bán kiên cố , một số khu vực có nhà cao từ 2-3 tầng
Hiện trạng các công trình xã hội
Trong khu vực chủ yếu là các công trình như UBND, chợ, trạm y tế, trường PTCS của xã Thượng Yên Công, Phương Đông quy mô đất khoảng 2-3ha về cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân dân trong khu vực, tuy nhiên chất lượng còn xấu
do xây dựng đã lâu chưa được nâng cấp cải tạo
d Các hoạt động đang khai thác trong khu di tích
Khai thác du lịch, lễ hội
Đi cùng với hoạt động du lịch và lễ hội là những nhu cầu rất lớn của du khách về các điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất, điều kiện lưu trú, các tiện ích phục
vụ du lịch… Khi lượng khách càng đông, đặc biệt là vào các tháng cao điểm thì
Hình 1.4: Một số hình ảnh trong ngày hội tại Yên Tử
(nguồn: thực địa năm 2010)
Trang 19việc tổ chức dịch vụ và quản lý gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề bức xúc cần được giải quyết:
- Mạng lưới dịch vụ còn yếu và thiếu Do địa hình hiểm trở, các khu dịch vụ hiện nay chủ yếu nằm đan xen gần các điểm di tích gây nên tình trạng quá tải, mất
mỹ quan Khu dịch vụ bến xe tổ chức không gian chưa hợp lý, san gạt địa hình lớn, phá vỡ cảnh quan tự nhiên Mặc dù một số điểm dịch vụ tại các nhà ga cáp treo được tổ chức tương đối tốt song chưa có sự phối hợp giữa các không gian dịch vụ
cơ động và khu dịch vụ cố định nhằm khắc phục tính thời vụ của du lịch lễ hội
- Tổ chức quản lý môi trường gặp khó khăn Lượng khách cao điểm vào 3 tháng đầu năm chiếm 90% tổng lượng khách cả năm Số lượng rác thải ra mỗi ngày khoảng 80m3 Như vậy chỉ tính trong 3 tháng khai hội, số lượng rác cần xử lý là 80m3 x 90 ngày = 720m3 Các điểm nhà vệ sinh công cộng xây dựng tạm bợ
Các hoạt động nghiên cứu khoa học
Hàng năm, Yên Tử thu hút nhiều học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu lâm nghiệp, sinh thái, địa chất, văn hoá, lịch sử, mỹ thuật, kiến trúc, khảo cổ… đến tham quan thực tế và nghiên cứu Những giá trị có tại Yên Tử đã biến nơi đây thành một bảo tàng sống lưu giữ những tư liệu quý về văn hoá lịch sử và tự nhiên
Khai thác than
Trong khu vực di tích trước đây có 3 đơn vị khai thác than lộ vỉa Hàng ngày
ở đây lấy ra khoảng 500 tấn than, chưa kể hàng ngàn tấn đất đá các loại bị đào xối,
đã ảnh hưởng rất lớn tới môi trường và cảnh quan nơi đây
Trên đỉnh núi trước chùa Suối Tắm có hai mỏ than đang khai thác Đó là mỏ than Đồng Vông thuộc địa bàn huyện Đông Triều, được khai thác từ đầu năm 2006 Đường vận chuyển than không đi qua di tích, nhưng nằm gần Chùa Suối Tắm Ngoài cảnh quan di tích bị ảnh hưởng, bụi và khói than cũng tác động xấu đến vùng đệm của di tích
e Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật
Hệ thống giao thông
Trang 20Giao thông đối ngoại:
-Đường sắt
Tuyến đường sắt quốc gia: có khổ rộng
1,435m chạy từ Kép - Bãi Cháy qua Thị xã theo
hướng Đông - Tây với chiều dài 14km, song song
với quốc lộ 18A
-Đường bộ
Hệ thống giao thông đối ngoại
- Quốc lộ 18A là trục đường quan trọng với
tổng chiều dài qua thị xã Uông Bí là 16,2km, mặt
đường nhựa rộng từ 9-12m, lề hai bên 18m
- Tuyến quốc lộ 18B dài 15km, rộng 3-5m,
nhìn chung chất lượng xấu không đảm bảo thuận
lợi cho giao lưu đi lại và phát triển du lịch dịch
vụ
- Tuyến quốc lộ 10 từ Bí Chợ - cầu Đá Bạc, dài
6km, mặt đường rộng 12m, rải nhựa chất lượng
tốt đảm bảo giao lưu thuận lợi giữa Uông Bí với
các tỉnh Nam Định, Thái Bình và TP Hải Phòng
Hình1.5: Hệ thống giao thông chính khu vựcYênTử (nguồn: tác giả)
- Đường trong khu di tích
Là đường đi bộ Gồm 2 loại hình chính:
- Tuyến đường Dốc Đỏ - bến xe Giải Oan mới được đầu tư nâng cấp cải tạo hoàn thành năm 2008 bằng nguồn vốn phát triển du lịch Tổng chiều dài 16km Mặt cắt : 7 9m Chất lượng tốt
- Đường nội vi di tích: phương tiện đi bộ và cáp treo
- Đường nội vi di tích gồm các phân đoạn:
+ Bến xe - Chùa Giải Oan: dài 330m Chất lượng xấu, cần nâng cấp cải tạo + Chùa Giải Oan - Tháp Tổ: dài 1250m Đường đất kết hợp bậc lát đá tự nhiên rộng 2,5m 3m Chất lượng tốt (đầu tư mới năm 2007 - 2008)
Trang 21+ Tháp Tổ - chùa Một Mái: dài 600m Chất lượng tốt (đầu tư mới năm 2007
- 2008)
+ Chùa Một Mái – chùa Bảo Sái: dài 800m Chất lượng xấu Đây là đoạn tuyến bám theo địa hình tự nhiên, độ dốc lớn (40 50o), địa hình hiểm trở, cần có thiết kế cải tạo nâng cấp đặc biệt
+ Chùa Bảo Sái – tượng An Kỳ Sinh: dài 600m, là tuyến đường đá tự nhiên xen lẫn cải tạo nâng cấp Chất lượng trung bình
+ Tượng An Kỳ sinh – chùa Đồng: dài 800m bám theo triền núi tự nhiên Đoạn đường này đã được nâng cấp cải tạo nhưng do lượng người tập trung lớn nên địa hình tự nhiên bị phá vỡ nhiều
+ Chùa Hoa Yên - chùa Vân Tiêu - tượng An Kỳ Sinh: dài 1.200m Độ dốc lớn (40 50 ) Đang được đầu tư nâng cấp
+ Tuyến đường Đông Tây vào các điểm am Hoa, am Dược chưa được đầu
tư khôi phục cải tạo
- Hệ thống tuyến cáp treo
+ Tuyến 1 (chùa Giải Oan – chùa Hoa Yên): 1,2km
Công suất: 2.500 người/h (mới cải tạo, nâng cấp năm 2009)
+ Tuyến 2 (chùa Hoa Yên - tượng An Kỳ Sinh): 1km
Công suất: 1.800 người/h (đã đưa vào khai thác từ năm 2008)
-Bãi đỗ xe
+ Quy mô bến xe Giải Oan: 6ha Ngày cao điểm: 2.000 3.000 xe ô tô các loại ; 6000 8000 xe máy Sức chứa quá tải, gây ách tắc trong dịp lễ hội
+ Điểm đỗ xe Chùa Trình: đang được cải tạo với quy mô 3.000m2
+ Điểm đỗ xe tại Thiền Viện: đã được xây dựng với quy mô 5.000m2
+ Các điểm đỗ xe chùa Suối Tắm, Cầm Thực mới có mặt bằng, quy mô nhỏ
Nhận xét
- Mở rộng, quy hoạch các bến bãi, bảo vệ cảnh quan hai bên đường
Trang 22- Tăng cường thêm hệ thống biển báo, thiết bị an toàn giao thông
- Hệ thống giao thông cáp treo cần tăng công suất và bảo dưỡng thường xuyên để đảm bảo an toàn
- Hệ thống đường hành hương cần mở rộng, nâng cấp Tăng cường thiết bị
hỗ trợ an toàn cho du khách
- Hệ thống cầu, cống có kiến trúc chưa phù hợp với cảnh quan khu vực, cần được nghiên cứu thiết kế chi tiết
Các hạ tầng kỹ thuật khác
*Thoát nước mưa
- Toàn bộ khu vực nghiên cứu có 3 hệ thống suối chính dốc từ Bắc xuống Nam Do lưu vực phân tán nên không có hiện tượng lũ quét, úng ngập cục bộ Một
số khu vực cống qua đường nhỏ, gây ảnh hưởng thoát lũ
- Hệ thống thoát nước mặt trên tuyến đường từ Dốc Đỏ đến bến xe Giải Oan
đã được đầu tư mới theo dự án đường
- Hệ thống thoát nước mặt tại các điểm di tích và trên tuyến hành hương chưa được đầu tư
- Hệ thống kè ta luy ven đường chưa được xây dựng nên thường gây sạt lở
*Hệ thống cấp nước
- Khu vực ngoại vi: Tại Dốc Đỏ sử dụng nước cấp qua hệ thống của thị xã Uông Bí Các khu vực khác sử dụng nước ngầm khoan cục bộ và nước mặt tại các suối, hồ
- Khu vực nội vi: Các điểm di tích, khu kinh doanh và quản lý sử dụng chủ yếu nguồn nước mưa và nước suối Vào mùa khô, nguồn nước kém phải chuyên chở nước từ thị xã vào cung cấp cho khu nội vi
Nhận xét:
+ Chưa có hệ thống cung cấp nước đồng bộ
+ Nguồn nước chất lượng chưa tốt, chưa được kiểm soát
Trang 23+ Cần xây dựng các hệ thống hồ phục vụ cấp nước cho phòng hoả và tưới tiêu
Nhận xét
- Lưới điện và nguồn cấp điện quá cũ, không đảm bảo công suất
- Hệ thống chiếu sáng chưa được đầu tư đồng bộ, thiếu tính thẩm mỹ, ảnh hưởng đến an toàn cho du khách
*Hệ thống thoát nước bẩn vệ sinh môi trường
- Hệ thống thoát nước bẩn:
+ Trong khu vực dân cư chưa được đầu tư, chủ yếu tự chảy theo tự nhiên, thoát ra sông suối, ruộng gây ô nhiễm nghiêm trọng
+Trong khu vực nội vi, một số khu vực đã có nhà vệ sinh công cộng, sử dụng
bể phốt qua đường ống tự ngấm vào lòng đất song hệ thống này chưa phổ biến, thu gom còn chưa triệt để nên vẫn còn ô nhiễm
- Hệ thống thu gom và xử lý rác:
+ Tại các điểm di tích và trên tuyến đường hành hương đã có hệ thống thùng rác công cộng, được thu gom hàng ngày vận chuyển đến bãi tập kết để chuyển về khu xử lý rác của thị xã
+Tại các điểm dân cư nông thôn vẫn còn các điểm đổ rác tự phát gây ô nhiễm môi trường
Nhận xét
- Do khu vực di tích nằm trên vùng rộng lớn, khối lượng rác thải lớn lại tập trung vào các ngày cao điểm, việc ý thức người dân chưa cao, thiếu bãi rác trung chuyển nên việc thu gom rác gặp nhiều khó khăn
Trang 24- Hệ thống nhà vệ sinh công cộng cần được bổ sung trên tuyến, tại các khu vực tập trung đông người và cần có biện pháp xử lý môi trường
1.3.4 Thực trạng về tổ chức không gian và kiến trúc cảnh quan khu di tích danh thắng Yên Tử
a Thực trạng kiến trúc cảnh quan
* Thực trạng các điểm di tích
Khu di tích Yên Tử nằm trong cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc, đỉnh núi Yên Tử có chùa Đồng ở độ cao 1.068 m so với mặt nước biển Từ xưa, núi rừng Yên Tử đã nổi tiếng là nơi ngoạn mục và được liệt vào Danh sơn đất Việt Hiện nay được biết đến với một quần thể gồm 11 chùa và hàng trăm am, tháp, tượng, mộ bia, trải dài trên 18km từ Dốc Đỏ đến đỉnh Chùa Đồng.[22]
Di tích Yên Tử được chia thành hai vùng: vùng ngoại vi và vùng nội vi di tích
Trang 25Hình 1.6: Khu vực vùng ngoại vi
và vùng nội vi(nguồn: tác giả)
Trang 26Thượng, chùa Cầm Thực, chùa Lân –
Thiền Viện Trúc Lâm
Phương tiện: xe cơ giới
Nhận xét: Hiện các chùa đã được
chỉnh trang lại với cảnh quan tương
đối hoàn chỉnh
Hình 1.8: Chùa Bí Thượng ( nguồn: thực địa năm 2010)
Hình 1.9: Chùa Cầm Thực ( nguồn: thực địa năm 2010)
Hình 1.10: Thiền viện Trúc Lâm
Hình 1.11: Chùa Lân( nguồn: thực địa)
Trang 27Một số điểm di tích xuống cấp nghiêm
trọng: Chùa Bảo Sái, Tượng An Kỳ
Sinh, Khu mắt rồng, Chùa Một mái,
đường Tùng
Cảnh quan điểm di tích mất đi không khí
linh thiêng do xen cấy công trình quăn
lý, điểm dịch vụ xung quanh khuôn viên
di tích
Các điểm phế tích nằm trên tuyến Đông
Tây của di tích cần có những khảo cứu
sâu để có phương án bảo tồn và gắn kết
vào hành trình tham quan Yên Tử
Hình 1.13: Chùa Bảo Sái[25]
Hình 1.14: Chùa Vân Tiêu[25]
Hình 1.15: Tượng An Kỳ Sinh[25]
Hình 1.16: Tháp Trà Tỳ
và Am Dược[25]
Trang 28Đánh giá chung
Theo Dự án đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hoá-danh thắng Yên Tử được phê duyệt năm 1997 Do nguồn kinh phí còn hạn chế, việc trùng tu tôn tạo các điểm di tích chủ yếu lấy từ nguồn do Bộ văn hoá thể thao
và du lịch cấp như chùa Trình, chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực, chùa Giải Oan, chùa Vân Tiêu, chùa Hoa Yên
Sau hơn 10 năm thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo khu di tích - danh thắng Yên Tử đã thu được những kết quả quan trọng
Trong những năm gần đây việc tôn tạo, trùng tu các điểm di tích đã được sự quan tâm đặc biệt của tỉnh Quảng Ninh cũng như sự đóng góp công đức của đông đảo các tăng ni Phật tử trong và ngoài nước như chùa Đồng được xây dựng mới, dự
án chùa Bảo Sái, khu vực Tượng Trần Nhân Tông và khu vực An Kỳ Sinh từng bước được đầu tư nâng cấp cải tạo, đóng góp nhiều cho sự phát triển tôn tạo tổng thể khu vực Yên Tử
Về cơ bản việc trùng tu, tôn tạo di tích đã đáp ứng tốt việc chống xuống cấp,
sự xâm hại do môi trường và con người gây ra Tuy nhiên do nguồn vốn chỉ tập trung cho các điểm di tích chính còn các điểm phê tích, các am thất, và cảnh quan xung quanh chưa được quan tâm nên đã làm ảnh hưởng tới giá trị của di tích
* Thực trạng cảnh quan
Toàn bộ khu nội vi có cảnh quan u tịch, linh thiêng Kiến trúc có xu hướng hòa đồng với cảnh quan tự nhiên Nhìn từ đỉnh núi mở ra những vùng cảnh quan hùng vĩ với đầy đủ các dạng địa hình: núi đồi, thung lũng, vùng đồng bằng, cửa biển
Hình 1.17 Hình ảnh cảnh quan khu di tích[25]
Trang 29*Thực trạng chung về cảnh quan môi trường khu di tích
Là hệ sinh thái lớn nhất chiếm 80,9% diện tích, đã tạo nên cảnh quan, môi trường khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử Tuy nhiên việc khai thác nông lâm sản, đặc biệt là khai thác than đã và đang làm phá vỡ hệ sinh thái cũng như cảnh quan không gian các điểm di tích
- Hình 1.18: Hình ảnh cảnh quan môi trường tại khu di tích (nguồn: thực địa, 2010)
Cảnh quan trên tuyến đường vào di tích, các tuyến hành hương cũng như xung quanh các điểm di tích đang bị xâm hại do việc phát triển đô thị, xây dựng các công trình dịch vụ, việc đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng chưa phù hợp về vật liệu, vị trí đã và đang gây mất mỹ quan tổng thể khu di tích
- Về môi trường khu di tích, do lượng khách gia tăng ngày nên khối lượng rác, nước thải cũng ra tăng đáng kể
b Thực trạng công tác quản lý
Trong những năm qua, Ban Quản lý di tích danh thắng Yên Tử, UBND thị
xã Uông Bí, tỉnh hội Phật giáo Quảng Ninh và Ban quan lý các di tích trọng điểm Tỉnh đã thực hiện tương đối tốt công tác quản lý, tổ chức lễ hội, phát huy tốt công tác tu bổ di tích, giữ dìn cảnh quan thiên nhiên đồng thời phát huy công tác tuyên chuyền quảng bá du lịch
Mặc dù Yên Tử đã có bảo tàng trưng bày các hiện vật được khảo cổ tìm thấy, minh chứng cho những thời kỳ phát triển của Yên Tử song các hiện vật còn nghèo nàn, sơ lược, môi trường bảo quản chưa tốt
Trang 30Đội ngũ công tác quản lý còn thiếu và yếu, các công trình quản lý chưa được quan tâm, thiếu đồng bộ về quy mô, chất lượng cũng như kiến thức chưa phù hợp nên đã làm giảm khả năng phối hợp cũng như làm ảnh hưởng tới công tác quản lý tổng thể chung
Năm 1996, được Chính phủ uỷ quyền, Uỷ ban nhân dân Tỉnh đã có quyết định số 1657/QĐ-UB ngày 24/5/1997 phê duyệt “Dự án đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử - văn hoá - danh thắng Yên Tử Kết quả thực hiện
đã đầu tư xây dựng được một số những công trình cơ bản nhưng chưa phát huy được yếu tố truyền thống, chưa bảo tồn được yếu tố nguyên trạng và yếu tố có giá trị di sản mà còn nhiều vấn đề xã hội hóa bị lạm dụng
1.3.2 Đánh giá chung về kết quả thực hiện dự án giai đoạn 1997 - 2009
a Kết quả
Sau hơn 10 năm thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo khu di tích - danh thắng Yên Tử đã thu được những kết quả quan trọng nhờ nguồn kinh phí đầu tư tôn tạo trong đó ngân sách Nhà nước hơn 100 tỷ đồng (cả ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương); nguồn vốn các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ và nguồn kinh phí từ công đức của các tổ chức, cá nhân khoảng gần 300 tỷ đồng
Trang 31- Quá trình thực hiện các dự án đã đảm bảo đúng quy hoạch, đáp ứng được
cơ bản yêu cầu chống xuống cấp, bảo tồn được một số di tích quan trọng Việc đầu
tư tôn tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị lịch sử văn hoá khu di tích - danh thắng Yên Tử là đúng hướng
- Các nội dung hạng mục công trình đầu tư, tôn tạo đều thực hiện theo thiết
kế được phê duyệt với những yêu cầu cơ bản về mỹ thuật, kỹ thuật, đảm bảo tính lịch sử văn hoá và các quy định của Luật di sản
- Nhìn tổng thể khu di tích đã được bảo vệ, các công trình kiến trúc chùa, am, tháp quan trọng nhất đã được điều tra, bảo tồn, chống xuống cấp, các hạng mục chủ yếu của hệ thống hạ tầng kỹ thuật và một số cơ sở dịch vụ đã được xây dựng nâng cấp đảm bảo an toàn, thuận lợi cho du khách về thăm Yên Tử; 2.686,5ha rừng đặc dụng Yên Tử đã được bảo vệ, phát huy, giữ gìn và tạo cảnh quan môi trường tương đối tốt Vì vậy, lượng du khách về Yên Tử ngày càng đông hơn Đến nay, trung bình mỗi năm có từ 1,2-1,4 triệu lượt khách về Yên Tử
- Kết quả đầu tư, tôn tạo và phát huy của di tích trong hơn 10 năm qua cơ bản đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng sinh hoạt tín ngưỡng, thăm quan du lịch của nhân dân và du khách thập phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh và trực tiếp tạo việc làm cho hàng ngàn lao động; kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân xã Thượng Yên Công và một số xã, phường của thị xã Uông Bí đang ngày một phát triển
b Những hạn chế, tồn tại chủ yếu
- Việc xây dựng Yên Tử có giá trị mang tính chất đặc trưng độc lập nhưng để phát huy giá trị Yên Tử nhất là phục vụ yếu tố du lịch thì cần phải xem xét mối quan hệ của các di tích trong vùng.,
- Quy hoạch bảo tồn Vùng I và vùng II tuy đã được xác lập tuy nhiên chỉ tập chung vào các điểm di tích nội vi chưa, bám sát địa hình cảnh quan cần bảo vệ
- Quy hoạch tổng thể chỉ mang tính khái quát chưa đi sát vào việc phân khu chức năng, phân vùng bảo vệ di tích- danh thắng
Trang 32- Thiếu sự định hướng chung về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, hệ thống hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật mà chủ yếu đi sâu vào từng điểm chi tiết
- Thiếu đề xuất các quy hoạch chi tiết, quy chế quản lý, đầu tư xây dựng để làm đề bài cho các dự án đầu tư, phục vụ công tác quản lý trong khu vực
- Phạm vi nghiên cứu chưa đầy đủ và đồng bộ, mới tập trung ở khu trung tâm, chưa bao quát, đề cập đầy đủ đến các vùng liên quan, chưa làm rõ yêu cầu bảo tồn các di tích với phát triển các công trình dịch vụ đáp ứng yêu cầu tham quan du lịch cũng như điều tra nghiên cứu để lập dự án bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá lịch sử phi vật thể của di tích
- Chậm lập dự án đầu tư bảo vệ sự đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường rừng đặc dụng và nhiều dự án hạ tầng thiết yếu khác
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều hạn chế, chất lượng nhiều dự
án thành phần thấp, chưa đồng bộ, chuẩn bị đầu tư chậm, sự phối hợp giữa Tỉnh với các bộ, ngành của Trung ương chưa thường xuyên, mức ngân sách đầu tư từ chương trình mục tiêu quốc gia còn ít, kết quả thực hiện theo tiến độ chậm, nhiều di tích quan trọng, nhiều nội dung của dự án tổng thể chưa được thực hiện
- Nghiên cứu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể chưa tốt, chưa nghiên cứu khôi phục các giá trị văn hoá tâm linh về thiền phái Trúc Lâm
- Công tác điều tra, khảo sát lập hồ sơ các di tích còn chậm, chưa có hệ thống
và chưa bài bản; công tác quản lý Nhà nước còn chưa tương xứng, còn nhiều hạn chế cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trang thiết bị và điều kiện kỹ thuật Việc thực hiện chủ trương xã hội hoá trong công tác đầu tư tu bổ, tôn tạo khu di tích - danh thắng còn thấp
1.3.3 Đánh giá tổng hợp
Vùng đất Yên Tử đã được thiên nhiên ưu đãi với khi hậu thuận hoà, địa hình
đa dạng phong phú nên đã tạo nên nhiều cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ với hệ đa dạng sinh học phong phú do vậy rất phù hợp cho nhu cầu phát triển du lịch cảnh quan gắn với các điểm di tích lịch sử
Trang 33Với địa hình dốc từ Bắc xuống Nam có hai dãy núi chạy dài nối từ Đông Triều qua Yên Tử, giữa là vùng thung lũng Năm Mẫu mầu mỡ, có sự liên tục về địa chất địa mạo, về thảm động thực vật đã tạo điều kiện cho Yên Tử phát triển về hai phía, tạo điều kiện cho phát triển các loại hình dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cũng như phát triển đô thị mang nét sinh thái
Tuy nhiên tu bổ di tích mới chỉ tập trung cho các công trình chính Thời gian đầu tư cho các công trình kéo dài, một số cơ sở hạ tầng chậm được triển khai: Đường giao thông, bãi đỗ xe, khu dịch vụ vệ sinh còn thiếu và sơ sài đã ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ, đón tiếp khách hành hương và tham quan khu di tích
- Quy hoạch chi tiết các cụm di tích chưa có, gây khó khăn cho công tác quản
lý, đầu tư cơ sở hạ tầng Công tác tuyên truyền quy hoạch, giáo dục nhân dân tham gia, thực hiện còn hạn chế Tình trạng các khu dịch vụ, nhà dân xây không theo quy hoạch, cảnh quan tự nhiên khu di tích bị ảnh hưởng Các hoạt động kinh doanh của
tư nhân trên một số lĩnh vực còn lộn xộn và tự phát (Văn hoá phẩm mê tín dị đoan, níu kéo khách hành hương )
- Hiện khu vực Yên Tử có nhiều đơn vị tham gia quản lý chồng chéo, dẫn đến công tác quản lý xây dựng còn bất cập
- Do nguồn vốn hạn hẹp, việc đầu tư nâng cấp cải tạo chủ yếu lấy từ nguồn
xã hội hoá, tiền thu công đức và vốn phát triển của các doanh nghiệp Tuy nhiên một số dự án nằm ngoài dự báo quy hoạch trước đây nhưng đã đóng góp một phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát triển cho khu di tích
Trang 34Chương 2: Cơ sở khoa học của việc quy hoạch xây dựng để bảo tồn và phát huy giá
trị khu di tích danh thắng Yên Tử
2.1 Các cơ sở khoa học và pháp lý
2.1.1 Các Hiến chương, Văn bản quốc tế
+ Hiến chương Aten 1931- Hiến chương trùng tu di tích
+ Hiến chương quốc tế bảo tồn và tôn tạo các công trình và cảnh quan 1964 + Hiến chương Venice 1964 – Hiến chương Quốc tế về bảo tồn
và trùng tu di tích và di chỉ
+ Hiến chương Úc 1974 – Bảo tồn đặc điểm di sản
+Văn kiện Narra về tính nguyên gốc 1994
2.1.2 Các cơ sở pháp lý của Việt Nam
- Luật Di sản văn hoá số 28/2001/QH1 ban hành ngày 01/01/2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều chỉnh của Luật Di sản văn hoá số 32/2009/QH12 ngày 10/6/2009
- Nghị định 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản
- Luật Xây dựng số 16/2003/QH 11 ngày 26/11/2003;
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/1/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng;
- Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH và các văn bản hướng dẫn;
- Luật Khoáng sản năm 1996; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 2005; Nghị định 160/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản
- Luật Đất đai năm 2003;
- Luật Tài nguyên nước năm 1998;
- Luật Bảo vệ phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản hướng dẫn thi hành ;
Trang 35- Quyết định số 1657/QĐ-UB, ngày 24/5/1997 của uỷ ban nhân dân Tỉnh phê duyệt
“Dự án đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hoá - danh thắng Yên Tử”;
- Công văn số 705/VPCP-VX, ngày 13/02/2006 của Văn phòng Chính phủ
về lập dự án Mở rộng phát triển khu Di tích Yên Tử;
- Kết luận số 47-KL/TW ngày 06/5/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII và những chủ trương, giải pháp phát triển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
- Quyết định 5004/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Quảng Ninh vể việc phê duyệt nhiệm vụ thiết kế đề án mở rộng phát triển khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử;
- Công văn số 482A/DSVH-DT ngày 15/5/2007 của Cục Di sản văn hoá - Bộ Văn hoá - Thông tin về việc: góp ý nhiệm vụ thiết kế chương trình triển khai dự án
mở rộng và phát triển khu di tích lịch sử văn hoá Yên Tử
- Các quy hoạch ngành, địa phương đã được phê duyệt
- Các dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn 1997- 2009;
- Tài liệu, số liệu do các cơ quan, ban ngành của Trung ương, Tỉnh, thị xã Uông Bí phối hợp thực hiện
- Nghị quyết như số 08/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về đổi mới, phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001-2010;
- Nghị quyết số 21/NQ-TU về đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ giai đoạn 2006-2015;
- Quyết định số 1657/QĐ-UB ngày 24/5/1997 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh phê duyệt “Dự án đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy khu di tích lịch
sử - văn hóa Yên Tử”
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2006-2015
Trang 362.2 Các yếu tố tác động đến quy hoạch xây dựng bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử danh thắng Yên Tử
2.2.1 Tác động đến tổ chức kiến trúc cảnh quan
a.Điều kiện tự nhiên
Quần thể khu di tích Yên Tử này được trải dài khoảng 25km, tính từ điểm xuất phát chùa Bí Thượng (hoặc Dốc Đỏ) đến điểm nút chùa Đồng ở đỉnh cao 1068m so với mặt biển, chủ yếu thuộc địa phận xã Thượng Yên Công (60% dân số
là người Dao) đã được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định khoanh vùng bảo vệ (quyết định số 55-VHTT/QĐ) gồm một khu “bất khả xâm phạm” và một khu “bảo
vệ cảnh quan tiếp giáp với di tích và danh thắng”
Khu di tích lịch sử Yên Tử được bao bọc 3 mặt bởi hệ thống núi và giông núi Yên Tử Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều giông núi nhỏ và khe suối, độ dốc trung bình 20-25, nhiều nơi có độ dốc rất hiểm trở Khí hậu Yên
Tử thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng và phát triển
Địa danh Yên Tử thuộc phía Nam cánh cung Đông Triều, đỉnh Yên Tử cao 1068m và Am Váp là hai đỉnh núi cao nhất cấu tạo bằng đá phun trào Riolit, phía Nam dãy Yên Tử chạy từ Đông Triều đến Cẩm Phả, Mông Dương là những thung lũng rộng thoáng có từ hai đến ba bậc thềm, các con suối đổ ra sông lớn về phía Đông ra biển qua những thềm ghềnh đá rắn Tại khu vực này, dưới mặt những lớp đồi cuội kết, sỏi kết, cát kết là bể than gầy – than antraxit giầu có nhất của Tổ quốc, các vỉa than có thể dầy đến hàng chục mét nằm lộ thiên hoặc gần như lộ thiên thành những dải liên tục dài đến 180km, rộng 20-30km, chất lượng than vào loại tốt nhất thế giới Vỏ địa chất kiến tạo của Yên Tử không ổn định, dễ bị biến dạng, sụt lở do chấn động, đồng thời hiện tượng phong hóa và xói mòn do tác động khí hậu tạo ra hiện tượng trôi trượt lớp đá tảng nứt gẫy và cuội sỏi kết Điều này là hiểm hoạ thường xuyên đối với các di tích và người tham quan
Khu vực núi Yên Tử (trung tâm di tích) được tính từ suối Giải Oan (độ cao 125m) lên đỉnh chùa Đồng (cao độ 1068m) Đây là vùng địa hình có cùng cấu trúc hình thể bị tác động bởi địa chấn Phía dưới chân núi là lớp đồi xếp thoải dần, theo
Trang 37triền 3 giông núi dâng dần lên đỉnh là vết đứt gẫy đột ngột ở phía Tây và phía Bắc tạo nên đỉnh Yên Tử Các giông núi Yên Tử đã tạo nên một hệ suối Vàng Tân và hệ suối Giải Oan Dọc theo giông chính của Yên Tử là con đường hành hương lên tới đỉnh cao nhất
Khu vực các di tích phía ngoài (chùa Bí Thượng, chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực, chùa Lân) có địa hình tương đối thoải đặc trưng của hệ thống đồi thấp
Khu di tích Yên Tử có hai hệ thuỷ chính đều bắt nguồn từ dãy Yên Tử là: hệ suối Vàng Tân và hệ suối Giải Oan nằm trong khu di tích nội vi Trước đây các suối này đều có nước quanh năm phục vụ rất tốt cho sản xuất nông nghiệp (cánh đồng Năm Mẫu) và sinh hoạt của nhân dân trong vùng Song những năm gần đây, do khai thác than và tàn phá rừng quá mạnh, đất, đá thải đã không được giải quyết hợp lý, trôi xuống lấp dần các suối, làm nước quanh năm đục ngầu và lấp cả lúa, hoa mầu
b.Điều kiện kinh tế xã hội
Quanh khu vực di tích Yên Tử có 7 thôn bản tiếp giáp có tác động đến rừng, nằm trong địa bàn quản lý của khu di tích Do nhu cầu đời sống, người dân vẫn lén lút vào rừng khai thác lâm sản như gỗ, củi đốt, cây thuốc, động vật Các đơn vị khai thác than thải bỏ đất đá làm vẩn đục và tràn lấp các khe suối trong khu vực Do chưa có tập quán trồng rừng lấy củi, trồng cây thuốc trong nhà và chăn thả gia súc
có người giám sát nên những hoạt động phát triển kinh tế trên đã gây khó khăn và cản trở quá trình phục hồi hệ sinh thái rừng ở đây
c Điều kiện hạ tầng kiến trúc
Khu di tích bắt đầu từ chùa Bí Thượng nằm trên ngã ba giao nhau giữa quốc
lộ 18A dẫn về thành phố Uông Bí và đường rẽ qua Dốc Đỏ, kết thúc ở chùa Đồng
Đoạn từ chùa Giải Oan đến chùa Đồng phải leo núi Chặng này có lộ trình phức tạp bởi trục đường mòn chính được chia tách thành các nhánh nhỏ dẫn đến các
di tích nằm rải rác trên các sườn núi với rừng cây cổ thụ và rừng trúc quanh năm xanh tốt Con đường có thể mô tả như sau:
Từ chùa Giải Oan đi ngược lên am Lò Rèn theo đường Tùng được xác định
là trồng từ thời Trần hoặc đường Trúc tới khu tháp Hòn Ngọc, qua dốc Voi Quỳ lên
Trang 38tháp Tổ Huệ Quang Sau tháp Tổ là đường gạch hoa cúc thời Trần với hai bên là hai
hồ Mắt Rồng Tiếp đó là dốc Dây Diều cheo leo hiểm trở khoảng vài chục mét đến chùa chính Hoa Yên Từ chùa Hoa Yên rẽ phải đến chùa Một Mái, qua đường Tùng thứ hai đến am Ngoạ Vân, am Dược, thác Bạc, am Hoa, trung tâm đường Tùng cổ
Từ chùa Hoa Yên rẽ trái qua thác Ngự Dội, am Thiền Định, rừng mai vàng, thác Vàng, rồi đến cây thông Tổ Từ chùa Hoa Yên leo thẳng lên cao, ngay phía sau chùa là tháp Độ Nhân rồi đến chùa Phổ Đà và tháp Men, tháp Trà Tỳ, sau đó đến chùa Bảo Sái, rẽ trái đi ngang sườn núi đến vườn tháp Vọng Tiên Cung rồi đến chùa Vân Tiêu Từ chùa Vân Tiêu đi sang ngang đến lò Gạch, còn đi ngược lên trên là đoạn đường rất dốc, lên đến khu vực tượng đá An Kỳ Sinh và am thờ vị đạo sỹ này Chặng cuối qua khu vực hòn đá hình con rùa, bia Phật, cổng trời gần như quanh năm mây phủ, trên những tấm đá xanh lớn dẫn đến chùa Đồng, điểm cuối cùng của khu Di tích
d Điều kiện hạ tầng kỹ thuật
Trên khu vực Yên Tử có các mỏ than lộ thiên và bán lộ thiên với trữ lượng lớn, chất lượng than tốt; cánh đồng Năm Mẫu với sản lượng lúa lớn Các di tích trải qua thời gian đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng những năm gần đây đã được chú ý trùng tu cải tạo; các cơ sở dịch vụ du lịch hiện mới có công ty Tùng Lâm đảm nhiệm là chủ yếu
Hệ thống đường chia làm hai chặng: đường giao thông cơ giới vào đến chùa Giải Oan và đường hành hương xếp đá tạo bậc chủ yếu đưa du khách thẳng lên chùa Đồng, các tuyến ngang hầu như chưa có đường
Nguồn nước sạch sử dụng nước suối đạt tiêu chuẩn về chất lượng nước sạch Thoát nước mưa chủ yếu dựa vào độ dốc địa hình của khu vực Nước bẩn chủ yếu thoát bằng cách tự ngấm vào lòng đất Điện lấy từ trạm 35kV Uông Bí Rác thải được chứa trong các thùng rác đặt hai bên đường hành hương và được công ty Tùng
Lâm thu gom, đưa về bãi rác thải của thành phố Uông Bí
Trang 39e Yếu tố phi vật thể
Vùng địa linh Yên Tử đã chứa đựng trong lòng những tâm hồn cao đẹp, những con người thông tuệ, những chí khí bất tử Tích đọng qua nhiều năm, thông suốt từ đời Lý đến đời Trần, triết học Phật giáo của người Việt Nam đã tìm thấy chỗ đứng cho mình, đấy là chữ “Tâm” Đó cũng là thế giới quan, là thức cảm, là phép ứng xử và cách lý giải thế giới Vẻ đẹp hoang sơ và huyền bí của cõi Thiền xưa vẫn còn đó, ẩn chứa những thông tin quá khứ về con người, thời đại
Trải qua 700 năm, qua sự biến động của lịch sử, sự tác động của thiên nhiên,các công trình chùa, am, tháp của Yên Tử hầu hết đã trở thành phế tích Song những giá trị lịch sử, văn hóa, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm vẫn trường tồn cùng non sông, đất nước, con người Việt Nam Mỗi độ xuân về, du khách, tăng ni, phật tử, tín đồ đạo hữu trong và ngoài nước lại hành hương về Yên Tử lễ Phật, chiêm bái cảnh chùa và cảm thụ vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Yên Tử
f Không gian kiến trúc cảnh quan
Các triều đại phong kiến nước ta đều liệt Yên Tử vào loại “danh sơn” Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời cùng với hệ thống chùa tháp uy nghi, Yên Tử đã thực sự trở thành “non thiêng”, một đại danh thắng của đất nước
Phân tích thấu đáo hiện trạng cấu trúc của di tích qua các logic thời gian, không gian, tư tưởng lịch sử mới làm rõ các giá trị của di tích Thời gian và tư tưởng lịch sử tồn tại trong không gian lịch sử mang những dấu ấn vật chất quá khứ
và hơi thở văn hóa truyền thống, đó là cảnh quan lịch sử
2.2.3 Tài nguyên
a Tài nguyên rừng và động thực vật
Thị xã Uông Bí có diện tích rừng khá lớn, diện tích rừng là 11.888,68 ha, chiếm 46,45% diện tích tự nhiên.Về trữ lượng: Rừng Uông Bí vẫn còn nghèo (rừng nghèo hiện có 2.756ha với trữ lượng 124.020m3), rừng đạt tiêu chuẩn khai thác không đáng kể (666,46ha) trong đó có 528ha rừng giầu với trữ lượng 52.200m3 Ở đây chủ yếu là các loại rừng gỗ, tre, nứa hỗn giao và có nhiều loại quý hiếm như lát hoa, lim xanh, sến, táu, thông nhựa (riêng Yên Tử có 8 loại có giá trị quý) Ngoài
Trang 40ra rừng Uông Bí (đặc biệt là rừng Yên Tử) còn cung cấp nhiều loại đặc sản khác có giá trị như song, mây, hèo là nguyên liệu làm đồ mỹ nghệ và những cây cho dầu, cây làm thuốc, cây cho sợi [15]
Thảm thực vật của Uông bí còn nghèo và còn nhỏ lẻ, chưa có đồng cỏ cho phát triển chăn nuôi trâu, bò và dê
Động vật rừng ở Uông Bí phong phú, đa dạng tập trung chủ yếu ở khu vực rừng Yên Tử Tổng số loài động vật trên cạn có xương sống là 206 loài, trong đó thú có 40 loài, chim 120 loài, bò sát 25 loài, lưỡng thê 21 loài, nhưng số lượng mỗi loài động vật không nhiều Hiện có 20 loài quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ (thú 9 loài, chim 4 loài, bò sát 7 loài)
b Tài nguyên du lịch nhân văn
Người Uông Bí vốn là dân cư của bộ lạc Ninh Hải đã cùng các bộ lạc khác khai sơn phá thạch dựng nên nước Văn Lang của các vua Hùng Dưới triều đại nhà Trần, Uông Bí với Yên Tử là cái nôi của Phật giáo Việt Nam dòng Thiền phái Trúc Lâm
Ngày nay trong khu vực di tích và khu vực Thị xã Uông Bí có rất nhiều dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh, Tày, Hoa, Sán Dìu, Nùng, Sán Chay, Dao Thanh Y với các ngành nghề khác nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 90% Nhân dân Uông Bí có truyền thống cùng nhau đoàn kết đấu tranh bảo vệ quê hương phát triển knh tế và gìn giữ các truyền thống văn hoá
2.2.4 Tác động đến quản lý
Nâng cao chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định cho ngành du lịch Để làm được điều này cần cải cách bộ máy phục vụ gọn nhẹ, tinh thông nghiệp vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh; nâng cao tính chuyên nghiệp trong quảng bá, xúc tiến du lịch, đẩy mạnh công tác ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý, kinh doanh du lịch; nâng cao năng lực trình độ quản lý cũng như nghiệp vụ du lịch cho đội ngũ cán
bộ, nhân viên Quy chế quản lý tôn trọng những định hướng, những nội dung được xác định trong Dự án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích danh thắng Yên Tử; tăng cường bảo tồn các giá trị của di tích; tăng hiệu quả thu hút khách tham