1.1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LÝ THUYẾT NGUỒN NHÂN LỰC: Phân tích vốn con người bắt đầu với giả thiết cho rằng những cá thể quyết định giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế và những phần bổ sung v
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠ THỊ KIỀU DUYÊN BÙI THỊ NGỌC ÁNH
ƯỚC LƯỢNG HIỆU SUẤT SINH LỜI CỦA GIÁO DỤC ĐEM LẠI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NGOÀI
QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: TOÁN ỨNG DỤNG TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS LÊ THÁI SƠN
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2017
Trang 2Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy cô ở Khoa
Toán – Ứng Dụng - Trường Đại học Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh đã cùng với
tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như tạo điều kiện cho bản thân em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy LÊ THÁI SƠN,
người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp Sau cùng em muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, nơi đã luôn là chỗ dựa tinh thần và bạn bè là nguồn động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này
Chân thành cảm ơn tất cả!
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA……… i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SUẤT SINH LỜI CỦA GIÁO DỤC GIỚI THIỆU 8
1.1 LÝ THUYẾT NGUỒN NHÂN LỰC ( HUMAN CAPITAL) 8
1.1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 8
1.1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LÝ THUYẾT NGUỒN NHÂN LỰC 9
1.1.2.1 Nghiên cứu về khả năng sinh lời và thu nhập 10
1.1.2.2 Những nghiên cứu về những hiệu ứng khác 10
1.1.2.3 Nghiên cứu về tăng trưởng nội sinh 11
1.1.3 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC (VỐN CON NGƯỜI) 12
1.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC 15
1.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 23
1.4 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC 26
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH HÀM TIỀN LƯƠNG MINCER - ƯỚC LƯỢNG HIỆU SUẤT SINH LỜI CHO GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM 2.1 HÀM TIỀN LƯƠNG MINCER 32
2.1.1 GIỚI THIỆU: 32
2.1.2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 33
2.1.3 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ GIỚI HẠN CỦA MÔ HÌNH HÀM TIỀN LƯƠNG MINCER: 34
2.1.3.1 NHỮNG GIỚI HẠN 34
Trang 42.1.3.2 NHỮNG ƯU ĐIỂM 35
2.2 THỦ TỤC HECKMAN 2 BƯỚC (HECKMAN 2 STEP) 35
2.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ SỐ LIỆU 38
2.4 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG 43
2.4.1 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG TỔNG THỂ MÔ HÌNH TIỀN LƯƠNG 43
2.4.2 SỰ CHÊNH LỆCH TIỀN LƯƠNG GIỮA HAI NHÓM KHU VỰC THÀNH THỊ - NÔNG THÔN 46
2.4.3 SỰ CHÊNH LỆCH TIỀN LƯƠNG GIỮA HAI NHÓM GIỚI TÍNH NAM- NỮ 50
2.5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
BÌNH CỦA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH
41
LƯƠNG NĂM 2014
44
LƯƠNG Ở KHU VỰC THÀNH THỊ NĂM 2014
47
LƯƠNG Ở KHU VỰC NÔNG THÔN NĂM 2014
48
LƯƠNG Ở GIỚI TÍNH NAM NĂM 2014
52
LƯƠNG Ở GIỚI TÍNH NỮ NĂM 2014
53
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết vốn con người là những gì có liên quan đến tri thức, kỹ
năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân mà có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế Vốn con người được hình thành thông qua việc đầu tư cho người lao động bao gồm các khoản chi dùng vào mặt giáo dục, bồi dưỡng kĩ thuật, bảo vệ sức khỏe, lưu chuyển sức lao động trong nước và các phúc lợi xã hội khác Trong đó quan trọng nhất là đầu tư giáo dục và bảo vệ sức khỏe Việc đầu tư này nhằm nâng cao năng lực công tác, trình độ kỹ thuật, mức độ sức khỏe, có lợi cho việc tăng thêm số người lao động phù hợp với nhu cầu tương lai điều chỉnh sự thừa thiếu sức lao động có trong nước, lợi dụng sức lao động nước ngoài và tiết kiệm cho phí giáo dục
Quan niệm con người đầu tư cho mình có ý nghĩa rất rộng bao gồm không chỉ đầu tư vào học tập trong nhà trường, nhà đào tạo sau khi học mà còn đầu tư khi còn ở nhà, trước tuổi đi học và đầu tư vào thị trường lao động để tìm việc Kinh tế học phương Tây dùng lý thuyết vốn con người để giải thích sự phân biệt các mức lương theo tuổi và nghề nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp không đồng đều, sự phân bổ nguồn lực lao động vào các khu vực kinh tế
Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay quan tâm nhiều đến việc đầu tư cho giáo dục, y tế và nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra một nguồn nhân lực thích ứng với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Theo quan điểm của Chính phủ, giáo dục làm tăng năng suất và thu nhập của người lao động là một tín hiệu tốt để thuyết phục Chính phủ đầu tư vào giáo dục
Giáo dục là rất quan trọng Mọi người điều biết rằng học càng nhiều thì sẽ càng
có nhiều cơ hội để tăng thu nhập, tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều đầu tư vào
Trang 7các mức học vấn cao như đại học Nguyên nhân đó là do nguồn tài nguyên của cá nhân hạn hẹp, chi tiêu cho giáo dục phải cạnh tranh với nhiều khoản chi tiêu đáp ứng các nhu cầu khác Nếu đầu tư cho giáo dục là có lợi, nghĩa là giáo dục tốt sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập của người đầu tư thì việc chi tiêu cho giáo dục rõ ràng là nên làm
Đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho giáo dục được định hướng bởi việc tính toán lợi suất đầu tư vào giáo dục, một chỉ tiêu được xem là lợi ích của giáo dục trong thị trường lao động Chúng ta cũng có thể hiểu bản chất và hoạt động của thị trường lao động thông qua việc nắm bắt sự thay đổi của các lợi suất này theo các tính chất cá nhân hoặc địa bàn, theo ngành kinh tế, theo loại hình kinh tế tại một thời điểm và sự thay đổi của chỉ số này theo thời gian Sự hiểu biết này cũng sẽ giúp định hướng các chính sách đầu tư cho giáo dục
Việc đi học sẽ đem lại lợi ích do gia tăng mức thu nhập, chúng ta đều có cảm nghĩ một cách định tính như vậy Tuy nhiên, mức gia tăng đó là bao nhiêu nhất thiết cần phải được định lượng để nghiên cứu và so sánh
Hệ thống giáo dục ở Việt Nam suốt ba thập niên vừa qua là một bối cảnh thú
vị để đánh giá hiệu suất sinh lời từ giáo dục Mặc dù đất nước đã thống nhất từ năm
1975, nhưng hệ thống giáo dục giữa hai miền Nam và Bắc vẫn khác nhau mãi cho tới cuối thập niên 1980 Trong khi học sinh miền Nam phải mất 12 năm mới hoàn tất chương trình giáo dục phổ thông, thì học sinh miền Bắc chỉ phải trải qua 11 năm đi học Năm học 1988-1989, Bộ Giáo dục quyết định tăng thêm một năm học phổ thông ở miền Bắc để toàn bộ hệ thống được thống nhất Như vậy, ở miền Bắc, những học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học sinh ra trước năm 1975 chỉ mất 11 năm học tập, trong khi những người sinh sau năm 1976 phải trải qua 12 năm theo học phổ thông Sự thay đổi quy định nhà nước trong hệ thống giáo dục mang lại một cơ sở để ta ước lượng suất sinh lời của việc giáo dục ở Việt Nam, đồng thời tránh được vấn đề năng lực bẩm sinh khác nhau
Trang 8Xuất phát từ hiện thực đó, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Ước lượng
hiệu suất sinh lời của giáo dục đem lại cho người lao động ngoài quốc doanh ở Việt Nam” Từ đó giúp cho việc đánh giá và ước lượng khả năng sinh lời của giáo dục
ở Việt Nam
2 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
- Đầu tư của nhà nước và tư nhân vào giáo dục được định hướng bởi việc tính toán lợi suất đầu tư vào giáo dục, một chỉ tiêu được xem là lợi ích của giáo dục trong thị trường lao động
- Việc đi học sẽ đem lại lợi ích do gia tăng mức thu nhập, chúng ta đều có cảm nghĩ một cách định tính như vậy Tuy nhiên mức gia tăng đó là bao nhiêu nhất thiết cần phải được nghiên cứu định lượng và so sánh
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ trả lời những câu hỏi:
- Suất sinh lời của việc đi học (giáo dục) ở Việt Nam vào thời điểm khảo sát là bao nhiêu phần trăm? Hay nói cách khác khi tăng thêm một năm đi học thì thu nhập của người lao động sẽ tăng thêm bao nhiêu phần trăm?
- Suất sinh lời của giáo dục có sự khác biệt như thế nào khi xét đến các khác biệt
về tính chất cá nhân, khác biệt về ngành kinh tế và khác biệt về loại hình kinh tế làm thuê?
4 PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu của cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam năm 2014 của Tổng cục thống kê và dựa vào hàm tiền lương của Mincer để ước lượng suất sinh lời của giáo dục ở Việt Nam
Trang 9- Để trả lời các câu hỏi của mục tiêu nghiên cứu, ngoài phương pháp mô tả thống kê, diễn dịch, so sánh, nghiên cứu này phải dựa vào phương pháp định lượng bằng mô hình kinh tế lượng: hồi quy hàm tiền lương Mincer
- Thực hiện hồi quy các hệ số ước lượng của hàm tiền lương Mincer bằng phương pháp Heckman hai bước
5 NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần lời cảm ơn, lời mở đầu, mục lục, danh mục các bảng, tài liệu tham khảo, kết luận và kiến nghị, luận văn được chia thành 2 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SUẤT SINH LỜI CỦA GIÁO DỤC
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH HÀM TIỀN LƯƠNG MINCER - ƯỚC LƯỢNG HIỆU SUẤT SINH LỜI CHO GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
Trang 10đã thực sự được quan tâm Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết vốn con người, vai
trò của giáo dục đào tạo đến vốn con người, thực trạng của giáo dục hiện nay và hiệu quả mà giáo dục đã mang lại cho chúng ta
1.1 LÝ THUYẾT NGUỒN NHÂN LỰC ( HUMAN CAPITAL):
1.1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Vốn con người (Human Capital) là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm
tích lũy trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào quá trình sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của họ Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn con người là thành phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước Giáo dục đào tạo như “hệ thống tài chính” để hình thành và tích luỹ vốn con người của nền kinh tế Điều này khẳng định tầm quan trọng của đầu tư cho giáo dục đào tạo cũng như sử dụng có hiệu quả khoản đầu tư đó để nâng cao chất lượng hoạt động này trong tương lai
Vốn con người (Human Capital) được xác định là tài sản mỗi quốc gia Khi định giá tài sản quốc gia các nhà kinh tế tính toán phần giá trị của nó vào tổng tài sản
Trang 11Ngày nay nguồn vốn này giữ vai trò trong sự phát triển của mỗi quốc gia và là nguồn lực quyết định tới tính bền vững sự tăng trưởng kinh tế Vốn con người là vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả và hiệu quả làm việc trong quá trình sản xuất Vốn con người hình thành và tích lũy nhờ giáo dục đào tạo và từng trải trong cuộc sống lao động
Trên thế giới những nghiên cứu về chủ đề này đã bắt đầu nhiều thập niên trước, còn ở Việt Nam, hiện đã có một số nghiên cứu về chủ đề này trên những khía cạnh khác nhau Bài viết nhằm đi sâu xem xét bản chất, tầm quan trọng của vốn con người trong điều kiện Việt Nam đang cố gắng vượt qua khủng hoảng nền giáo dục và kinh tế để tiếp tục phát triển
1.1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LÝ THUYẾT NGUỒN NHÂN LỰC:
Phân tích vốn con người bắt đầu với giả thiết cho rằng những cá thể quyết định giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế và những phần bổ sung vào hiểu biết và sức khỏe của mình bằng cách cân nhắc những phần được và những chi phí
Như thế lĩnh vực của vốn con người được xác định bằng việc mở rộng phân tích kinh tế sang những quyết định theo truyền thống không thuộc về bộ môn này Cá thể được giả định là có tính duy lý, tối đa hóa phúc lợi của bản thân trên toàn bộ cuộc đời mình và có hành vi nhất quán trong thời gian Điểm xuất phát của lý thuyết vốn con người có tính kinh tế vi mô Đó là sự lựa chọn cá thể về sự đầu tư con người Những món lợi của đầu tư này có thể có tính tiền tệ hay không Những món lợi này nằm trong
sự gia tăng của năng suất của cá thể trên thị trường và ngoài thị trường Những chi phí gồm có những chi phí tiền tệ trực tiếp và chi phí gián tiếp bao giờ cũng đặc biệt quan trọng, thời gian dành cho đầu tư vào vốn con người
Trang 121.1.2.1 Nghiên cứu về khả năng sinh lời và thu nhập:
Những phân tích tập trung nhiều vào đầu tư con người về tri thức và kỹ năng Khả năng sinh lời của đầu tư này thường ít nhất bằng với đầu tư phi con người Đây là một yếu tố giải thích dạng của những thu nhập của lao động trong cuộc đời hoạt động Đầu tư này có hình thức giáo dục phổ thông và đại học, đào tạo trong doanh nghiệp, tập huấn thông qua kinh nghiệm và sự cơ động nghề nghiệp Những hình thức đầu tư khác nhau này được nối khớp trong một quá trình tích lũy vốn con người trên toàn bộ cuộc sống Trình độ học vấn càng cao thì những đầu tư con người càng quan trọng trong suốt cuộc sống hoạt động Những hiện tượng này giải thích một phần sự phân
phối những thu nhập cá nhân
Tính chất cá nhân của quá trình tích lũy khiến cho quá trình này nhạy cảm với những đặc điểm cá nhân, những năng lực và môi trường gia đình, xã hội xuất thân Những đặc điểm này dường như có sự tương quan với trình độ học vấn Nhưng tương quan này đòi hỏi phải vận dụng những cách xử lý thích hợp để không ước lượng quá cao tỉ suất lợi tức bằng cách gán cho giáo dục những món lợi bắt nguồn từ những đặc điểm cá nhân
1.1.2.2 Những nghiên cứu về những hiệu ứng khác:
Gia tăng của năng suất cá thể ở bên ngoài thị trường bằng việc tích lũy vốn con người ảnh hưởng đến tiêu dùng và tiết kiệm Ngoài hiệu ứng gián tiếp thông qua thu nhập, giáo dục còn có hai hiệu ứng trực tiếp Những hiệu ứng này có thể được phân tích thông qua khái niệm hàm sản xuất Những dịch vụ cuối cùng về tiêu dùng do cá thể hay hộ gia đình sản xuất từ những sản phẩm và dịch vụ mua trên thị trường và thời gian dành cho hoạt động tiêu dùng Như thế, giáo dục tác động đến những giá tương đối của những dịch vụ cuối cùng và khuyến khích tiêu dùng nhiều hơn với những hoạt động rẻ hơn Mặt khác, bằng cách gia tăng hiệu quả trung bình của sản xuất gia đình,
Trang 13giáo dục cho phép tiêu dùng nhiều hơn những dịch vụ cuối cùng, với mức thu nhập danh nghĩa và thời gian tiêu dùng và sản xuất không đổi Hiệu ứng thu nhập thực tế này ảnh hưởng đến những hành vi được quan sát Tương tự như thế, giáo dục có hai hiệu ứng trực tiếp đến tiết kiệm, ngoài hiệu ứng gián tiếp thông qua thu nhập
Vốn sức khỏe là một thành tố của vốn con người kéo theo lợi tức thực tế của đầu tư vào vốn con người là cao hơn lợi tức được tính từ ảnh hưởng chỉ trên các thu nhập Mặt khác, trong những xã hội có vốn con người dồi dào thì các gia đình có xu hướng lớn mạnh trong lúc chúng lại có xu hướng thu nhỏ lại khi vốn con người trở nên khan hiếm Trong một lĩnh vực khác, lĩnh vực của sự phân biệt đối xử thì những chênh lệch về lương giữa nam và nữ một phần thuộc về những khác biệt trong thời lượng hoạt động và trong kinh nghiệm nghề nghiệp
1.1.2.3 Nghiên cứu về tăng trưởng nội sinh:
Nếu phân tích những nguồn gốc của tăng trưởng đã góp phần vào sự phát triển của lý thuyết đầu tư vào vốn con người thì ngược lại, vốn con người nằm ở trung tâm của những lý thuyết tăng trưởng nội sinh Lucas (1988) quan tâm đến những ngoại ứng tích cực trên sản xuất do tích lũy vốn con người sinh ra Tỷ suất tích lũy cân bằng cạnh tranh như thế là thấp hơn tỷ suất xã hội tối ưu và chênh lệch này là cơ sở cho tính chính đáng của một sự can thiệp công cộng Đối với hệ thống kinh tế, tích lũy vốn con nguời
là nội sinh và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần phải quan tâm đến một tăng trưởng ngoại sinh Romer (1990) lấy lại vai trò của tiến bộ kỹ thuật như là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng Nhưng vốn con người hiện ra như yếu
tố hàng đầu cho việc sản xuất những nghiên cứu Ông đưa vào một sự phân biệt quan trọng giữa khái niệm kho vốn con người là một kho hàm chứa và khái niệm kho tri thức hiện có trong một xã hội, kho tri thức này là một sản phẩm công cộng
Trang 14Ba hướng nghiên cứu ưu tiên dường như nổi lên từ tiến hóa lý thuyết của ba mươi năm qua Tích lũy vốn con người là một quá trình động và tích lũy này hiện ra hiện ra như thế trong những lý thuyết về tăng trưởng Những tích lũy này cũng hiện ra như vậy ở cấp độ kinh tế vĩ mô Về vốn con người được tích lũy trong doanh nghiệp, Becker phân biệt vốn con người nói chung làm tăng năng suất của người lao động bất luận công ty nào sau này người lao động làm việc trong đó và vốn con người đặc thù chỉ làm tăng năng suất của người lao động trong doanh nghiệp đã đào tạo người lao động ấy Phân biệt này được sử dụng rộng rãi để giải thích tính cơ động thấp hơn của những người lao động có kỹ năng đặc thù hay xu hướng thăng cấp người trong nội bộ công ty hơn là tuyển dụng người ngoài công ty Những việc tài trợ việc đào tạo tổng quát, một cách logic, phải do người làm công ăn lương gánh chịu dưới hình thức lương thấp hơn trong thời gian đào tạo, trong một tình thế cân bằng cạnh tranh tĩnh, vì nếu không quyền lợi của người làm công ăn lương này là thay đổi công ty sau khi được đào tạo xong Thế mà trong thực tế điều này không xảy ra Trong một nền kinh tế có đổi mới và sản phẩm mới, quyền lợi của công ty là nên tài trợ việc đào tạo tổng quát Hướng nghiên cứu thứ hai là việc phân tích những ngoại ứng do kho đã tích lũy được gây ra cho tích lũy vốn con người Cuối cùng lúc khởi đầu lý thuyết trước hết là một lý thuyết về đầu tư vốn con người Còn phải làm rõ và đo kho vốn con người và nối khớp khái niệm này với những khái niệm vốn vô hình và vốn xã hội
1.1.3 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC (VỐN CON NGƯỜI):
Trong văn phong kinh tế người ta nói nhiều tới vốn con người cũng như ảnh hưởng to lớn của nó đối với sự phát triển của một quốc gia Vậy vốn con người là gì và tầm quan trọng thế nào là vấn đề cần phải làm rõ
Trong từ điển kinh tế vốn (Capital) được định nghĩa là giá trị của tư bản hay hàng hóa đầu tư được sử dụng vào kinh doanh mang lại lợi ích Theo nghĩa này vốn là vốn hữu hình Nhưng vốn con người theo Mincer Jacob (1974) cũng giống như vốn
Trang 15hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi con người và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập Theo ông Nguyên Văn Ngọc (2006) thì vốn con người – là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội Như vậy về mặt nội dung thì không có gì khác nhau vì những hiểu biết và kinh nghiệm
để được hình thành trong quá trình học tập và lao động
Giữa hai loại vốn này có một điểm chung nhất đó là chúng tăng lên nhờ hoạt động đầu tư của chủ thể và theo thời gian đều bị hao mòn Hoạt động đầu tư là tăng vốn hữu hình nhờ mua sắm thêm thiết bị máy móc nhà xưởng… còn hoạt động đầu tư vào vốn con người nhờ đầu tư vào học hành Sự hao mòn của chúng ở đây cùng là sự hao mòn vô hình dưới sự ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ Tiến bộ công nghệ làm tư bản hữu hình lạc hậu và mất giá, còn những kiến thức tích lũy được cũng bị lạc hậu theo trong quá trình đó nếu không được cập nhật thường xuyên thông qua quá trình đào tạo lại hay tiếp tục tự học tập để bổ sung hoàn thiện Chúng có những điểm khác nhau nhất định Thứ nhất, vốn con người là vốn vô hình gắn với người sỡ hữu nó và chỉ được sử dụng khi người chủ của nó tham gia vào quá trình sản xuất Loại vốn này không thể mang cho vay hay thế chấp như vốn hữu hình Thứ hai, vốn này gắn với người sỡ hữu không chia sẻ và đầu tư dàn trải rủi ro Thứ ba, vốn con người dễ dịch chuyển hơn và động hơn
Vốn con người được cấu thành từ 3 nhân tố chính Thứ nhất, năng lực ban đầu, nhân tố này gắn liền với yếu tố năng khiếu và bẩm sinh ở mỗi người Thứ hai, những năng lực và kiến thức chuyên môn được hình thành và tích lũy thông qua quá trình đào tạo chính quy Thứ ba, các kỹ năng, khả năng chuyên môn, những kinh nghiệm được tích lũy từ quá trình sống và làm việc Năng lực ban đầu được nhận từ cha, mẹ và các điều kiện của gia đình và xã hội khi chăm lo cho bà mẹ mang thai và sinh nở Khi đi
Trang 16học để có năng lực thì người ta phải bỏ ra chi phí học hành và cuối cùng là những trải nghiệm trong cuộc sống làm việc nhiều trường hợp người ta phải trả giá rất cao
Như vậy, vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy trong mỗi con người nhờ vào quá trình học tập, rèn luyện và lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng trong sản xuất Vốn con người cũng hao mòn và tốn chi phí để đầu tư hình thành và là nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển mỗi doanh nghiệp và quốc gia
Cơ sở lý thuyết vốn con người để đề cập đến những sự đầu tư vào con người để gia tăng năng suất lao động của họ Những sự đầu tư này bao gồm đào tạo phổ cập trong nhà trường và đào tạo chuyên môn trong quá trình làm việc Đào tạo phổ cập là loại hình đào tạo có lợi ích như nhau (nghĩa là tăng năng suất) trong mọi doanh nghiệp Đào tạo chuyên môn là loại hình đào tạo chỉ làm tăng năng suất tại những doanh nghiệp liên quan và giá trị đào tạo sẽ mất đi khi người lao động rời khỏi doanh nghiệp này
Lý thuyết vốn con người nhấn mạnh đến khái niệm các cá nhân là những nhà đầu tư, cũng giống như các công ty trong lý thuyết đầu tư vốn hữu hình Lý thuyết này cho rằng các cá nhân sẽ đầu tư vào giáo dục để kiếm được lợi ích cao hơn sau những năm đi học Sự đầu tư này bao gồm các chi phí học tập và việc mất thu nhập trong ngắn hạn do dành thời gian cho việc đi học, tuy nhiên, nhà đầu tư hi vọng sẽ kiếm được thu nhập cao hơn trong tương lai
Khác với vốn vật chất, vốn con người có khả năng tăng lên và tự sinh ra khi
sử dụng (liên quan đến kinh nghiệm), mặt khác nó có khả năng di chuyển và chia sẻ do vậy không tuân theo quy luật “năng suất biên giảm dần” như vốn vật chất
Lý thuyết vốn con người là nền tảng cho sự phát triển nhiều lý thuyết kinh tế Mincer đã tóm tắt những đóng góp như sau: “Vốn con người đóng vai trò quan trọng
Trang 17trong quá trình phát triển kinh tế: nó là các kỹ năng được tạo bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động thô (không có kỹ năng) để tạo ra sản phẩm; nó là kiến tức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế
1.2 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC:
Ngay từ thời xa xưa, giáo dục, đào tạo luôn được đặt ở vị trí quan trọng Đặc biệt, trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức như hiện nay, khi nguồn lực con người đang ngày càng chiếm vị trí trung tâm, hàng đầu của sự phát triển thì giáo dục, đào tạo ngày càng trở thành vấn đề thời sự được bàn đến trên các diễn đàn nghị sự ở Việt Nam Đại hội XI của Đảng xác định: phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản nền giáo dục quốc dân
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi
hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy
và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội Đồng thời, giáo dục là những hoạt động học tập giúp cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề khác thích hợp hơn trong tương lai Hoạt động này sẽ hướng vào từng
cá nhân, thông qua công tác hướng nghiệp mỗi cá nhân sẽ lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp Hoạt động giáo dục được thực hiện dần dần nhằm trang bị cho người
Trang 18lao động những kiến thức phổ thông về một nghề nào đó Giáo dục sẽ trang bị cho người lao động hành trang nghề nghiệp cơ bản để hướng tới tương lai
Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, trình độ lành nghề nhằm giúp người lao động thực hiện công việc hiện tại của họ tốt hơn Hoạt động đào tạo sẽ trang bị những kiến thức thông qua đào tạo mới
áp dụng đối với những người chưa có nghề, đào tạo lại áp dụng đối với những người đó
có nghề nhưng vì lý do nào đó nghề của họ không phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động, nó có liên quan chặt chẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động, cho phép người lao động hoàn thành được những công việc phức tạp Hoạt động đào tạo sẽ hướng vào cá nhân
cụ thể và cần tiến hành ngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo
Phát triển là những hoạt động học tập nhằm định hướng và chuẩn bị cho người lao động tiếp cận với sự thay đổi của tổ chức và bắt kịp với nhịp độ thay đổi đó khi tổ chức thay đổi và phát triển hoặc nhằm phát triển sâu hơn kỹ năng làm việc của người lao động Phát triển sẽ chuẩn bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển của tổ chức trong tương lai
Như vậy tất cả các hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đều nhằm một mục tiêu là sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động nắm rõ hơn chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao trình độ tay nghề Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ tổ chức nào cũng như với cá nhân người lao động Do đó hoạt động này
Trang 19cần phải được quan tâm đúng mức để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ cách tiếp cận nguồn vốn nhân lực thì phát triển nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động (đầu tư) phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân; nâng cao sức khoẻ, trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn kỹ năng nghề nghiệp để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, nâng cao đời sống Như vậy, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về thực chất là phát triển giáo dục - đào tạo, mà trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo Lý luận và thực tiễn đều khẳng định giáo dục và đào tạo
là “nhân tố cốt lõi”, “cơ bản” tạo nên chất lượng nguồn nhân lực Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ gắn bó với nhau rất chặt chẽ Giáo dục, đào tạo là một trong các biện pháp cơ bản nhất để tạo chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời chất lượng nguồn nhân lực càng trở thành mục tiêu hàng đầu của phát triển giáo dục, đào tạo
Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, tỷ lệ lao động cơ bắp ngày một giảm, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, lợi thế so sánh dựa trên số lượng lao động và giá nhân công rẻ cũng ngày một giảm và đang chuyển dần về phía những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao Yếu tố con người, vốn con người đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Ở Việt Nam, Đảng
ta cũng nhất quán quan điểm khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” Chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định nhất đối với việc tăng lợi thế cạnh tranh cũng như sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải cần đến một hệ thống
Trang 20giải pháp đồng bộ về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân
số, cải thiện môi trường sống, tạo việc làm, tổ chức khai thác lực lượng lao động, phát triển văn hóa tạo ra động lực kích thích tính tích cực ở con người Nhờ có nền tảng giáo dục-đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế Như vậy có thể thấy, giáo dục đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường lao động, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng Nói đến nguồn nhân lực là nói đến tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn, tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội Phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước Từ nội dung của phát triển nguồn nhân lực như vậy, chúng ta có thể thấy vai trò của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thực chất là làm gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực
và đảm bảo cơ cấu về số lượng lao động một cách hợp lý trong từng ngành, lĩnh vực
Sở dĩ giáo dục, đào tạo có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực
là vì, đối tượng hướng đến của giáo dục là con người và mục tiêu của nó là trang bị những năng lực cần thiết cho con người tham gia vào đời sống xã hội Giáo dục tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội nhằm biến đổi chủ thể đó thành con người nhân cách, tăng sức mạnh thể chất và tinh thần của con
Trang 21người, tăng khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội của con người Giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật,
xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn của người lao động, ảnh hưởng đến thể lực, trí lực, đức dục của con người Như vậy, giáo dục tái sản xuất
ra năng lực hoạt động của con người, thúc đẩy xã hội phát triển Giáo dục, đào tạo không chỉ là phương thức chủ yếu để giữ gìn, phổ biến, giao lưu, phát triển văn hóa, khoa học, mà còn tạo ra nguồn nhân lực cho việc tái sản xuất ra sức lao động Chính
vì vậy, ngày nay, người ta quan niệm giáo dục không chỉ là một phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống tinh thần, là một bộ phận của cách mạng văn hóa - tư tưởng, của kiến trúc thượng tầng mà còn là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng, giữ vị trí nền tảng, vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng
trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: (i) áp dụng công nghệ mới, (ii) phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và (iii) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có kỹ năng nghề cao Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, thì nguồn nhân lực có chất lượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữa các nền kinh tế
Nguồn nhân lực chất lượng cao, là những con người được đầu tư phát triển, có
kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo (nói cách khác, đó chính
là năng lực thực hiện của nguồn nhân lực) Năng lực thực hiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục – đào tạo và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc Tuy nhiên, ngay cả việc tích lũy kinh nghiệm này cũng phải dựa trên một nền tảng là giáo dục - đào tạo nghề nghiệp cơ bản Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của giáo
Trang 22dục - đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực hiện của con người
Vai trò của giáo dục - đào tạo nghề nghiệp đối với chất lượng nguồn nhân lực xuất phát từ khía cạnh lợi ích cá nhân của con người (con người lao động) Lý thuyết
về vốn nhân lực hiện đại cho rằng “tất cả các hành vi của con người đều xuất phát từ những nhu cầu lợi ích kinh tế cho chính các cá nhân hoạt động tự do trong thị trường mang tính cạnh tranh Các dạng biểu hiện khác đều bị cho là không thuộc phạm vi hoặc sự biến dạng của lý thuyết này” (Fitzimons, 1999)
Nội dung chính của lý thuyết trên cho rằng, các cá nhân đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề nhằm tích luỹ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó và đó là nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững Chính sự đầu tư này, dưới góc độ xã hội, tạo ra chất lượng nguồn nhân lực (và vốn nhân lực cá nhân và nhiều cá nhân) và do đó, cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Nhà kinh tế học Becker đã đưa ra bằng chứng về mối tương quan giữa trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và thu nhập: học vấn và kỹ năng nghề càng cao, thu nhập càng tăng và ngược lại Khảo sát của Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của những người qua đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thông, thậm chí còn thấp hơn cả tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học (Mạc Văn Tiến và cộng sự, 2006) Đây chính là động lực để con người đầu tư vào giáo dục - đào tạo và đào tạo nghề đồng thời có đã tác động tích cực làm cho chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên
Giáo dục - đào tạo nghề tạo ra sự “tranh đua” xã hội và trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, những người học vấn thấp, kỹ năng, tay nghề thấp hoặc không có nghề khó có thể cạnh tranh được so với những người có trình độ,
có kỹ năng nghề cao Khi đó, họ sẽ trở thành nhóm người “yếu thế”, phải làm những việc thu nhập thấp, thậm chí không kiếm được việc làm, trở thành người thất nghiệp dài hạn và nhận trợ cấp xã hội Nhưng dù sao, những trợ cấp đó chỉ mang tính tức
Trang 23thời, giúp họ “cầm cự” được trong cuộc sống thường nhật, tạo cơ hội cho họ quay trở lại thị trường lao động Nhưng nếu những người này không tự tạo cho họ năng lực, nâng cao “vốn nhân lực” của mình thì sớm hay muộn, họ cũng lại bị “bật” ra khỏi thị trường lao động Muốn thoát khỏi vòng lẩn quẩn này, buộc những người đó, bằng cách này hay cách khác phải nâng cao “vốn nhân lực” của mình và cách hiệu quả nhất
là đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề
Vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế Nhu cầu của nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ Quá trình công nghiệp hóa dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật này Đây có thể nói là nhu cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề
Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô và cơ cấu giáo dục - đào tạo nghề và qua đó, quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuật khác nhau Nếu như
ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục – đào tạo theo trật tự ưu tiên sẽ là giáo dục phổ thông - giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học (và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động phổ thông - công nhân kỹ thuật bậc thấp và bậc trung - lao động kỹ thuật bậc cao
và lao động quản lý); thì ở thời kỳ nền kinh tế phát triển cao (nhất là trong nền kinh tế tri thức), cơ cấu trên sẽ là giáo dục đại học - giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông ( và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý - công nhân kỹ thuật bậc trung và bậc thấp - lao động phổ thông) hoặc trong thời kỳ…Ngược lại, giáo dục - đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhận thức rõ được vai trò của giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và qua đó tạo ra sự phát triển tương lai, Chính phủ của
Trang 24nhiều nước đã có chiến lược dài hạn phát triển giáo dục – đào tạo và đầu tư thỏa đáng ngân sách cho lĩnh vực này Chẳng hạn, hàng năm, Mỹ đã chi khoảng 5%-7% GDP cho việc đào tạo và phát triển nhân tài, các nước công nhiệp phát triển khác cũng đầu
tư cho giáo dục - đào tạo rất lớn, như Hà Lan 6,7% GDP, Pháp 5,7%, Nhật 5,0% Ngoài ra, Chính phủ các nước công nghiệp phát triển còn có chính sách huy động sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn đầu tư cho phát triển giáo dục nghề nghiệp, nhất là phát triển các trung tâm đào tạo chất lượng cao, tạo ra những nhà kỹ thuật, những nhà phát minh, sáng chế hàng đầu trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế
Ngay ở Đông Nam Á, một số nước cũng đã có chiến lược đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo nghề khá ấn tượng, trong đó phải kể đến Brunei Để trang bị cho thế
hệ trẻ những kiến thức và kỹ năng trong một thế giới hiện đại, Quốc vương đã đề ra một số định hướng về chiến lược hướng tới đào tạo con người phát triển cả về trình
độ và kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của các ngành, nghề cần thiết trong những thập niên đầu thế kỷ mới; đồng thời, nâng cao trình độ kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ giáo viên, những người làm công tác giảng dạy, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo thế hệ tương lai…
Ở nước ta, ngay từ Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Phát triển giáo dục – đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền giáo dục theo hướng
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; thực hiện công bằng trong giáo dục
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã đề ra chủ trương phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triển mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho xuất khẩu lao động” và “Tạo
Trang 25chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề
đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề” Đặc biệt Dự thảo Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 sẽ được trình tại Đại hội lần thứ XI cũng đã nêu rõ: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá chiến lược…Đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm, nhất là ở nông thôn và vùng đô thị hoá; hỗ trợ các đối tượng chính sách, người nghèo học nghề
Đây là những định hướng rất cơ bản, là căn cứ để phát triển đào tạo nghề, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta trong giai đoạn tới
Như vậy, giáo dục đào tạo cùng với các hình thức khác của nó đem tới cho mỗi người học vốn kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm và giúp họ không ngừng hoàn thiện gia tăng tích lũy chúng Hay nói cách khác, vốn con người được hình thành và tích lũy gia tăng nhờ quá trình giáo dục đào tạo Mức vốn con người phụ thuộc vào thời gian và chi phí đầu tư để học hành trong hệ thống giáo dục và từng trải cuộc sống
1.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Vậy tại sao giáo dục, đào tạo lại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vậy?
– Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế – Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội
– Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người
Hiểu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng
sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vững
Trang 26mạnh và có chất lượng Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam
Nhìn về nền giáo dục nước nhà, chúng ta thấy có rất nhiều điểm đáng tự hào Bên cạnh tình trạng hiếu học muốn tiếp tục học lên cao của đa số thanh thiếu niên nước
ta và lòng yêu nghề mến trẻ của hầu hết các giáo viên còn có tố chất thông minh của một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên Việt Nam Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ đại học, trên đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, cũng như yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lãnh vực Với quan điểm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hình đào tạo đại học Do vậy, tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh Hiện trên cả nước
có khoảng gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học công lập, bán công, dân lập và các học viện Tới đây sẽ có thêm một số trường đại học tư thục ra đời Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng lên rõ rệt Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh Mặc dù như vậy, nhưng chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn chưa cao, nói một cách nôm na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn chưa có sự tiến bộ đáng kể
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo
Trang 27nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa
thực sự là quốc sách hàng đầu
Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp;
chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy
“nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân
tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất
cân đối
Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các
Trang 28 Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo
dục còn nhiều bất cập
Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự
đồng thuận của xã hội
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích
1.4 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC:
Giáo dục luôn là sự quan tâm đầu tư của mọi người, mọi gia đình và xã hội
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục và đã có nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp về giáo dục Trong thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục của nước ta đã có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, trong quá trình phát triển theo quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục còn nhiều bất cập Sự trăn trở, băn khoăn của xã hội về giáo dục nhiều nhất là việc đầu tư của gia đình và xã hội sao cho hiệu quả
Trang 29Quy mô giáo dục nước nhà trong thời kỳ đổi mới đã tăng lên đáng kể, nhờ tăng quy mô giáo dục và đào tạo mà số sinh viên tốt nghiệp tăng lên đã bổ sung một lực lượng lao động có trình độ ngày càng lớn Ngoài số sinh viên, số thạc sĩ, tiến sĩ được đào tạo cả trong và ngoài nước cũng đã tăng lên Cơ sở vật chất của nhà trường
đã được bổ sung từ ngân sách và sự đóng góp của dân và sự tài trợ, vốn vay các nước
từ nguồn vốn ODA Nhờ được đầu tư, nhiều cơ sở giáo dục, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên được đào tạo cũng đã được cải thiện phần nào Giáo dục đào tạo đã đã đóng góp đáng kể về đội ngũ cán bộ được đào tạo từ nhà trường trong công cuộc đổi mới đất nước
Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu học tập của xã hội
Năm học 2007-2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,03%
so với năm học 2000-2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14 lần; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,83 lần, nâng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân tăng 1,6 lần, số học viên cao học và nghiên cứu sinh tăng 2,48 lần
Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng từ 20% vào năm
2000 lên 31,5% vào năm 2007 Mạng lưới trường lớp được phát triển rộng khắp trong toàn quốc Về cơ bản đã xóa được “xã trắng” về giáo dục mầm non; trường tiểu học đã
có ở tất cả các xã, trường trung học cơ sở có ở xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ thông có ở tất cả các huyện Các cơ sở đào tạo nghề, cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địa bàn dân cư lớn, các vùng, các địa phương, đặc biệt ở vùng chậm phát triển như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long Các tỉnh và nhiều huyện miền núi đã có trường nội trú và bán trú cho con em các dân tộc thiểu số Hiện nay, cả nước có trên 9.000 trung tâm học tập cộng đồng, gần 700 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện, 1.300 trung tâm tin học, nhiều trường
Trang 30đại học triển khai các chương trình đào tạo từ xa Ngoài ra, có nhiều cơ sở đào tạo ngoại ngữ và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Một xã hội học tập đã hình thành rõ nét ở Việt Nam
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ
Nội dung dạy học và kiến thức của học sinh phổ thông đã toàn diện hơn Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao Số đông sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập và đại bộ phận đã có việc làm Chất lượng đào tạo của một số ngành đào tạo khoa học và công nghệ đã được nâng cao một bước
Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất lượng đã đặc biệt được chú trọng Đã hình thành các tổ chức chuyên trách về đánh giá và kiểm định chất lượng Ngoài Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng cấp trung ương được thành lập vào tháng 8/2004, phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng đã được thành lập tại 60 trong số 63 Sở Giáo dục và Đào tạo (95%), 77 đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng được thành lập ở các trường đại học và cao đẳng Tới tháng 12/2008, đã có 114/163 (70%) trường đại học tự đánh giá, trong đó có 40 trường được đánh giá ngoài
Các trường phổ thông chất lượng cao được hình thành ở nhiều địa phương Nhiều trường đại học đã tổ chức dạy học theo các chương trình tiên tiến quốc tế Tới tháng 12/2008 có 23 chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế đang được thực hiện ở 17 trường đại học giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh Đã tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động đào tạo sau đại học, tập trung vào các lĩnh vực: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, khoa học nông-lâm-ngư và khoa học giáo dục Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu cung cấp nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu quả đào tạo, trong 2 năm gần đây ngành giáo dục đào tạo đã tích cực đẩy mạnh việc thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội