đã phát hiện ra rằng, tại các nước có trình độ phát triển cao, trong tốc độ tăng lên của kết quả sản xuất, sau khi loại trừ phần đóng góp do các yếu tố đầu tư thêm lao động và vốn, đất đ
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
LÊ PHAN BẢO NGỌC
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG TRƯỞNG TFP DOANH NGHIỆP NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: TOÁN ỨNG DỤNG TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHAN TẤT HIỂN
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 5 NĂM 2017
Trang 2và trân trọng nhất, trước tiên em xin chân thành gửi lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, các Phòng, Khoa và quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sinh viên chúng em trong suốt bốn năm học qua
Em xin chân thành cảm ơn Văn Phòng khoa toán đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành tốt công việc được giao trong thời gian nghiên cứu khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên, Ts Phan Tất Hiển đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý kiến và điều chỉnh, sửa chữa những sai sót trong quá trình nghiên cứu khóa luận để em có thể hoàn thành khóa luận, cũng như những hổ trợ của thầy trong quá nghiên cứu
Tuy nhiên, do thời gian hạn hẹp và hiểu biết còn hạn chế, bài nghiên cứu không thể tránh khỏi những sai sót, em kính mong được sự chỉ dẫn và góp ý của quý thầy cô và tất cả mọi người để luận án của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC TỪ CHỮ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP VỀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TFP 10
1.2 LÝ THUYẾT VỀ TFP 10
1.3 TỔNG QUAN VỀ TFP CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TFP 12
1.3.1 TỔNG QUAN VỀ TFP 12
1.3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TFP 16
1.4 VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA TFP 31
1.5NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ FDI 33
1.5.1 LÝ THUYẾT VỀ FDI 33
1.5.2 CÁC BIẾN TRUYỀN TẢI FDI 35
1.6 KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG 39
1.6.1 PHƯƠNG PHÁP OLS 39
1.6.2 PHƯƠNG PHÁP FEM 40
1.6.3 PHƯƠNG PHÁP REM 41
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ KẾT LUẬN 42
A.KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 42
2.1 GIỚI THIỆU BỘ SỐ LIỆU 42
2.2 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG THEO OLS 52
2.3 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG THEO FEM 53
2.4 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG THEO REM 57
2.5 SO SÁNH MÔ HÌNH 60
2.6 TÓM TẮT KẾT QUẢ 61
B.KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 4NHIÊN CHO DELTATFP
55
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nắm giữ một vị trí quang trọng trong việc mở rộng
và phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam FDI không chỉ cung cấp lượng vốn đầu tư lớn, tạo nhiều việc làm cho xã hội, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu đồng thời mang lại sự thay đổi về công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại vào quốc gia tiếp nhận đầu tư Tại Việt Nam, sau khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, luồng FDI vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ và chiếm tỉ trọng lớn trong vốn đầu tư xã hội qua các thời kì: từ 26,6 tỉ USD (chiếm 24,4% tổng vốn đầu tư xã hội) giai đoạn 1991-2000 lên 69,5
tỉ USD (chiếm 22,7 tổng vốn đầu tư xã hội) giai đoạn 2001-2011 Tỉ trọng đóng góp của FDI trong GDP tăng từ 2% năm 1992 lên 10,7% năm 2000, 16,9% năm 2006, 18,9% năm 2011 Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 đã tạo cơ hội cho đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời là thách thức mới cho Việt Nam Do đó cần phải nắm rõ được vai trò của FDI trong nên kinh tế, để từ đó đưa ra những chính sách thích hợp nhằm thu hút FDI, tăng cường hiệu quả nguồn lực FDI
Bên cạnh những kết quả do FDI mang lại, nhiều ý kiến cho rằng, qua 25 năm thu hút và sử dụng FDI, Việt Nam vẫn đang nổi lên không ít bất cập, nhiều kỳ vọng chưa đạt được như mong muốn, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp.FDI chỉ tập trung trong một số ngành, vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn khiêm tốn, phần lớn các dự án FDI có quy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu ở mức trung bình
và có nguồn gốc từ Châu Á Một trong số các vấn đề đó là mức độ “tràn” của FDI và vai trò của các doanh nghiệp (DN) FDI đối với các DN Việt Nam vẫn còn khiêm tốn
và các DN Dệt may cũng không phải ngoại lệ
Trang 7Có thể nói dệt may là ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế Việt Nam Nhiều năm qua, ngành dệt may đã có sự tăng trưởng nhanh chóng, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế đất nước Ngành dệt may là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2000-2008 Chỉ sau xuất khẩu dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của ngành dầu thô luôn đứng thứ 2, đóng góp hơn 16% tổng kim ngạch cả nước Tuy nhiên, các DN Dệt may đang đứng trước những khó khăn và thách thức mới trong phát triển Sản phẩm dệt may, mặc dù đã có nhiều tiến bộ và cải thiện về chất lượng và mẫu mã, song vẫn còn nhiều yếu kém, thị trường xuất khẩu vẫn còn hạn hẹp So với yêu cầu ngày càng “khắt khe-chuẩn mực” của thị trường khách hàng, đòi hỏi các DN Dệt may Việt Nam phải tiếp tục hiện đại hóa công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL), cải tiến mẫu mốt, tuân thủ các quy định, các tiêu chuẩn quốc tế từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho các DN trong nước
Sự có mặt của FDI dù dưới hình thức 100% vốn nước ngoài (VNN) hoặc liên doanh sẽ tạo áp lực cạnh tranh, buộc các DN trong nước phải tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD), thúc đẩy quá trình phổ biến và chuyển giao công nghệ (CGCN) tiên tiến từ các nguồn khác nhau, qua đó thúc đẩy hoạt động nâng cao trình độ mọi mặt của DN trong nước Đồng thời, sự có mặt của FDI đã thúc đẩy liên kết giữa các DN FDI với các nhà cung ứng trong nước thông qua việc DN địa phương là nguồn cung cấp hoặc được các DN FDI đặt hàng cung cấp linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu cho các
DN FDI hoặc ngược lại, các DN FDI cung cấp các yếu tố đầu vào cho các DN trong nước Khi đó FDI sẽ có sự chuyển giao về công nghệ, điều này có thể dẫn đến tăng khả năng sản xuất của DN Đây chính là tác động năng suất của FDI, góp phần làm tăng trưởng năng suất và hiệu quả của các DN Dệt may nói riêng cuối cùng là đóng góp vào trăng trưởng kinh tế nói chung
Trên thực tế, việc thu hút FDI và các tác động của FDI tới các DN trong nền kinh tế cũng có thể không xảy ra đồng thời Có trường hợp thu hút được dòng FDI khá
Trang 8lớn, làm tăng vốn đầu tư trong nền kinh tế nhưng đóng góp của nguồn vốn này vào tăng trưởng là thấp, tác động của FDI hầu như không xảy ra Như vậy việc thu hút và
sử dụng FDI như trên là chưa thành công, chưa tận dụng triệt để nguồn lực này dưới góc độ tăng trưởng năng suất hiệu quả Thực trạng này khiến các nhà kinh tế quan tâm nhiều hơn tới việc nghiên cứu và đánh giá tác động của FDI tới các doanh nghiệp,trong
đó có các DN thuộc ngành dệt may
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của FDI đối với một nền kinh
tế và thường sử dụng phương pháp phân tích định lượng để kiểm định và lượng hóa các tác động này Đầu tiên là nghiên cứu của Caves (1974) về tác động tràn công nghệ FDI lên các DN nội địa Cụ thể, nghiên cứu của Caves (1974) đối với 23 ngành sản xuất của Úc,Globerman (1979) đối với các ngành sản xuất của Canada, một số nghiên cứu về các ngành sản xuất ở Mehico và Indonesia của Blomstrom và Persson (1983), Blomstrom (1986), Blomstrom và Edward Wolff (1994), Blomstrom và Sjoholm (1999) đã chỉ ra tác động tràn tích cực của FDI Trong khi đó, các nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999) cho các công ty của Venezuela, Djankov và Hoekman (2000) của Cộng hòa Séc, Konings (2001) của Bulgaria và Romania lại đưa ra kết luận ngược lại, là FDI có tác động tiêu cực hoặc không tồn tại tác động Mặt khác, các nghiên cứu của Girma và Wakelin (2001) , Harris và Robinson (2003) cho các công ty của Anh, Barrios và Strobl (2002) của Tây Ban Nha, Haddad và Harrisson (1993) cho các công ty của Maroc, Kokko (1996,2001) cho các công ty của Uruguay, Kugler (2001) của Colombia, Kathuria (2000) cho Ấn Độ, Kinoshita (2001) cho Cộng hòa Séc, Bosco (2001) cho Uruguay và Konings cho Ba Lan cho kết quả là FDI có tác động không đáng kể hoặc hỗn hợp Kết quả thực nghiệm khác nhau là do giai đoạn nghiên cứu khác nhau, hoặc do thực trạng nghiên cứu cho từng nước hoặc từng nhóm nước cụ thể Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây có những biến đổi
Trang 9nhanh chóng và phức tạp, đặc biệt là các dòng FDI đã có những dịch chuyển đáng kể theo vùng lãnh thổ hoặc quốc gia, do đó, kết quả sẽ có sự khác nhau
Như vậy, vai trò của FDI là rất lớn và cần phải có những chính sách thích hợp trong việc thu hút và sử dụng nguồn nhân lực FDI Để có thể thích ứng nhanh với các yêu cầu trong tình hình mới, một mặt bản thân các quốc gia/DN phải nổ lực, nhưng mặt khác phải tận dụng tốt những ưu điểm, lợi thế do FDI mang lại Do vậy, vấn đề cấp thiết là cần nghiên cứu tác động của FDI ở phạm vi ngành hoặc phạm vi DN nào đó
Ở Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về FDI, đặc biệt có một số nghiên cứu về tác động của FDI tới các DN trong nước như: các nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh(2006), Nguyễn Phi Lân (2006), Lê Quốc Hội (2008), Lê Quốc Hội và Nguyễn Quang Hồng (2009) Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tận dụng tốt những cơ hội và tác động tích cực của FDI đết các DN dệt may Việt Nam Muốn vậy phải có nghiên cứu, đánh giá khách quan xác thực về tác động của FDI, tìm ra các nguyên nhân cản trở, ách tắc từ đó có quan điểm giải pháp phù hợp và hiệu quả Vì vậy, tác giả chọn đề
tài : “Phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng TFP doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2000-2012” để nghiên cứu
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tác động của FDI đến các DN nội địa thuộc ngành dệt may Việt Nam, nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả tác động của FDI Mục tiêu cụ thể như sau:
- Tổng quan về TFP, vai trò của TFP
- Những vấn đề chung về FDI
- Chỉ ra một số kênh truyền dẫn tác động của FDI tới các DN Dệt may Việt Nam
Trang 10- Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của FDI tới các DN Dệt may Việt Nam bằng việc sử dụng phân tích mô hình định lượng
- Phân tích một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tác động của FDI tới các DN Dệt may Việt Nam
- Dựa vào kết quả nghiên cứu và phân tích đưa ra quan điểm và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm khai tác tối ưu nguồn lợi từ tác động của FDI đem lại
-Xem xét các kênh truyền tải FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng TFP doanh nghiệp ngành dệt may như thế nào?
3.KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được chia làm 2 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp về mô hình nghiên cứu
- Chương 2: Kết quả thực nghiệm và kết luận
Trang 11Khi đo lường năng suất có thể xem xét năng suất cho từng nhân tố, nhóm hay toàn bộ các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất Việc đo lường năng suất cho từng nhân tố thì đơn giản nhưng sử dụng để phân tích trở lên khó khăn Chẳng hạn nhờ đầu
tư quá nhiều vào máy móc, còn lao động giữ nguyên về lượng lẫn chất thì năng suất lao động vẫn tăng Điều này là khó có thể chấp nhận được!
Một giải pháp cho vấn đề này chính là tính chỉ tiêu năng suất cho tổng các nhân tố Hiện nay, các nước sử dụng rộng rãi chỉ tiêu TFP (Total factor productivity)
để phản ánh hiệu quả các nguồn lực Ở Việt Nam chỉ tiêu cũng được các nhà kinh tế quan tâm nhiều cả về lý thuyết và ứng dụng vào thực tiễn
1.2 LÝ THUYẾT VỀ TFP:
Khiđo lường năng suất có thể xem xét năng suất cho từng nhân tố, nhóm hay toàn bộ các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất Việc đo lường năng suất cho từng nhân tố thì đơn giản hơn nhưng sử dụng để phân tích thì rất khó khăn Chẳng hạn nhờ đầu tư rất nhiều vào máy móc, còn lao động giữ nguyên về lượng lẫn chất thì năng suất lao động (NSLĐ) vẫn tăng Khi nghiên cứu các số liệu thống kê, các nhà phân tích kinh tế
Trang 12đã phát hiện ra rằng, tại các nước có trình độ phát triển cao, trong tốc độ tăng lên của kết quả sản xuất, sau khi loại trừ phần đóng góp do các yếu tố đầu tư thêm lao động và vốn, đất đai, tài nguyên,… thì vẫn còn lại một phần “dôi ra” đáng kể; và phần “dôi ra” này tùy thuộc vào quá trình áp dụng ngày càng nhiều hơn các tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức quản lý hiện đại Hiểu một cách khái quát, thì phần “dôi ra” này chính là năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP- Total Factor Productivity) Thuật ngữ tiếng Anh
“Total Factor Productivity” được dịch ra tiếng Việt theo nhiều cách, có tài liệu dịch là
“Tổng năng suất nhân tố” hay như trong Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam
2006-2007 của Trung tâm Năng suất Việt Nam (2009), TFP được dịch là “Năng suất các yếu
tố tổng hợp” Trong tác phẩm “Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại châu Á- Thái Bình Dương”, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Văn Thọ, có viết “Phần còn lại (trong kết quả sản xuất tăng lên sau khi loại trừ phần đóng góp do yếu tố đầu tư thêm về lao động nhân công, tư bản, tài nguyên…) là hiệu quả tổng hợp không giải thích được bằng sự gia tăng của các yếu tố sản xuất và được xem là kết quả của các yếu tố liên quan đến hiệu suất Nền kinh tế phát triển càng có hiệu suất thì phần còn lại này càng lớn Trong phương pháp tính toán về sự tăng trưởng, phần còn lại này được gọi là năng suất nhân
tố tổng hợp (TFP)” Còn trong Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006-2007 của Trung tâm Năng suất Việt Nam (2009): TFP là phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như kiến thức- kinh nghiệm- kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá - dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng quản lý Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn Nói tóm lại, TFP
là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động, nhờ vào tác động của các nhân tố đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động,…
Trang 13
Trong đó: Y: Tổng các đầu ra
X: Tổng có quyền số tất các đầu vào
- Khi hàm sản xuất chỉ có hai nhân tố vốn (K) và lao động (L) theo dạng:
[ ]
t t t t
Y A f K L thì A t trong mô hình này chính là TFP
- Hay trong hàm sản xuất Cobb-Douglas 1
TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực đƣợc sử dụng vào sản xuất Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết
Trang 14Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng đầu vào Điều này
là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội
TFP thay đổi do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thay đổi chất lượng lao động Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng lao động chính là việc đầu tư nguồn lực con người bằng chính sách giáo dục, đào tạo :
- Thay đổi cơ cấu vốn;
- Thay đổi công nghệ;
- Phân bố lại nguồn lực;
Chỉ tiêu TFP rất quan trọng trong phân tích kinh tế Sự biến động TFP được Solow sử dụng đầu tiên nhằm phản ánh sự thay đổi công nghệ và giải thích sự tăng trưởng kinh tế
Từ đó về sau được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi và trở thành một chỉ tiêu không thể thiếu trong phân tích kinh tế
Sự biến động TFP được đo lường theo mức tuyệt đối và tương đối
Xuất phát từ những nguồn tài liệu khác nhau, chúng ta có phương pháp phân tích phù hợp Sau đây chúng ta nghiên cứu một trường hợp phổ biến là sử dụng hàm sản xuất với hai nhân tố đầu vào để phân tích sự biến động của TFP và mức ảnh hưởng của
nó đến sự biến động kết quả sản xuất
Giả định chúng ta xem xét hàm sản xuấtY t A f K L t ( t, t)(1) Với A t chính là TFP Trong mô hình này chúng ta xem Y, A, K và L là hàm liên tục theo thời gian Còn hàm f là thuần nhất bậc một Qua mô hình này ta thấy kết quả sản xuất Y thay đổi do các đầu vào và TFP
Trang 15Chúng ta lấy vi phân hai vế của (1) theo thời gian, ta được:
t
f K L f
t
f K L f
L
Chia cả hai vế của (2) cho Yt, ta được:
Tương ứng là hệ số co giãn của đầu ra theo vốn và lao động
Như vậy tốc độ tăng của kết quả sản xuất bằng tổng gia quyền các tốc độ tăng của các đầu ra và tốc độ tăng của TFP
Với những quyền số đã cho, chúng ta dùng biểu thức (3) để tính tốc độ tăng của TFP
Theo Solow (1956) trong điều kiện nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo thì các hệ số
co giãn có thể đo lường thông qua tỷ trọng đóng góp của từng nhân tố Trong điều kiện cạnh tranh, để cực đại lợi nhuận, các doanh nghiệp bán sản phẩm của mình tại mức giá
pt, và thuê hay mua các đầu vào tại mức giá pKt và pLtsao cho: (4)
Trang 16Vì vậy, chúng ta có thể đo lường tốc độ tăng TFP bằng cách dùng số liệu thu thập được về tốc độ tăng của đầu ra, tốc độ tăng của các đầu vào và tỷ trọng đóng góp của các nhân tố Cách đo lường về tốc độ tăng của TFP như vậy chính là phần dư Solow:
Như vậy, tốc độ tăng của TFP chính là tốc độ tăng của kết quả sản xuất sau khi
đã loại trừ ảnh hưởng của tốc độ tăng đã được gia quyền của các đầu vào
Ngoài cách tính như trên chúng ta có thể sử dụng hàm lôgarit tự nhiên (Ln) để ước lượng tốc độ tăng trưởng của TFP
Z Z
Có nghĩa là Ln (tốc độ phát triển) tốc độ tăng
Bây giờ, chúng ta xem một trường hợp hàm sản xuất là Cobb-Douglas với hai yếu tố đầu vào như sau:
Trang 17Như vậy, chúng ta đã có thể hiểu về bản chất của TFP và một số cách tiếp cận
về phương pháp nghiên cứu sự biến động của nó Tuy nhiên, để có thể vận dụng vào thực tiễn là một vấn đề không đơn giản bởi nguồn số liệu
1.3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TFP
Năng suất các nhân tố tổng hợp (viết tắt tiếng Anh là TFP) xét cho cùng là kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động (các nhân tố hữu hình), nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động của công nhân,v.v (gọi chung là các nhân tố tổng hợp)
Để hiểu rõ nội dung, bản chất của chỉ tiêu năng suất các nhân tố tổng hợp, điều kiện áp dụng phương pháp và khả năng tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp
bài viết sẽ trình bày quá trình hình thành công thức tính tỷ lệ tăng lên của kết quả sản
xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung, cách tính tốc độ tăng năng suất các nhân
tố tổng hợp theo phương pháp hạch toán và theo hàm sản xuất Cobb-Douglass cũng như mối quan hệ giữa các phương pháp
Công thức tính tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung
Khi nghiên cứu về năng suất trên cơ sở chỉ tiêu đầu ra là giá trị tăng thêm (ký hiệu là Y) và 2 chỉ tiêu đầu vào: vốn cố định (ký hiệu là K) và lao động (ký hiệu là L), công thức tính mức năng suất tổng hợp chung (ký hiệu là P) như sau:
Trang 18Y Y P
b K L N
Trong đó b là hệ số chuyển đổi từ vốn (tính bằng tiền) về lao động tính bằng người Và như vậy đại lượng b.K là lao động quy đổi, lúc đó Nb K L và được gọi
là tổng số lao động xã hội hoặc tổng số nguồn lực sản xuất
Từ đó công thức 1 suy ra:
0,1 ký hiệu cho kỳ gốc và kỳ báo cáo;
IY là chỉ số phát triển về giá trị tăng thêm;
IP là chỉ số phát triển về năng suất tổng hợp chung;
IN là chỉ số phát triển về nguồn lực sản xuất
Trên cơ sở hệ thống chỉ số 3 (theo nguyên tắc tính số tuyệt đối của chỉ số) ta có
công thức tính kết quả sản xuất (GTTT) mang lại do nâng cao năng suất tổng hợp
( ) ( 1 0) (4)1
Trang 19Từ đó tiếp tục xây dựng công thức tính tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất
(5)
y y
Lao động và vốn là 2 đại lượng có đơn vị tính khác nhau (vốn tính bằng tiền còn lao động tính bằng người), nên không thể cộng trực tiếp vốn với lao động rồi đem
so sánh giữa các thời kỳ với nhau để được chỉ số nguồn lực sản xuất Đã có nhiều nhà kinh tế và thống kê trên thế giới đưa ra giải pháp khắc phục khó khăn trên bằng cách quy đổi vốn về lao động hoặc quy đổi lao động về vốn theo các hệ số quy đổi với những giả định nào đó (theo công thức 1 ta đã giả thiết có được hệ số quy đổi vốn về lao động b và khi đó có tổng số lao động:N b K L)
Tuy nhiên, những đề nghị quy đổi như trên là rất phức tạp, hiện vẫn còn ở dạng lý thuyết và chưa được nhất trí cao nên chưa đưa vào sử dụng
Nói cách khác, chưa thể áp dụng công thức 5 (ở dạng khái quát) để tính toán tỷ
lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung trên cơ sở chỉ
số nguồn lực được xác định một cách trực tiếp (quy đổi vốn và lao động về cùng loại đơn vị tính để tổng hợp và so sánh)
Tínhtốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo phương pháp hạch toán
Trang 20Công thức tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp Theo phương pháp hạch toán do Tổ chức Năng suất Châu Á đưa vào áp dụng có dạng:
Trở lại phân tích chỉ số phát triển nguồn lực (IN) từ công thức 6
Khi tách nguồn lực sản xuất N thành hai đại lượng cụ thể (vốn quy đổi về lao động) thì chỉ số phát triển nguồn lực có dạng:
Trang 21b là Hệ số quy đổi vốn về lao động và bK là vốn quy đổi về lao động
0, 1 là ký hiệu cho kỳ gốc và kỳ báo cáo
Chỉ số nguồn lực theo công thức 9a có thể biến đổi
Trang 22Có được các hệ số đóng góp của vốn () và hệ số đóng góp của lao động () theo phương pháp hạch toán, còn có thể xây dựng được công thức tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp như công thức 6 theo cách tiếp cận khác
Thật vậy, khi ta thừa nhận là hệ số đóng góp của vốn và là hệ số đóng góp của lao động ( + = 1) đối với việc tạo ra giá trị gia tăng (Y) thì cũng có nghĩa là chỉ tiêu giá trị gia tăng được chia thành hai phần: một phần do vốn tạo ra (Y‟) bằng nhân với Y (Y‟ = Y) - được gọi là giá trị tăng thêm riêng phần của vốn, và một phần do
lao động tạo ra (Y”) bằng nhân với Y (Y” = .Y) - được gọi là giá trị tăng thêm
riêng phần của lao động
Nếu lấy giá trị tăng thêm riêng phần của vốn (Y‟) chia cho vốn (K) sẽ được năng suất vốn riêng phần của vốn (P K) :
'(12 )
''(12 )
Trang 23L L
Trang 24Từ công thức (15b) có công thức tính tốc độ tăng lên của giá trị tăng thêm do lao động đóng góp:
0 ( )
Tốc độ tăng TFP=Tốc độ tăng GTTT-(Tốc độ tăng GTTT do tăng vốn +Tốc độ
tăng GTTT do tăng lao động)(17)
Thay tốc độ tăng giá trị tăng thêm(I y),tốc độ tăng giá trị tăng thêm do vốn đóng góp [I Y K( )như công thức 16a] và tốc độ tăng giá trị tăng thêm do lao động đóng góp [I Y L( )như công thức 16b] vào phương trình (17) ta có:
Y là giá trị lý thuyết về giá trị tăng thêm
P là mức năng suất bình quân chung
Trang 25Tham số P và các hệ số , có thể tính được nhờ vào hệ phương trình chuẩn tắc được xây dựng trên cơ sở áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất
Khi có được P, và (các hằng số) lần lượt thay các giá trị của vốn và lao động từng năm i (K i và L i) vào hàm số ta sẽ tính được các giá trị lý thuyết của các năm đó(Y i)
So sánh giá trị lý thuyết của năm i với năm trước năm i (i – 1) ta sẽ có:
Từ công thức 20 ta thấy so sánh giữa Y i và Y i1tham số P có cả ở tử số và mẫu
số nên triệt tiêu cho nhau, còn lại sự chênh lệch giữa 2 đại lượng này
(21)
K L K L
IN I I I I
( + = 1) Qua cách xây dựng và biến đổi như trên ta đã tìm được chỉ số phát triển nguồn lực (IN) như là số bình quân hình học gia quyền giữa 2 chỉ số phát triển về vốn và lao động với quyền số là các hệ số đóng góp của vốn () và hệ số đóng góp của lao động ()
Ví dụ: Có số liệu về các chỉ tiêu chủ yếu của ngành sản xuất “X” qua các năm
thuộc thời kỳ 91-99 như bảng 1
Từ số liệu bảng 1 ta tính toán các chỉ tiêu trung gian cần thiết rồi thay các giá trị thực tế phù hợp vào hệ phương trình chuẩn tắc và giải ra ta được:
P = 23,56; = 0,642
Trang 26 = 1 - 0,642 = 0,358
Tiếp tục tính các chỉ số giá trị tài sản cố định và chỉ số lao động qua các năm
và trên cơ sở các hệ số = 0,642 và = 0,358 áp dụng công thức 20 ta tính được chỉ
Lao động làm việc (người)
Trang 27BẢNG 2 TÍNH CHỈ SỐ NGUỒN LỰC CHUNG CỦA TÀI SẢN CỐ
ĐỊNH VÀ LAO ĐỘNG
Nguồn:tác giả tự tổng hợp
(*) Ghi chú: hệ số = 0,642 và = 0,358 tính chung cho tất cả các năm
Theo số liệu về tốc độ phát triển liên hoàn qua các năm bình quân chung của vốn và lao động ở cột 3 bảng 2 ta tính đƣợc tốc độ phát triển bình quân năm thời kỳ 92-
99 của chỉ tiêu này: IN = 1,0968
Với tốc độ phát triển bình quân năm thời kỳ 91-99 của giá trị tăng thêm của ngành “X” IY = 110,07 và nguồn lực sản xuất tính đƣợc ở trên IN = 1,0968, áp dụng công thức 5 ta tính đƣợc tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung (I y( )P ): 110,07 - 109,68 = 0,39%
Qua quá trình chứng minh trên đây cho thấy tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (I TFP) chính là tỷ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung và đƣợc tính khái quát nhƣ công thức 5: I Y a I Y I N Trong đó, chỉ số
TT Năm Chỉ số giá trị
TSCĐ (IK)
Chỉ số lao động (IL)
Trang 28(tốc độ) phát triển nguồn lực (IN) được tính như là a) chỉ số bình quân số học gia quyền giữa 2 chỉ số vốn (IK) và chỉ số lao động (IL) với quyền số là các hệ số đóng góp của vốn () và hệ số đóng góp của lao động () nếu tính theo phương pháp hạch toán và được tính như là chỉ số bình quân hình học gia quyền giữa 2 chỉ số vốn (IK) và chỉ số lao động (IL) với quyền số là các hệ số đóng góp của vốn () và hệ số đóng góp của lao động () nếu tính theo hàm sản xuất Cobb-Douglass
Sự khác nhau của kết quả tính toán tốc độ tăng TFP theo phương pháp hạch toán và phương pháp dùng hàm sản xuất Cobb -Douglass chủ yếu phụ thuộc vào trị số khác nhau của các hệ số đóng góp của vốn () và hệ số đóng góp của lao động () Còn nếu có quyền số và bằng nhau, thì việc tính IN theo chỉ số bình quân số học gia quyền hay chỉ số bình quân hình học gia quyền kết quả khác nhau không đáng kể
Tínhtốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp theo Phương pháp
đa chỉ số
Năng suất các yếu tố TFP cho công ty i trong năm t được xác định như sau:
1 1
1
1 j
1 1
1
ln (ln ln ) (ln ln )
1( )(ln ln )2
1( )(ln ln )2
Số hạng đầu tiên của dòng đầu tiên chỉ ra độ lệch của các đầu ra của công ty i
từ đầu ra của công ty giả định trong năm t Số hạng thứ hai có nghĩa là sự thay đổi tích
Trang 29lũy trong đầu ra của các công ty giả định từ năm 0 đến năm t Các hoạt động tương tự được áp dụng cho các đầu vào nhân tố j dòng thứ hai và thứ ba được đo theo mức trung
bình của tính chia đầu vào của vốn
Đầu ra được định nghĩa là giá trị gia tăng trong khi đầu vào là vốn và lao động Với bộ số liệu điều tra doanh nghiệp, chúng tôi xử lí để loại bỏ những doanh nghiệp không có đủ số liệu trong thời kỳ nghiên cứu (2000-2013), các doanh nghiệp có
số liệu không thích hợp như doanh thu âm, lao động âm, tài sản âm, vốn âm, giá trị gia tăng âm và giá trị trung gian âm Sau đó, chúng tôi chạy mô hình để tính phần chia của vốn và phần chia của lao động qua từng năm kết quả được tóm tắt như sau:
BẢNG 3 PHẦN CHIA CỦA VỐN VÀ LAO ĐỘNG CÁC NĂM 2000-2012
Phần chia lao động
Nguồn: tác giả tính toán từ bộ số liệu điều tra các doanh nghiệp
Tiếp theo, để ước lượng TFP theo mô hình này, chúng tôi thực hiện 6 bước tính toán như sau:
Trang 30BẢNG 4 QUY TRÌNH TÍNH TFP ĐA CHỈ SỐ
S1,t LnYt-ElnY lnYt: logrit doanh thu; E(X): trung bình X
S2,t (lnYt,i-lnYt-1,i)+S1,2
S3,t 0,5(alKt+EalK)(lnKt-lnElnK) alKt: Phần chia của vốn tại tời điểm t
S4,t 0,5(alLt+EalL)(lnLt-lnElnL) alLt: Phần chia của lao động tại thời điểm t
Nhìn chung ở Việt Nam có rất nhiều phương pháp tính TFP, tuy nhiên chỉ mang tính chất tương đối Luận án này tác giả dùng phương pháp tính TFP đa chỉ số để thực hiện tính toán
Trang 31thể chế kinh tế, yếu tố thị trường, trình độ khoa học công nghệ, cơ chế quản lý, tài nguyên thiên nhiên, lợi thế so sánh,… đều có vai trò đối với tăng trưởng và phát triển
Ví dụ, những thành tựu KH&CN được vật chất hóa và được chuyển giao ứng dụng vào các lĩnh vực sản xuất thì trở thành bộ phận lực lượng sản xuất quan trọng có tính quyết định đến hiệu quả sản xuất Trong quá trình phát triển, sự tăng lên của đầu vào - lao động và vốn - cũng gia tăng, nhưng một điều dễ nhận thấy là ở các nước phát triển, thành phần quan trọng nhất đóng góp cho tăng trưởng sản lượng là sự gia tăng của TFP Nếu mỗi nền kinh tế biết cách khai thác được ngày càng nhiều hơn từ mỗi chiếc máy, hay mỗi người công nhân thông qua công nghệ tốt hơn hoặc từ những phương tiện khác, thì sản lượng và thu nhập sẽ cao hơn mà không cần đầu tư nhiều thêm về vốn Điều này rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng lương, nâng thưởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn Đối với doanh nghiệp thì có khả năng
mở rộng tái sản xuất Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội Nếu TFP thấp, thì tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững Lấy Malaysia làm ví dụ, trong những thập kỷ trước, trong số các yếu
tố đóng góp vào mức tăng trưởng của Malaysia, tỷ lệ đóng góp của TFP vẫn còn thấp Chẳng hạn, trong giai đoạn 1960 đến 1994, yếu tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng sản lượng của Malaysia là nguồn vốn vật chất- chiếm 60,8%, trong khi đóng góp của TFP ít hơn rất nhiều, chỉ ở mức 24,2% Đây là một hạn chế của nền kinh tế Malaysia,
vì quá trình tăng trưởng chủ yếu dựa trên sự tích lũy của nguồn vốn vật chất mà ít dựa vào đóng góp của TFP, thực chất chỉ là một quá trình tăng trưởng theo chiều rộng và bị hạn chế bởi quy luật lợi tức giảm dần; theo đó chi phí cho tăng trưởng ngày càng cao
và do vậy, khó mà kéo dài được tốc độ tăng trưởng cao liên tục
Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều phương pháp tính TFP, tuy nhiên chỉ mang tính chất tương đối, luận án này sử dụng phương pháp đa chỉ số để tính TFP
Trang 32Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên
* Vai trò:
Là một quốc gia đang phát triển, nếu xét về khía cạnh là bên nhận đầu tư thì vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là rất to lớn:
Thứ nhất, FDI bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Trong các lí luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI
Thứ hai, FDI đẩy nhanh tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng” Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh
Trang 33mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước
Thứ ba, FDI tạo nguồn thu ngân sách lớn
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng
Thứ tư, FDI góp phần tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ năm, FDI thúc đẩy kinh tế trong nước tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cậu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu
(Theo bài phân tích: “ Đặc điểm và vai trò của FDI” trên trang web:
http://www.dankinhte.vn/dac-diem-vai-tro-cua-fdi/ )
Trang 341.5.2 CÁC BIẾN TRUYỀN TẢI FDI:
Theo “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất các doanh
nghiệp ngành chế tạo kim loại Việt Nam”_Kỷ yếu công trình khoa học-Phần I trang 4,5 Để đánh giá tác động của FDI đến các doanh nghiệp nội địa thì cần phải xây dựng
được các kênh truyền tải ảnh hưởng của lan tỏa công nghệ đến các doanh nghiệp trong nước Ngoài các kênh lan tỏa ngang, lan tỏa dọc thì còn một loại tác động lan tỏa liên ngành khác là lan tỏa ngược cung: Markusen và Anthony J.Venable (1999) đã lý thuyết hóa rằng: “ FDI cũng có thể tạo ra cầu đối với đầu ra địa phương và “ những liên kết ngược” này có thể tăng sức mạnh các ngành cung cấp, mà đến lượt nó cung cấp nguyên liệu (qua các kênh xuôi) cho các doanh nghiệp địa phương khác” Trong một
mô hình hai ngành, họ chỉ ra bằng cách nào đầu tư nước ngoài có thể tạo ra cầu đối với các sản phẩm trung gian sản xuất tại địa phương, khuyến khích các nhà cung cấp tại địa phương sản xuất các đầu vào theo các tiêu chuẩn chất lượng nước ngoài cao hơn và cuối cùng làm cho các nhà sản xuất địa phương trong các ngành phía hạ nguồn năng suất hơn thông qua sự sẵn có các đầu vào tốt hơn Các kênh truyền tải cần xây dựng sẽ được mô tả chi tiết như sau:
Biến độc lập Horizontal (Hor) cho biết mức độ tham gia của nước ngoài trong ngành và được tính bằng tỷ trọng vốn nước ngoài bình quân của tất cả doanh nghiệp trong ngành, trọng số lấy bằng tỷ trọng của sản lượng từng doanh nghiệp trong sản lượng ngành:
Trang 35lượng của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và tỷ trọng vốn nước ngoài trong các doanh nghiệp này
Biến độc lập Backward (Back) lan tỏa ngược: biểu thị mức độ tham gia của nước ngoài trong các ngành mà nhà cung cấp đầu vào cho chúng có các doanh nghiệp của ngành đang nghiên cứu, và do vậy sẽ phản ánh mức độ hợp tác giữa các nhà cung cấp nội địa với các khách hàng là doanh nghiệp FDI Biến này được tính như sau:
Trong đó ajk là tỷ trọng sản lượng ngành j được cung cấp cho ngành k, được rút
ra từ ma trận I-O (2007) với 2 chữ số Tỷ trọng được tính nhưng bỏ đi các sản phẩm dùng cho tiêu dùng cuối cùng và cộng thêm vào các sản phẩm trung gian nhập khẩu Như công thức đã cho, chúng ta không đưa vào các đầu vào được cung cấp trong nội
bộ ngành bởi vì chúng ta thể hiện tác động này trong biến Horizontal Do vậy, sự tham gia nhiều hơn của phía nước ngoài trong các ngành nhận đầu vào từ ngành j và tỷ trọng sản phẩm trung gian được cung cấp cho các ngành có sự hiện diện của doanh nghiệp đa quốc gia lớn hơn thì giá trị của biến số này sẽ lớn hơn
Biến độc lập Forward (For) lan tỏa xuôi: biểu thị mức độ tham gia của nước ngoài với bên mua tại địa phương là các doanh nghiệp, được định nghĩa như sau:
Biến độc lập Supply backward(Sback) nắm bắt giả thiết của Markusen và Venables được xây dựng theo cách sau:
Trang 36Theo Nội dung từ trang 59-60 đề tài:“Các mô hình hội tụ năng suất trong
ngành chế biến thực phẩm và đồ uống Việt Nam giai đoạn 2000-2010” của TS Phan Tất Hiển ta có thể tóm tắt các biến biểu thị kênh lan tỏa nhƣ sau:
Trang 37BẢNG 5 BIỂU THỊ CÁC KÊNH LAN TỎA
Nguồn:tác giả tự tổng hợp