1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại công ty TNHH phương hà, xã hương lung huyện cẩm khê tỉnh phú thọ

65 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 836,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- HOÀNG THỊ THANH THANH THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TNHH PHƯƠNG HÀ, HUYỆ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

HOÀNG THỊ THANH THANH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TNHH

PHƯƠNG HÀ, HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÖ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

HOÀNG THỊ THANH THANH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY TNHH

PHƯƠNG HÀ, HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÖ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K45 – CNTY N01

Khóa học: 2013 – 2017 Giáo viên hướng dẫn: TS Phan Thi ̣ Hồng Phúc

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

suốt quá trình thực tập Đặc biệt, cô giáo hướng dẫn TS Phan Thị Hồng Phúc

đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chú Phạm Đức Hùng - chủ trại và tập thể cán bộ nhân viên, ban lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật và các anh, chị công nhân viên tại trại công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên,

cổ vũ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, 18 tháng 06 năm 2017

Sinh viên

Hoàng Thị Thanh Thanh

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và nuôi con 11

Bảng 2.2 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa 12

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà qua 3 năm 2014 - 2016 30

Bảng 4.2 Khẩu phần ăn cho đàn lợn tại trại 32

Bảng 4.3 Số lượng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 33

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện đỡ đẻ, phẫu thuật trên đàn lợn con 37

Bảng 4.5 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi trong thời gian thực tập 40

Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái 41

Bảng 4.7 Lịch sát trùng trại lợn nái 43

Bảng 4.8 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 45

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 48

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 49

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 5

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái chửa 8

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 8

2.2.3 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 10

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản 15

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 25

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung thực hiện 28

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 28

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 28

3.4.2 Phương pháp thực hiện 28

Trang 7

v

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

3.4.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 29

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại trong 3 năm gần đây (2014 – 2016) 30

4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn 31

4.2.1 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 31

4.2.2 Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con 35

4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà trong thời gian thực tập 39

4.4 Một số chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái 41

4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà 42

4.5.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 42

4.5.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con 44

4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà 46

4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản 46

4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty TNHH Phương Hà 49

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

I Tiếng Việt 53

II Tiếng Anh 55 PHỤ LỤC

Trang 8

Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái

là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta

để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em đã thực hiện chuyên

đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn

nái sinh sản tại Công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”

Trang 9

2

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai, nuôi con

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 10

3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phương Hà thuộc địa bàn xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Vị trí địa lý của huyện được xác định như sau:

- Phía Đông giáp huyện Thanh Ba với ranh giới là dòng sông Thao quanh năm nước đỏ phù sa

- Phía Tây giáp huyện Yên Lập với ranh giới là dãy núi vòng cung thuộc dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc từ Tây Bắc xuống Đông Nam

- Phía Nam giáp huyện Tam Nông, ranh giới là dòng sông Bứa chảy từ Tây sang Đông đổ ra sông Thao

- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa, ranh giới là ngòi Giành - một chi lưu nhỏ của dòng sông Thao

Huyện có 31 đơn vị hành chính Dân số huyện Cẩm Khê gần 13 vạn người, tổng diện tích tự nhiên là 234.55 km²

Trang 11

+ Mùa mưa: nóng ẩm, mưa nhiều

+ Mùa khô: thời tiết khô, rét, ít mưa

2.1.1.3 Kinh tế xã hội

Cẩm Khê có lợi thế nhiều hồ, đầm lớn và đồng chiêm trũng với diện tích mặt nước là 3.370 ha và diện tích trồng lúa một vụ là 1.900 ha Rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản Bởi vậy mà nhiều tôm, cá và thuỷ sản khác Nghề

cá nuôi ở Cẩm Khê xuất hiện từ rất sớm Với sản lượng 2.200 tấn cá hàng năm, cá Cẩm Khê không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn có mặt ở các tỉnh, thành phố khác

Cẩm Khê đã có đề án phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó, người chăn nuôi được hỗ trợ về giống, vốn và kỹ thuật Đề án đã tạo nên phong trào nuôi trồng thủy sản rộng khắp Đến nay, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện đã đạt 1.609 ha Nghề nuôi cá lồng cũng bước đầu phát triển Ngoài những loại cá truyền thống như trôi, mè, chép đã xuất hiện một số giống có năng suất, chất lượng cao như tôm càng xanh, rô phi đơn tính, chép lai ba máu Nghề nuôi ba ba cũng hình thành và đang mở rộng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2009 trại đi vào sản xuất được 8 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện, trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam

mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi

đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề Trại có 32 cán bộ nhân viên trong đó:

Trang 12

5

Lao động gián tiếp có 6 người

+ Giám đốc công ty: 1

+ Một kế toán: 1

+ Làm vườn, nấu ăn: 2

+ Bảo vệ: 2

Lao động trực tiếp có 26 người

+ 2 kỹ sư chăn nuôi

để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước,

có 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 120 ô chuồng, 1 chuồng bầu có 1056 ô chuồng, 4 chuồng cách li với 40 con/chuồng và 1 chuồng đực với 20 ô chuồng, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa

Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và vòi phun nước trên mái Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại

Tổng diện tích của trang trại là 5 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi,

1 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác

Trang 13

6

- Hệ thống nước sạch được lấy từ suối đầu nguồn về bể lớn rồi được xử

lý bằng chlorine với nồng độ khoảng 3 - 5 ppm Sau đó nước được đưa tới các

ô chuồng đảm bảo cho việc cung cấp nước uống tự động cho lợn Nước tắm cho lợn và rửa chuồng hàng ngày được bơm trực tiếp từ bể chứa Trại chăn nuôi được Sở khoa học công nghệ, Sở tài nguyên môi trường hỗ trợ kỹ thuật cũng như kinh phí trong công tác xử lý chất thải

- Hệ thống điện được dẫn từ trạm biến áp 110 kV của trại đầu tư, phục

vụ cho chăn nuôi và cho bà con thôn lân cận có nhu cầu sử dụng điện Ngoài

ra trại còn chuẩn bị máy phát điện dự phòng

- Các cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ khác

Nằm trong khu vực sản xuất của trại là phòng làm việc của cán bộ kỹ thuật, một nhà kho và phòng trực của cán bộ công nhân viên Trong phòng kỹ thuật được trang bị tương đối đầy đủ dụng cụ chăn nuôi thú y thông dụng như: xilanh, panh, dao mổ, kim tiêm, kìm bấm số tai, kìm cắt đuôi, kìm bấm nanh, bình phun thuốc sát trùng, tủ thuốc thú y và tủ lạnh đựng vắc xin Trong khu vực sản xuất, trại có một phòng khai thác, pha chế và bảo quản tinh dịch lợn đực giống

Nhà kho là nơi chứa thức ăn hàng ngày cho lợn, kho cám chứa thức ăn

đủ cho 10 ngày, sức chứa 28 tấn Trại xây dựng 6 bể chứa nước cùng 4 máy bơm nước phục vụ cho cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt

Ngoài cơ sở vật chất trên, trại còn chú trọng củng cố bếp ăn, nhà vệ sinh để phục vụ sinh hoạt hàng ngày của cán bộ công nhân viên trong trại

- Nhiệm vụ chính của trại chăn nuôi

Là cơ sở sản xuất lợn giống cho các trại gia công của công ty chăn nuôi Charoen Pokphand (CP), trại được giao nhiệm vụ nuôi giữ, nhân giống đàn lợn ông bà giống, để tạo ra đàn bố mẹ có chất lượng tốt cung cấp cho người chăn nuôi, nhằm tăng dần số lợn trong khu vực

Trang 14

- Ban lãnh đạo trại có năng lực, trình độ cao, nhiệt tình Cán bộ kỹ thuật giỏi, công nhân lao động, năng động, có tinh thần trách nhiệm và kinh nghiệm cao Toàn bộ cán bộ công nhân viên của trại là 1 tập thể đoàn kết có ý thức trách nhiệm cao và lòng yêu nghề

- Ban lãnh đạo trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho cán bộ, nhân viên

2.1.4.2 Khó khăn

Trại chăn nuôi nằm trên địa bàn hiểm trở, thời tiết diễn biến phức tạp, thường xuyên xảy ra rét đậm, rét hại, nguy cơ hạn hán, thiên tai, dịch bệnh có thể xảy ra trên diện rộng, nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn, không triệt để, chi phí phòng ngừa và chữa bệnh tăng, ảnh hưởng tới giá thành chăn nuôi

- Do đặc điểm sản xuất của ngành chăn nuôi lợn là ngành có chu kỳ sản xuất dài, tốc độ quay vòng vốn chậm nên lâu thu hồi vốn, mặt khác để đầu tư cho một chu kỳ sản xuất đòi hỏi một lượng vốn tương đối lớn

- Do nguồn nước có nhiều đá vôi, đây cũng là nguyên nhân không nhỏ gây ảnh hưởng cho sức khỏe của đàn lợn

- Cơ sở vật chất đã được sử dụng lâu năm nên một số bị xuống cấp tốn nhiều chi phí cho việc sản xuất

Trang 15

8

2.2 Tổng quan tài liệu

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái chửa

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [14]: Thời gian chửa của lợn trung bình là 114 ngày, dao động trong vòng từ 111 ngày đến 118 ngày chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn chửa kỳ I: Từ lúc phối giống có chửa đến ngày chửa thứ

84 Bào thai phát triển chậm, chỉ chiếm 1/4 khối lượng lợn con sơ sinh

+ Giai đoạn chửa kỳ II: Từ ngày 84 đến khi đẻ, bào thai lớn nhanh chiếm 3/4 trọng lượng sơ sinh

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú

ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý Đây là thời kỳ lợn mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa và đảm bảo chất dinh dưỡng Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích

từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng

113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn đẻ

2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

2.2.2.1 Số con sơ sinh còn sống đến 24h/ lứa đẻ

Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:

Trang 16

Loại đẻ ra còn sống: Trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,

dị dạng thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chưa nhanh nhẹn dễ bị lợn mẹ đè chết

Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ/ lứa

2.2.2.2 Số con cai sữa/ nái/ năm

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20] hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/ nái/ năm Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: Lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất

Trang 17

* Nhu cầu năng lượng

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc tùng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm

70 - 80 %, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

* Ảnh hưởng của khoáng chất

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

* Nhu cầu về protein

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể

Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn

có một lượng nhất định protein mất đi Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan hay chính sác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị

Trang 18

11

sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn

Bảng 2.1 Hàm lƣợng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và nuôi con

Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con

* Ảnh hưởng của vitamin

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt

- Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non

- Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ

- Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục

2.2.3.2 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa

* Dinh dưỡng lợn nái có chửa

Trang 19

12

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28]: Cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái có chửa để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân

để tiếp tục lớn thêm nữa Mức ăn cụ thể cho lợn nái ngoại như bảng sau:

Bảng 2.2 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa

(kg thức ăn/ nái/ ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái Nái gầy Nái bình

thường Nái béo

Từ phối giống đến 21 ngày 2,5 2,0 1,5+ Rau xanh

Từ 22 – 84 ngày sau phối giống 2,5 2,0 1,5+ Rau xanh

Từ 84 - 110 ngày sau phối giống 3,0 2,5 2,5

Từ 111 – 112 ngày sau phối giống 2,0 2,0 2,0

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu

đủ do dễ gây sảy thai

- Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm lượng thức ăn để phòng thức ăn chèn ép thai, bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

Trang 20

13

* Chăm sóc lợn nái chửa

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [28], kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa nhằm phòng sảy thai, làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát dục bình thường

+ Vận động: Thời gian vận động hợp lý là 1 – 2 lần/ngày với 60 – 90 phút/lần Lợn nái chửa kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho

đi lại trong sân chơi Khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng thì không cho lợn vận động

+ Tắm chải: Có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác dễ chịu, lợn thoải mái giúp kích thích tính thèm ăn

và phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Tắm chải cần tiến hành hàng ngày, đặc biết trong mùa hè, những ngày thời tiết nóng bức

+ Chuồng trại: Phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo, thoáng mát về mùa

hè, ấm áp về mùa đông Chửa kỳ I mỗi lô 3 – 5 con, chửa kỳ II mỗi con 1 lô

2.2.3.3 Chăm sóc lợn nái đẻ

+ Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [20]: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh

Trang 21

14

(0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Theo Hoàng Thị Phi Phượng và cs (2013) [21]: Lợn con sau khi đẻ nên

sử dụng bột mistral để làm khô cơ thể giúp lợn con không bị lạnh, làm sạch và nhanh khô cuống rốn đề phòng nhiễm trùng rốn Lợn con nhanh cứng cáp sau khi sinh, dễ dàng tiếp xúc với vú mẹ và sớm được bú sữa đầu Đó chính là nguồn năng lượng cũng như tăng khả năng miễn dịch từ mẹ truyền cho con Sử

Trang 22

15

dụng bột mistral ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể ngay từ khi mới sinh

ra, giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy và viêm da, tỷ lệ hao hụt của lợn con thấp

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [25] nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay, lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần

2.2.4 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.4.1 Bệnh sót nhau

Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi sổ thai 10- 60 phút thì nhau thai sẽ ra ngoài Nếu quá thời gian trung bình kể trên mà nhau

thai không được đẩy ra ngoài thì được gọi là sót nhau

* Nguyên nhân: Theo Văn Lệ Hằng và cs (2009) [8] bệnh sát nhau có thể do nhiều nguyên nhân

+ Giai đoạn chửa nhất là thời gian cuối lợn không được vận động thích hợp, dẫn đến cơ tử cung bị liệt, khi đẻ tử cung co bóp yếu, không đẩy được nhau và thai ra

+ Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết + Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt và sót lại Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được

+ Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo + Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi

+ Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung → giảm sức rặn của con mẹ

+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh

truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu

tạo của nhau làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ

Trang 23

16

* Triệu chứng: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2014) [13] căn cứ vào mức

độ sát nhau người ta chia ra làm 3 loại:

+ Sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai còn dính trên niêm mạc tử cung của con mẹ

+ Sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không chứa nhau thai ở gia súc đơn thai, chứa ít thai ở gia súc đa thai thì nhau thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung của con mẹ Phía còn lại nhau thai còn dính chặt trong tử cung

+ Sát nhau từng phần: Phần lớn màng nhau đã tách khỏi niêm mạc tử cung, chỉ một phần màng nhung hoặc núm nhau con còn dính với niêm mạc

tử cung của con mẹ

Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn có sót nhau hay không

* Điều trị: Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [23] can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây

ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

Trang 24

17

- Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp cơ trơn tử cung đẩy nhau

ra hết

- Sau khi nhau ra, dùng thuốc tím nồng độ 0,1% hoặc nước muối 0,9%

để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

2.2.4.2 Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa (MMA)

Theo trung tâm Chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [27] hội chứng viêm

tử cung - viêm vú - mất sữa (MMA - Mastitis - Metritis - Agalactia) là một hội chứng phức hợp các căn nguyên bệnh trên lợn nái, bệnh thường xảy ra trong giai đoạn lợn nái trước và sau khi đẻ Hội chứng này nằm trong nhóm bệnh do quản lý, bởi vậy, ta hoàn toàn có thể khống chế được

Theo Nguyễn Thị Hồng Minh và cs (2013) [17], triệu chứng lâm sàng

và điển hình của lợn nái mắc hội chứng MMA là: sốt, kém ăn, mệt mỏi, dịch viêm tử cung, không cho con bú, viêm sưng vú Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố và huyết sắc tố trong 1 hồng cầu của lợn mắc hội chứng MMA đều cao hơn các chỉ tiêu ở lợn bình thường

* Nguyên nhân:

Lợn nái bị nhiễm khuẩn: Trường hợp này, lợn nái có thể bị một số vi

khuẩn xâm nhập trong núm vú gây viêm vú: E.coli, Staphylococcus,

Streptococcus, Pseunomonas,

Lợn nái thiếu dinh dưỡng: Trường hợp này hay gặp vào mùa nóng, lợn nái kém ăn trong khi nhu cầu dinh dưỡng trong lúc này đang cần rất cao để sản sinh ra sữa nuôi con Điều này dẫn đến lợn nái kém sữa, mất sữa

Lợn nái bị phù tuyến vú: Nguyên nhân là do lợn nái ăn nhiều trước khi

đẻ, lợn nái uống ít nước dẫn đến bị táo bón, hay cũng có thể do lợn nái bị stress Lợn nái bị dịch phù tích lại trong mô bào tuyến vú, dẫn đến các bầu vú cứng, lợn nái cảm thấy khó chịu (nhưng không cảm thấy đau) do sức ép của

Trang 25

18

dịch phù Lợn nái có tuyến vú kém phát triển: Nguyên nhân có thể do di truyền, do hormone, do thiếu dinh dưỡng, độc tố nấm mốc, có thể dẫn đến tuyến vú của lợn nái kém phát triển, gây thiếu sữa, mất sữa

* Triệu chứng

Lê Hồng Mận (2002) [16] cho biết, bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú

có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42ºC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15] bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm, mất sữa ở lợn nái nuôi con

- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] mất sữa sau khi đẻ là do kế phát

từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

Trang 26

19

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các

tế bào, tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí mất khả năng sinh sản của gia súc cái

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12]

bê ̣nh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để dẫn đến viêm

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Nguyễn Hoài Nam và Nguyễn Văn Thanh (2016) [18] cho biết, hầu hết lợn nái can thiệp bằng tay sau khi đẻ đều mắc bệnh viêm tử cung (96,47%), trong khi đó lợn không có sự can thiệp bằng tay khi đẻ có tỷ lệ viêm tử cung

là 69,06%

Trang 27

20

Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…

* Triệu chứng:

Theo Phạm Ngọc Thạch và cs (2013) [22] bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42ºC trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy

đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra màu trắng đục đôi khi có máu lờ lờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của bê ̣nh viêm tử cung

Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], Trần Thị Dân (2004) [3] cho biết: Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dục lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Trang 28

21

Để phát hiện là lợn nái có bị viêm hay không, ta có thể quan sát qua dịch tiết từ tử cung từ đó phát hiện bệnh viêm tử cung ở lợn nái

* Điều trị:

Theo Trần Thị Thuận (2005) [24], thụt rửa tử cung, âm đạo bằng một

số các dung dịch sau: nước muối NaCl 1 – 2%, thuốc tím KMnO4 0,1%, lugol 0,5 – 1%, rivanol 1 – 2%, thụt rửa 2 – 3 lần trong ngày đầy tiên, những ngày sau mỗi ngày một lần Nếu con vật sốt, mệt mỏi tiêm thuốc toàn thân: kháng sinh penicillin + streptomycin hoặc ampicillin và thuốc trợ sức B – complex, cafein natribenzoat

Theo Phùng Quang Trường và cs (2016) [26]: lợn viêm tử cung tiêm dưới da 1 mũi 2 ml lutalyse, thụt rửa tử cung 100 ml dung dịch lugol 0,1% và sau đó là 100 ml dung dịch neomycin (5mg/kg)

2.2.4.3 Bệnh bại liệt sau sinh

* Nguyên nhân gây bệnh

- Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường

- Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…

Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum → lợn mẹ bại liệt

Trang 29

22

* Biện pháp khắc phục

- Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật

- Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ → tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi

- Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là canxi và phốt pho

- Tiêm mg - calcium cho lợn Đồng thời kết hợp với châm cứu

2.2.4.4 Hiện tượng chậm động dục trở lại của lợn nái

- Do chuồng trại chật hẹp, lợn mẹ không thường xuyên được đi lại vận động nên sinh ra béo mập và làm cho cơ quan sinh dục không phát triển Chuồng nuôi quá nhiều lợn gặp thời tiết nắng nóng kéo dài cũng có thể làm rối loạn sinh sản

- Do lai tạo đồng huyết, cận huyết → giống lợn bị thoái hóa, chậm sinh,

vô sinh Lợn nái có chửa sẽ khó đẻ, thai yếu và dễ sinh ra quái thai

- Do nội tiết bên trong cơ thể lợn: Nhiều trường hợp trên buồng trứng

có u nang và u nang này dẫn đến việc khả năng lợn không sinh sản là 4%

- Do nhiều nguyên nhân khác dẫn đến → rối loạn hormon sinh sản → thể vàng không tiêu biến đi như bình thường → nồng độ hoocmon

Progesteron tăng cao → ức chế tiết hoocmon LH và FSH → ức chế quá trình

động dục → lợn mẹ chậm động dục trở lại

Trang 30

và giá trị dinh dưỡng như: chất bột, đường, đạm, khoáng cho hợp lý

- Cần bổ sung thức ăn giàu dinh dưỡng cho lợn, nhất là đạm, khoáng, vitamin Các chất này có nhiều trong thịt, cá, trứng, tôm, cua, khô dầu đậu,

đỗ, dầu cá, bí đỏ, giá đỗ nảy mầm, rau xanh non ngon

- Bổ sung vào cám cho lợn ăn hàng ngày các loại thuốc bổ trợ như vitamin A, D, E, C, B complex…

- Tiêm thuốc kích dục tố PGF2α cho lợn nái

- Nếu lần 1 không đậu thì tiếp tục cho phối lần 2, nếu đã qua 2 lần phối giống mà vẫn không đậu thì nên loại thải

2.2.4.5 Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS)

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9] nguyên nhân gây hội chứng rối

loạn hô hấp và sinh sản ở lợn là 1 vi rút thuộc họ Arterviridae gây nên Vi rút

PRRS chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều mẫn cảm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên

Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013) [10] cho biết: Triệu chứng bệnh thể hiện khác nhau tùy thuộc độc lực chủng vi rút, sức đề kháng

Trang 31

24

của cơ thể, tính mẫn cảm của vật chủ, sự nhiễm trùng kế phát và các yếu tố quản lý đàn Ở lợn nái trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm vi rút, lợn biếng ăn

từ 7 - 14 ngày (10 - 15% đàn) Sốt 39ºC - 40ºC Sảy thai vào giai đoạn cuối (1

- 6%), đây là dấu hiệu đầu tiên nhận biết bệnh Tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn (2%) nên được gọi là “bệnh tai xanh” Lợn bị đẻ non (10 - 15%), động dục giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặc chậm động dục lại sau khi đẻ Lợn ho và có dấu hiệu của viêm phổi

Theo Williamso (2012) [29] bệnh có triệu chứng sinh sản là: Bệnh gây

ra xảy thai muộn, chết sơ sinh, sơ sinh yếu, lợn con tầm vóc thay đổi trong cùng lứa và giữa các lứa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa và thường trở đi trở lại Các lứa đẻ có thể thấy thai bị chết ở các giai đoạn với các thai khô, đẻ ra chết ngay, sơ sinh bị yếu cùng với những lợn con còn sống của cùng một mẹ Lợn nái và các lợn đẻ lứa đầu có thể ít có triệu chứng hoặc không thèm ăn thoáng qua, thể trạng chung xấu, có khi có sốt và đôi khi bị chết Có thể thấy ho ở những lợn non hơn như lợn đẻ lứa đầu Khi sinh ra lợn con khả năng sống kém và lợn mẹ bị ảnh hưởng tiết sữa, tăng tỷ lệ chết trước cai sữa vì những nguyên nhân khác nhau và bất thường Tính trầm trọng của bệnh rất thay đổi theo các nguyên

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013) [10], bệnh tích thường gặp: não sung huyết, phổi viêm tụ huyết hoặc xuất huyết, hạch amidan sưng, sung huyết, gan sưng, tụ huyết, lách sưng, nhồi huyết, thận xuất huyết đinh ghim, hạch màng treo ruột xuất huyết, loát van hồi manh tràng Lợn con sảy thai thường nhỏ, gầy còm

Theo Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], bệnh tích đại thể biểu hiện rõ ở các nội tạng như phổi, tim, lách, ruột, hạch ruột Đặc biệt bệnh tích ở phổi, phổi bẹp áp sát vào khung sườn, rìa phổi có dịch nhầy đặc giống như đờm, mặt cắt phổi có mủ, nhiều lợn bệnh có bệnh tích viêm phổi dính

Trang 32

25

sườn Bệnh tích vi thể ở phổi, hạch phổi, hạch amidan, hạch ruột, sự tăng sinh

và thoái hoá tế bào Bệnh tích vi thể đặc trưng khi lợn mắc PRRS ở phổi, hạch phổi và hạch amidan rất rõ ràng 100% các tiêu bản thấy sung huyết và xuất huyết Các phế nang chứa đầy dịch rỉ viêm Sự thâm nhiễm tế bào và tăng sinh các nang lympho

Phòng bệnh: Thực hiện các biện pháp chăn nuôi “cùng vào, cùng ra”;

vệ sinh, sát trùng thường xuyên; tránh nhập lợn vào trại trong lúc dịch đang

đe dọa; loại thải những lợn còi cọc bệnh nặng; kiểm soát nguồn tinh tốt; tiêm đây đủ vắc xin phòng bệnh

Điều trị: Loại bỏ những conn bệnh quá nặng, tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng, tuyệt đối không nhập lợn khỏe, lợn vừa cai sữa vào khu vực lợn bệnh Không tắm lợn đang có dấu hiệu bệnh mà chỉ rửa chuồng, vệ sinh Sát trùng chuồng trại ngày 1 - 2 lần Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh Dùng kháng sinh phổ rộng như: amoxilin la, oxytetracyline la, tiamutilin… Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau, kháng viêm nếu đàn có dấu hiệu sốt cao

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12] bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Ngày đăng: 20/11/2017, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam (2011), “Một số đặc điểm bệnh lý đại thể và vi thể ở lợn bị hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản PRRS”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập 18, số 6, tr.24 – 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh lý đại thể và vi thể ở lợn bị hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản PRRS”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Tiêu Quang An, Nguyễn Hữu Nam
Năm: 2011
2. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2000
3. Trần Thi ̣ Dân (2004), Sinh sả n heo nái và sinh lý heo con , Nxb Nông nghiê ̣p, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sả n heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thi ̣ Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Đoàn Kim Dung , Lê Thi ̣ Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thi ̣t siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung , Lê Thi ̣ Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc , Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
7. F. Madec và C. Neva (1995), “Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: F. Madec và C. Neva
Năm: 1995
8. Văn Lệ Hằng, Đạo Đức Thà, Chu Đình Tới (2009), Sinh sản vật nuôi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Đạo Đức Thà, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
9. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
10. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2013), Bệnh truyền nhiễm ở động vật và biện pháp khống chế, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm ở động vật và biện pháp khống chế
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2013
11. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông (2000), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tâ ̣p II, Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2002
13. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ (2014), Bệnh của lợn tại Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn tại Việt Nam
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Văn Diên, Tạ Thúy Hạnh, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Hữu Hưng, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Năm, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2014
15. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
16. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
17. Nguyễn Thị Hồng Minh, Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu, Phạm Kim Đăng (2013), “Biểu hiện lâm sàng và một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tập 11, số 5, tr 641 – 647 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện lâm sàng và một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn mắc hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa”, "Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Minh, Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu, Phạm Kim Đăng
Năm: 2013
18. Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh (2016), “Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, tập 14, số 5, tr 720 – 726 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan tới viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái”, "Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2016
19. Pierre Brouillet, Bernard Farouilt (2003), Điều trị viêm vú lâm sàng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Điều trị viêm vú lâm sàng
Tác giả: Pierre Brouillet, Bernard Farouilt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
20. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
21. Hoàng Thị Phi Phượng, Phạm Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Hương, Phạm Thị Thúy, Trần Thanh Huyền (2013), Ảnh hưởng của chế phẩm bột Mistral đến khả năng tăng trọng và hiệu quả phòng bệnh ở lợn con theo mẹ, Viện chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ảnh hưởng của chế phẩm bột Mistral đến khả năng tăng trọng và hiệu quả phòng bệnh ở lợn con theo mẹ
Tác giả: Hoàng Thị Phi Phượng, Phạm Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thị Hương, Phạm Thị Thúy, Trần Thanh Huyền
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w