Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (tt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Quang Phương
Phản biện 1: PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn
Phản biện 2: TS Võ Thị Kim Oanh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 30 ngày 10 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong đó: Giai đoạn xét xử sơ thẩm được coi là giai đoạn mang tính quyết định Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
Giới hạn xét xử chính là yếu tố bảo đảm chức năng xét xử Tòa án được thực hiện Mặt khác, còn đảm bảo nguyên tắc quyền bào chữa của bị can, bị cáo Bởi vì, Tòa án không được phép xét xử những người chưa bị truy tố hoặc không được xét xử những hành vi của bị cáo mà Viện kiểm sát không bị truy tố
Việc nghiên cứu vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như thực tiễn Để từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp là cần thiết và cấp bách
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp trong thời điểm hiện nay là cần
Trang 4thiết và phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong những vấn đề pháp lý thu hút rất nhiều ý kiến tranh luận Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn dưới các
góc độ và mức độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau, việc xây dựng nội dung điều luật về giới hạn xét xử sơ thẩm sao cho phù hợp với lý luận và thực tiễn vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện và đầy
đủ vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm trong mối quan hệ với các quy định khác của Pháp luật Tố tụng hình sự, trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra hướng hoàn thiện cho phù hợp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề lý luận
về giới hạn xét xử sơ thẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét xử
sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở lý luận
và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp
Trang 54 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: Quy phạm về giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Thành phố
Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giới hạn xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016
- Về không gian: Việc áp dụng pháp luật về giới hạn xét xử
sơ thẩm tại Tòa án hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và Pháp luật
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu, bản án hình sự đã áp dụng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp các số liệu, báo cáo của Tòa án hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2016; phương pháp đối chiếu các số liệu với thực trạng quy định của pháp luật…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Với những kết quả nghiên cứu, luận văn có thể được sử dụng như là một tài liệu nghiên cứu, tham khảo có giá trị cho sinh viên,
Trang 6học viên tại các trường đào tạo chuyên ngành luật cũng như có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho những người làm công tác thực tiễn và những ai quan tâm đến lĩnh vực Tố tụng hình sự
7 Cơ cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm và ý nghĩa
của giới hạn xét xử sơ thẩm
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
về giới hạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm thi hành
đúng quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm và ý nghĩa của giới hạn xét xử thẩm
1.1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Trong đó: Tòa án có thẩm quyền của cấp xét xử đầu tiên (thứ nhất), sau khi nghiên cứu đầy đủ và toàn diện kết quả của các hoạt động trong các giai đoạn trước đó, đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên tòa để xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không? Từ đó, nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội sao cho phù hợp với hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố Bản án, quyết định của Tòa án sau khi tuyên chưa có hiệu lức thi hành vì có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn theo quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự
1.1.2 Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm
Giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi những hành vi và những người đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáo trạng và Tòa án có thẩm quyền của cấp xét xử đầu tiên quyết định đưa ra xét xử mà Hội đồng xét xử được quyền xem xét một cách công khai tại phiên tòa để xác định những hành vi bị truy tố và đưa ra xét xử đó có phải là hành
vi phạm tội hay không? Những người bị truy tố và đưa ra xét xử đó
Trang 8có phải là người thực hiện hành vi phạm tội hay không? Từ đó nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt (nếu có) sao cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
1.1.3 Ý nghĩa giới hạn xét xử sơ thẩm
1.1.3.1 Về chính trị - Xã hội
Việc nhận thức và quy định giới hạn xét xử sơ thẩm một cách đúng đắn sẽ là cơ sở bảo đảm cho bị cáo thực hiện được những quyền cơ bản của mình mà cụ thể là bảo đảm cho bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa tại phiên tòa, đồng thời là cơ sở đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội
1.1.3.2 Về pháp lý
Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và kỹ thuật lập pháp trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống Pháp luật Tố tụng hình sự
1.1.3.3 Về thực tiễn
Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, quy định giới hạn việc xét xử tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã góp phần đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa, đã thể hiện rõ mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong hoạt động
Tố tụng hình sự Tuy nhiên, quy định này vẫn còn tồn tại những bất cập và đã gây ra những khó khăn trong thực tế áp dụng
Trang 91.2 Mối quan hệ giữa giới hạn xét xử sơ thẩm với các nguyên tác cơ bản trong Tố tụng hình sự
Các nguyên tắc cơ bản của trong Tố tụng hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống quan điểm, tư tưởng nền tảng định hướng, chi phối cho tất cả các hoạt động Tố tụng hình
sự Hệ thống các nguyên tắc cơ bản này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần vào việc bảo đảm cho hoạt động Tố tụng hình sự được diễn
ra thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng Đặc biệt, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng Bộ luật Tố tụng hình sự
1.2.1 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa
Bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa tức là bảo đảm mọi hoạt động của các chủ thể phải tuân theo pháp luật Trong hoạt động
Tố tụng hình sự, nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tuân thủ triệt để, nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
1.2.2 Mối quan hệ với nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Nội dung của nguyên tắc này chính là quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can,
bị cáo có quyền nhưng không buộc phải có trách nhiệm chứng minh Mọi nghi ngờ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu chưa có đủ
Trang 10cơ sở chứng minh đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Một người chỉ bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt khi
có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1.2.3 Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật của vụ
án
Xác định sự thật vụ án là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án và đã được Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động Tố tụng hình sự Xác định sự thật của vụ án là yêu cầu khách quan trong việc giải quyết vụ án Bởi lẽ, chỉ khi xác định được sự thật của vụ án thì vụ án mới được giải quyết chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
1.2.4 Mối quan hệ với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự đã ghi nhận nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây vừa là nguyên tắc hiến định vừa là nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự và là nguyên tắc bảo đảm các phán quyết của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
1.2.5 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo
Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền Tố tụng hình sự tạo khả năng cho người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo bào chữa
Trang 11cho hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác”
1.2.6 Mối quan hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội
Ở nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội mặc dù chưa được công nhận một cách chính thức, nhưng tư tưởng của nguyên tắc này
đã được đề cập trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình
sự thông qua nội dung của hai nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và “Xác định sự thật của vụ án”
1.2.7 Mối quan quan hệ với nguyên tắc trách nhiệm khởi
tố và xử lý vụ án hình sự
Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan tiến hành tố tụng có chung mục đích là giải quyết vụ án thật sự khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích tổ chức và cá nhân Tuy nhiên, để thực hiện được mục đích chung đó, Tòa án và Viện kiểm sát mỗi cơ quan lại có một chức năng riêng Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, còn chức năng của Tòa
án là xét xử bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật
1.3 Tổng quan quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Trong hệ thống Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta từ năm
1945, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm chưa có bất kỳ một văn bản
Trang 12pháp luật nào có giá trị như là Bộ luật hay Luật điều chỉnh, mà chỉ có Thông tư số: 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm bắt buộc phải thông qua việc trao đổi, thỏa hiệp giữa Tòa án với Viện kiểm sát tại cuộc hợp trù bị Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả xét xử của Tòa án
1.3.2 Giai đọan từ năm 1988 đến năm 2003
Đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, việc giải quyết vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm không còn thông qua việc trao đổi thỏa hiệp giữa Tòa án với Viện kiểm sát tại cuộc họp trù bị nữa
mà thay vào đó căn cứ vào quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 Cụ thể: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử” [31] Theo đó, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm được thể hiện qua các nội dung chính sau:
* Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo và những hành vi đã
bị Viện kiểm sát truy tố bằng một bản cáo trạng
Giới hạn xét xử của Tòa án chính là phạm vi những người và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố trong cáo trạng
* Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Tòa
án đã quyết định đưa ra xét xử
Giới hạn xét xử của Tòa án chính là phạm vi những người và những hành vi bị Viện kiểm sát truy tố đã được đưa ra xét xử bằng một Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Trang 13* Tòa án chỉ được xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố
Đây là nội dung hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Trang 14Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH 2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm
So với quy định về giới hạn việc xét xử tại Điều 170 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 1988, thì quy định giới hạn việc xét xử trong
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những điểm khác biệt, quy định được bổ sung một cách cụ thể và chặt chẽ hơn trong đường lối xét xử Cụ thể Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” [32]
2.1.1 Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử
Đây là nội dung kế thừa toàn bộ nội dung quy định tại Điều