1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)

91 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 797,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự giúp đỡ

dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp Luận văn “Giới hạn xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” đạt được kết quả như ngày hôm nay là do tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân

Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các

cơ quan, tổ chức và cá nhân đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trước hết tác giả xin gửi tới Học viện Khoa học xã hội lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc

Với các kiến thức mà các Thầy, Cô đã truyền đạt trong quá trình học tập tại Học viện Khoa học xã hội và bản thân là Luật sư đã bào chữa (gỡ tội) cho nhiều thân chủ (bị cáo) đến nay tác giả đã hoàn thành Luận văn, đề tài: “Giới hạn xét xử

sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”

Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Đặng Quang Phương - Nguyên Phó Chánh án Thường trực - Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu, thông tin khoa học cần thiết cho tác giả hoàn thành tốt Luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn các Luật sư đồng nghiệp, đơn vị công tác, gia đình và bạn thân đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập,thực hiện Luận văn

Tuy nhiên, do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế của một Học viên, Luận văn này không thể tránh được những thiếu sót nhất định

Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô, các Học viên, các Luật sư đồng nghiệp và đơn vị công tác để kiến thức của tác giả trong lĩnh vực này ngày càng hoàn thiện thêm nữa

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Khâu Văn Sĩ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa

vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội

Nay tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Khâu Văn Sĩ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 7 1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm và ý nghĩa của giới hạn xét xử thẩm 7

1.2 Mối quan hệ giữa giới hạn xét xử sơ thẩm với các nguyên tác cơ bản trong Tố tụng hình sự 18

1.3 Tổng quan quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm 30

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH 35

2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm 35

2.2 Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh 47

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH QUY ĐỊNH GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 57

3.1 Các yêu cầu bảo đảm thi hành quy định giới hạn xét xử sơ thẩm 57

3.2 Các giải pháp bảo đảm thi hành quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm 66

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp đã được Đảng và Nhà nước đã quán triệt tại Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ

Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là: “Xây dựng nền tư

pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong đó: Giai đoạn xét

xử sơ thẩm được coi là giai đoạn mang tính quyết định Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

Để đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan Bộ luật Tố tụng hình sự

đã quy định Tòa án thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp đã áp dụng tương đối thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong hoạt động xét xử của mình

Tuy hoạt động xét xử đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiệu quả xét xử của Tòa án vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do những hạn chế, bất cập trong một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm

Giới hạn xét xử sơ thẩm là chế định pháp lý quan trọng trong Tố tụng hình sự Xác định đúng đắn chế định này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc xét xử sơ thẩm; khắc phục được tình trạng chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như tình trạng bỏ lọt tội phạm hay bỏ lọt hành vi phạm tội

Trang 7

Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm là cơ sở pháp lý để xác định phạm vi xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, đồng thời cũng thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữ Viện kiểm sát và Tòa án trong Tố tụng hình sự Giới hạn xét xử là phạm

vi mà Hội đồng xét xử được phép xét xử tại phiên tòa Phạm vi đó được hạn chế trong phạm vi những người và những hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử

Giới hạn xét xử chính là yếu tố bảo đảm chức năng xét xử Tòa án được thực hiện Mặt khác, còn đảm bảo nguyên tắc quyền bào chữa của bị can, bị cáo Bởi vì, Tòa án không được phép xét xử những người chưa bị truy tố hoặc không được xét xử những hành vi của bị cáo mà Viện kiểm sát không bị truy tố

Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận và áp dụng trong thời gian qua thì quy định giới hạn xét xử vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, còn nhiều điểm chưa hợp lý Bởi vì, quy định này cùng với nguyên tắc “Không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo” Trong một số trường hợp đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nguyên tắc “Độc lập xét xử của Tòa án”

Mặt khác, quy định về giới hạn xét xử hiện nay còn mâu thuẫn với nhiều quy định khác của Bộ luật Tố tụng hình sự; đã ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng tố tụng của Tòa án và Viện kiểm sát Những hạn chế, vướng mắc về giới hạn xét xử sơ thẩm trong thực tiễn đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay

Việc nghiên cứu vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như thực tiễn Để từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Từ

đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt

Trang 8

động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp là cần thiết và cấp bách

Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố

tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn

tốt nghiệp trong thời điểm hiện nay là cần thiết và phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong những vấn đề pháp lý thu hút rất nhiều ý kiến tranh luận Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn dưới các góc độ và mức độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: GS.TS Võ Khánh Vinh “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình

sự” Nhà Xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2013 [67]; Dư Tuyết Lạnh “Chuẩn bị xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn thành phố Cần Thơ” Luận văn Thạc sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, năm 2013

[20]; Nguyễn Thị Mai Thùy “Phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Tố tụng hình sự Việt

Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn Thạc sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, năm 2013 [47]; Nguyễn Văn Đông “Phiên tòa hình sự sơ thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” Luận văn Thạc

sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, năm 2015 [14]… Bên cạnh đó, một số bài viết trao đổi, nghiên cứu về giới hạn xét xử trong Tố tụng hình sự nói chung và giới hạn xét xử sơ thẩm nói riêng cũng xuất hiện rất nhiều và đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: ThS Vũ Gia Lâm “Về giới hạn xét xử của Tòa án” Tạp chí Luật học, số: 05/1997 [22]; PGS.TS Phạm Hồng Hải “Bàn thêm về giới hạn xét

xử sơ thẩm” Tạp chí Luật học, số: 04/1998 [16]; ThS Đinh Văn Quế “Một số vấn

đề về giới hạn xét xử sơ thẩm” Tạp chí Kiểm sát, số: 04/2006 [29]; PGS.TS Trần Văn Độ “Hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn xét xử” Tạp chí Tòa án nhân dân, số: 03/2000 [13]; TS Nguyễn Văn Huyên “Một số vấn đề về giới hạn xét xử” Tạp chí Luật học, số: 06/2003 [18] …

Trang 9

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây và những công trình nghiên cứu khác không được liệt kê chủ yếu đề cập đến các vấn đề khác nhau của giới hạn xét

xử sơ thẩm Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, việc xây

dựng nội dung điều luật về giới hạn xét xử sơ thẩm sao cho phù hợp với lý luận và thực tiễn vẫn chưa đạt được hiệu quả cao, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện

và đầy đủ vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm trong mối quan hệ với các quy định khác của Pháp luật Tố tụng hình sự, trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra hướng hoàn thiện cho phù hợp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm làm sáng tỏ nội dung khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm Để từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân, đồng thời đề xuất các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn để góp phần hoàn thiện quy định giới hạn xét xử sơ thẩm theo tinh thần cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

- Nghiên cứu các quy định Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến giới hạn xét

xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng các quy định này trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay;

- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến giới hạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra những hạn chế, vướng mắc khi áp dụng quy định này trong công tác xét xử của Tòa án, đồng thời xác định nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc;

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu: Quy phạm về giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật

Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giới hạn xét xử trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam

- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

- Về không gian: Việc áp dụng pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Tòa án hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và Pháp luật

Phương pháp nghiên cứu các tài liệu, bản án hình sự đã áp dụng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp các số liệu, báo cáo của Tòa án hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2016; phương pháp đối chiếu các số liệu với thực trạng quy định của pháp luật…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Thông qua nghiên cứu đề tài đã phân tích, đối chiếu hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên các phương diện lập pháp và thi hành pháp luật; đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm và việc áp dụng pháp luật có liên quan đến giới hạn xét xử sơ thẩm, chỉ ra được những bất cập trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án

Với những kết quả nghiên cứu, luận văn có thể được sử dụng như là một tài liệu nghiên cứu, tham khảo có giá trị cho sinh viên, học viên tại các trường

Trang 11

đào tạo chuyên ngành luật cũng như có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho những người làm công tác thực tiễn và những ai quan tâm đến lĩnh vực Tố tụng hình sự

Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn

xét xử sơ thẩm và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm thi hành đúng quy định

về giới hạn xét xử sơ thẩm

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm, khái niệm và ý nghĩa của giới hạn xét

xử thẩm

1.1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm

Trong khoa học pháp lý, quá trình giải quyết một vụ án hình sự gọi là Tố tụng hình sự, quá trình này bao gồm toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố và xét

xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự

Xét xử là một trong ba chức năng cơ bản của Tố tụng hình sự (buộc tội,

gỡ tội và xét xử) và chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất đó là Tòa án Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 quy định: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [34]

Theo Từ điển Luật học: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của

vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [8, tr 869]

Thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét kết quả của các hoạt động điều tra, truy tố, gỡ tội một cách công khai để đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ án

Vì vậy, có thể nói hoạt động xét xử nói chung được coi là đặc biệt, quan trọng và là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết vụ án Các hoạt động thuộc các giai đoạn trước đó chỉ là các hoạt động mang tính xác định, thu thập thông tin, chứng cứ để chứng minh sự việc xảy ra một cách khách quan, nhưng chưa phải là quá trình định tội Để xác định một người là có tội và phải chịu hình phạt thì việc đưa người đó ra xét xử công khai trước phiên tòa là một quy định bắt buộc

Trang 13

Nhằm bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì hoạt động xét xử phải được thực hiện ở hai cấp xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm Mỗi cấp xét xử đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định đối với từng

vụ án, nhưng xét xử sơ thẩm được xem là một giai đoạn giữ vị trí trọng tâm và

có vai trò quan trọng bậc nhất trong toàn bộ quá trình tố tụng

Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học đã có nhiều học giả đưa ra khái niệm về xét xử sơ thẩm:

- Theo ThS Vũ Mạnh Thông và LG Nguyễn Ngọc Điệp cho rằng: “Xét

xử sơ thẩm là một giai đoạn Tố tụng (tiếp sau giai đoạn truy tố) Trong đó: Tòa

án cấp sơ thẩm kiểm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ trên cơ sở đó vận dụng đúng đắn pháp luật để xác định một người có hành vi phạm tội hay không và buộc người phạm tội phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi đó” [44, tr.122]

- Theo ThS Mạc Giáng Châu cho rằng: “Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng Trong đó: Tòa án có thẩm quyền sau khi xem xét hồ sơ vụ

án lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm? Từ đó, đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất, mức độ của vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố” [10, tr 111]

- Theo Từ điển Luật học: “Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét

xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [8, tr 870]

Nhìn chung, các khái niệm về xét xử sơ thẩm nêu trên đã chứa đựng đầy

đủ các yếu tố về chủ thể, khách thể và nội dung của một khái niệm Nhưng nếu xem xét riêng lẽ một khái niệm cụ thể thì tác giả nhận thấy:

Đối với khái niệm thứ nhất, tác giả chưa nêu được nội dung thuộc về bản

chất của xét xử sơ thẩm là giai đoạn xét xử ở cấp xét xử đầu tiên và bản án, quyết định sau đã tuyên chưa có hiệu lực pháp luật

Đối với khái niệm thứ hai và thứ ba, tương đối hợp lý vì đã khắc phục

được hạn chế của khái niệm thứ nhất ở chỗ đã nêu được một nội dung thuộc về bản chất của xét xử sơ thẩm là lần đầu đưa vụ án ra xét xử Nhưng cả hai khái

Trang 14

niệm này vẫn còn thiếu sót ở chỗ đã không nêu được hết nội dung còn lại thuộc

về bản chất của xét xử sơ thẩm là bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm chưa

có hiệu lực pháp luật vì có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

Mặc khác, nếu chúng ta đối chiếu các khái niệm trên vào các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện nay thì các khái niệm nêu trên chỉ mới có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, cơ sở pháp lý làm phát sinh việc xét xử sơ thẩm không chỉ là quyết định truy tố của Viện kiểm sát mà còn có quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm về việc hủy bản án để xét xử lại Ngoài các phiên tòa sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử công khai còn

có những phiên tòa sơ thẩm không phải là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử công khai là những phiên tòa xét xử sơ thẩm do bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy để điều tra, truy tố, xét xử lại hoặc chỉ xét xử lại

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì sau khi nghiên cứu hồ sơ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự sơ thẩm nếu thấy có đủ căn cứ Khi đó, các chứng cứ, tài liệu của vụ án được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra, truy tố đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được tranh luận, đối đáp về những vấn đề của vụ án mà tại giai đoạn điều tra, truy tố họ không có điều kiện thực hiện Tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến hành tố tụng Đặc biệt là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để đưa ra một phán quyết đúng đắn và có tính thuyết phục cao nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, đồng thời tuyên truyền ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân thông qua hoạt động xét xử

Từ những phân tích và lý giải trên, tác giả đưa ra một khái niệm khoa học

về xét xử sơ thẩm như sau: “Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Trong đó: Tòa án có thẩm quyền của cấp xét xử đầu tiên (thứ nhất), sau

Trang 15

khi nghiên cứu đầy đủ và toàn diện kết quả của các hoạt động trong các giai đoạn trước đó, đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên tòa để xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không? Từ

đó, nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với người phạm tội sao cho phù hợp với hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố Bản án, quyết định của Tòa án sau khi tuyên chưa có hiệu lức thi hành vì có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn theo quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự”

1.1.2 Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm

Trong hoạt động xét xử nói chung, mỗi cấp xét xử đều có những chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với từng vụ án hình sự Ngay cả đối với vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chỉ có thể xem xét, quyết định đối với những vấn đề của vụ án trong một phạm vi nhất định nào đó theo quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự Nghĩa là, khi xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự, Tòa án chỉ được thực hiện quyền hạn của mình trong một giới hạn nhất định, nếu vượt ra ngoài giới hạn đó, mọi quyết định của Tòa án đều không có giá trị pháp lý Vì vậy, giới hạn xét xử sơ thẩm là một vấn đề rất quan trọng, nó định ra phạm vi thực hiện quyền hạn của Tòa án khi tiến hành xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự cụ thể

Trong hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chưa có văn bản nào đưa ra một khái niệm về giới hạn xét xử sơ thẩm Các văn bản pháp luật chỉ mới dừng lại ở mức liệt kê những trường hợp hay những việc cụ thể mà Tòa án được quyền thực hiện trong từng giai đoạn giải quyết một vụ án hình sự Trong khoa học, khi bàn về vấn đề này, các học giả trong nước cũng có nhiều quan điểm khác nhau chưa có sự thống nhất Điển hình như:

- Theo TS Nguyễn Văn Hiện cho rằng: “Giới hạn xét xử cũng chính là thẩm quyền xét xử mà thẩm quyền xét xử thì không chỉ bao hàm trong một điều luật” [17, tr 1 - 5] Ở đây, tác giả đã có sự nhầm lẫn khi đồng nhất giới hạn xét

Trang 16

xử là thẩm quyền xét xử Theo Từ điển Tếng việt: “Thẩm quyền là một danh từ chỉ tư cách được Nhà nước trao cho thực hiện, tiến hành hay quyết định (một việc)” [17, tr 764], còn “Giới hạn là đặt một điểm, một đường, một mức độ, không được vượt qua” [17, tr.341]

Như vậy, xét ở góc độ ngôn từ thì nội dung giới hạn xét xử không thể đồng nghĩa là thẩm quyền xét xử Nếu xét ở góc độ khoa học thì thẩm quyền xét

xử của Tòa án chính là quyền của Tòa án đó được xem xét giải quyết một vụ án theo quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự, còn giới hạn xét xử là nội hàm của thẩm quyền xét xử, dùng để chỉ trong phạm vi, mức độ nào đó Tòa án được phép thực hiện và thuộc nội hàm thẩm quyền xét xử của Tòa án được phép xem xét khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự

- Theo TS Đặng Quang Phương cho rằng: “Giới hạn xét xử là sự thể hiện nội dung của vấn đề nguyên tắc độc lập xét xử” [26, tr 43] Nhưng giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong những nội dung của mối quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm án hình sự Mặc dù, có liên quan đến nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, song về nội dung và ý nghĩa của giới hạn xét xử và của nguyên tắc độc lập khi xét xử hoàn toàn khác nhau Giới hạn xét xử có ý nghĩa rất lớn trong việc thể chế hóa quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát và Tòa án để tránh sự lạm quyền, đảm bảo cho hoạt động tố tụng đạt hiệu quả, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên tắc hiến định nhằm đảm bảo cho việc xét xử của Hội đồng xét xử được tiến hành một cách khách quan, không bị bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào can thiệp Vì vậy, nguyên tắc độc lập xét xử chỉ là một trong những cơ sở để quy định giới hạn xét xử chứ không phải là nội dung của giới hạn xét xử

- Theo PGS.TS Phạm Hồng Hải cho rằng: “Giới hạn xét xử là Tòa án chỉ xét xử về hình sự đối với những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố mà Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.” còn “Giới hạn xét xử sơ

Trang 17

thẩm vụ án hình sự có thể hiểu là phạm vi những người, những hành vi mà Hội đồng xét xử sơ thẩm được xét xử tại phiên tòa Phạm vi đó không phải là vô hạn

mà ngược lại nó được hạn chế bởi phạm vi những người, những hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.” [16, tr 36-39]

Tác giả nhận thấy đây là khái niệm về giới hạn xét xử sơ thẩm hợp lý nhất vì nó chứa đựng đầy đủ các yếu tố cơ bản của một khái niệm, đó là chủ thể, khách thể và nội dung cơ bản thuộc về bản chất của vấn đề Ở đây, chủ thể thực hiện được xác định là Tòa án có thẩm quyền xét xử, khách thể chính là hành vi

và chủ thể bị truy tố và đưa ra xét xử Còn nội dung cơ bản thuộc về bản chất của giới hạn chính là phạm vi mà Tòa án - Chủ thể thực hiện được phép tiến hành khi thực hiện quyền xét xử, thực hiện “Quyền tư pháp” theo Hiến pháp năm 2013

Theo Từ điển Luật học: “Giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi Tòa án cấp

sơ thẩm được xem xét và giải quyết về vụ án” [8, tr 309] Đây là một khái niệm mang tính chung nhất, chưa thể hiện được nội dung cụ thể của vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm Theo đó, phạm vi mà Tòa án cấp sơ thẩm được xem xét và giải quyết về vụ án sẽ được xác định ở đâu? Đến mức độ nào? Thì khái niệm còn chưa đề cập Thông qua đó, các nhà làm luật đã pháp điển hóa vào trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Cụ thể Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 quy định: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh

mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử

Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát

đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

mà Viện kiểm sát đã truy tố” [32]

Như vậy, từ khái niệm về giới hạn xét xử trong Từ điển Luật học và nội dung của quy định giới hạn xét xử mà các nhà làm luật đã pháp điển hóa tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu: “Giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi những bị cáo,

Trang 18

những hành vi của bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm được xét xử tại phiên tòa theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử hoặc Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Có thể nói nội dung giới hạn xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 196

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 là một trong những nội dung tiến bộ hơn quy định giới hạn xét xử tại Điều

170 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ở chỗ cho phép Tòa án khi giải quyết

vụ án có toàn quyền độc lập quyết định khung hình phạt có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn khung hình phạt theo tội danh Viện kiểm sát truy tố và quyết định chuyển tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Tuy nhiên, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa thật

sự hoàn thiện vì không cho phép Tòa án cấp sơ thẩm được xét xử bị cáo và hành

vi của bị cáo đã thực hiện về một tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố

Đây là một trong những hạn chế rất lớn, đã vi phạm và thậm chí còn đi ngược một số nguyên tắc cơ bản trong Tố tụng hình sự như: Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án…Đặc biệt, là nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quan điểm của các học giả và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm, cùng với việc phân tích nội dung khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã được trình bày ở phần trên, tác giả đưa ra khái niệm khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm như sau: “Giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi những hành vi và những người đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáo trạng và Tòa án có thẩm quyền của cấp xét

xử đầu tiên quyết định đưa ra xét xử mà Hội đồng xét xử được quyền xem xét một cách công khai tại phiên tòa để xác định những hành vi bị truy tố và đưa ra xét xử đó có phải là hành vi phạm tội hay không? Những người bị truy tố và đưa

Trang 19

ra xét xử đó có phải là người thực hiện hành vi phạm tội hay không? Từ đó nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định với việc định tội danh và quyết định hình phạt (nếu có) sao cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

1.1.3 Ý nghĩa giới hạn xét xử sơ thẩm

Theo đó, phải đổi mới toàn bộ hệ thống Tòa án, hệ thống các Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các Cơ quan Bổ trợ Tư pháp khác cũng như hoạt động thực tiễn và đội ngũ cán bộ của hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng này, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng Trong đó có quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm nhằm thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới

Mặt khác, việc triển khai rà soát, sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật

về Tố tụng hình sự Trong đó: Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm để góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm pháp chế trong hoạt động xét xử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Vì vậy, việc nghiên cứu để sửa đổi bổ sung quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm là cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng trong hoạt động tư pháp

Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện rõ sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước đối với Tòa án và Viện kiểm sát đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, đồng thời còn thể hiện rõ mối quan hệ phối hợp

Trang 20

và chế ước lẫn nhau giữa hai cơ quan Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực Nhà nước một cách khách quan, công minh vì lợi ích của Nhà nước, xã hội, cũng như lợi ích của công dân Vì vậy, việc nhận thức và quy định giới hạn xét xử sơ thẩm một cách đúng đắn sẽ là cơ sở bảo đảm cho bị cáo thực hiện được những quyền cơ bản của mình mà cụ thể là bảo đảm cho bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa tại phiên tòa, đồng thời là cơ sở đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội

1.1.3.2 Về pháp lý

Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong các quy định đảm bảo cho hoạt động xét xử được thực hiện theo một trình tự nhất định và đảm bảo tính chính xác cho hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng Đặc biệt, là đối với Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử để xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án Từ đó hạn chế hoặc ngăn chặn sự tùy tiện cũng như lạm quyền của Tòa án và Viện kiểm sát trong Tố tụng hình sự; đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án thật sự khách quan, đúng pháp luật

Vấn đề giới hạn xét xử lần đầu tiên được pháp điển hóa tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành

vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử” [31] Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 kế thừa và quy định tại Điều 196: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” [32] Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 kế thừa và quy định tại Điều 298:

“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Tòa án có thể xét xử bị cáo

Trang 21

theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Đây là các quy định có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lý luận và kỹ thuật lập pháp trong hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống Pháp luật Tố tụng hình sự Theo nội dung của điều luật đã xác định cụ thể giới hạn xét xử của Tòa án là khi xét xử, Tòa án phải căn cứ vào bản cáo trạng để xem xét các vấn đề của vụ án, Hội đồng xét xử không được xét xử những người và những hành vi không bị Viện kiểm sát truy tố và không được Tòa án quyết định đưa ra xét xử; không được xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, nhưng được xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn trong cùng một điều luật hoặc có thể xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố

Những quy định này phần nào khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong mối quan hệ tố tụng giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử, giúp cho việc giải quyết vụ án được khách quan

Tuy nhiên, từ khi được pháp điển hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự cho đến nay, việc áp dụng quy định giới hạn xét xử vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung để hoàn thiện trong thời gian tới

Do vậy, việc nhận thức một cách đúng đắn về nội dung của vấn đề giới hạn xét xử là nền tảng quan trọng trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự trong thời gian tới

1.1.3.3 Về thực tiễn

Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, quy định giới hạn việc xét xử tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã góp phần đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo tại phiên tòa, đã thể hiện rõ mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong hoạt động Tố tụng hình sự Tuy nhiên, quy định này vẫn còn tồn tại những bất cập và đã gây ra những khó khăn trong thực tế áp dụng

Trang 22

Bởi vì, Tòa không được xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố

Theo Nghị quyết số: 04/2004/NQ - HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số: 04/2004/NQ-HĐTP) chỉ hướng dẫn thi hành đoạn 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là Tòa án có thể xét xử

bị cáo theo khoản khác nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo trong cùng một điều luật hoặc xét xử bị cáo về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát đã truy tố mà không hướng dẫn về trường hợp Tòa án thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố

Vì vậy, khi Tòa án phát hiện bị cáo phạm một tội khác nặng hơn thì chỉ được ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo tội nặng hơn đối với bị cáo Nhưng Viện kiểm sát không đồng ý thay đổi tội danh nặng hơn đó mà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì buộc Tòa án vẫn phải đưa vụ

án ra xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Điều này, cho thấy Tòa

án hoàn toàn phụ thuộc vào tội danh của Viện kiểm sát đã truy tố nên không đảm bảo nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

Trên thực tế đã có những phiên tòa sau khi đánh giá chứng cứ, Hội đồng xét xử đã nhận định bị cáo phạm một tội nặng hơn, nhưng buộc phải tuyên bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Việc buộc Tòa án phải xét xử bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố có thể hiểu là bị cáo đã được xem

có tội trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử Điều này hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc “Suy đoán vô tội” được quy định tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Đây là những nguyên nhân cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện quy định giới hạn xét xử sơ thẩm là vô cùng cần thiết và cấp bách

Trang 23

Từ thực tiễn đã chỉ ra cho thấy vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm cần được tổng kết, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Việc nghiên cứu và nhận thức đúng về nội dung của quy định giới hạn xét xử sơ thẩm để sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới sẽ giải quyết được hạn chế trong mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và Viện kiểm sát Đặc biệt là hạn chế trong hoạt động xét xử của Tòa án trong giai đoạn hiện nay

1.2 Mối quan hệ giữa giới hạn xét xử sơ thẩm với các nguyên tác cơ bản trong Tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của trong Tố tụng hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống quan điểm, tư tưởng nền tảng định hướng, chi phối cho tất cả các hoạt động Tố tụng hình sự Hệ thống các nguyên tắc cơ bản này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần vào việc bảo đảm cho hoạt động Tố tụng hình sự được diễn ra thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng Đặc biệt, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng

Bộ luật Tố tụng hình sự Do vậy, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm, các nhà làm luật cần phải căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình

sự Theo tác giả, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào các nguyên tắc cơ bản sau đây:

1.2.1 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm Pháp chế Xã hội Chủ nghĩa

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và các quy phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng để góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Do vậy, để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động Tố tụng hình sự Đó là, nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa

Trang 24

Bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa tức là bảo đảm mọi hoạt động của các chủ thể phải tuân theo pháp luật Trong hoạt động Tố tụng hình sự, nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tuân thủ triệt để, nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật nói chung và Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng Mọi hành vi lạm quyền hoặc vượt quá chức năng, nhiệm vụ đều được xem là vi phạm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa trong hoạt động Tố tụng hình sự

Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng và là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử, cần tuân thủ nghiêm chỉnh, triệt để các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Giới hạn xét xử sơ thẩm là một quy định rất quan trọng thể hiện nội dung của mối quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Vì lẽ đó, việc xác định giới hạn xét xử sơ thẩm các nhà làm luật cần phải căn cứ vào tư tưởng chỉ đạo của nguyên tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa để xây dựng thành một nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự

1.2.2 Mối quan hệ với nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động Tố tụng hình sự

đã được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân Theo đó, một người luôn được coi là không có tội, nếu chưa bị kết án bằng một bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Điều này có nghĩa là Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền kết tội một người nào đó và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trên cơ sở xem xét, đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện tại phiên tòa

Như vậy, nội dung của nguyên tắc này chính là quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải có trách nhiệm chứng minh Mọi nghi ngờ trong

Trang 25

quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu chưa có đủ cơ sở chứng minh đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Một người chỉ bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Theo đó, quá trình xét xử vụ án hình sự tại Tòa án nếu sau khi xem xét, đánh giá các chứng cứ một cách khách quan, toàn diện tại phiên tòa mà chưa đủ chứng cứ chứng minh bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử đã thực hiện hành vi phạm tội thì Hội đồng xét xử phải tuyên bố bị cáo không phạm tội Vì thế, trong chừng mực nào đó, các nhà làm luật cũng cần lưu ý đến nguyên tắc không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật làm cơ sở xây dựng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm cho phù hợp với nội dung của nguyên tắc

1.2.3 Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án

Quá trình giải quyết một vụ án trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, song các giai đoạn này, đều có chung một mục đích là tìm ra sự thật của vụ án Để đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao thì mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời và bị xử lý theo quy định của pháp luật Vì vậy, xác định sự thật vụ án là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án và

đã được Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động Tố tụng hình sự Xác định sự thật của vụ án là yêu cầu khách quan trong việc giải quyết vụ án Bởi lẽ, chỉ khi xác định được sự thật của vụ án thì vụ án mới được giải quyết chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định toàn bộ diễn biến của việc phạm tội đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; làm rõ những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng không bắt buộc phải chứng minh

Khi tiến hành xét xử một vụ án, Tòa án cần phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ để

Trang 26

xác định hành vi đã truy tố có phải là hành vi phạm tội không? Nếu là hành vi phạm tội thì phạm tội gì? Người bị truy tố có phải là người đã thực hiện hành vi phạm tội hay không? Nếu là người thực hiện hành vi phạm tội thì quyết định hình phạt như thế nào cho tương xứng với hành vi phạm tội? Đây là trách nhiệm của Tòa án mà cụ thể là Hội đồng xét xử phải tuân thủ chứ không phải dựa vào ý kiến buộc tội của Viện kiểm sát hay chỉ dựa vào ý kiến gỡ tội của bị can, bị cáo mà đưa ra phán quyết thiên vị hay cảm tính đối với một bên

Việc xác định sự thật của vụ án cũng là một trong những cơ sở mà nhà làm luật cần phải cân nhắc khi quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm

1.2.4 Mối quan hệ với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên

Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, đồng thời đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành một cách khách quan, công bằng, chính xác, Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình

sự đã ghi nhận nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây vừa là nguyên tắc hiến định vừa là nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự và là nguyên tắc bảo đảm các phán quyết của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm

Khi tiến hành xét xử một vụ án cụ thể Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

sẽ độc lập, không bị lệ thuộc hoặc bị chi phối bởi những ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân Họ chỉ tuân thủ các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án

Vì vậy, khi xét xử, Hội đồng xét xử không nhất thiết phải phụ thuộc vào tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố trong bản cáo trạng mà toàn quyền độc lập đưa ra ý kiến, phán quyết của chính mình về những người và những hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố

Trang 27

Như vậy, quy định giới hạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa xác định phạm vi những người và những hành vi mà Tòa án cấp sơ thẩm được quyền xét xử và có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc quy định giới hạn xét xử sơ thẩm trong

Bộ luật Tố tụng hình sự cần phải dựa trên nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Có như vậy, quyết định hay phán quyết đưa ra mới thật sự khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.2.5 Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo

Xuất phát từ quan điểm mở rộng và phát triển tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền con người trong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật

tổ chức Tòa án nhân dân đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo nhằm đề cao nhiệm vụ bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân hay nói khác đi là nhằm bảo vệ quyền con người trong hoạt động Tố tụng hình sự Bởi họ tuy là những đối tượng đã bị khởi tố, điều tra, truy tố về một hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ cũng là những con người và cần được bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp mà cụ thể là quyền bào chữa khi tham gia Tố tụng hình sự Bảo đảm quyền con người nói chung, quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo nói riêng

là một xu thế tất yếu trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa

“Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền Tố tụng hình sự tạo khả năng cho người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo bào chữa cho hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp khác” Theo đó, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo được quy định nhằm bảo đảm cho họ được trình bày quan điểm đối với việc buộc tội, đồng thời đưa ra các chứng cứ cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố

Trang 28

tụng xem xét minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ Bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo không chỉ là biểu hiện của tính dân chủ trong hoạt động tư pháp mà còn biểu hiện tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong hoạt động tư pháp

Bộ luật Tố tụng hình sự không chỉ quy định họ có quyền bào chữa mà còn có những đảm bảo cần thiết để quyền bào chữa của họ được thực hiện Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ đảm bảo cho họ thực hiện quyền bào chữa thông qua việc giao nhận quyết định khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử để họ chuẩn bị tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho họ Quyền bào chữa trong Tố tụng hình

sự được thể hiện tập trung nhất là tại phiên tòa sơ thẩm Nếu trong quá trình xét

xử Tòa án xét xử cả người chưa bị truy tố hoặc xét xử cả hành vi chưa bị truy tố

sẽ làm ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo vì đã tước đi quyền chuẩn bị ý kiến tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

Do vậy, trên cơ sở bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo được phát huy hiệu quả tại phiên tòa sơ thẩm, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định giới hạn xét

xử sơ thẩm cho phù hợp Nói cách khác, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm các nhà làm luật cần phải dựa vào nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự

1.2.6 Mối quan hệ với nguyên tắc suy đoán vô tội

Đây là một trong những nguyên tắc đã được nhiều quốc gia ghi nhận, được đánh giá là có ý nghĩa pháp lý rất lớn trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: Người bị tình nghi, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội, người

bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của họ; mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo

Trang 29

Ở nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội mặc dù chưa được công nhận một cách chính thức, nhưng tư tưởng của nguyên tắc này đã được đề cập trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự thông qua nội dung của hai nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và “Xác định sự thật của vụ án”

Tuy nhiên, xét về tổng thể nguyên tắc suy đoán vô tội nhìn chung vẫn chưa được đảm bảo một cách toàn diện trong những quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng Hiện nay chúng ta đang trong quá trình nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và phù hợp với pháp luật quốc tế mà nước ta đã ký kết và tham gia

Nguyên tắc suy đoán vô tội không chỉ có ý nghĩa đáp ứng yêu cầu chứng minh trong hoạt động Tố tụng hình sự mà còn có ý nghĩa nhằm bảo vệ quyền con người của người bị tình nghi, bị can, bị cáo trong hoạt động Tố tụng hình

sự Có thể khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ Bởi

vì nguyên tắc này, bảo vệ chính sách nhân đạo của Pháp luật Hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi các cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội còn đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong Tố tụng hình sự và có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của

bị can, bị cáo

Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố rất nhiều trường hợp bị can, bị cáo bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn Tại phiên tòa họ mới bị tuyên có tội hay không? Nên việc xét xử phải đảm bảo quyền bào chữa và quyền được tranh tụng tại phiên tòa Bởi vì, nếu bị cáo đã bị coi là có tội ngay từ khi khởi tố vụ

án, khởi tố bị can hoặc truy tố thì quyền bào chữa, quyền được tranh tụng tại phiên tòa để tìm ra chân lý của vụ án chỉ là hư quyền Việc xét xử chỉ là việc Tòa án đi tìm lời giải cho một bài toán đã có sẵn đáp án

Chính vì những cơ sở nêu trên, khi xây dựng quy định về giới hạn xét xử

sơ thẩm, các nhà làm luật không những chỉ cân nhắc hai nguyên tắc cơ

Trang 30

bản: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” và “Xác định sự thật của vụ án” đã được

Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận mà trong một chừng mực nhất định cũng cần phải xem xét dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội để quy định giới hạn xét xử sơ thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự sao cho phù hợp với thực tiễn

1.2.7 Mối quan quan hệ với nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý

Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan tiến hành tố tụng có chung mục đích là giải quyết vụ án thật sự khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, lợi ích tổ chức

và cá nhân Tuy nhiên, để thực hiện được mục đích chung đó, Tòa án và Viện kiểm sát mỗi cơ quan lại có một chức năng riêng Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, còn chức năng của Tòa

án là xét xử bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trước pháp luật

Trong việc thực hiện chức năng, nhiêm vụ của mình, Viện kiểm sát sẽ tiến hành xem xét, quyết định việc truy tố hay không truy tố ra trước Tòa án những người và những hành vi mà Cơ quan điều tra đã đề nghị truy tố trong bản kết luận điều tra Quyết định truy tố của Viện kiểm sát là cơ sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử của Tòa án Tại phiên tòa, Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội và đề nghị kết tội đối với bị cáo theo nội dung cáo trạng hoặc có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội mà không có quyền quyết định tội danh và hình

Trang 31

phạt cho bị cáo Tòa án tiến hành xét xử những hành vi, những bị cáo được giới hạn trong phạm vi mà cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố Có thể nói khác đi nếu không có việc truy tố của Viện kiểm sát thì không có hoạt động xét xử của Tòa án, nhưng không phải mọi trường hợp Viện kiểm sát truy tố đều làm phát sinh hoạt động xét xử của Tòa án Chức năng xét xử chỉ được thực hiện khi có chức năng buộc tội của Nhà nước và chức năng gỡ tội Đây là sự chế ước nhằm tránh sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng và bảo đảm cho hoạt động xét xử đạt hiệu quả, không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì việc phân định chức năng buộc tội của Viện kiểm sát và chức năng xét xử của Tòa án chưa thật sự rạch ròi

Ví dụ: Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, khoản 1 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra hoặc phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm” [32]; khoản 1 Điều 167

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 có đoạn quy định: “Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng” [37] Theo đó, Tòa án đã thực hiện cả chức năng buộc tội của Viện kiểm sát còn Viện kiểm sát đã thực hiện một phần chức năng xét xử của Tòa án Đây là điều trái với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án và Viện kiểm sát đã được Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật khác ghi nhận Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Tòa án cũng là một căn cứ

để quy định giới hạn xét xử sơ thẩm cho phù hợp với mối quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong Tố tụng hình sự

Trong tố tụng bao giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định cho các bên tham gia

Trang 32

tố tụng có quyền đưa ra chứng cứ chứng minh và tranh luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa Tòa án có trách nhiệm xác định sự thật của vụ án bằng cách điều tra công khai, chính thức về vụ án thông qua việc xem xét chứng cứ và nghe các bên tranh luận về nội dung giải quyết vụ án tại phiên tòa để ra phán quyết Tùy theo tính chất vụ án mà chức năng tố tụng và địa vị pháp lý của các bên cũng khác nhau Quá trình tranh tụng tại phiên tòa hình sự

sơ thẩm được diễn ra giữa bên buộc tội và bên gỡ tội mà chủ yếu là giữa Kiểm sát viên với người bào chữa cho bị can và bị cáo Tòa án thực hiện chức năng xét xử độc lập với chức năng buộc tội của Viện kiểm sát và chức năng gỡ tội

tố tụng mà ở đó Tòa án nhân danh Nhà nước xác định sự thật của vụ án trên cơ

sở điều tra công khai tại phiên tòa, xem xét các chứng cứ do các bên đưa ra và đánh giá ý kiến của các bên tham gia tranh tụng để từ đó ra một phán quyết giải quyết một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật

Theo Nghị quyết số: 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW), đã xác định: “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác ; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” [2]

Như vậy, để bảo đảm việc tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm được thực hiện đúng theo tính chất của nó Hội đồng xét xử không phải là người xét hỏi chính mà phải đóng vai trò như là người “Trọng tài” điều khiển việc tranh tụng và độc lập đưa ra phán quyết về vụ án Chỉ sau khi thông qua quá trình thẩm vấn và tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới có thể ra phán quyết một người có phạm tội hay không phạm tội? Tòa án không phải là

cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội nên không có trách nhiệm chứng minh tội phạm mà chỉ có trách nhiệm chứng minh vì sao đưa ra

Trang 33

phán quyết tuyên bố một người phạm tội hay không phạm tội và phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt?

Có thể nói, Tòa án giữ vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự tại phiên tòa, giám sát và điều khiển quá trình tranh tụng giữa các bên, bảo đảm tuân thủ pháp luật của tất cả các chủ thể tham gia phiên tòa Đây là một trong những nội dung khẳng định vị trí, vai trò của Tòa án là người trọng tài trung lập, bảo đảm quyền bình đẳng cho các bên trong quá trình xét xử vụ án hình sự, bảo đảm sự thật khách quan của vụ án

Như đã nhấn mạnh, Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan tiến hành tố tụng, đều nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng của riêng mình để nhằm hướng đến một mục đích chung là giải quyết vụ án hình sự thật sự khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và lợi ích của công dân Nhưng xét về bản chất cả hai cơ quan này đều có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Do vậy, trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự giữa Tòa án và Viện kiểm sát có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát xuất hiện

kể từ khi hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng được Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án thụ lý giải quyết

Trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự được ban hành, chưa có một văn bản pháp lý nào có giá trị cao như Bộ luật hay Luật điều chỉnh mối quan hệ tố tụng giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Cho nên, khi giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng này không thống nhất về một vấn đề nào đó trong việc giải quyết vụ án đang trong quá trình chuẩn bị xét xử thì vấn đề đó sẽ được giải quyết thông qua sự trao đổi, thỏa hiệp giữa lãnh đạo của hai cơ quan đang thụ lý vụ án hoặc lãnh đạo của hai cơ quan cấp trên trực tiếp

Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời cho đến nay, đã có những quy định tương đối cụ thể để điều chỉnh mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong

Trang 34

giai đoạn xét xử sơ thẩm như: Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử (khoản 2 Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015); quy định về rút quyết định truy tố (Điều 181 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 285 và Điều 325 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)… và đặc biệt là quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm (Điều 196 Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) là một trong những quy định thể hiện rõ nét nội dung mối quan hệ chế ước giữa Tòa án

và Viện kiểm sát

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử Tòa án không được phép xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Do vậy, dù trước hay sau khi có Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu sau khi đã trao đổi ý kiến với Viện kiểm sát

về việc đổi tội danh nặng hơn hoặc sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung để yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung thay đổi tội danh nặng hơn mà Viện kiểm sát không thay đổi tội danh nặng hơn và giữ nguyên việc truy tố thì Tòa án vẫn phải xét xử bị cáo với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Việc Tòa án định tội danh theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố rõ ràng là không phù hợp với quy định pháp luật, nhưng Tòa án cũng không thể ra phán quyết tuyên bố bị cáo phạm tội nặng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố Đây là hạn chế ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động xét xử trong thực tiễn Vì vậy, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm cần phải căn cứ vào mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát mà cụ thể là quan điểm không thống nhất giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án

Việc đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ được thông qua mối quan hệ giữa Tòa

án và Viện kiểm sát mà cụ thể là trong trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát không có sự thống nhất về tội danh nặng hơn đối với bị cáo thì Tòa án vẫn quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng Tòa án phải ghi rõ là hành vi của bị cáo

có thể bị xét xử theo điều khoản nào về tội danh nặng hơn, đồng thời quyết định

đó buộc phải tống đạt cho bị cáo trong thời hạn nhất định để bị cáo có điều kiện

Trang 35

thực hiện việc tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Nhưng kể

từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời và cho đến nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có những quy định cụ thể đảm bảo cho quyền bào chữa của bị can,

bị cáo được thực hiện khi tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm mà cụ thể đó là quy định: Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh

mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử; Tòa án không được xét xử những người và những hành vi chưa được Viện kiểm sát truy tố và không xét xử theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố

Như vậy, việc Bộ luật Tố tụng hình sự có các quy định bảo đảm cho quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của bị cáo được thực hiện tại phiên tòa là một yêu cầu tất yếu khách quan nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo, đồng thời bảo vệ công bằng xã hội Bởi nếu Bộ luật Tố tụng hình sự không có những quy định bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo khi tham gia tố tụng tại phiên tòa thì bị cáo sẽ không có đầy đủ các điều kiện để chuẩn bị cho việc tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Điều này, đồng nghĩa với việc không bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử Do đó, giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong các quy định có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo khi tham gia vào hoạt động xét xử tại phiên tòa nên việc xây dựng quy phạm giới hạn xét xử sơ thẩm cũng cần phải căn cứ vào yêu cầu của việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo

1.3 Tổng quan quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 về giới hạn xét xử sơ thẩm

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Trong hệ thống Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta từ năm 1945, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm chưa có bất kỳ một văn bản pháp luật nào có giá trị như là

Bộ luật hay Luật điều chỉnh, mà chỉ có Thông tư số: 16/TATC ngày 27 tháng 9 năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm bắt buộc phải thông qua việc trao đổi, thỏa hiệp giữa Tòa án

Trang 36

với Viện kiểm sát tại cuộc hợp trù bị Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả xét xử của Tòa án

1.3.2 Giai đọan từ năm 1988 đến năm 2003

Đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, việc giải quyết vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm không còn thông qua việc trao đổi thỏa hiệp giữa Tòa

án với Viện kiểm sát tại cuộc họp trù bị nữa mà thay vào đó căn cứ vào quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 Cụ thể: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án

đã quyết định đưa ra xét xử” [31] Theo đó, vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm được thể hiện qua các nội dung chính sau:

* Tòa án chỉ được xét xử những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng một bản cáo trạng

Cáo trạng là một trong bốn quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra, truy tố Bản chất của bản cáo trạng chính là văn bản Tố tụng hình sự, thể hiện quan điểm chính thức của Viện kiểm sát về hành vi và tội danh đối với những người bị truy tố, đồng thời là cơ sở pháp lý duy nhất để Tòa án đưa những hành vi và những người bị Viện kiểm sát truy tố ra xét xử Chỉ những người nào và những hành vi nào đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng một bản cáo trạng thì Tòa án mới được ra xét xử một cách công khai tại phiên tòa Tòa án không được xét xử thêm bất kỳ người nào khác hay bất kỳ hành vi nào khác nếu như những người và những hành vi đó chưa bị truy tố bằng một bản cáo trạng của Viện kiểm sát Giới hạn xét xử của Tòa án chính là phạm vi những người và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố trong cáo trạng Trong trường hợp vụ

án có đồng phạm khác hoặc có hành vi phạm tội khác mà vì lý do nào đó, người đồng phạm hoặc hành vi phạm tội khác đó chưa bị Viện kiểm sát truy tố trong bản cáo trạng thì Tòa án cũng không được quyền xét xử đối với những đồng phạm và hành vi phạm tội khác đó Bởi vì, Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử chứ không phải thực hiện chức năng buộc tội

Trang 37

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 lại quy định: “Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” [31]

Đây được xem là một trong các quy định đảm bảo được nguyên tắc không làm xấu đi tình trạng của bị cáo và đảm bảo được quyền bào chữa của bị cáo Nhưng trái lại Tòa án đã thực hiện một phần chức năng buộc tội thay cho Viện kiểm sát là không đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong hoạt động Tố tụng hình sự mà Hiến pháp đã quy định Điều đó cho thấy

sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong Tố tụng hình sự chưa có sự rạch ròi tạo kẽ hở để bỏ lọt tội phạm và làm nảy sinh nhiều vi phạm pháp luật khác

* Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử

Sau khi nghiên cứu toàn diện và đầy đủ hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử Việc Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử không có nghĩa là Thẩm phán đồng nhất quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát đã truy tố và viện dẫn trong cáo trạng Bởi lẽ, bản chất của Quyết định đưa vụ án ra xét xử là văn bản

tố tụng, thể hiện quan điểm của Thẩm phán về vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án mình có đủ căn cứ để đưa ra xét xử đối với những người và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố Mục đích của quyết định đưa vụ án ra xét

xử là tạo điều kiện để cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có đủ điều kiện thực hiện các quyền của họ theo quy định của pháp luật sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Như vậy, Quyết định đưa vụ án ra xét xử chính là cơ sở để Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử những bị cáo và những hành vi của bị cáo đã bị Viện kiểm sát truy tố Chỉ những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố nào được Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Quyết định đưa ra xét xử thì Tòa án mới

Trang 38

được phép xét xử tại phiên tòa Giới hạn xét xử của Tòa án chính là phạm vi những người và những hành vi bị Viện kiểm sát truy tố đã được đưa ra xét xử bằng một Quyết định đưa vụ án ra xét xử Nhưng nội dung của giới hạn xét xử chỉ mới đề cập đến việc xét xử của Tòa án tại phiên tòa còn quyền Quyết định đưa ra xét xử những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát truy tố về một tội danh hoặc điều khoản của Bộ luật Hình sự khác với tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố và viện dẫn trong cáo trạng hay không là chưa có quy định

cụ thể

* Tòa án chỉ được xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố

Tòa án chỉ được xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tức là Tòa án không được xét xử những bị cáo và những hành vi đã bị truy tố và Quyết định đưa ra xét xử theo tội danh khác Qua xét xử tại phiên tòa, có đầy đủ căn

cứ để xác định hành vi của bị cáo phạm một tội khác với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án cũng không được phép xét xử hành vi phạm tội của bị cáo theo tội danh khác đó Đây là nội dung hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và nguyên tắc xác định sự thật vụ án

Mặt khác, quá trình chứng minh tội phạm là quá trình nhận thức từ chỗ chưa hiểu cho đến hiểu, từ hiểu ít cho đến hiểu nhiều và hiểu toàn bộ bản chất của tội phạm Việc ràng buộc Tòa án xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát truy

tố đã vô tình khẳng định việc định tội danh của Viện kiểm sát là đúng và làm hạn chế chức năng xét xử của Tòa án, đồng thời không phù hợp với tính chất và vai trò của xét xử sơ thẩm Bởi vì, khi xác định tội danh đối với hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, Tòa án đã phụ thuộc vào tội danh đã truy tố của Viện kiểm sát nên việc xét xử chỉ là hình thức để Tòa án hợp pháp hóa việc định tội danh của Viện kiểm sát

Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã thống nhất hướng dẫn: “Nếu xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố hoặc áp dụng khung hình

Trang 39

phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị thì Tòa án không phải báo trước cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng”

Theo đó, vấn đề giới hạn xét xử đã được Tòa án các cấp thực hiện tương đối thống nhất và góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án trong thực tiễn; nhưng trong trường hợp Tòa án cần xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố thì theo hướng dẫn như trên đã có sự lẫn lộn giữa quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng dẫn đến việc giải quyết vụ án không dựa trên cơ sở pháp luật

Kết luận Chương 1

Vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm hiện đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực Tố tụng hình sự, cũng như các nhà hoạt động thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận về giới hạn xét xử sơ thẩm giúp chúng

ta hiểu rõ hơn nội dung giới hạn xét xử sơ thẩm Từ đó có thể đưa ra một khái niệm khoa học, tương đối đầy đủ

Bên cạnh việc phân tích khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm, luận văn cũng đã phân tích và làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn của giới hạn xét xử sơ thẩm thông qua những nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự; phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án và Viện kiểm sát trong Tố tụng hình sự; vai trò của Tòa án trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm; mối quan hệ tố tụng chặt chẽ giữa Tòa án với Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong Tố tụng hình sự để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự

Từ đó thấy được ý nghĩa Kinh tế - Chính trị - Xã hội - Pháp lý và thực tiễn của quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm để góp phần vào việc quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm có hiệu quả tốt hơn Đây còn là cơ sở để nghiên cứu các quy định Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng, đồng thời cũng là cơ sở để xem xét, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định giới hạn xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn thi hành Pháp luật Tố tụng hình sự

Trang 40

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

TẠI THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH 2.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về giới hạn xét

Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát

đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

mà Viện kiểm sát đã truy tố” [32]

Chúng ta dễ dàng nhận thấy nội dung giới hạn xét xử sơ thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là sự kế thừa quy định của Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, đồng thời pháp điển hóa phần hướng dẫn của Thông tư Liên tịch số: 01/TTLT/TANDTC - VKSNDTC ngày 08 tháng 12 năm 1988 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Việc bổ sung đã khắc phục được phần nào tình trạng lẫn lộn giữa quan hệ hành chính và quan hệ tố tụng trong hoạt động Tố tụng hình sự, hạn chế được việc giải quyết vụ án không dựa trên cơ sở pháp luật và góp phần bảo đảm cho Tòa án có quyền áp dụng pháp luật theo đúng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Vì Tòa án có toàn quyền và độc lập khi xét xử bị cáo theo khoản khác (có thể nặng hơn hoặc nhẹ hơn) với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật”

Ngày đăng: 20/11/2017, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2006), Tài liệu Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết Nghị quyết số: 08-NQ/TW và triển khai thực hiện Nghị quyết số: 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị cán bộ toàn quốc tổng kết Nghị quyết số: 08-NQ/TW và triển khai thực hiện Nghị quyết số: 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác tư pháp
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
Năm: 2006
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số: 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2002), "Nghị quyết số: 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số: 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số: 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số: 92-KL/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số: 49-NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số: 92-KL/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số: 49-NQ/TW, ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
6. Bộ Chính trị (2014), Kế hoạch số: 79/KH-BCĐ ngày 08 tháng 4 năm 2014 về tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các kế hoạch, chương trình làm việc của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương của các Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số: 79/KH-BCĐ ngày 08 tháng 4 năm 2014 về tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và các kế hoạch, chương trình làm việc của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương của các Tòa án nhân dân
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
7. Mai Bộ (2008), Lại bàn về giới hạn của việc xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số: 21), tr. 11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về giới hạn của việc xét xử
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 2008
8. Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa - Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa - Nxb Tư pháp
Năm: 2006
9. Lê Văn Cảm (2010), Những vấn đề cơ bản về tổ chức - thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số: 13), tr. 2 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về tổ chức - thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2010
10. Mạc Giáng Châu (2006), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Mạc Giáng Châu
Năm: 2006
11. Nguyễn Ngọc Chí (2003), Tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (số:11), tr. 53 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Đạm (2004), Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
13. Trần Văn Độ (2000), Hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn xét xử, Tòa án nhân dân, (số: 03), tr.1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn xét xử
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2000
14. Nguyễn Văn Đông (2015), Phiên tòa hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai, Luận văn, Thạc sỹ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên tòa hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Văn Đông
Năm: 2015
15. Vũ Công Giao (2015), Quyền được suy đoán vô tội theo Luật nhân quyền quốc tế và những gợi mở cho việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số: 05), tr. 70 - 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được suy đoán vô tội theo Luật nhân quyền quốc tế và những gợi mở cho việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2015
16. Phạm Hồng Hải (1998), Bàn thêm về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Luật học, (số: 04), tr. 36 - 39, 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1998
17. Nguyễn Văn Hiện (1999), Vấn đề giới hạn xét xử của Tòa án nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số: 08), tr. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới hạn xét xử của Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Hiện
Năm: 1999
18. Nguyễn Văn Huyên (2003), Một số vấn đề về giới hạn xét xử, Tạp chí Luật học, (số: 06), tr. 47 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giới hạn xét xử
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2003
19. Nguyễn Văn Huyên (1999), Những căn cứ để quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tạp chí Luật học, (số: 02), tr. 45 - 48, 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những căn cứ để quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 1999
20. Dư Tuyết Lạnh (2013), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn thành phố Cần Thơ
Tác giả: Dư Tuyết Lạnh
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm