1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Phát triển thương mại biên giới tại một số tỉnh tây bắc của việt nam với trung quốc

119 154 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 913,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, hệ thống cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường thủy được nâng cấp, mở rộng và đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế, trao đổi thươ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ ĐOAN TRANG

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI TẠI MỘT SỐ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VŨ THỊ ĐOAN TRANG

PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI TẠI MỘT SỐ

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS Hà Văn Hội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung trong luận văn thạc sĩ này là công trình

nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Văn Hội – Trường

ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Các số liệu, bảng biểu được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, nhận xét, đánh giá trong luận văn đều được lấy từ các nguồn chính thống như đã ghi chú và liệt kê trong các tài liệu tham khảo Bên cạnh đó, đề tài có sử dụng các khái niệm, nhận xét, đánh giá của các tác giả, các cơ quan, tổ chức khác và đều được ghi rõ trong nội dung cũng như ở phần tài liệu tham khảo của luận văn

Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Vũ Thị Đoan Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên trong quá trình thực hiện Xin được gửi lời cảm ơn chân thành và đặc biệt nhất tới PGS.TS Hà Văn Hội– giảng viên hướng dẫn trực tiếp luận văn của tôi Cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, đầy trách nhiệm, những góp ý và gợi mở quý báu của thầy từ khi tôi bắt đầu thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Phòng Đào tạo, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình cao học ngành Kinh tế Quốc tế, các cán bộ tham gia quản lý và hỗ trợ khóa học

Luận văn này cũng là một trong các sản phẩm đào tạo trong chương

trình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp

phát triển và quản lý thương mại (hàng hóa và dịch vụ) biên giới vùng Tây Bắc Thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước

giai đoạn 2013-2018 “Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc” Mã số: KHCN-TB/13-18 Tôi xin chân thành cám ơn sự tài trợ của Chương trình cho hoạt động nghiên cứu nêu trên

Xin được cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, các thành viên của lớp Cao học K23 - ĐHKT, ĐHQGHN và những người bạn của tôi, những người

đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận văn

Vũ Thị Đoan Trang

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI 6

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.1.1 Nội dung tổng quan 6

1.1.2 Đánh giá những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 17

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển thương mại biên giới 18

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến thương mại biên giới 18

1.2.2 Đặc điểm và hình thức thương mại qua biên giới 23

1.2.3 Vai trò của thương mại biên giới trong bối cảnh hội nhập KTQT 28

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại biên giới 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Phương pháp luận 42

2.1.1 Chủ nghĩa duy vậy biện chứng 42

2.1.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 43

2.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu thứ cấp 43

2.2.2 Phương pháp thống kê 44

2.2.3 Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp 45

2.2.4 Phương pháp so sánh 46

2.2.5 Phương pháp kế thừa 46

2.2.6 Phương pháp case-study 47

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI CỦA MỘT SỐ TỈNH TÂY BẮC VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC 48

3.1 Tổng quan về quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc 48

Trang 6

3.1.1 Tổng quan về quan hệ thương mại qua biên giới Việt - Trung 48

3.1.2 Quy mô, tốc độ, kim ngạch 52

3.1.3 Cơ cấu trao đổi thương mại 58

3.2 Thực trạng phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc của một số tỉnh Tây Bắc, Việt Nam 61

3.2.1 Thực trạng phát triển thương mại biên giới Việt Nam và Trung Quốc của tỉnh Điện Biên 61

3.2.2 Thực trạng phát triển thương mại biên giới Việt Nam và Trung Quốc của tỉnh Lào Cai 64

3.2.3 Thực trạng phát triển thương mại biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại tỉnh Hà Giang 68

3.3 Đánh giá chung 70

3.3.1 Những thành tựu 70

3.3.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 71

CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI TẠI MỘT SỐ TỈNH TÂY BẮC CỦA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC 76

4.1 Triển vọng hoạt động thương mại biên giới ở một số tỉnh Tây Bắc Việt Nam 76

4.1.1 Bối cảnh mới của quốc tế, Trung Quốc và Việt Nam 76

4.1.2 Định hướng chính sách phát triển thương mại Việt – Trung trong bối cảnh mới 80

4.2 Cơ hội và thách thức cho các tỉnh Tây Bắc Việt Nam trong phát triển thương mại biên giới 83

4.2.1 Cơ hội 83

4.2.2 Thách thức 85

4.3 Mục tiêu và định hướng phát triển thương mại biên giới các tỉnh Tây Bắc thời kỳ tới 87

4.3.1 Quan điểm phát triển thương mại biên giới tại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam 87

4.3.2 Mục tiêu phát triển thương mại biên giới các tỉnh Tây Bắc 87

Trang 7

4.3.3 Định hướng phát triển thương mại biên giới các tỉnh Tây Bắc Việt

Nam 87

4.4 Các giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc 89

4.4.1 Nhóm giải pháp về thể chế 89

4.4.2 Giải pháp về phát triển kết cấu hạ tầng thương mại 98

4.4.3 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 102

4.4.4 Nhóm các giải pháp khác 102

4.5 Một số kiến nghị 103

4.5.1 Đối với Chính phủ và các Bộ ngành trung ương 103

4.5.2 Đối với các tỉnh Tây Bắc 103

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 8

i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ASEAN Association of Southeast

Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 9

ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa

Việt Nam – Trung Quốc từ 1991 đến 2000 53

2 Bảng 3.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa

Việt Nam – Trung Quốc từ 2001 đến 2015 55

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa qua các cửa

khẩu Việt – Trung giai đoạn 2006 – 2014 57

Trang 10

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trung Quốc là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Việt Nam,

kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Trung không ngừng tăng nhanh với tốc độ trung bình khoảng 45%/năm Trong 24 năm, từ 1991 đến 2015, kim ngạch thương mại hai chiều Việt – Trung tăng 1768 lần, từ 37,7 triệu USD năm 1991 lên 66,67 tỷ USD năm 2015 Kể từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Việt Nam, đứng đầu

về nhập khẩu và đứng thứ 3 về thị trường xuất khẩu của Việt Nam Dự báo đến năm 2020, kim ngạch thương mại song phương Việt – Trung đạt mức 100

tỷ USD

Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay vẫn tồn tại một số vấn đề, trong đó đáng quan tâm nhất là vấn đề mất cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước Từ năm 1991 đến 2000, Việt Nam hầu hết là xuất siêu sang Trung Quốc Nhưng từ năm 2001 đến 2015, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng mạnh Trong những năm gần đây, Trung Quốc trở thành thị trường mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc năm 2001 là 200 triệu USD và tăng lên tới 49,53 tỷ USD vào năm 2015 Nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc lớn được lý giải trên nhiều nguyên nhân, như nhu cầu thị trường trong nước, nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ cho các công trình xây dựng, nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất xuất khẩu, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam chưa khai thác tốt các lợi thế để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc

Hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền Việt – Trung được xác định rõ ràng Việt Nam có chung đường biên giới đất liền với Trung Quốc dài khoảng

Trang 11

2

1.450 km, trải dài từ Đông sang Tây qua 7 tỉnh của Việt Nam, bao gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên Phía Trung Quốc là khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và tỉnh Vân Nam Trên cơ sở Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước Việt – Trung ngày 07/11/1991, Việt Nam và Trung Quốc

đã ký Nghị định thư về phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt – Trung; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới đất liền Việt – Trung; và Hiệp định về Cửa khẩu và Quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền có ý nghĩa lịch sử, lần đầu tiên biên giới đất liền Việt – Trung được hoàn chỉnh

Ba văn kiện biên giới nói trên, nhất là hệ thống cửa khẩu biên giới Việt – Trung được xác định rõ ràng, đã mở ra một thời kỳ mới về hợp tác kinh tế - thương mại và các lĩnh vực khác qua các cửa khẩu biên giới đất liền Việt – Trung Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, hệ thống cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường thủy được nâng cấp, mở rộng và đã tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế, trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và giữa ASEAN và các nước trên thế giới với Trung Quốc nói chung Từ đó, đã tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung

Thương mại biên giới Việt – Trung là vấn đề đang được xã hội quan tâm trong bối cảnh hiện nay Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, kể từ khi bình

thường hóa quan hệ giữa hai nước, hoạt động thương mại qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung luôn là vấn đề được xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm Với điều kiện địa – kinh tế của tuyến biên giới đất liền, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh quan hệ thương mại biên giới đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung sang thị trường Trung Quốc

Trang 12

3

Tuy nhiên, hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung trong giai đoạn vừa qua còn gặp nhiều khó khăn, chưa phát triển ổn định, thường ở vào thế lúng túng, bị động theo phía Trung Quốc do không nắm rõ thông tin về thị trường và chính sách của Trung Quốc Thương mại biên giới Việt – Trung được đánh giá trên các khía cạnh “thương mại qua các cửa khẩu chính ngạch” hay “thương mại qua các cửa khẩu tiểu ngạch” hay dưới góc độ mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới của thương nhân và cư dân biên giới

Trung Quốc không chỉ là một nước lớn và một thị trường lớn mà còn là một nước láng giềng có chung đường biên giới đất liền Nhưng Việt Nam chưa xây dựng được chiến lược thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển nhanh

và bền vững vào thị trường Trung Quốc Do chưa có được những bước đi, lộ trình cụ thể, nên các giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại biên giới Việt – Trung chỉ mang tính chung chung, tình thế và nhất thời Cần phải tận dụng những điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại biên giới qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung tại các tỉnh phía Bắc nói chung và các tỉnh biên giới vùng Tây Bắc nói riêng cả tầm trung và dài hạn là vấn đề đang được xã hội quan tâm trong bối cảnh hiện nay

Vì lý do trên, việc chọn đề tài “Phát triển thương mại biên giới tại một

số tỉnh Tây Bắc của Việt Nam với Trung Quốc” để nghiên cứu là cần thiết

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động thương mại của một số

tỉnh biên giới vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc, chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế của hoạt động này, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới của các tỉnh biên giới Tây Bắc,

Việt Nam với Trung Quốc trong thời gian tới

Trang 13

4

Câu hỏi nghiên cứu:

i) Thương mại biên giới có vị trí, vai trò như thế nào đối với phát triển kinh tế của một quốc gia?

ii) Có những nhân tố nào ảnh hưởng tới phát triển thương mại biên giới?

iii) Tình hình phát triển thương mại biên giới của một số tỉnh biên giới Tây Bắc, Việt Nam với Trung Quốc thời gian qua như thế nào?

iv) Nhà nước cũng như các địa phương thuộc khu vực biên giới phía Tây Bắc cần phải có những biện pháp gì để thúc đẩy phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc?

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động thương mại biên giới các tỉnh

vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc (cơ sở lý luận, các điều kiện, đường lối chính sách)

- Đánh giá thực trạng hoạt động thương mại các tỉnh biên giới vùng Tây Bắc nước ta với Trung Quốc hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động thương mại các

tỉnh biên giới vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của luận văn là nghiên cứu, đánh giá hoạt động thương mại biên

giới của một số tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc

Phạm vi:

- Không gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới trên bộ của một số tỉnh biên giới vùng Tây Bắc, Việt Nam như Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên Đây là các tỉnh nằm trong phạm vi chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Tây Bắc gồm 12 tỉnh (Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao

Trang 14

5

Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang) và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An

- Thời gian: giai đoạn từ 2005 -2015, đề xuất giải pháp đến 2020

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp duy vật biện chứng là phương pháp được quán triệt trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù cho ngành kinh tế như: so sánh, thống kê, phân tích,

tổng hợp (Nội dung cũng như cách thức sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sẽ được mô tả chi tiết trong chương 2 của Luận văn)

5 Những đóng góp mới của Luận văn

i) Phân tích và chỉ rõ vai trò của thương mại biên giới đối với phát triển kinh tế của một quốc gia

ii) Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển thương mại biên giới iii) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thương mại biên giới của một số tỉnh biên giới phía Bắc, Việt Nam

iv) Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển thương mại biên giới của các tỉnh biên giới khu vực Tây Bắc

6 Bố cục của luận văn

Dự kiến Luận văn gồm 04 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển thương mại biên giới

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng thương mại biên giới của một số tỉnh Tây Bắc Việt Nam với Trung Quốc

Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển thương mại biên giới tại một số tỉnh Tây Bắc của Việt Nam với Trung Quốc

Trang 15

6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài Các công trình đã đạt được những kết quả đáng kể, là cơ sở cho hướng nghiên cứu tiếp theo của

đề tài

1.1.1 Nội dung tổng quan

1.1.1.1 Các nghiên cứu có tính chất lý luận về thương mại biên giới

Công trình nghiên cứu “The Strategic Role of Border Economic Zones in

Developing the GMS Economic Corridors: Background paper” của

Aggarwal, 2011 đã chỉ ra vai trò của hợp tác kinh tế biên giới trong việc phát

triển của các khu vực biên giới nói chung Công trình đưa ra 5 vai trò, thứ

nhất, hợp tác biên giới sẽ hỗ trợ cho việc tận dụng các nguồn lực tại biên giới,

thúc đầy đầu tư và các hoạt động kinh tế khác tại khu vực biên giới Thứ hai,

hợp tác kinh tế biên giới sẽ góp phần tạo nên sự bổ trợ về nguồn lực cho hai

bên Thứ ba, hợp tác biên giới sẽ giúp cho các vùng biên giới hẻo lánh trở thành trọng tâm của phát triển Thứ tư, thông qua hợp tác biên giới, các doanh

nghiệp hai bên sẽ có khả năng tiếp cận được các nguồn lực với chi phí rẻ hơn,

cũng như mở rộng thị trường và tận dụng được lợi thế nhờ quy mô Thứ năm,

hợp tác kinh tế xuyên biên giới đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoà bình và ổn định trong khu vực

Về lợi ích của thương mại biên giới, trong tác phẩm “The Economic

Development of Border Regions, Growth and Change” và “International Cooperation in Border Regions: An Overview and Research Agenda” của

Niles Hansen (1977, 1983) đã thảo luận về lý thuyết phát triển khu kinh tế cửa

Trang 16

7

khẩu biên giới và kết luận rằng hợp tác và phát triển kinh tế vùng cửa khẩu

biên giới đem lại một số lợi ích Thứ nhất, khu kinh tế cửa khẩu biên giới có

thể bổ sung lợi thế kinh tế nhằm khắc phục những khác biệt về mức độ phong phú của các nguồn tài nguyên thiên nhiên giữa các nước chung đường biên

giới Thứ hai, phát triển khu kinh tế biên giới giúp khai thác lợi thế gần kề về địa lý nhằm tối thiểu hoá các chi phí giao dịch và chi phí vận tải Thứ ba, tận dụng được các tương đồng văn hoá và ngôn ngữ Thứ tư, giúp các vùng biên

phát triển hạ tầng cơ sở giao thông, dịch vụ hải quan và kho bãi

Thương mại biên giới ở một số khu vực có đặc thù riêng, trong báo cáo

“Cross-border trade within the Central Asia: Regional Economic

Cooperation” của World Bank, 2007 đã phân tích thương mại biên giới ở

Trung Á và cho rằng thương mại biên giới ở khu vực này có một số các đặc

thù Thứ nhất, thương mại biên giới được thực hiện chủ yếu bởi các thương

nhân, cá nhân và các hộ gia đình nhỏ lẻ, thường là thương nhân và cá nhân ở

các địa phương biên giới Thứ hai, khối lượng hàng hoá buôn bán thông qua thương mại biên giới thường nhỏ Thứ ba, các loại hàng hoá thường được buôn bán là hàng nông sản và hàng tiêu dùng Thứ tư, các thương nhân nhỏ

thường sử dụng xe đạp, ô tô nhỏ hoặc đi bộ trong thương mại biên giới; các thương nhân thường không cần có các xe tải lớn do khối lượng buôn bán nhỏ

và khoảng cách thương mại gần Thứ năm, tồn tại chêch lệch về giá cả ở vùng

biên giới của các quốc gia do khối lượng buôn bán quá nhỏ, không đủ để làm giá cả cân bằng giữa các biên giới Bên cạnh đó còn có các lý do khác như hàng rào thương mại, các chính sách của chính phủ ở các vùng biên giới, các hình thức thanh toán không chính thức ở vùng biên giới, chi phí vận chuyển Giao lưu kinh tế qua biên giới là sự thể hiện xu thế hội nhập kinh tế giữa các nước gần nhau về vị trí địa lý, thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nước láng giềng, điều này được khẳng định trong Đề tài nghiên cứu

Trang 17

8

cấp bộ của Nguyễn Thị Kim Dung, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung

ương : “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng cơ chế chính sách

và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu trên bộ phía Bắc Việt Nam”, 1999 Đồng thời trong đề tài cũng nêu lên rằng, hoạt

động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu cũng là một yếu tố cấu thành của các hoạt động kinh tế đối ngoại Việc phát triển giao lưu đó mang lại lợi ích kinh tế đáng kể thông qua đẩy mạnh các hoạt động thương mại qua biên giới đồng thời cũng để thực hiện chủ trương cải cách kinh tế của Đảng là khẳng định nguyên tắc độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi trong phát triển kinh

tế đối ngoại; đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại; khai thác có hiệu quả lợi thế trong phân công lao động quốc tế

Các hình thức hợp tác kinh tế biên giới đã được phát triển và khá phổ

biến trên thế giới Trong nghiên cứu “Integration Strategies and Barriers to

Co-Operation in Cross-Border Regions: Case Study of the Oresund Region”,

Journal of Borderlands Studies của Povlot và Goren, 2007 đã nghiên cứu về

mô hình hợp tác khu vực cửa khẩu giữa Đan Mạch và Thụy Điển của vùng Oresund Khu vực xuyên quốc gia này có dân số 3,6 triệu người, trong đó có 2,4 triệu người ở phía Đan Mạch trên diện tích 9.782 km2, và phía Thụy Điển

có diện tích 10.914 km2 Động lực của sự hợp tác này là cuộc khủng hoảng kinh tế và sự cần thiết phải xây dựng một chiến lược tăng trưởng kinh tế khu vực để giúp cho cả hai phía cùng nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực

và trên thế giới Cả hai chính quyền trung ương đều ủng hộ quá trình hợp tác này và hỗ trợ đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông Chính quyền địa phương của cả hai bên đều có các đại diện và các tổ chức tương đương Bên cạnh đó, một số tổ chức phi chính thức như Hội đồng kinh doanh, Phòng thương mại… tạo nên diễn đàn hợp tác và cung cấp các tư vấn về luật và chính sách cho các

cơ quan chức năng

Trang 18

9

Nguyễn Văn Lịch , 2002 Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại

hàng hóa Việt Nam-Lào qua biên giới trên bộ thời kỳ đến 2005 Viện Nghiên

cứu thương mại, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ đã phân tích một số đặc điểm của hoạt động thương mại hàng hoá qua biên giới nói chung Tác giả cho rằng

thương mại biên giới có những đặc điểm sau Thứ nhất, thương mại biên giới mang tính địa phương, khu vực Thứ hai, thương mại biên giới mang tính bổ sung lẫn nhau Thứ ba, thương mại hàng hoá là phương thức chủ yếu của thương mại biên giới Thứ tư, thương mại biên giới mang tính lựa chọn song hướng Thứ năm, thương mại biên giới có tính phân tán, quy mô nhỏ nhưng

linh hoạt

1.1.1.2 Các nghiên cứu về phát triển thương mại biên giới của một số nước

Tài liệu: “Kinh tế xuyên biên giới của Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt

Nam” của Viện phát triển tài nguyên Campuchia (CDRI), 2005 đã phân tích

tình hình hợp tác kinh tế biên giới của 4 nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam thông qua việc xem xét chính sách mậu dịch biên giới, thương mại, xuất nhập khẩu chính ngạch và tiểu ngạch, các quan hệ kinh tế biên giới của một nước với 3 nước còn lại và ảnh hưởng của vấn đề giao thương này đến đời sống người dân, đặc biệt là người dân vùng biên Thông qua việc phân tích từng trường hợp cụ thể, cộng thêm việc khảo sát từng hộ gia đình, nghiên cứu các tài liệu chính sách, CDRI nhận thấy việc phát triển kinh tế xuyên biên giới của 4 nước trên nhìn chung có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế các nước nhưng phần phần lợi lớn hơn thuộc về những nước phát triển và có hệ thống chính sách đồng bộ và chuyên sâu hơn (Thái Lan và Việt Nam) và phần lợi kém hơn thuộc về những nước có hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ kém phát triển hơn (Lào và Campuchia) Bên cạnh đó, CDRI cũng đưa ra những đề xuất cụ thể để tăng cường hơn nữa hợp tác kinh tế xuyên biên giới như thúc đẩy thương mại, du lịch; điều chỉnh chính sách nhập cư, chính sách về thuế,

Trang 19

10

tiền tệ, ngân hàng, đầu tư; nâng cao chất lượng quản lý và điều hành của chính quyền

Trong công trình nghiên cứu có tựa đề: Hội nhập kinh tế và vị trí công

nghiệp: Các lý thuyết, kết quả thực tế và bài học cho các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV), Ikuo Kuroiwa, 2011 cho rằng các khu

vực thuộc biên giới 4 quốc gia CLMV có xu hướng tăng cường các lợi thế về

vị trí của mình và thu hút các hoạt động tập trung lao động từ các quốc gia láng giềng Bên cạnh việc tham gia AFTA và/hoặc WTO và các hoạt động thương mại toàn cầu, 4 quốc gia này còn được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng vận tải của Hành lang kinh tế Đông-Tây, Hành lang kinh tế phía Nam, và Hành lang kinh tế Bắc-Nam Ikuo cũng nghiên cứu các kết quả khảo sát từ Bắc Mỹ

và châu Âu do các khu vực này đã đi trước khu vực Đông Á trong vấn đề hội nhập khu vực và có rất nhiều các nghiên cứu đã được tiến hành đối với 02 khu vực này Đối với Việt Nam, Ikuo cho rằng các thành phố lớn như Hồ Chí Minh và Hà Nội, do là các khu vực vùng biên, có vị trí gần với các cảng biển chính nên hội nhập thương mại sẽ giúp tăng cường các hoạt động công nghiệp tại các thành phố này

Bên cạnh đó, hợp tác tại khu vực cửa khẩu Lao Bảo- Densavan giữa Việt Nam và Lào đang là một mô hình tương đối điển hình tại Việt Nam Đây là sự liên kết giữa hai khu vực kinh tế biên giới của hai nước Mục tiêu của nó không chỉ là tạo thuận lợi thương mại mà còn thu hút đầu tư từ trong nước và nước ngoài vào khu vực này Một bước tiến quan trọng của mô hình hợp tác này là Khu vực trung tâm chung (Common Central Area - CCA), với mục tiêu thiết lập bộ máy chung cho thủ tục hải quan, kiểm dịch, nhập cư và các thủ tục khác Tuy nhiên, việc đưa khu vực này vào thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn (Wallack và các cộng sự, 2011) Những nghiên cứu về các hợp tác kinh tế và thương mại biên giới cho thấy rằng không có một mô hình cụ thể

Trang 20

11

nào cho lĩnh vực hợp tác này Các hình thức hợp tác tồn tại với nhiều cấp độ khác nhau, có những loại hợp tác chỉ mang tính hình thức, có một số hợp tác khác đi vào thực chất và phát huy hiệu quả tốt trong việc thúc đẩy trao đổi thương mại và các liên kết kinh tế khác Có thể rút ra một điểm chung là để có thể triển khai hợp tác một cách có hiệu quả, không chỉ cần các hiệp định và sự hợp tác của các cấp chính quyền, mà cần cả khả năng và động lực kinh tế từ các tổ chức và các nhóm liên quan tại khu vực biên giới Tuy nhiên, các hình thức hợp tác cũng như hiệu quả của nó còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng đối tác Mỹ là một điển hình trong việc kết hợp nhiều hình thức hợp

tác khác nhau với hai đối tác là Mexico và Canada Hợp tác kinh tế biên giới

với một số cửa khẩu với Lào, Campuchia và Trung Quốc cũng như sự phát triển của các hành lang kinh tế trong GMS, cũng đòi hỏi một sự kết hợp linh hoạt các hình thức hợp tác và do đó cần có các nghiên cứu rất cụ thể và đặc thù

Các tác giả Xianming Yang, Zanxin Wang, Ying Chen, và Fan Yuan,

2011 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư và hiệu quả ở cấp độ doanh

nghiệp ở các khu kinh tế cửa khẩu và bài học rút ra cho việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu giữa Trung Quốc và các nước láng giềng thuộc Tiểu vùng sông Mekong mở rộng khẳng định, khác với khu kinh tế cửa khẩu

(BEZ), khu kinh tế xuyên biên giới (CBEZ) yêu cầu phải có một loạt các chính sách về tài chính, thuế, thương mại đầu tư, và quy định hải quan thống nhất giữa hai quốc gia Hiện tại tuy không có CBEZ nào trong khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS), nhưng hình thức khu kinh tế này đã bắt đầu nhen nhóm giữa Hekou (Trung Quốc) và Lào Cai (Việt Nam) dọc theo hành lang kinh tế Bắc – Nam Nhằm khái quát cách thức hình thành các chính sách khuyến khích phát triển CBEZ, 4 tác giả tập trung nghiên cứu BEZ của hai tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và Lào Cai (Việt Nam)

Trang 21

12

Ngoài ra, Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc, 2007 thực hiện nghiên

cứu về Hội nhập kinh tế ASEAN – Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh hoạt động

xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Việt – Trung đóng vai trò trung chuyển hàng hóa giữa ASEAN và Trung Quốc Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2009

thực hiện nghiên cứu về Phát triển các Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt –

Trung cho rằng cần phải phát triển hơn nữa dịch vụ hỗ trợ tại các khu vực cửa

khẩu nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Việt – Trung

1.1.1.3 Các nghiên cứu về thực tiễn phát triển thương mại biên giới của Việt Nam

Hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung đã được đề cập tại nhiều công trình nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam Do gần gũi về địa lý và có những nét tương đồng trong phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và xã hội, các hoạt động giao lưu thương mại biên giới là một tất yếu khách quan không thể thiếu trong lịch sử phát triển của Việt Nam và Trung Quốc Trung Quốc không chỉ là nước láng giềng mà còn là một thị trường lớn, đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến thương mại biên giới Việt- Trung, điển hình như:

Ban chỉ đạo Thương mại biên giới – Bộ Công Thương, 2014 Báo cáo

đánh giá tình hình hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung giai đoạn 2006-2014 Báo cáo đã đánh giá vai trò địa – kinh tế quan trọng của tuyến

biên giới đất liền Việt – Trung khi triển khai các giải pháp đẩy mạnh hoạt động thương mại biên giới, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang Trung Quốc Thương mại biên giới Việt – Trung được chỉ ra trong các nghiên cứu có liên quan đến hợp tác kinh tế - thương mại nói chung giữa ASEAN với Trung Quốc cũng như giữa Việt Nam với Trung Quốc

Bộ Công Thương, 2013 Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương

Trang 22

13

mại vùng Trung du miền núi phía Bắc Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2030 Báo cáo đã đánh giá hiện trạng phát triển thương mại, phát triển các kết

cấu hạ tầng thương mại, tình hình thực hiện quy hoạch của các địa phương trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ giai đoạn 2006-2011; từ đó phân tích

và dự báo các yếu tố ảnh hưởng, phân tích và dự báo các chỉ tiêu nhằm quy hoạch, các giải pháp và cơ chế chính sách thực hiện quy hoạch kết cấu hạ tầng thương mại vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Phạm Thị Cải, 2003 Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại hàng

hóa Việt Nam – Trung Quốc qua biên giới trên bộ thời kỳ đến 2005 Đề tài

cấp bộ Nghiên cứu cho thấy: Phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc qua biên giới trên bộ là chủ trương của cả Chính phủ Trung Quốc

và Chính phủ Việt Nam Chủ trương mở cửa thị trường khu vực biên giới trên

bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc của các Chính phủ đã được không chỉ các tỉnh có chung biên giới Việt - Trung mà cả các tỉnh khác của hai nước rất quan tâm Thực hiện định hướng phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa biên giới, phát triển thị trường khu vực biên giới trên bộ giữa hai nước của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc, các doanh nghiệp của cả hai nước đang từng bước tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới trên bộ với mục tiêu phát triển kinh tế thương mại của các địa phương có biên giới, đồng thời phát triển kinh tế thương mại của các tỉnh khác trong cả nước Việt Nam và Trung Quốc cũng như đẩy mạnh thương mại hàng hóa để phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước

Nguyễn Đăng Ninh, 2004 Đổi mới quản lý nhà nước về hoạt động xuất

nhập khẩu trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc Hà Nội:

NXB Khoa học – Xã hội Tác giả đã khẳng định, cùng với quá trình cải cách

và mở cửa, trên cơ sở nhận thức vai trò của hoạt động kinh tế biên giới mà

Trang 23

14

trọng tâm là việc thúc đẩy giao lưu kinh tế qua các cửa khẩu trên bộ, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt các chính sách có liên quan để hỗ trợ cho quá trình này Các chính sách thúc đẩy thương mại biên giới đã có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của các tỉnh biên giới; trong đó các khu kinh tế cửa khẩu có vai trò nổi bật đối với việc thúc đẩy các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch; do đó đã có những đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của các khu vực này

Nguyễn Văn Lịch có các công trình: “Phát triển thương mại trên hành

lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng” (2005), Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Định hướng chiến lược phát triển quan hệ

thương mại Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn đến 2015” (2007) và Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp khai thác

chiến lược “phát triển một trục hai cánh” nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam với Trung Quốc” (2008) Các công trình này đều tập trung phân

tích xuất khẩu hàng hóa qua cá cửa khẩu biên giới Việt –Trung là nội dung chủ yếu và quan trọng trong các chương trình hợp tác kinh tế - thương mại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc; và giá trị chiến lược của hai hành lang một vành đai kinh tế Việt – Trung trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung

Đỗ Tiến Sâm và Hà Thị Hồng Vân trong “Nghiên cứu về tình hình buôn

bán biên giới ở vùng Tây Bắc Việt Nam”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,

Hà Nội, 2007 đã nghiên cứu về tình hình buôn bán biên giới ở vùng Tây Bắc, phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội nói chung và hoạt động thương mại qua biên giới nói riêng, sau đó nêu lên một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở 04 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc bao gồm Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hoà Bình Đồng thời nhấn mạnh các địa phương biên giới cần hợp tác với nhau như thế nào, doanh nghiệp cần nâng cao sức cạnh

Trang 24

15

tranh ra sao; cũng như các địa phương, các vùng sản xuất trong nội địa của hai nước làm thế nào để đưa sản phẩm hàng hóa ra biên giới góp phần tăng trưởng đầu tư và quan hệ thương mại hai nước

“Quan hệ kinh tế - Thương mại cửa khẩu biên giới Việt – Trung với việc

phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh vùng núi phía Bắc” do PTS Phạm Văn

Linh chủ biên – Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm 1999 Tác giả đã làm rõ

vị trí, vai trò và tiềm năng kinh tế của các cửa khẩu biên giới Việt Trung, phân tích sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại ở các cửa khẩu đối với việc phát triển kinh tế hàng hoá, tìm ra giải pháp thích hợp nhằm mở rộng thị trường, tăng cường trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới, tạo đà cho việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở khu vực này

Ngoài ra, Bộ Công Thương, 2012 đã tổng kết tình hình hoạt động

thương mại biên giới của 7 tỉnh phía Bắc giáp Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu) trong giai đoạn 2006-2010 Bộ Công Thương cho rằng hoạt động thương mại biên giới

không ngừng gia tăng về giá trị với tốc độ tăng trưởng nhanh (26,6%) Bộ Công Thương cũng đã đề cập và phân tích các khó khăn và thách thức trong hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung Mất cân bằng cán cân thương mại là vấn đề nổi cộm trong thương mại 7 tỉnh biên giới phía Bắc giáp với Trung Quốc Cơ cấu mặt hàng XNK qua các cửa khẩu của 7 tỉnh này vẫn chủ yếu là mặt hàng nguyên liệu thô chưa qua chế biến, giá trị hàng hóa xuất khẩu chưa cao, sức cạnh tranh kém, dễ bị đối tác ép giá Hệ thống hạ tầng thương mại phục vụ phát triển thương mại biên giới ở khu vực cửa khẩu phía Việt Nam thiếu đồng bộ Đường giao thông ở một số nơi chật hẹp, xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa Còn xảy ra tình trạng ùn tắc tại các cửa khẩu (tỉnh Lạng Sơn là một ví dụ) Chính sách thương mại biên giới

Trang 25

16

của Trung Quốc thường xuyên thay đổi và áp dụng linh hoạt cho từng cửa khẩu, khu vực, địa phương trong khi việc quản lý cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc chưa đồng nhất nên trao đổi hàng hóa phụ thuộc rất nhiều vào phía Trung Quốc, gây bị động cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam

Hoạt động thương mại biên giới Việt -Trung 6 tháng đầu năm cũng đã được phân tích khá chi tiết trong báo cáo của Bộ Công Thương (2014) Theo

Bộ Công Thương (2014), trong bối cảnh gần đây có nhiều diễn biến phức tạp nhưng hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung vẫn duy trì được đà phát triển với mức tăng trưởng bình quân 4%/tháng Quy mô của thương mại biên giới Việt - Trung chiếm trên 24% trong tổng kim ngạch thương mại hai chiều Tuy nhiên, hoạt động thương mại qua biên giới vẫn còn gặp nhiều khó khăn, xuất khẩu nông sản qua biên giới còn nhiều vướng mắc, chưa xây dựng được

hệ thống cơ sở hạ tầng bến bãi phù hợp để thúc đẩy phát triển thương mại vùng biên… Để tháo gỡ khó khăn, Bộ Công thương (2014) cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế về hoạt động thương mại biên giới, xây dựng các phương án xuất nhập khẩu, mua bán, trao đổi qua biên giới một số mặt hàng nông sản theo hướng linh hoạt và tạo điều kiện cho xuất khẩu; xem xét thành lập Ban quản lý cửa khẩu mang tính đặc thù tại địa phương; tăng cường xúc tiến thương mại ở khu vực biên giới Việt – Trung

"Đề án phát triển biên mậu Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ 2006 -

2010" của Bộ Thương mại nhận định: Trung Quốc là một nước đang phát

triển có dân số lớn nhất thế giới, kinh tế phát triển thuộc nhóm nhanh nhất thế giới Ngay từ những ngày đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã có một chiến lược khá toàn diện trong việc phát triển thương mại biên giới, cho đến ngày nay đang tham gia sâu vào thể chế kinh tế thế giới nhưng về cơ bản vẫn duy trì những chính sách đó Các chính sách thương mại biên giới của Trung Quốc

Trang 26

17

đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách thương mại, và là một động lực thúc đẩy kinh tế vùng biên giới, miền núi phát triển, góp phần xóa đói giảm nghèo; đồng thời Trung Quốc luôn nắm thế chủ động trong thương mại với các nước có chung biên giới Đối với Việt Nam, mặc dù Nhà nước ta vẫn có những văn bản điều chỉnh chính sách về thương mại biên giới, nhưng nhìn chung do chưa có một cơ quan chuyên trách về thương mại biên giới nên những chính sách về thương mại biên giới thường không đồng bộ Mặt khác, việc Việt Nam chưa có một chiến lược thương mại lâu dài với Trung Quốc sẽ dẫn đến tình trạng quan hệ thương mại biên giới luôn bị động, không có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của nền kinh tế Trung Quốc để có thể khai thác tối đa lợi thế so sánh và hạn chế rủi ro

Ngày 20/03/2015, tại Hà Giang, Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Công

thương phối hợp với UBND tỉnh Hà Giang tổ chức Hội thảo “Phát triển

thương mại biên giới tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới đất liền của tỉnh Hà Giang” Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới có lợi

thế về địa chính trị - kinh tế, hoạt động thương mại biên giới được tỉnh Hà Giang xác định là một trong các tiềm năng, thế mạnh của địa phương Để phát huy, khai thác lợi thế, tỉnh Hà Giang đã ban hành các Nghị quyết, Chương trình hành động về phát triển thương mại biên giới trên cơ sở vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách và quy định của Nhà nước về thương mại

1.1.2 Đánh giá những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển quan hệ thương mại Việt – Trung cũng như phát triển quan hệ thương mại biên giới hai nước Việt – Trung Tuy nhiên, các nghiên cứu về phát triển thương mại biên giới Việt – Trung còn một số hạn chế sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc phân tích cơ sở lý luận

và thực tiễn, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đối với hoạt động

Trang 27

18

phát triển thương mại biên giới tiểu ngạch hay dưới hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới, hoạt động tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung

Thứ hai, hoạt động thương mại biên giới Việt – Trung được nghiên cứu

chung với hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc hoặc trong khuôn khổ các chương trình hợp tác kinh tế như “ Hai hành lang, một vành đai kinh tế” hoặc “Một trụ hai cánh” Các nghiên cứu này chưa nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với những điều kiện địa – kinh tế đặc thù của tuyến biên giới đất liền Việt – Trung

Thứ ba, các nghiên cứu đều cho rằng trong quan hệ thương mại biên giới

Việt – Trung, Việt Nam luôn luôn ở thế yếu, lúng túng bị động từ những điều chỉnh chính sách “biên mậu linh hoạt” của Trung Quốc, Việt Nam không có nhiều lợi thế trong xuất khẩu hàng hóa qua biên giới Việt –Trung Do vậy, các giải pháp đưa ra thường mang tính tình thế, đối phó, nhanh chóng không còn phù hợp với quá trình phát triển thương mại qua biên giới Việt – Trung Chưa

có nghiên cứu sâu và toàn diện về lợi thế và tiềm năng của các tỉnh biên giới Việt Nam nói chung và lợi thế của các tỉnh Tây Bắc nói riêng đối với việc phát triển thương mại biên giới

Nhìn chung, các công trình trên đây là những tư liệu tham khảo rất có giá trị mà Luận văn sẽ kế thừa và trên cơ sở đó có những phát triển mới trong bối cảnh hiện nay

1.2 Cơ sở lý luận về phát triển thương mại biên giới

1.2.1 Một số khái niệm liên quan đến thương mại biên giới

a Khái niệm thương mại biên giới

Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, do sự lý giải và nhận thức của con người về thương mại biên giới không giống nhau, vì vậy có một số khái niệm khác nhau về thương mại biên giới như sau:

Trang 28

19

Thương mại biên giới là hoạt động trao đổi thương mại qua biên giới của hai quốc gia lân cận, tuy nhiên đây được xem là hình thức kinh doanh và phải khai báo thủ tục hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu, nộp thuế Ngoài

ra, còn có khái niệm phi mậu dịch để áp dụng cho cư dân sống hai bên biên giới có thể qua lại giữa hai đường biên để mua bán, trao đổi hàng hóa mà không cần phải đăng ký kinh doanh với hải quan hay với chính quyền của hai nước Để làm được điều này thì chính phủ hai nước phải có những thỏa thuận trước đó để tạo điều kiện cho người dân sống ở biên giới trao đổi hàng hóa với nhau

Thương mại biên giới là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các nước có chung đường biên giới, là hình thức mở đầu của buôn bán trao đổi quốc tế và là bộ phận quan trọng của hoạt động ngoại thương của mỗi nước Theo Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 7/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ) Thương mại biên giới là:

- Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới;

- Buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu;

- Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế đã được thoả thuận trong các Hiệp định thương mại song phương giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước có chung biên giới

Trong thương mại biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng thì thương mại hàng hóa (TMHH) giữ vai trò chủ yếu Vì vậy trong đề tài này, khái niệm thương mại biên giới được sử dụng để chỉ TMHH qua biên giới Theo quy định của WTO, “thương mại biên giới” hàm ý như một cơ chế thương mại đặc biệt, một ngoại lệ không bị ràng buộc và được quy định rõ ràng trong các điều khoản riêng rẽ của WTO Các quốc gia có chung đường

Trang 29

20

biên giới đất liền có thể đơn phương hoặc song phương dành cho nhau những

ưu đãi riêng, đặc thù

Về khái niệm thương mại biên giới, theo Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/10/2015 về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới, hoạt động thương mại biên giới bao gồm (i) hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân; (ii) hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới; (iii) hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu; và (iv) dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới Như vậy, thương mại biên giới chính là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các nước có chung đường biên giới, là hình thức

52/2015/QĐ-mở đầu của buôn bán trao đổi quốc tế và là bộ phận quan trọng của hoạt động ngoại thương của mỗi nước

b Khái niệm khu kinh tế cửa khẩu

Thuật ngữ khu kinh tế cửa khẩu mới được dùng ở Việt Nam trong một số năm gần đây khi quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam và Trung Quốc đã có những bước phát triển mới, đòi hỏi phải có mô hình kinh tế phù hợp nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nước thông qua các cửa khẩu biên giới Bên cạnh đó Việt Nam còn có biên giới với Lào và Campuchia, tuy họ là các quốc gia nhỏ, còn khó khăn về kinh tế, nhưng lại có

vị trí hết sức quan trọng là nằm trong tiểu vùng sông Mêkông Giữa các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mêkông đang có nhiều dự án xây dựng cầu, đường thúc đẩy phát triển kinh tế theo tuyến hành lang Đông-Tây trên cơ sở dòng chảy tự nhiên của sông Mêkông Tất cả các điều kiện thuận lợi trên chỉ có thể phát huy tốt nếu có các mô hình kinh tế thích hợp, trong đó phải kể đến khu kinh tế cửa khẩu

Trang 30

21

Để đưa ra được khái niệm về khu kinh tế cửa khẩu, cần phải dựa trên cơ

sở của nhiều khái niệm có liên quan Khái niệm được đề cập đến đầu tiên là

“giao lưu kinh tế qua biên giới”, từ trước đến nay khái niệm về “giao lưu kinh

tế qua biên giới” thường được hiểu theo nghĩa hẹp là các hoạt động trao đổi thương mại, trao đổi hàng hoá giữa cư dân sinh sống trong khu vực biên giới, hoặc giữa các doanh nghiệp nhỏ đóng tại các địa bàn biên giới xác định, thuộc tỉnh có cửa khẩu biên giới Thương mại qua các cửa khẩu biên giới có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: trao đổi hàng hoá qua các cặp chợ biên giới, nơi cư dân 2 bên biên giới thực hiện các hoạt động mua/bán hàng hoá trên cơ sở tuân thủ các quy định của Nhà nước về tổng khối lượng hoặc tổng giá trị trao đổi Địa điểm cho các cặp chợ này do chính quyền của

cả 2 bên thỏa thuận Hoặc là các hoạt động thương mại biên giới thực hiện dưới dạng trao đổi hàng hoá giữa hai xí nghiệp nhỏ tại địa phương với các đối tác của mình ở bên kia biên giới Thông thường, đây là các hoạt động trao đổi hàng hoá với giá trị không lớn lắm Trong khi đó, hiểu theo nghĩa rộng, giao lưu kinh tế qua biên giới bao gồm các dạng hoạt động trao đổi kinh tế, kĩ thuật qua các cửa khẩu biên giới, trong đó các hoạt động trao đổi thương mại

là một trong những yếu tố cấu thành Trong vòng hơn một thập kỉ vừa qua , nội dung của giao lưu kinh tế đã có những thay đổi lớn và trở thành các hoạt động hợp tác kinh tế, kĩ thuật ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn Trong đó, các hoạt động giao lưu kinh tế không chỉ đơn thuần là việc buôn bán, trao đổi hàng hoá thông thường mà còn bao gồm cả các hoạt động hợp tác kỹ thuật, xuất và nhập khẩu dịch vụ, thực hiện các liên doanh xuyên biên giới, các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của phía bên kia biên giới, buôn bán các trang thiết bị kỹ thuật, liên doanh phát triển cơ sở hạ tầng, du lịch qua biên giới, v v… Như vậy, có thể trao đổi hàng hoá đơn giản thành các hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh Tại một số nước (như Trung Quốc, Thái Lan) xu

Trang 31

22

hướng này ngày càng trở nên rõ ràng và trở thành hướng đi chính, dẫn tới việc thành lập các khu mậu dịch tự do biên giới, hoăc thành lập các khu hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế

Như vậy, thông qua các hình thức, các cấp độ phát triển khác nhau của liên kết kinh tế, căn cứ theo đặc điểm của một loại hình kinh tế gắn liền với cửa khẩu, cho phép áp dụng những chính sách riêng trong một phạm vi không gian và thời gian xác định mà ở đó đã có giao lưu kinh tế biên giới phát triển… sẽ hình thành khu kinh tế cửa khẩu Vì vậy, có thể hiểu khu kinh tế cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện những cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ở đó nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao hơn do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hay khu kinh tế cửa khẩu có thể được hiểu là một vùng lãnh thổ bao gồm một hoặc một số cửa khẩu biên giới được Chính phủ cho áp dụng một số chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển kinh tế-xã hội nhằm tăng cường giao lưu kinh tế với các nước, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đầu tư chuyển đổi cơ cấu kinh tế các địa phương có cửa khẩu

c Khái niệm Chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu

Theo quyết định 245/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 của Thủ tướng chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới :

- Chợ biên giới là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền thuộc lãnh thổ Việt Nam nhưng không thuộc các chợ nói tại khoản 2 và khoản 3 dưới đây

- Chợ cửa khẩu là chợ được lập ra trong khu vực biên giới trên đất liền thuộc lãnh thổ Việt Nam gắn với các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá nhưng không thuộc Khu kinh tế cửa khẩu

Trang 32

23

- Chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu là chợ được lập ra trong Khu kinh tế cửa khẩu theo Quyết định số 53/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với Khu kinh tế cửa khẩu biên giới

1.2.2 Đặc điểm và hình thức thương mại qua biên giới

1.2.2.1 Đặc điểm của Thương mại biên giới

Hoạt động thương mại qua biên giới là một phần trong hoạt động thương mại quốc tế, do đó nó mang đầy đủ các đặc điểm chung của hoạt động thương mại quốc tế, ngoài ra nó còn có đặc điểm riên của hoạt động thương mại tại các đường biên giới Việt nghiên cứu và phân tích các đặc điểm của hoạt động thương mại biên giới sẽ tạo cơ sở vưng chắc để đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm phát triển hoạt động thương mại biên giới trong điều kiện cụ thể nhất định Có thể nêu ra một số đặc điểm chính của hoạt động này như sau:

Thứ nhất, khu vực biên giới của các nước thường cách xa trung tâm

kinh tế - chính trị quốc gia Do đó, nhà nước thường có những chính sách ưu đãi dành cho cá khu vực biên giới để tạo điều kiện và cơ hội phát triển thương mại khu vực biên giới

Thứ hai, chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại biên giới rất đa

dạng, không chỉ giới hạn trong địa bàn các địa phương khu vực biên giới mà còn mở rộng ra từ tất cả các địa phương khác của hai nước cũng như thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài hoặc thương nhân nước thứ ba Chủ thể tham gia hoạt động thương mại biên giới bao gồm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh, các thương nhân cá thể, đặc biệt là có

sự tham gia của cư dân biên giới Sự đa dạng của chủ thể tham gia hoạt động thương mại biên giới một mặt góp phần tạo lợi thế cạnh tranh trong hoạt động thương mại nhưng ngược lại có thể có những hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, khiến cho tất cả cùng bị thiệt thòi do bị ép giá, ép cấp hàng hóa

Trang 33

24

trao đổi cũng như các vấn đề khác Do đó, các quốc gia thường áp dụng chính sách quản lý thương nhân

Thứ ba, khu vực biên giới giữa hai nước láng giềng thường có hoàn

cảnh văn hóa, xã hội và tự nhiên tương tự nhau; nhân dân biên giới hai nước

có ngôn ngữ và văn hóa, tập quan sinh sống, truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng gần giống nhau hoặc tương tự nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau dù cư dân biên giới hai nước chịu sự tác động của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội khác nhau

Thứ tư, phương thức thương mại biên giới thường đa dạng và linh hoạt

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới giữa hai nước

có chung biên giới được tiến hành qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm xuất khẩu trực tiếp, nhập khẩu trực tiếp, mua bán qua trung gian, hàng đổi hàng, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, gia công quốc tế, kinh doanh đối lưu, đấu thầu quốc tế, hoạt động mua bán tại hội chợ, triển lãm, quá cảnh hàng hóa, đặc biệt là hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hóa của các hộ kinh doanh khu vực biên giới và cư dân biên giới…Điểm đáng chú ý là nhiều khi quy trình xuất nhập khẩu không được áp dụng và tuân thủ một cách nghiêm ngặt vì đối với những lô hàng nhỏ hoặc đối với một số đối tượng kinh doanh nhất định người ta tiến hành theo thói quen, theo tập quá buôn bán tại các cửa khẩu biên giới

Thứ năm, cơ cấu hàng hóa trao đổi trong hoạt động thương mại biên

giới khá đa dạng và phức tạp Hàng hóa được trao đổi trong hoạt động thương mại biên giới phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn xuất nhập khẩu của mỗi nước, thường rất đa dạng về chủng loại, phẩm cấp, bao bì, đóng gói Sự đa dạng về chủng loại, quy cách và phấp cấp hàng hóa chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng của nhiều tầng lớp dân cư vùng biên giới cũng như trong nội địa của hai nước hoặc nhằm mục đích trung

Trang 34

25

chuyển đi nước thứ ba Cơ cấu hàng hóa trao đổi có tính chất bổ sung ưu thế

và hỗ trợ cho nhau Các mặt hàng trao đổi cũng có nhiều mức chất lượng khác nhau, phù hợp với trình độ và lợi thế của mỗi nước

Thứ sáu, phương thức thanh toán linh hoạt nhưng đầy rủi ro: trong trao

đổi hàng hóa quốc tế, để hạn chế rủi ro, các doanh nghiệp thường chọn ngoại

tệ mạnh để làm đồng tiền thanh toán và thường tiến hành thanh toán qua hệ thống các ngân hàng với các phương thức thanh toán như chuyển tiền, nhờ thu, L/C…Tùy vào quy mô và tính chất của thương vụ mà các phương thức thanh toán phù hợp được lựa chọn để đảm bảo an toàn cho quá trình thanh toán với chi phí thấp nhất Hoạt động thanh toán ở khu vực biên giới ngoài những đặc điểm trên còn có những đặc điểm riêng biệt như thanh toán không qua hệ thống ngân hàng mà theo phương thức thanh toán trực tiếp giữa người bán và người mua (có thể trả ngay hoặc trả chậm) và sử dụng đồng tiền thanh toán của nước người bán và người mua, chiếm một tỷ trọng khá lớn trong các hoạt động mua bán ở khu vực biên giới Nó đảm bảo tính linh hoạt cho hoạt động mua bán, nghiệp vụ tiến hành đơn giản nhưng lại dễ xảy ra rủi ro

Thứ bảy, thương mại biên giới chịu ảnh hưởng bởi quan hệ chính trị

giữa hai nước có chung đường biên giới Biên giới, lãnh thổ luôn là một vấn

đề thiêng liêng của các quốc gia trên thế giới, hoạt động thương mại qua biên giới không chỉ là hoạt động kinh tế - thương mại mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Hoạt động thương mại qua các cửa khẩu giữa hai nước phải đảm bảo các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi và cùng gìn giữ hòa bình

Thứ tám, hoạt động thương mại qua biên giới chịu sự điều chỉnh chính

sách của hai nước có chung biên giới Do chiến lược phát triển kinh tế - thương mại của hai nước có chung biên giới trong mỗi thời kỳ khác nhau, hai nước có thể có những mục tiêu khác nhau về phát triển thương mại qua các

Trang 35

có thể do hai nước có chung biên giới thỏa thuận hoặc có thể do một nước đơn phương ban hành và áp dụng nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh

tế - xã hội khác nhau Nhìn chung, chính sách quản lý thương mại tại các cửa khẩu biên giới của các nước thường linh hoạt theo từng thời kỳ theo xu hướng ngày càng tự do hóa và thuận lợi hóa

Thứ chín, hiện tượng buôn lậu và gian lận thương mại dễ phát sinh, do

điều kiện thương mại thuận lợi tại các cửa khẩu biên giới và sự áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế và đầu tư Hơn nữa, địa hình các khu vực biên giới thường rất hiểm trở, phức tạp, hoạt động thương mại tại các khu vực biên giới thường rất hiểm trở, phức tạp, hoạt động thương mại tại các cửa khẩu biên giới lại đa dạng về nhiều mặt, cho nên rất dễ phát sinh các hiện tượng buôn lậu qua biên giới, gian lận thương mại và các tệ nạn khác

Tóm lại, hoạt động thương mại tại cá cửa khẩu biên giới có những đặc điểm riêng biệt của nó Do đó, cần phải có những biện pháp tác động phù hợp với các đặc điểm trong những điều kiện cụ thể để có thể phát triển hiệu quả nhất hoạt động thương mại qua biên giới

1.2.2.2 Các hình thức của Thương mại biên giới

Thương mại qua biên giới bao gồm các hình thức cơ bản sau:

Một là thương mại chính ngạch biên giới: đây là hoạt động thương mại

được tiến hành theo tập quán và thông lệ quốc tế tại khu vực biên giới giữa các nước mà theo đó các doanh nghiệp hoặc tư nhân căn cứ vào hiệp định

Trang 36

27

thương mại giữa các Chính phủ để ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa

và chịu sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền của hai bên tại biên giới

Đặc điểm của thương mại chính ngạch biên giới thường có quy mô lô hàng lớn, đáp ứng cho những đoạn thị trường lớn, nghiệp vụ phức tạp, thời gian kéo dài và kém linh động nhưng thường chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu ở mỗi khu vực biên giới Những hàng hóa xuất nhập khẩu chính ngạch thông thường phải thông qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia, đồng thời phải chấp hành đầy đủ các thủ tục xuất nhập khẩu theo thông lệ

và tập quán quốc tế

Hai là thương mại tiểu ngạch biên giới: hình thức này thường được tiến

hành giữa các thương nhân tại khu vực biên giới giữa hai nước trên cơ sở của nguyên tắc tự tìm kiếm nguồn hàng, khách hàng, tự đàm phán, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Thương mại tiểu ngạch biên giới là hoạt động thương mại biên giới của những người kinh doanh nhỏ Đặc điểm cơ bản của hoạt động này là những lô hàng có quy mô nhỏ, có tính linh hoạt cao, nghiệp vụ đơn giản, tiến hành theo thói quen và tập quán kinh doanh của từng cửa khẩu Khi có tranh chấp thương mại các bên có liên quan thường tự giải quyết với nhau Đây là hình thức kinh doanh có tính đặc thù tại các khu vực biên giới, chủ yếu do cư dân tại các khu vực biên giới tiến hành, nhưng lại giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại biên giới ở mọi quốc gia Xuất nhập khẩu tiểu ngạch làm tăng đáng kể kim ngạch xuất nhập khẩu, một mặt thúc đẩy nền kinh tế đất nước, mặt khác giúp phát triển kinh tế của tỉnh biên giới

Ba là trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới: đây là hoạt động trao đổi

hàng hóa giữa dân cư các địa phương biên giới với dân cư nước láng giềng trong phạm vi địa lý quy định dọc theo đường biên giới, được thực hiện tại

Trang 37

Tuy nhiên sự phân biệt trên không phải lúc nào cũng rõ ràng Nó phụ thuộc vào mức thuế của các loại hàng hóa trong từng thời điểm khác nhau và quan niệm của những nước có chung đường biên giới Ví dụ, đối với Trung Quốc, thương mại quốc tế được phân chia làm hai loại: mậu dịch quốc gia (quốc mậu) và mậu dịch biên giới (biên mậu) Theo văn bản “Biện pháp tạm thời quản lý ngoại tệ mậu dịch biên giới” do Cục Quản lý ngoại tệ của Trung Quốc ban hành năm 1997 thì mậu dịch biên giới được giải thích bao gồm: mậu dịch chợ cư dân biên giới, mậu dịch tiểu ngạch biên giới, hợp tác kinh tế-

kỹ thuật đối ngoại của khu vực biên giới Do quan niệm khác nhau nên có những lô hàng qua biên giới mà Việt Nam gọi là chính ngạch thì phía Trung Quốc lại xem là hàng biên mậu Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khác biệt trong các con số thống kê giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc về hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới

1.2.3 Vai trò của thương mại biên giới trong bối cảnh hội nhập KTQT

1.2.3.1 Vai trò chủ yếu của các tỉnh biên giới đối với hội nhập KTQT của quốc gia

Vai trò chủ yếu của một tỉnh biên giới đối với hội nhập KTQT của quốc gia thể hiện ở các mặt sau :

Trang 38

29

- Tỉnh biên giới là cửa ngõ, cầu nối với cả nước trong hoạt động giao thương, lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và kỹ thuật công nghệ với nước ngoài, trước hết là nước láng giềng có chung biên giới quốc gia

- Thị trường tỉnh biên giới có vai trò “trung chuyển” hàng hóa XNK

giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước, trước hết là thị trường của nước láng giềng có chung biên giới quốc gia

- Hoạt động kinh tế biên giới trên địa bàn tỉnh biên giới không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, dịch vụ qua biên giới giữa hai quốc gia láng giềng mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước có chung biên giới

- Tỉnh biên giới có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia trong quá trình hội nhập KTQT Tỉnh biên giới có vai trò đi đầu đối với việc giữ vững chủ quyền lãnh thổ, giữ vững độc lập tự chủ của quốc gia trong quá trình hội nhập KTQT

- Các chủ thể kinh tế trong nước khi tham gia kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường tỉnh biên giới được coi là tham gia vào tuyến đầu trong cạnh tranh quốc tế, trực tiếp cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh của nước láng giềng Hệ thống kinh tế của tỉnh biên giới liên kết trực tiếp và cạnh tranh trực diện với hệ thống kinh tế của nước láng giềng (trước hết là các khu KTCK, khu thương mại hoặc khu TM-CN ) Tỉnh biên giới vừa có thể được hưởng lợi nhiều hơn vừa có thể chịu những bất lợi hơn (so với các tỉnh không có biên giới với nước láng giềng) từ các điều ước quốc tế, các cam kết hội nhập quốc tế của quốc gia, nhất là cam kết hội nhập của quốc gia với nước láng

giềng Vì thế, tỉnh biên giới không chỉ là “phên dậu” che chắn cho các tỉnh tuyến sau mà còn là “xung kích” trong cạnh tranh quốc tế

Trang 39

- Đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh biên giới

+ Phát triển thương mại biên giới sẽ là một động lực thúc đẩy phát triển thị trường, phát triển sản xuất hàng hóa, tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Thúc đẩy phát triển các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, các lĩnh vực xã hội,… phát triển trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả các tiềm năng, phát huy các lợi thế của địa phương, nhất là về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, tiềm năng du lịch…

+ Phát triển thương mại biên giới góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, bình ổn giá cả thị trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trên địa bàn, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương, thu hút lao động có trình độ cao từ bên ngoài, tạo ra khả năng sử dụng các phương tiện, máy móc thiết bị hiện đại và công nghệ mới của thế giới và trong nước

+ Phát triển thương mại biên giới trên địa bàn sẽ không chỉ tăng cường lưu thông trao đổi sản phẩm hàng hóa giữa các địa phương của tỉnh mà còn thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các địa phương trên địa bàn

+ Do đặc thù của tỉnh biên giới, cho nên phát triển TMBG góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai quốc gia láng giềng; thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, dịch vụ qua biên giới; đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới; và góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa - xã hội, xóa đói giảm nghèo khu vực biên giới

Trang 40

31

- Đối với cả nước

Tỉnh biên giới là cửa ngõ, cầu nối đối với cả nước trong hoạt động giao lưu ngoại thương và phát triển KTCK Phát triển thương mại trên địa bàn tỉnh biên giới góp phần thắt chặt thị trường trong nước với thị trường của nước có chung đường biên giới thành một tổ hợp hữu cơ gồm hai hệ thống thị trường lớn, thành con đường ngắn nhất để trao đổi, phân bổ và phân bổ lại các yếu tố sản xuất và tài nguyên; trở thành nơi hợp tác buôn bán và chuyển giao khoa học, kỹ thuật, thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước láng giềng, mở rộng ra các nước trong khu vực; trở thành nơi tập kết và phân tán luồng hàng hóa XNK và là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh, trao đổi hàng hóa, góp phần phát triển quan hệ thương mại giữa các nước láng giềng; củng cố

an ninh quốc phòng trên tuyến biên giới

Thương mại biên giới là hình thức biểu hiện đặc thù của thương mại quốc tế với những đặc trưng riêng về phạm vi, quy mô và phương thức của hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, cũng như thương mại quốc

tế nói chung thương mại biên giới biểu hiện phân công quốc tế giữa hai quốc gia láng giềng

Phát triển thương mại quốc tế tại khu vực thị trường biên giới tạo khả năng phát huy tối đa các nhân tố sản xuất ở khu vực biên giới, hình thành sức sản xuất mới, thúc đẩy sự phát triển của khu vực biên giới giữa các nước láng giềng Tóm lại, phát triển thương mại biên giới không chỉ phù hợp với phân công lao động quốc tế và xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa nền kinh tế thế giới

mà nó còn là đòi hỏi bền trong của sự phát triển kinh tế biên giới ở mỗi nước Phát triển thương mại biên giới là một nội dung quan trọng của chính sách kinh tế quốc gia, kinh tế địa phương của Việt Nam cũng như của Lào trong xu hướng hợp tác và hội nhập, tự do hóa đầu tư và thương mại Nhu cầu này trở nên cấp thiết hơn khi hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

Ngày đăng: 20/11/2017, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w