1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản trị công ty niêm yết theo pháp luật việt nam hiện nay (tt)

26 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 521,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản trị CTNY theo Luật Doanh nghiệp , Luật chứng khoán và các văn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số : 60.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm đổi mới kinh tế (1986 đến nay), hệ thống doanh nghiệp Việt Nam đã và đang hình thành và càng ngày càng phát triển; đông đảo về số lượng, đa dạng về loại hình và quy mô ngày càng lớn Do môi trường kinh doanh và xu hướng hội nhập kinh

tế quốc tế, doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức công ty ngày càng trở nên phổ biến Công ty nói chung và công ty đại chúng/niêm yết nói riêng đã và đang khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường và trở thành một nhân tố cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế

và xã hội ở nước ta

Theo các chuyên gia tài chính, quản trị công ty là một vấn đề hết sức quan trọng, được đặt ra ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt

là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Đối với Việt Nam, quản trị công ty tốt sẽ giúp cải thiện hoạt động công ty, tăng cường khả năng chống đỡ với rủi ro, đặc biệt khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Theo Công ty Tài chính quốc tế (IFC), quản trị công ty ở Việt Nam hiện có khoảng 80% doanh nghiệp tuân thủ Số doanh nghiệp tự nguyện thực hiện chỉ chiếm 20% trong khi tại các nước tỷ lệ này khoảng 50% Ngay tại những công ty niêm yết lớn trên thị trường chứng khoán được xem là

đi đầu về quản trị công ty ở Việt Nam thì việc thực hiện quản trị công

ty tốt theo thông lệ quốc tế mới chỉ ở bước đầu

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán yếu ,để bảo vệ tốt nhất các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả quản trị công ty niêm yết, việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về quản trị công ty niêm yết là một vấn đề cấp thiết

Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sỹ là : “ Quản trị

Trang 4

công ty niêm yết theo Pháp luật Việt Nam hiện nay” để làm luận

văn thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, quản trị CTNY cũng đã được đề cập tới trong một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu của một số tác giả liên quan tới quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam như : Luận văn

thạc sĩ, mã số 603850 “Quản trị công ty niêm yết những vấn đề lý

luận và thực tiễn” của tác giả Lê Minh Thắng do PGS.TS Nguyễn

Như Phát hướng dẫn (2008); Luận văn thạc sĩ, mã số 60380107

“Việc tiếp nhận các nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của Việt Nam” của tác giả Võ Thị

Hà Linh do PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ hướng dẫn; Đề tài cấp ĐHQG,

mã số C2014-34-02 “Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty niêm

yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” do PGS.TS Lê Vũ Nam

chủ nhiệm (2015); Luận văn thạc sĩ, mã số 60380107 “Hoàn thiện

pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần”của tác giả Hoàng

Thị Mai do TS Nguyễn Am Hiểu hướng dẫn (2015); Luận văn thạc

sĩ, mã số 60380107 “Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt

Nam” của tác giả Lương Đình Thi do TS Phan Thị Thanh Thuỷ

hướng dẫn (2015),…

Các công trình nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ về quản trị công ty nói chung và quản trị CTNY nói riêng Tuy nhiên, các công trình này chưa đi cụ thể vào việc quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chưa thực sự đi sâu vào tình hình quản trị CTNY , chưa chỉ ra rõ những nguyên nhân yếu

kém trong quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam hiện nay

3 Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu

Nhiệm vụ: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về

quản trị CTNY ở Việt Nam, đi sâu vào thực tế nhằm tìm ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về

Trang 5

quản trị CTNY nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản trị CTNY một cách chặt chẽ và bền vững nhất

Mục tiêu:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị công ty nói chung và CTNY nói riêng theo quy định pháp luật Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị công

ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

- Phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các

quy định của pháp luật về quản trị CTNY theo Luật Doanh nghiệp , Luật chứng khoán và các văn bản có liên quan đến các nguyên tắc quản trị CTNY

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu pháp luật của Việt Nam về

quản trị CTNY, đối chiếu so sánh với các khuyến nghị của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) với các thông lệ quốc tế về quản trị CTNY

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết dựa trên lý luận và phân tích thực tiễn các chế định pháp lý về quản trị công ty nói chung, về quản trị CTNY nói riêng để đánh giá những vướng mắc, khó khăn dẫn đến hạn chế tính khả thi của các quy định pháp luật So sánh những tiến bộ qua các lần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của pháp luật Việt nam Tìm hiểu thêm các quy định từng vấn đề pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của pháp luật một số quốc gia có điều kiện tương đồng để rút ra

Trang 6

được kinh nghiệm khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong pháp luật Việt Nam về quản trị CTNY

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản trị CTNY, xác định những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quản trị CTNY và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế về QTCT và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị CTNY tại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập với thế giới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản trị công ty niêm yết

và pháp luật về quản trị công ty niêm yết

Chương 2: Khung pháp luật và thực trạng áp dụng các quy

định pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về

quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái quát về quản trị công ty

1.1.1 Khái niệm về quản trị công ty

Các khái niệm và định nghĩa về quản trị công ty ( Corporate governance) rất đa dạng Nó phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, các quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở và hoạt động Một trong những định nghĩa được sử dụng nhiều nhất và sớm nhất về QTCT được trình bày bởi Sir Adrian Cadbury, người đứng đầu Ủy ban về các vấn đề tài chính của QTCT

ở Anh Trong báo cáo của mình, ông định nghĩa QTCT là hệ thống

mà công ty được chỉ đạo và kiểm soát và thông qua đó HĐQT chịu trách nhiệm quản lý các công ty của họ

Nhà khoa học kinh tế Monks và Minow, những người tiên phong trong QTCT định nghĩa QTCT trong cuốn sách của họ như là mối quan hệ giữa các bên tham gia như TGĐ điều hành, ban quản lý, các cổ đông và người lao động, những người được cho là rất quan trọng trong việc quyết định định hướng và hiệu quả hoạt động của công ty

Shleifer và Vishny đưa ra một định nghĩa tiến bộ hơn rằng: QTCT đề cập đến những cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho các công ty đảm bảo mình nhận được một khoản lợi nhuận từ việc đầu tư

Vào năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về QTCT như sau: QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty (… ), liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các

Trang 8

bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công

ty QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty

sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn

Quyết định số 12 ngày 13/03/2007 của Bộ tài chính ban hành

về quy chế QTCT định nghĩa: QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của các cổ đông và những người liên quan đến công ty Các nguyên tắc QTCT bao gồm: (1) Đảm bảo một

cơ cấu quản trị hiệu quả; (2) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; (3) Đối

xử công bằng giữa các cổ đông; (4) Đảm bảo vai trò của những người

có quyền lợi liên quan đến công ty; (5) Minh bạch trong hoạt động của công ty; (6) Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả

1.1.2 Phân biệt quản trị công ty và quản lý công ty

Quản trị và quản lý là hai khái niệm khác nhau nhưng dễ gây nhầm lẫn

Quản lý công ty liên quan đến các công cụ để điều hành công

ty theo những chiến lược, hoặc định hướng sẵn của công ty đã đề ra Quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp Quản lý công ty là hệ quả của quản trị công ty

QTCT liên quan tới cơ chế kiểm soát quá trình ra quyết định của công ty; là các quy trình nhằm đảm bảo sự công bằng, tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình QTCT được đặt ở một tầm cao hơn đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý theo một cách sao cho

nó phục vụ lợi ích của các cổ đông

1.1.3 Nguyên tắc quản trị công ty

Trang 9

Các Nguyên tắc QTCT giúp các nhà hoạch định chính sách đánh giá và cải thiện khuôn khổ pháp lý và thể chế liên quan đến quản trị công ty, với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế, tăng trưởng bền vững và ổn định tài chính

OECD đã đưa ra các nguyên tắc quản trị công ty như sau:

(1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả

Các cơ quan giám sát, quản lý và thực thi phải liêm chính, có đủ thẩm quyền, và nguồn lực để hoàn thành chức năng của mình một cách chuyên nghiệp và khách quan Hơn nữa, các quyết định của những cơ

quan này phải kịp thời, minh bạch và được giải thích đầy đủ

(2) Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản

Các quyền cơ bản của cổ đông bao gồm quyền được: 1) Đảm bảo các phương thức đăng ký quyền sở hữu; 2) Chuyển nhượng cổ phần; 3) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường xuyên; 4) Tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông; 5) Bầu và bãi miễn các thành viên Hội đồng Quản trị; 6) Hưởng lợi nhuận của công ty

Khuôn khổ quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông và bảo đảm đối xử công bằng với mọi cổ đông, kể cả cổ đông thiểu số và nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm

(3) Các nhà đầu tư tổ chức, thị trường chứng khoán và các trung gian khác

Khuôn khổ quản trị công ty nên đưa ra các chính sách khuyến khích hợp lý trong suốt chuỗi đầu tư và tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động để hỗ trợ cải thiện quản trị công ty

(4) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty

Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên

có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy

Trang 10

định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp vững mạnh về tài chính

(5) Công bố thông tin và tính minh bạch

Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty

(6) Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị

Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị và trách nhiệm giải trình của Hội đồng Quản trị đối với công

ty và cổ đông

Thành viên Hội đồng Quản trị phải làm việc trên cơ sở có đầy

đủ thông tin, một cách tin cậy, siêng năng và cẩn trọng, và vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông

1.1.4 Sự cần thiết, ý nghĩa và vai trò của QTCT

Tình trạng hoạt động của doanh nghiệp phản ánh vai trò của quản trị, nếu một doanh nghiệp phát triển thì doanh nghiệp đó có bộ máy quản trị tốt và ngược lại QTCT là nhằm tạo lập và duy trì một môi trường nội bộ thuận lợi nhất, trong đó các cá nhân làm việc theo nhóm có thể đạt được một hiệu suất cao nhất nhằm hoàn thành mục

tiêu chung của tổ chức

QTCT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công ty, trong đó việc Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra là những vai trò nòng cốt trong quá trình hoạt động quản trị doanh nghiệp

1.2 Pháp luật về quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam

1.2.1 Pháp luật về quản trị công ty tại Việt Nam

Lần đầu tiên luật lệ về công ty tại Việt Nam được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toàn Nam án Bắc Kỳ” Trong bộ luật này quy định hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn (tiết 5 chương IX); trong đó hội vốn được phân thành hai loại

Trang 11

là hội vô dành (CTCP) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản) Tuy nhiên, pháp luật về CTCP thời kỳ này mới chỉ là bắt đầu, còn rất

21/12/1990, Luật công ty chính thức được ban hành tạo nền tảng pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của hệ thống công ty cũng như khuôn khổ quản trị đối với các CTCP Với 10 điều trong tổng số 46 điều khoản, Luật Công ty đã định hình được sơ lược về quản lý nội

bộ CTCP như ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS và Giám đốc điều hành, nhưng thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan này lại chưa được phân định rõ ràng

12/06/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp để thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật về QTCT ở Việt Nam Từ đó đến nay, với từng bước phát triển và hội nhập kinh tế, Luật Doanh nghiệp 1999 đã được sửa đổi, bổ sung và thay đổi thành Luật Doanh nghiệp 2005, sau đó là Luật Doanh nghiệp 2014 Trong các văn bản này, CTCP vẫn được tiếp tục ghi nhận và được quy định theo chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP

1.2.2 Pháp luật về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam

1.2.2.1 Khái quát về công ty đại chúng

Theo Điều 25 của Luật Chứng khoán quy định : Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau :

- Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;

- Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;

Trang 12

- Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và

có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên

1.2.2.2 Đặc điểm công ty đại chúng

CTĐC có nguồn gốc từ CTCP nên nó mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của CTCP Do đó nó phải tuân thủ các quy định của LDN về cơ cấu tổ chức nội bộ của loại hình CTCP

CTĐC là tổ chức kinh tế có cơ chế quản lý tập trung cao CTĐC có số lượng cổ đông lớn: bản thân tên gọi “đại chúng”

đã cho ta thấy được sự rộng lớn không giới hạn về lượng cổ đông công ty

CTĐC có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường chứng khoán

1.2.2.3 Pháp luật về quản trị công ty đại chúng

Pháp luật về quản trị CTĐC là một bộ phận của luật Thương mại bao gồm tổng hợp những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành quy định về hình thức CTĐC, qua đó xác định khung quản trị CTĐC nhằm đạt được mục đích của quản trị công ty đối với cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các chủ thể khác

1.2.2.4 Đặc điểm pháp luật về quản trị công ty đại chúng

Pháp luật về quản trị CTĐC được điều chỉnh bằng phương pháp bình đẳng pháp lý Thương nhân và các chủ thể tham gia quan

hệ thương mại đều là những chủ thể độc lập, bình đẳng với nhau về

tổ chức và tài sản

Trong pháp luật về quản trị CTĐC (đặc biệt CTĐC niêm yết), quy tắc ấn và quy tắc cưỡng thường xuyên được sử dụng, và hạn chế nguyên tắc tự do ý chí

Trong quá trình quản trị CTĐC, các tranh chấp phát sinh được giải quyết tuỳ thuộc vào lựa chọn của các bên tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải, hay nhờ trọng tài hoặc toà án giải quyết tranh chấp

1.2.3 Pháp luật về quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam

1.2.3.1 Khái quát về công ty niêm yết

Theo QĐ 12/2007-BTC, Công ty niêm yết là công ty cổ phần được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam

Công ty niêm yết có đặc điểm như sau :

Trang 13

Thứ nhất, công ty niêm yết là loại công ty cổ phần có cổ phiếu

và trái phiếu được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam Được quyền phát hành chứng khoán khi có nhu cầu tăng vốn

Thứ hai, công ty niêm yết còn bao gồm doanh nghiệp nhà nước

đã cổ phần hóa, nhà nước chiếm trên 50% cổ phần (Luật doanh nghiệp) Bên cạnh đó, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được phát hành chứng khoán làm tăng vốn giữa hai dạng

cổ phiếu và trái phiếu

Thứ ba, công ty niêm yết thường có quy mô lớn và phạm vi hoạt động rộng khắp và có tình hình tài chính phức tạp hơn nhiều so với các công ty không niêm yết

1.2.3.2 Pháp luật về quản trị công ty niêm yết

CTNY chính là CTĐC niêm yết nên pháp luật về quản trị CTNY cũng có những đặc điểm giống pháp luật về quản trị CTĐC và đều được đảm bảo theo các nguyên tắc:

- Sự độc lập của các thành viên HĐQT và việc giám sát hữu hiệu của họ;

- Chịu trách nhiệm với các cổ đông;

- Minh bạch và công bố thông tin;

- Bảo vệ quyền lợi của cổ đông nắm ít vốn

1.2.3.3 Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty niêm yết

Cơ cấu tổ chức hay cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt là các công ty niêm yết, hiện nay sử dụng một trong hai mô hình cơ bản là mô hình hội đồng đơn ( hội đồng một tầng) hoặc mô hình hội đồng kép ( hội đồng hai tầng)

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng gồm

có Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng giám đốc với các thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn Mọi quyền lực và các vấn đề pháp luật của công ty nằm trong tay của Hội đồng giám đốc, trừ những vấn

đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định phải thuộc về Đại hội đồng cổ đông

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng hai tầng gồm

có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát (Ban kiểm soát)và Hội

Ngày đăng: 20/11/2017, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w