1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn Quản trị công ty niêm yết theo Pháp luật Việt Nam hiện nay

79 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật Chứng khoán 2013 là các văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động, giải thể và phá sản doanh nghi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN

QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số : 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

TÊN TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ KIM QUYÊN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT 05

1.1 Khái quát về quản trị công ty……… … 05

1.2 Quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam 17

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 29

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam… 29

2.2 Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về quản trị CTNY ở Việt Nam hiện nay 56

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM… ….66

3.1 Phương hướng và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về quản trị CTNY 66

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị CTNY…… 67

KẾT LUẬN .72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 4

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

BGĐ Ban giám đốc

BKS Ban kiểm soát

CTNY Công ty niêm yết

ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

DN Doanh nghiệp

GĐ Giám đốc

HĐQT Hội đồng quản trị

HNX Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội

HSX Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh IFC Công ty tài chính quốc tế

LNST Lợi nhuận sau thuế

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 : Bảng điều kiện niêm yết chứng khoán 27

Sơ đồ 2.1: Mô hình quản trị CTCP có Ban kiểm soát ở Việt Nam 30

Sơ đồ 2.2 : Mô hình quản trị CTCP không có Ban kiểm soát ở Việt Nam 32

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 30 năm đổi mới kinh tế (1986 đến nay), hệ thống doanh nghiệp Việt Nam đã và đang hình thành và càng ngày càng phát triển; đông đảo về số lượng, đa dạng về loại hình và quy mô ngày càng lớn Do môi trường kinh doanh và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức công ty ngày càng trở nên phổ biến Công ty nói chung và công ty đại chúng niêm yết nói riêng đã và đang khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường và trở thành một nhân tố

cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở nước ta

Theo số liệu thống kê, trong hơn 16 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam (tháng 07/2000 đến nay), đã có khoảng 2088 công ty cổ phần đăng ký là công ty đại chúng với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, trong đó có 799 công ty đã được niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán gồm Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE hay HSX) là 365 công ty và Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC hay HNX) là 434 công ty [7] Để đạt được kết quả này, Nhà nước đã không ngừng chủ trương đổi mới phát triển kinh tế nhiều thành phần theo

cơ chế thị trường và thể chế hoá một cách hợp lý chủ trương đó thành hệ thống pháp luật về doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Luật Chứng khoán 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này Trong đó, Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật Chứng khoán 2013 là các văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động, giải thể và phá sản doanh nghiệp, trong đó có phần quan trọng về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói riêng

Theo các chuyên gia tài chính, quản trị công ty là một vấn đề hết sức quan trọng, được đặt ra ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Đối với Việt Nam, quản trị công ty tốt sẽ giúp cải thiện hoạt động công ty, tăng cường khả năng chống đỡ với rủi ro, đặc biệt khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Với sự khuyến khích của các cơ quan quản lý, trong vài năm gần đây, dù đã được quan tâm nhiều hơn, song quản trị công ty niêm yết vẫn chưa được cải thiện đáng kể Theo Công ty Tài chính quốc tế (IFC), quản trị công ty ở Việt Nam hiện có khoảng 80% doanh nghiệp tuân thủ Số doanh nghiệp

Trang 7

tự nguyện thực hiện chỉ chiếm 20% trong khi tại các nước tỷ lệ này khoảng 50% Ngay tại những công ty niêm yết lớn trên thị trường chứng khoán được xem là đi đầu về quản trị công ty ở Việt Nam thì việc thực hiện quản trị công ty tốt theo thông lệ quốc

tế mới chỉ ở bước đầu Thực trạng quản trị công ty tại Việt Nam chưa tốt phần nào cũng được thể hiện tại Lễ Vinh danh các doanh nghiệp quản trị công ty tốt nhất khu vực ASEAN khi Việt Nam không có đại diện trong Top 50 Doanh nghiệp niêm yết có chất lượng quản trị công ty tốt nhất Phần lớn trong số này là các doanh nghiệp của Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines Dù các doanh nghiệp được vinh danh về quản trị công ty đều có cải thiện tích cực về điểm số trong những năm gần đây, nhưng thực tế mức điểm trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam còn kém xa so với các quốc gia trong khu vực Điều này cũng cho thấy thực hành quản trị công ty tại Việt

Nam còn thấp và chưa đạt được các chuẩn mực mà ASEAN hướng tới [15 ]

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng quản trị công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán yếu như ý thức nâng cao quản trị trong Ban lãnh đạo chưa cao, các công ty quản trị theo kiểu “gia đình trị” hay những khó khăn trong việc áp dụng các khung pháp lý liên quan đến việc quản trị của công ty niêm yết Để bảo vệ tốt nhất các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả quản trị công ty niêm yết, việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về quản trị công ty niêm yết là một vấn đề cấp thiết Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn

thạc sỹ là : “ Quản trị công ty niêm yết theo Pháp luật Việt Nam hiện nay” với mong

muốn làm rõ các quy định của pháp luật về quản trị công ty niêm yết, chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị công ty niêm yết phù hợp với thực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam, quản trị CTNY cũng đã được đề cập tới trong một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu của một số tác giả liên quan tới quản trị CTNY theo

pháp luật Việt Nam như : Luận văn thạc sĩ, mã số 603850 “Quản trị công ty niêm yết

những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê Minh Thắng do PGS.TS Nguyễn

Như Phát hướng dẫn (2008); Luận văn thạc sĩ, mã số 60380107 “Việc tiếp nhận các

nguyên tắc quản trị công ty của OECD trong pháp luật quản trị công ty niêm yết của Việt Nam” của tác giả Võ Thị Hà Linh do PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ hướng dẫn; Đề tài

Trang 8

cấp ĐHQG, mã số C2014-34-02 “Hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty niêm yết

trên thị trường chứng khoán Việt Nam” do PGS.TS Lê Vũ Nam chủ nhiệm (2015);

Luận văn thạc sĩ, mã số 60380107 “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty

cổ phần”của tác giả Hoàng Thị Mai do TS Nguyễn Am Hiểu hướng dẫn (2015); Luận

văn thạc sĩ, mã số 60380107 “Pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam”

của tác giả Lương Đình Thi do TS Phan Thị Thanh Thuỷ hướng dẫn (2015),…

Các công trình nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ về quản trị công ty nói chung và quản trị CTNY nói riêng Tuy nhiên, các công trình này chưa đi cụ thể vào việc quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam hiện nay một cách toàn diện, chưa thực

sự đi sâu vào tình hình quản trị CTNY , chưa chỉ ra rõ những nguyên nhân yếu kém

trong quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản trị CTNY ở

Việt Nam, đi sâu vào thực tế nhằm tìm ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị CTNY nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản trị CTNY một cách chặt chẽ và bền vững nhất

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị công ty nói chung và CTNY nói riêng theo quy định pháp luật Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

- Phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của

pháp luật về quản trị CTNY theo Luật Doanh nghiệp , Luật chứng khoán và các văn bản có liên quan đến các nguyên tắc quản trị CTNY

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu pháp luật của Việt Nam về quản trị CTNY,

đối chiếu so sánh với các khuyến nghị của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) với các thông lệ quốc tế về quản trị CTNY

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết dựa trên lý luận và phân tích thực tiễn các chế định pháp lý

về quản trị công ty nói chung, về quản trị CTNY nói riêng để đánh giá những vướng mắc, khó khăn dẫn đến hạn chế tính khả thi của các quy định pháp luật So sánh những tiến bộ qua các lần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của pháp luật Việt nam Tìm hiểu thêm các quy định từng vấn đề pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của pháp luật một số quốc gia có điều kiện tương đồng để rút ra được kinh nghiệm khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong pháp luật Việt Nam về quản trị CTNY

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về quản trị CTNY, xác định những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quản trị CTNY và từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để phù hợp với thông

lệ quốc tế về QTCT và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị CTNY tại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập với thế giới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản trị công ty niêm yết và pháp luật về

quản trị công ty niêm yết

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về quản trị công

ty niêm yết ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty

niêm yết ở Việt Nam

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT

1.1 Khái quát về quản trị công ty

1.1.1 Khái niệm về quản trị công ty

Thuật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều nghĩa khác nhau, chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn Mary Parker Follett cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác” Định nghĩa này nói lên rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải hoàn thành công việc bằng chính mình Một định nghĩa khác giải thích tương đối rõ nét về quản trị được James Stoner và Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” Từ tiến trình trong định nghĩa này nói lên rằng các công việc hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát phải được thực hiện theo một trình tự nhất định Khái niệm trên cũng chỉ ra rằng tất cả những nhà quản trị phải thực hiện các hoạt động quản trị nhằm đạt được mục tiêu mong đợi [10]

Các khái niệm và định nghĩa về quản trị công ty ( Corporate governance) cũng rất đa dạng Nó phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng công ty, các quốc gia và hệ thống pháp luật của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở và hoạt động Một trong những định nghĩa được sử dụng nhiều nhất và sớm nhất về QTCT được trình bày bởi Sir Adrian Cadbury, người đứng đầu Ủy ban về các vấn đề tài chính của QTCT ở Anh Trong báo cáo của mình, ông định nghĩa QTCT là hệ thống mà công ty được chỉ đạo

và kiểm soát và thông qua đó HĐQT chịu trách nhiệm quản lý các công ty của họ Ông cũng giải thích vai trò của cổ đông trong quản trị như bổ nhiệm các giám đốc, kiểm toán viên và để thỏa mãn bản thân họ về một cơ cấu quản trị phù hợp Báo cáo này sau

đó được gọi là “Cadbury Report”, và trở nên nổi tiếng trong việc đặt ra các yêu cầu QTCT đối với các công ty niêm yết ở Anh Ngoài ra cũng có nhiều quan điểm khác về

Trang 11

bản chất của QTCT Định nghĩa Sir Adrian Cadbury đã được mở rộng và ông chỉ ra rằng:

QTCT liên quan đến việc giữ được thế cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế và xã hội và giữa các mục tiêu cá nhân và cộng đồng Khuôn khổ QTCT ở đó để khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đồng thời để quy định trách nhiệm về quản

lý các nguồn lực nhằm mục đích hướng tới, gần nhất có thể, các lợi ích của cá nhân, công ty và xã hội [6, tr4]

Nhà khoa học kinh tế Monks và Minow, những người tiên phong trong QTCT định nghĩa QTCT trong cuốn sách của họ như là mối quan hệ giữa các bên tham gia như TGĐ điều hành, ban quản lý, các cổ đông và người lao động, những người được cho là rất quan trọng trong việc quyết định định hướng và hiệu quả hoạt động của công

ty Định nghĩa này cũng tập trung vào mối quan hệ giữa những người tham gia QTCT nhưng bỏ qua các yếu tố khác quyết định đến hiệu quả hoạt động của công ty như tài chính và xã hội

Shleifer và Vishny đưa ra một định nghĩa tiến bộ hơn bằng cách cụ thể hơn đến việc cung cấp tài chính, xem xét việc bảo vệ các nhà đầu tư bên ngoài khỏi việc chiếm đoạt các nguồn lực tài chính của họ bởi công ty Định nghĩa chỉ ra rằng: QTCT đề cập đến những cách thức mà các nhà cung cấp tài chính cho các công ty đảm bảo mình nhận được một khoản lợi nhuận từ việc đầu tư Làm thế nào để họ đảm bảo rằng các nhà quản lý không lấy đi khoản vốn mà họ cung cấp hoặc đầu tư vào các dự án không tốt và bằng cách nào để các nhà cung cấp tài chính kiểm soát các nhà quản lý[6, tr5]

Theo IFC, QTCT là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty” Vào năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về QTCT như sau: QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty (… ), liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty,

và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban

Trang 12

giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn

Theo pháp luật Việt nam, bộ máy công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp

và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả Điều 134 LDN 2014 quy định, công ty cổ phần tổ chức quản lý

và hoạt động theo một trong hai mô hình sau:

- Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm doát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát

- Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập

và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty

Quyết định số 12 ngày 13/03/2007 của Bộ tài chính ban hành về quy chế QTCT định nghĩa: QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của các cổ đông và những người liên quan đến công ty Các nguyên tắc QTCT bao gồm: (1) Đảm bảo một

cơ cấu quản trị hiệu quả; (2) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; (3) Đối xử công bằng giữa các cổ đông; (4) Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; (5) Minh bạch trong hoạt động của công ty; (6) Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả

Cách hiểu khái niệm QTCT như trên tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế tốt

nhất (best practices) về QTCT Ở đây, cần lưu ý rằng QTCT không chỉ liên quan đến

cổ đông mà còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa niêm yết), khi xây dựng quy chế QTCT (đôi khi, gọi

là các nguyên tắc QTCT - corporate governance principles), cần hết sức lưu ý đến

những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng

Trang 13

1.1.2 Phân biệt quản trị công ty và quản lý công ty

Quản trị và quản lý là hai khái niệm khác nhau nhưng dễ gây nhầm lẫn Việc phân biệt, áp dụng được hai khái niệm này trong công ty là quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến “sức khoẻ” của công ty Như ở khái niệm đã phân tích, quản trị có nghĩa

là toàn bộ quá trình quyết định ra chính sách, các khung về quy tắc, đặt ra các mục tiêu chung Đó là các hoạt động cấp cao Quản trị còn là quá trình đặt nền móng các nguyên tắc vận hành cơ bản cho một doanh nghiệp Nó chính là việc hướng dẫn, lãnh đạo, kiểm soát tổ chức, doanh nghiệp để hướng đến việc đạt được mục tiêu chung Trong khi đó, quản lý là việc tiếp nhận, kết nối và khởi động các nhân tố khác nhau, điều phối, thúc đẩy, các nhân tố đa dạng khác nhau của tổ chức để hướng đến các mục tiêu đã được đặt ra bởi quản trị Nói cách khác, quản lý là nghệ thuật của việc đạt được mục đích thông qua và cùng với những người khác trong nhóm được tổ chức

Chức năng của quản trị là tư duy vì các kế hoạch và chính sách được quyết định dựa theo các tư suy này; chức năng của quản lý là thi hành vì người quản lý hoàn thành công việc của mình dưới sự giám sát nhất định Quản trị chịu ảnh hưởng bởi quan điểm cộng đồng, chính phủ, các tổ chức tôn giáo hoặc phong tục,…; còn quản lý thì bị ảnh hưởng bởi giá trị, quan điểm, tín ngưỡng và quyết định của người quản lý khác Quản trị đại diện cho chủ sở hữu của doanh nghiệp, những người mà thu lại lợi nhuận họ đã đầu tư theo hình thức cổ tức; quản lý chi phối người lao động của tổ chức, những người được trả thù lao (theo hình thức lương)

Như vậy ta có thể thấy rõ được: Quản lý công ty liên quan đến các công cụ để điều hành công ty theo những chiến lược, hoặc định hướng sẵn của công ty đã đề ra Quản lý công ty tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp Quản lý công ty là

hệ quả của quản trị công ty Nói đến quản lý công ty là nói về các trung tâm hay cơ cấu quyền lực ở đó Việc ấn định quyền hành là do người sáng lập công ty quyết định Dựa trên luật, người ấy muốn mình đứng ở đâu trong các bộ phận để có và phải có những quyền nào nhằm điều khiển công ty theo ý mình, hay để ít bị cản trở nhất

QTCT liên quan tới cơ chế kiểm soát quá trình ra quyết định của công ty Đó là

cơ chế đảm bảo những người quản lý công ty trung thành với lợi ích của cổ đông, với chủ sở hữu công ty, cẩn trọng với tất cả các quyết định của mình, trung thực với các cổ

Trang 14

đông của mình Hay nói cách khác, QTCT là các quy trình nhằm đảm bảo sự công bằng, tính minh bạch, tính trách nhiệm và tính giải trình QTCT được đặt ở một tầm cao hơn đảm bảo rằng công ty sẽ được quản lý theo một cách sao cho nó phục vụ lợi ích của các cổ đông

1.1.3 Nguyên tắc quản trị công ty

Các Nguyên tắc QTCT giúp các nhà hoạch định chính sách đánh giá và cải thiện khuôn khổ pháp lý và thể chế liên quan đến quản trị công ty, với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế, tăng trưởng bền vững và ổn định tài chính

Năm 1999, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã lần đầu tiên phát hành ra “Bộ nguyên tắc” trở thành tài liệu tham chiếu chuẩn quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, doanh nghiệp và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới Bộ Nguyên tắc cũng đã được Hội đồng Ổn định Tài chính áp dụng như các Tiêu chuẩn then chốt cho Hệ thống Tài chính Vững mạnh và là cơ sở cho các báo cáo của Ngân hàng thế giới về Tình hình tuân thủ Chuẩn mực và Nguyên tắc (ROSC) trong lĩnh vực quản trị công ty

Năm 2002, Uỷ ban chỉ đạo về QTCT dưới sự uỷ nhiệm của Hội đồng Bộ trưởng OECD đã rà soát kỹ càng để cập nhật lại những diễn biến và kinh nghiệm ở các quốc gia thành viên và không thành viên của OECD và xuất bản “Bộ nguyên tắc” năm

2004 “Bộ Nguyên tắc” 2004 này là căn cứ chính, với thông điệp chia sẻ rằng một hệ thống quản trị công ty hiệu quả được xây dựng trên nền tảng của tính minh bạch cao, tính giải trình, trách nhiệm giám sát của HĐQT, sự tôn trọng quyền của cổ đông và vai trò của các bên tham gia khác “Bộ Nguyên tắc” được tái bản lại với tên gọi “Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty của G20/OECD” vào năm 2014 và 2015, nhưng những giá trị cốt lõi này đã được gìn giữ và củng cố để đảm bảo chất lượng, tính phù hợp và tính ứng dụng của “Bộ Nguyên tắc”

OECD đã đưa ra các nguyên tắc quản trị công ty như sau [15]:

(1) Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả

Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và công bằng của thị trường, và phân bổ hiệu quả nguồn lực Khuôn khổ quản trị công phải phù hợp với quy định của pháp luật, và hỗ trợ giám sát và thực thi hiệu quả

Trang 15

Khuôn khổ quản trị công ty cần được phát triển dựa trên tác động của khuôn khổ đối với hiệu quả kinh tế nói chung, tính chuẩn mực của thị trường và các cơ chế khuyến khích mà khuôn khổ này tạo ra cho các bên tham gia thị trường và việc phát triển các thị trường minh bạch và hiệu quả

Các quy định pháp lý và quản lý tác động tới thông lệ quản trị công ty cần phải phù hợp với quy định của pháp luật, minh bạch và có khả năng được thực thi

Việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý khác nhau phải được quy định rõ ràng và phải được thiết kế để phục vụ lợi ích của công chúng

Các cơ quan giám sát, quản lý và thực thi phải liêm chính, có đủ thẩm quyền, và nguồn lực để hoàn thành chức năng của mình một cách chuyên nghiệp và khách quan Hơn nữa, các quyết định của những cơ quan này phải kịp thời, minh bạch và được giải thích đầy đủ

(2) Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản

Khuôn khổ quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông và bảo đảm đối xử công bằng với mọi cổ đông, kể cả cổ đông thiểu số và nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm

Các quyền cơ bản của cổ đông bao gồm quyền được: 1) Đảm bảo các phương thức đăng ký quyền sở hữu; 2) Chuyển nhượng cổ phần; 3) Tiếp cận các thông tin liên quan và quan trọng về công ty một cách kịp thời và thường xuyên; 4) Tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông; 5) Bầu và bãi miễn các thành viên Hội đồng Quản trị; 6) Hưởng lợi nhuận của công ty

Cổ đông phải được cung cấp đầy đủ thông tin và có quyền tham gia phê chuẩn các quyết định liên quan tới những thay đổi cơ bản của công ty, ví dụ: 1) Sửa đổi các quy định hay điều lệ của công ty hay các văn bản quản trị tương đương của công ty; 2) Cho phép phát hành thêm cổ phiếu; 3) Các giao dịch bất thường, bao gồm việc chuyển nhượng tất cả hay một phần lớn tài sản của công ty, dẫn đến việc bán công ty

Cổ đông phải có cơ hội tham gia một cách hiệu quả và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, và phải được thông tin về quy định họp Đại hội đồng cổ đông, bao gồm

cả thủ tục biểu quyết: (1) Cổ đông cần được thông tin đầy đủ và kịp thời về thời gian, địa điểm và chương trình của các Đại hội đồng cổ đông cũng như thông tin đầy đủ và

Trang 16

kịp thời về các vấn đề cần được thông qua tại các đại hội này (2) Các quy trình và thủ tục của Đại hội đồng cổ đông phải đảm bảo sự đối xử bình đẳng với mọi cổ đông Các thủ tục của công ty không được gây khó dễ hoặc phát sinh chi phí không cần thiết khi biểu quyết

Cổ đông phải có cơ hội chất vấn Hội đồng Quản trị, kể cả các câu hỏi liên quan tới kiểm toán độc lập hàng năm, kiến nghị các vấn đề đưa vào chương trình nghị sự của Đại hội đồng cổ đông, và đề xuất các giải pháp trong giới hạn hợp lý

Phải tạo điều kiện cho cổ đông tham gia hiệu quả vào việc ra các quyết định quan trọng về quản trị công ty, ví dụ việc đề cử và bầu chọn thành viên Hội đồng Quản trị Cổ đông có thể đưa ra quan điểm của mình, kể cả thông qua việc biểu quyết tại đại hội cổ đông, đối với chính sách thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý chủ chốt Các hợp phần có liên quan đến cổ phiếu trong kế hoạch thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và người lao động phải được sự chấp thuận của cổ đông

Tất cả các cổ đông cùng loại cần được đối xử bình đẳng như nhau Những cơ cấu vốn và thỏa thuận cho phép một số cổ đông nắm giữ quyền kiểm soát không tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu phải được công bố công khai

Cổ đông thiểu số phải được bảo vệ khỏi các hành động lạm dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hoặc vì lợi ích của các cổ đông nắm quyền kiểm soát và họ cần có các phương tiện khiếu nại hiệu quả Phải cấm các giao dịch trục lợi cá nhân

Giao dịch với các bên liên quan phải được phê duyệt và tiến hành theo cách có thể bảo đảm việc quản lý chặt chẽ đối với xung đột lợi ích và bảo vệ quyền của công ty

và cổ đông

(3) Các nhà đầu tư tổ chức, thị trường chứng khoán và các trung gian khác

Khuôn khổ quản trị công ty nên đưa ra các chính sách khuyến khích hợp lý trong suốt chuỗi đầu tư và tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động để hỗ trợ cải thiện quản trị công ty

Các nhà đầu tư tổ chức hoạt động ủy thác cần công bố thông tin về chính sách quản trị công ty và biểu quyết đối với các khoản đầu tư của họ, bao gồm các thủ tục quyết định việc sử dụng quyền biểu quyết của họ

Trang 17

Các nhà đầu tư tổ chức hoạt động ủy thác cần công bố cách thức quản lý các xung đột lợi ích quan trọng có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện các quyền sở hữu cơ bản liên quan tới các khoản đầu tư của họ

Khuôn khổ quản trị công ty phải yêu cầu các cố vấn ủy quyền, nhà phân tích, môi giới, cơ quan xếp hạng và các đối tượng khác thực hiện phân tích và cố vấn liên quan đến quyết định của nhà đầu tư, công bố và giảm thiểu xung đột lợ

Giao dịch nội gián và thao túng thị trường phải bị cấm và các quy định phù hợp phải được thực thi

Đối với những công ty được niêm yết ở một quốc gia khác với quốc gia nơi thành lập, các luật và quy định công ty áp dụng phải được công bố rõ ràng Trong trường hợp niêm yết chéo, các tiêu chí và thủ tục công nhận các quy định niêm yết của nơi niêm yết chính phải minh bạch và được ghi nhận rõ ràng bằng văn bản

(4) Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty

Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp vững mạnh về tài chính

Quyền của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật quy định hoặc theo các thỏa thuận song phương phải được tôn trọng

Khi lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan được pháp luật bảo vệ, các bên

có quyền lợi liên quan phải có cơ hội được khiếu nại hiệu quả khi quyền lợi của họ bị

vi phạm

Cần cho phép phát triển các cơ chế nâng cao hiệu quả tham gia của người lao động Khi các bên có quyền lợi liên quan tham gia vào quá trình quản trị công ty, họ phải được tiếp cận với thông tin phù hợp, đầy đủ và đáng tin cậy một cách kịp thời và thường xuyên

Các bên có quyền lợi liên quan, bao gồm cả người lao động và tổ chức đại diện cho họ, phải được tự do báo cáo những lo ngại của họ về những việc làm không hợp pháp hoặc không phù hợp đạo đức lên Hội đồng Quản trị và cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc này không được phép ảnh hưởng tới các quyền của họ

Trang 18

Khuôn khổ quản trị công ty cần được bổ sung bằng một khuôn khổ về phá sản hiệu quả và việc thực thi hiệu quả quyền của chủ nợ

(5) Công bố thông tin và tính minh bạch

Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty

Công bố thông tin phải bao gồm, nhưng không hạn chế các nội dung quan trọng về:

- Kết quả tài chính và hoạt động của công ty

- Mục tiêu và thông tin phi tài chính của công ty

- Sở hữu cổ phần kiểm soát, bao gồm chủ sở hữu thực và quyền biểu quyết

- Thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý cấp cao

- Thông tin về từng thành viên Hội đồng Quản trị, bao gồm trình độ, quy trình tuyển chọn, các vị trí đang nắm giữ tại công ty khác và liệu họ có được Hội đồng Quản trị coi là độc lập hay không

- Các giao dịch với các bên liên quan

- Các yếu tố rủi ro có thể tiên liệu

- Các vấn đề liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác

- Cơ cấu và chính sách quản trị, bao gồm nội dung của bộ quy tắc hoặc chính sách quản trị công ty và quá trình thực hiện

Thông tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về báo cáo kế toán, tài chính và phi tài chính

Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập và

đủ năng lực theo chuẩn mực kiểm toán chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc lập và khách quan cho Hội đồng Quản trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các báo cáo tài chính đã thể hiện một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính và hoạt động của công ty về mọi mặt chủ chốt

Các đơn vị kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm giải trình đối với cổ đông

và có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm toán một cách chuyên nghiệp cẩn trọng đối với công ty

Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện cho người sử dụng tiếp cận

Trang 19

thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả

(6) Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị

Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị và trách nhiệm giải trình của Hội đồng Quản trị đối với công ty và cổ đông

Thành viên Hội đồng Quản trị phải làm việc trên cơ sở có đầy đủ thông tin, một cách tin cậy, siêng năng và cẩn trọng, và vì lợi ích cao nhất của công ty và cổ đông

Khi quyết định của Hội đồng Quản trị có thể ảnh hưởng tới các nhóm cổ đông khác nhau theo các cách khác nhau thì Hội đồng Quản trị phải đối xử bình đẳng với mọi cổ đông

Hội đồng Quản trị phải áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức cao, phải quan tâm tới lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan

Hội đồng Quản trị phải thực hiện các chức năng chủ yếu bao gồm:

- Xem xét và định hướng chiến lược công ty, các kế hoạch hoạt động cơ bản, chính sách và quy trình quản lý rủi ro, ngân sách và kế hoạch kinh doanh hàng năm; đặt ra các mục tiêu hoạt động, theo dõi việc thực hiện mục tiêu và hoạt động của công

ty; giám sát các hoạt động đầu tư vốn, thâu tóm và thoái vốn chủ yếu

- Giám sát hiệu quả các thực tiễn quản trị công ty và thực hiện các thay đổi khi

cần thiết

- Lựa chọn, trả thù lao, giám sát và thay thế các cán bộ quản lý then chốt khi

cần thiết và giám sát kế hoạch chọn người kế nhiệm

- Gắn mức thù lao của cán bộ quản lý cấp cao và Hội đồng Quản trị với lợi ích

lâu dài của công ty và cổ đông

- Đảm bảo sự nghiêm túc và minh bạch của quy trình đề cử và bầu Hội đồng

Quản trị

- Giám sát và xử lý các xung đột lợi ích tiềm ẩn của Ban điều hành, Hội đồng Quản trị và cổ đông, bao gồm việc sử dụng tài sản công ty sai mục đích và lợi dụng

các giao dịch với bên liên quan

- Đảm bảo tính trung thực của hệ thống báo cáo kế toán và tài chính của công

ty, kể cả báo cáo kiểm toán độc lập, và bảo đảm rằng các hệ thống kiểm soát phù hợp

Trang 20

luôn hoạt động, đặc biệt là các hệ thống quản lý rủi ro, kiểm soát tài chính và hoạt

động, tuân thủ theo pháp luật và các tiêu chuẩn liên quan

- Giám sát quy trình công bố thông tin và truyền đạt thông tin

Hội đồng Quản trị phải có khả năng đưa ra phán quyết độc lập, khách quan về các vấn đề của công ty

- Hội đồng Quản trị phải xem xét việc bổ nhiệm một số lượng đủ các thành viên Hội đồng Quản trị không điều hành có khả năng đưa ra phán quyết độc lập đối với các vấn đề khi tiềm ẩn xung đột về lợi ích Ví dụ như đảm bảo tính trung thực của các báo cáo tài chính và phi tài chính, rà soát các giao dịch liên quan, đề cử thành viên

Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý chủ chốt và thù lao cho Hội đồng Quản trị

- Hội đồng Quản trị nên cân nhắc việc thành lập các ủy ban chuyên môn để hỗ trợ Hội đồng Quản trị thực hiện các chức năng của mình, đặc biệt liên quan đến kiểm toán, và, tùy thuộc vào quy mô và hồ sơ rủi ro của công ty, cả về quản lý rủi ro và thù lao Khi các ủy ban của Hội đồng Quản trị được thành lập, thẩm quyền, thành phần và quy trình hoạt động của các ủy ban phải được Hội đồng Quản trị quy định và công bố

Trang 21

1.1.4 Sự cần thiết, ý nghĩa và vai trò của QTCT

Tình trạng hoạt động của doanh nghiệp phản ánh vai trò của quản trị, nếu một doanh nghiệp phát triển thì doanh nghiệp đó có bộ máy quản trị tốt và ngược lại Khi nói đến nguyên nhân sự phá sản của các doanh nghiệp thì có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân hàng đầu thường vẫn là quản trị kém hiệu quả, hay nhà quản trị thiếu khả năng Trong cùng hoàn cảnh như nhau, nhưng người nào biết tổ chức các hoạt động quản trị tốt hơn, khoa học hơn, thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn Đặc biệt quan trọng không phải chỉ là việc đạt kết quả mà sẽ còn là vấn đề ít tốn kém thì giờ, tiền bạc, nguyên vật liệu và nhiều loại phí tổn khác hơn, hay nói cách khác là

có hiệu quả hơn

Không có các hoạt động QTCT, doanh nghiệp sẽ không biết phải làm gì, làm lúc nào, công việc sẽ diễn ra một cách lộn xộn QTCT là nhằm tạo lập và duy trì một môi trường nội bộ thuận lợi nhất, trong đó các cá nhân làm việc theo nhóm có thể đạt

được một hiệu suất cao nhất nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức

QTCT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công ty, trong đó việc Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra là những vai trò nòng cốt trong quá trình hoạt

động quản trị doanh nghiệp [25]

Thứ nhất, QTCT có vai trò Hoạch định: Hoạch định là chức năng đầu tiên

trong tiến trình QTCT, bao gồm: việc xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu, và thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động Hoạch định liên quan đến dự báo và tiên liệu tương lai, những mục tiêu cần đạt được và những phương thức để đạt được mục tiêu đó Nếu không lập kế hoạch thận trọng và đúng đắn thì dễ dẫn đến thất bại trong quản trị Có nhiều công ty không hoạt động được hay chỉ hoạt động với một phần công suất do không có hoạch định

hoặc hoạch định kém

Thứ hai, QTCT nắm vai trò Tổ chức, đây là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức

công việc và tổ chức nhân sự cho một tổ chức Công việc này bao gồm: xác định những việc phải làm, người nào phải làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào được hình thành, quan hệ giữa các bộ phận được thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó được thiết lập ra sao? Tổ chức đúng đắn sẽ tạo nên môi trường

Trang 22

nội bộ thuận lợi thúc đẩy hoạt động đạt mục tiêu, tổ chức kém thì công ty sẽ thất bại,

dù hoạch định tốt

Thứ ba, QTCT có vai trò Lãnh đạo Một tổ chức bao gồm nhiều người, mỗi

một cá nhân có cá tính riêng, hoàn cảnh riêng và vị trí khác nhau Nhiệm vụ của lãnh đạo là phải biết động cơ và hành vi của những người dưới quyền, biết cách động viên, điều khiển, lãnh đạo người khác, chọn những phong cách lãnh đạo phù hợp với những đối tượng và hoàn cảnh cùng sở trường của người lãnh đạo, nhằm giải quyết các xung đột giữa các thành phần, thắng được sức ỳ của các thành viên trước những thay đổi Lãnh đạo xuất sắc có khả năng đưa công ty đến thành công dù kế hoạch và tổ chức

chưa thật tốt, nhưng sẽ chắc chắn thất bại nếu lãnh đạo kém

Thứ tư, QTCT có vai trò Kiểm tra Sau khi đã đề ra những mục tiêu, xác định

những kế hoạch, vạch rõ việc xếp đặt cơ cấu, tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân sự, công việc còn lại vẫn còn có thể thất bại nếu không kiểm tra Công tác kiểm tra bao gồm việc xác định thành quả, so sánh thành quả thực tế với thành quả đã được xác định và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm bảo đảm tổ chức

đang trên đường đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu

Với vai trò to lớn như vậy, QTCT là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của công ty QTCT được xem là “trụ cột” của doanh nghiệp, nếu không có QTCT thì công ty không thể đi vào hoạt động QTCT chính là nguồn vốn

“nhân lực” trong doanh nghiệp, do đó QTCT phải luôn được xây dựng, đổi mới, cải tiến và hoàn thiện liên tục để phù hợp với sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung

1.2 Quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam

1.2.1 Chứng khoán và niêm yết chứng khoán

Sự ra đời và phát triển của TTCK là một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế thị trường Ở các nước phát trỉển, TTCK đã ra đời và phát triển từ rất lâu, nó được xem là một thể chế tài chính bậc cao, là một kênh dẫn vốn không thể thiếu trong nền kinh tế Nhận thức được vai trò quan trọng của TTCK với nền kinh tế thị trường, Chính phủ đã bắt đầu hoạch định để xây dựng TTCK ở Việt Nam Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương : “Thúc đẩy sự hình thành,

Trang 23

phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm tới các thị trường quan trọng nhưng chưa có hoặc sơ khai như thị trường lao động, TTCK, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ” Với nhiều nỗ lực chuẩn bị và chờ đợi, ngày 11/07/1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho TTCK Việt Nam ra đời Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh – TTCK tập trung đầu tiên của Việt Nam - đã được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/2000 và chính thức diễn ra phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển trong quá trình đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế Lúc này, TTCK đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm Tuy nhiên thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau và tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Ngày 08/03/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội được thành lập Tuy nhiên TTCK giai đoạn 2000-2005 quy mô còn nhỏ và chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng nên hoạt động còn khá trầm [16]

Từ năm 2006, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch Ngày 29/06/2006 Quốc hội đã ban hành Luật Chứng khoán (số 70/2006/QH11) và chính thức đưa vào họat động kể từ ngày 01/01/2007 để tạo lập khuôn khổ pháp lý, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan ( Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư) Ngày 24/11/2010, Quốc hội cũng đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán

số 62/20140/QH12 (chính thức thi hành từ ngày 01/07/2011); và đến ngày 18/12/2013, Văn phòng Quốc hội phê duyệt và ký xác thực Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-VPQH để hợp nhất – không làm thay đổi nội dung và hiệu lực - từ 02 văn bản quy phạm pháp luật trên và gọi là Luật chứng khoán 2013

Điều 6 Luật chứng khoán 2013 quy định:

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở

hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau:

Trang 24

a, Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b, Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khóan hoặc chỉ số chứng khoán;

c, Hợp đồng góp vốn đầu tư;

d, Các loại chứng khóan khác do Bộ Tài chính quy định

Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào sàn

giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán

Tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán

Tổ chức phát hành nộp hồ sơ niêm yết phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và đầy đủ của hồ sơ niêm yết Tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, người ký báo cáo kiểm toán và bất cứ tổ chức, cá nhân nào xác nhận

hồ sơ niêm yết phải chịu trách nhiệm trong phạm vi liên quan đến hồ sơ niêm yết

Chính phủ quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành Việt Nam, tổ chức phát hành nước ngoài tại Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán của Việt Nam; quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành Việt Nam tại Sở giao dịch chứng khoán nước ngoài

Các công ty cổ phần khi niêm yết chứng khoán thường nhằm các mục tiêu : a) Tăng nguồn vốn hoạt động và tăng vốn tự có cho doanh nghiệp; b) Quảng bá tên tuổi, hình ảnh cho công ty; c) Tạo điều kiện cho người lao động tham gia góp vốn vào công ty

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm công ty niêm yết

Theo QĐ 12/2007-BTC, Công ty niêm yết là công ty cổ phần được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam

Công ty niêm yết có đặc điểm như sau :

Thứ nhất, công ty niêm yết là loại công ty cổ phần có cổ phiếu và trái phiếu được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam Được quyền phát hành chứng khoán khi có nhu cầu tăng vốn: Công ty có đặc trưng là sự tách rời giữa người sở hữu

Trang 25

vốn cổ đông và người quản lý Điều này xét trên góc độ kiểm toán, có thể là sự không tin cậy từ các báo cáo ( trong đó có các thông tin tài chính) của các nhà quản lý do mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và ban lãnh đạo công ty niêm yết, hoặc giữa nhóm cổ đông lớn và cổ đông nhỏ

Thứ hai, công ty niêm yết còn bao gồm doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, nhà nước chiếm trên 50% cổ phần (Luật doanh nghiệp) Bên cạnh đó, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được phát hành chứng khoán làm tăng vốn giữa hai dạng cổ phiếu và trái phiếu Công chúng ở đây là các nhà đầu tư, những người quyết định đầu tư, không đầu tư vào doanh nghiệp niêm yết thông qua quyết định mua hoặc không mua chứng khoán của công ty Các quyết định đầu tư với chứng khoán của công ty chủ yếu do thông tin mà chính Doanh nghiệp niêm yết cung cấp theo luật định

Thứ ba, công ty niêm yết thường có quy mô lớn và phạm vi hoạt động rộng khắp với mục đích chính của doanh nghiệp khi lựa chọn con đường niêm yết nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng vốn kinh doanh trên quy mô lớn thông qua thu hút vốn đầu tư dài hạn từ các nhà đầu tư, bên cạnh đó nhằm khẳng định thương hiệu và uy tín, do vậy công ty niêm yết thường có quy mô lớn và có tình hình tài chính phức tạp hơn nhiều so với các công ty không niêm yết

1.2.3 Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty niêm yết

Cơ cấu tổ chức hay cấu trúc quản trị nội bộ của các CTCP trên thế giới, đặc biệt

là các công ty niêm yết, hiện nay sử dụng một trong hai mô hình cơ bản là mô hình hội đồng đơn ( hội đồng một tầng) hoặc mô hình hội đồng kép ( hội đồng hai tầng) [13 ]

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng một tầng có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (Common law) và dòng họ luật thành văn (Civil law) Cấu trúc này gồm có Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng giám đốc với các thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn Mọi quyền lực và các vấn đề pháp luật của công ty nằm trong tay của Hội đồng giám đốc, trừ những vấn đề mà pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định phải thuộc về Đại hội đồng cổ đông Hội đồng giám đốc

bổ nhiệm một trong các thành viên trong hội hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty với người đứng đầu bộ phận điều hành là Tổng giám đốc Theo cơ cấu tổ chức này không có cơ quan phụ

Trang 26

trách việc giám sát những nhà quản lý như Ban kiểm soát hay Hội đồng giám sát; đa

số thành viên của Hội đồng giám đốc là thành viên độc lập không điều hành – các thành viên xem xét, đánh giá các quyết sách quản trị của Hội đồng giám đốc và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành một cách độc lập Tuy nhiên, việc giám sát như vậy thiếu tính khách quan, hiệu quả và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập trong cơ cấu quản trị của công ty

Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình hội đồng hai tầng bắt nguồn từ nước Đức

Cơ cấu tổ chức này gồm có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát (Ban kiểm soát)

và Hội đồng quản trị Ở đây, Hội đồng giám sát và Hội đồng quản trị do Đại hội đồng

cổ đông bầu và hai bộ phận này có thẩm quyền riêng biệt, cơ cấu thành viên tách rời không được đồng đảm nhiệm cả hai vị trí Trong quá trình điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty, Ban quản trị phải thường xuyên liên hệ và báo cáo với Hội đồng giám sát

Ngoài hai cấu trúc quản trị cơ bản trên, nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) sử dụng cấu trúc mang tính pha trộn giữa hai mô hình hội đồng đơn và mô hình hội đồng kép Theo Luật doanh nghiệp 2005, cấu trúc quản trị của các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty niêm yết sử dụng chính là cấu trúc hỗn hợp này với cơ cấu tổ chức bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm sát và Ban giám đốc với quyền và nghĩa vụ được phân định rõ ràng

Tùy thuộc vào môi trường kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trong mỗi quốc gia mà các mô hình quản trị đạt được những hiệu quả khác nhau Hiện nay trong pháp luật của các quốc gia có sự linh hoạt, cho phép các công ty lựa chọn những mô hình quản trị khác nhau phù hợp với mô hình kinh doanh để đạt hiệu quả tốt nhất Việt Nam cũng đã sửa đổi LDN 2005 về vấn đề này bằng Điều 134 LDN2014 : Công ty cổ phần

có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và họat động theo một trong hai mô hình: a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dứơi 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát; b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm

Trang 27

toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty

1.2.4 Các quy định niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán

Tiêu chuẩn niêm yết thường do Sở giao dịch chứng khoán của quốc gia quy định, dựa trên cơ sở thực trạng của nền kinh tế Tiêu chuẩn này bao gồm các điều kiện

về tài chính của các công ty, chính sách khuyến khích hay hạn chế niêm yết,… Chúng được quy định dưới hai hình thức : tiêu chuẩn định lượng ( thời gian hoạt động của công ty từ khi thành lập, quy mô và cơ cấu sở hữu cổ phần công ty, lợi suất thu được

từ vốn cổ phần, tỷ lệ nợ và tỷ lệ cổ phiếu giữa các cổ đông); và tiêu chuẩn định tính (

sự phát triển của công ty, phương án về việc sử dụng vốn của các đợt phát hành, ý kiến kiểm toán về các báo cáo tài chính, cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty, mẫu chứng chỉ chứng khoán, tổ chức công bố thông tin)

Theo Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 60/2015/NĐ-CP, điều kiện để công ty cổ phần được niêm yết chứng khoán như sau :

Điều 53 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu:

a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;

Trang 28

c) Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;

d) Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất

ba trăm (300) cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

đ) Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người

có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ;

e) Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định

2 Điều kiện niêm yết trái phiếu doanh nghiệp:

a) Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của 02 năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước;

c) Có ít nhất một trăm (100) người sở hữu trái phiếu cùng một đợt phát hành;

d) Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn;

đ) Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ theo quy định

3 Điều kiện niêm yết chứng chỉ quỹ đại chúng hoặc cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng:

Trang 29

a) Là quỹ đóng, quỹ đầu tư bất động sản, quỹ hoán đổi danh mục hoặc công ty đầu tư chứng khoán đại chúng;

b) Thành viên Ban đại diện quỹ đầu tư chứng khoán hoặc thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn là người

có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng (nếu có) của công ty đầu tư chứng khoán cam kết nắm giữ 100% số chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và tối thiểu 50% số chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo;

Trường hợp quỹ đầu tư bất động sản tiếp nhận vốn góp là bất động sản với giá trị chiếm từ 30% trở lên số lượng chứng chỉ quỹ đã phát hành, thì các nhà đầu tư góp vốn bằng bất động sản phải nắm giữ tối thiểu 30% số lượng chứng chỉ quỹ đang lưu hành trong ba (03) năm, kể từ thời điểm góp bất động sản vào quỹ và nắm giữ tối thiểu 15% chứng chỉ quỹ đang lưu hành trong ba (03) năm tiếp theo Trường hợp các nhà đầu tư góp vốn bằng bất động sản sở hữu chưa tới 30% chứng chỉ quỹ đã phát hành thì phải nắm giữ 100% chứng chỉ quỹ đang sở hữu trong ba (03) năm, kể từ thời điểm góp bất động sản vào quỹ và nắm giữ tối thiểu 15% trong ba (03) năm tiếp theo Trường hợp các nhà đầu tư góp vốn bằng bất động sản sở hữu chưa tới 15% chứng chỉ quỹ đã phát hành thì phải nắm giữ 100% chứng chỉ quỹ đang sở hữu trong sáu (06) năm, kể từ thời điểm góp bất động sản vào quỹ;

c) Có ít nhất 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng hoặc ít nhất 100 cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng không bao gồm nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Quy định này không áp dụng đối với quỹ hoán đổi danh mục;

d) Có hồ sơ đăng ký niêm yết chứng chỉ quỹ đại chúng hoặc cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng hợp lệ theo quy định

Trang 30

4 Đối với trường hợp đăng ký niêm yết chứng khoán của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 và 2 Điều này, phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Điều 54 Điều kiện niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu

a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 30 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Có ít nhất 01 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm liền trước năm đăng ký niêm yết tối thiểu là 5%; không có các khoản

nợ phải trả quá hạn trên 01 năm, không có lỗ lũy kế tính đến thời điểm đăng

ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;

c) Tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

d) Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người

có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ;

đ) Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định

2 Điều kiện niêm yết trái phiếu doanh nghiệp:

Trang 31

a) Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi;

c) Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn;

d) Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ theo quy định

3 Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán theo quy định của Bộ Tài chính

4 Đối với trường hợp đăng ký niêm yết chứng khoán của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 và 2 Điều này, phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Không nợ quá hạn trên

01 năm không có lỗ luỹ kế

Trang 32

năm không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết;

tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính

tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính

5 Công khai

Các khoản nợ đối với thành viên HĐQT, BKS, BGĐ, cổ đông lớn và những người liên quan

Không quy định

6 Yêu cầu về

cổ đông

>= 300 cổ đông (không phải là cổ đông lớn) nắm giữ

ít nhất 20% số cổ phần có quyền biểu quyết

>= 100 cổ đông (không phải cổ đông lớn) nắm giữ ít nhất 15% số cổ phần có quyền biểu quyết

7 Yêu cầu về

nắm giữ cổ phiếu

Cổ đông là thành viên HĐQT, BKS, BGĐ, KTT cam kết giữ 100% cổ phần nắm giữ ít nhất 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% trong 6 tháng tiếp theo (không tính số

cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ)

Cổ đông là thành viên HĐQT, BKS, BGĐ, KTT cam kết giữ 100% cổ phần nắm giữ ít nhất 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% trong 6 tháng tiếp theo (không tính số

cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ)

8 Hồ sơ Đầy đủ và hợp lệ Đầy đủ và hợp lệ

Bảng 1.1 : Bảng điều kiện niêm yết chứng khoán

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu một số vấn đề khái quát chung về quản trị CTNY ta có thể đưa

ra một số kết luận như sau:

Trang 33

- QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của các cổ đông và những người liên quan đến công ty

- QTCT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công ty, trong đó việc Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra là những vai trò nòng cốt trong quá trình hoạt động quản trị doanh nghiệp

- Tùy thuộc vào môi trường kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trong mỗi quốc gia mà các mô hình quản trị đạt được những hiệu quả khác nhau Hiện nay trong pháp luật của các quốc gia có sự linh hoạt, cho phép các công ty lựa chọn những mô hình quản trị khác nhau phù hợp với mô hình kinh doanh để đạt hiệu quả tốt nhất

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT

VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam

Sau 10 năm sử dụng Luật Doanh nghiệp 2005, vào ngày 01/07/2015, Luật Doanh nghiệp 2014 đã được Quốc hội thông qua chính thức có hiệu lực Luật này ngoài sự kế thừa các quy định của LDN 2005 về công ty cổ phần thì cũng có những sửa đổi, bổ sung các quy định mới phù hợp hơn với thông lệ quốc tế Đặc biệt, LDN

2014 đã cho phép công ty cổ phần được lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp với quy

mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng của cách thức quản trị công ty thay vì chỉ sử dụng một mô hình duy nhất như trước đây

Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

1 Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông

và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;

b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải

là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty

2 Trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty

Trang 35

Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty

LDN 2014 cho phép công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Trong mọi trường hợp, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải nằm trong danh sách những người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần

Sơ đồ 2.1: Mô hình quản trị CTCP có Ban kiểm soát ở Việt Nam

Sơ đồ 2.2 : Mô hình quản trị CTCP không có Ban kiểm soát ở Việt Nam

2.1.1 Cổ đông và đại hội đồng cổ đông

2.1.1.1 Cổ đông

Cổ đông (Shareholder) là cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần Chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu này gọi là cổ phiếu Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của công ty [5]

Trang 36

Các cổ đông phải thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua và không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định thì cổ đông đó

và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã rút và các thiệt hại xảy ra

Có hai cách phân loại cổ đông [5]:

- Cổ đông phân biệt bằng quyền cũng như nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu

mà họ sở hữu : a) Cổ đông sáng lập : là những cổ đông đầu tiên góp vốn để hình thành nên công ty cổ phần; b) Cổ đông đặc biệt: là cổ đông (thường là Nhà nước) mặc dù chỉ nắm một số lượng cổ phần rất ít ỏi chỉ mang tính chất tượng trưng nhưng có quyền phủ quyết trong một số quyết sách quan trọng (được quy định trong điều lệ công ty) của công ty cổ phần, loại cổ đông này còn gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết và loại cổ phần

mà cổ đông đặc biệt nắm giữ gọi là cổ phần vàng; c) Cổ đông ưu đãi: là những cổ đông được ưu tiên một quyền nào đó ( thường là quyền hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định trước khi lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông khác, quyền nhận lại giá trị của cổ phần khi có yêu cầu) Đi kèm với quyền ưu tiên, cổ đông ưu đãi thường bị hạn chế các quyền khác (như quyền ứng cử vào bộ máy quản trị của công ty, quyền biểu quyết,…); d) Cổ đông thường: các cổ đông còn lại

- Một cách phân loại khác là căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, theo cách này cổ đông được phân loại thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số Tỷ lệ để có thể coi là cổ đông lớn thường do điều lệ công ty cổ phần quy định trên cơ sở tuân thủ luật pháp

Các cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ năm phần trăm (5%) trở lên số

cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành được gọi là cổ đông lớn Kể từ ngày trở thành cổ đông lớn, các cổ đông lớn phải báo cáo thông tin (Tên, địa chỉ, ngành, nghề kinh doanh đối với cổ đông lớn là tổ chức; họ tên, tuổi, quốc tịch, nơi cư trú, nghề nghiệp đối với cổ đông lớn là cá nhân; Số lượng và tỷ lệ phần trăm cổ phiếu

do tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc cùng với tổ chức, cá nhân khác sở hữu trên tổng số cổ

Trang 37

phiếu đang lưu hành) trong vòng bảy (07) ngày cho công ty, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán- nơi cổ phiếu của công ty được niêm yết

Theo Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014, cổ đông có các quyền sau:

1 Cổ đông phổ thông có các quyền sau đây:

a) Tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết;

b) Nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;

c) Ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;

d) Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này;

đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;

e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty;

2 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền sau đây:

a) Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;

b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;

c) Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;

Trang 38

d) Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản

lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Yêu cầu phải bằng văn bản; phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký doanh nghiệp đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần

và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra, mục đích kiểm tra;

đ) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

3 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:

a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;

b) Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá 06 tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế;

c) Trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty

Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công

ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông Kèm theo yêu cầu triệu tập họp phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền

4 Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định, tại điểm a khoản 2 Điều này được thực hiện như sau:

Trang 39

a) Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;

b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử

5 Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

Thực tế cho thấy, các công ty mới chỉ tuân thủ nguyên tắc về quyền cổ đông trên hình thức nhiều hơn là nội dung Cổ đông không có cơ hội tiếp cận đầy đủ các tài liệu sử dụng trong cuộc họp ĐHĐCĐ, các tài liệu trên web của công ty đa số không có phiên bản tiếng Anh làm ảnh hưởng đến các cổ đông là người nước ngoài Nhiều cổ đông ở xa không có điều kiện tham gia họp ĐHĐCĐ phải uỷ quyền cho các cán bộ của công ty bỏ phiếu mà không kiểm soát được việc bỏ phiếu đó Các cổ đông không thực

sự được chọn đơn vị thực hiện kiểm toán độc lập mà quyết định là ở HĐQT Đa số các công ty tại Việt Nam chưa tạo điều kiện để cổ đông thực hiện biểu quyết ở nước ngoài nên không đảm bảo được quyền lợi của nhóm cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài Các công ty cũng không chú trọng năng lực trong các đóng gọp nội dung cho chương trình nghị sự của ĐHĐCĐ thường niên của các cổ đông nhỏ Vì vậy, không có sự liên kết chặt chẽ trong mối quan hệ giữa công ty và các nhà đầu tư, cổ đông; gây hạn chế trong việc thúc đẩy chất lượng quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Tóm lại, các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật nhìn chung ở mức

độ khác nhau đã được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, hiệu lực của việc thực hiện các quyền đó, nhất là cổ đông thiểu số, trong quá trình ra quyết định tại công ty là khá hạn chế

Song song với quyền thì các cổ đông cũng cần phải có nghĩa vụ nhất định đối với công ty :

Ngày đăng: 20/11/2017, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w