1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo

57 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài Xác định được thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo.. Phân loại theo thành phầ

Trang 1

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

TS Nguyễn Văn Đại

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,

em luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn:

TS Trần Văn Thăng, TS Nguyễn Văn Đại và Th.S Tạ Văn Cần trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy hướng dẫn

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với tập thể và các cá nhân Trạm nghiên cứu chăn nuôi trâu, trạm nghiên cứu sản xuất chế biến thức

ăn gia súc, các Phòng chức năng thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi Miền núi về sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em được học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu trong suốt thời gian thực tập tại đơn vị

Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân, gia đình đã giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2017

Sinh Viên

Hồ Ngọc Xin

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26 Bảng 4.1 Thành phần hóa học của bốn loại thức ăn thô xanh đã sử dụng trong

thí nghiệm in vivo 29 Bảng 4.2 Thành phần hóa học của phân bốn loại thức ăn thô xanh đã sử dụng

trong thí nghiệm in vivo 31 Bảng 4.3 Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein thô và mỡ thô của bốn loại thức

ăn xanh (%) 33 Bảng 4.4 Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô, NDF, ADF và khoáng tổng số của bốn loại

thức ăn xanh (%) 34 Bảng 4.5 Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của bốn loại thức ăn xanh (%) 35 Bảng 4.6 Giá trị năng lƣợng của bốn loại thức ăn thô xanh (MJ/kg DM) 36

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

ADF Xơ không tan trong môi trường a xít (Acid Detergent Fiber) ARC Hội đồng Nghiên cứu nông nghiệp Anh (Agriculture Research

Council)

Ash Khoáng tổng số (Ash)

CF Xơ thô (Crude Fiber )

CP Protein thô (Crude Protein)

cs Cộng sự

DE Năng lượng tiêu hoá (Digestible Energy)

DM Chất khô (Dry Matter)

DMI Lượng thức ăn vào (Dry Matter Intake)

DP Protein tiêu hóa (Digestible Protein)

EE Mỡ thô (Ether Extract)

G24 Thể tích khí sinh ra ở thời điểm 24 giờ sau ủ (ml/200 mg DM)

GE Năng lượng thô (Gross Energy)

INRA Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia (Pháp)

ME Năng lượng trao đổi (Metabolizable Energy)

Mean Giá trị trung bình

NDF Xơ không tan trong môi trường trung tính (Neutral Detergent

Fiber)

NE Năng lượng thuần (Net Energy)

NIRS Quang phổ hấp phụ cận hồng ngoại (Near Infrared Reflectance

Spectroscopy)

NRC Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Mỹ (National Research Council)

OM Chất hữu cơ (Organic Matter)

Trang 6

OMD Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (Organic Matter Digestibility)

R2 Hệ số xác định (Coefficient of Determination or Determinant) SCFA Axit béo mạch ngắn (Short Chain Fatty Acids)

SD Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)

SE Sai số chuẩn (Standard Error)

SEM Sai số của số trung bình (Standard Error of Mean)

TA Thức ăn

TAAV Lƣợng thức ăn vào

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TLTH Tỷ lệ tiêu hóa

UFL Đơn vị thức ăn cho tạo sữa (Unité Fourragère du Lait)

UFV Đơn vị cỏ cho sản xuất thịt (Unité Fourragère de la Viande) VCN Viện Chăn nuôi

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3

2.1.1 Khái niệm thức ăn 3

2.1.2 Phân loại thức ăn cho gia súc nhai lại 4

2.1.3 Các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại 7

2.1.4 Các hệ thống đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn cho gia súc nhai lại ở các nước có nền chăn nuôi tiên tiến 14

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

3.2 Vật liệu nghiên cứu 25

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25

3.4.2 Xác định thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm 26

3.4.3 Xác định tỷ lệ tiêu hoá thức ăn bằng phương pháp in vivo ở trâu 27

3.4.4 Tính toán các giá trị năng lượng của thức ăn thô xanh 27

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Thành phần hóa học của một số loại thức ăn thô xanh 29

4.2 Thành phần hóa học của phân một số loại thức ăn thô xanh 31

4.3 Tỷ lệ tiêu hóa in vivo của một số loại thức ăn thô xanh 32

4.4 Giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh 36

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 9

Để làm được việc này, trước hết cần biết được thành phần hóa học và sau đó là giá trị dinh dưỡng của thức ăn Trên cơ sở thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của thức ăn chúng ta mới có thể nuôi dưỡng gia súc nhai lại đúng cách, tức là thoả mãn các nhu cầu về dinh dưỡng (năng lượng, protein, khoáng v.v ) của chúng để chúng sống, sản xuất (tăng trọng, cho thịt, sữa )

và thải ra ngoài môi trường ít chất thải nhất (đặc biệt là các chất thải có nitơ, phốt pho) và các loại khí nhà kính (Paquay, 2000) [51]

Hiện nay, trong các bảng thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của Việt Nam, chúng ta đang phải sử dụng phần lớn tỷ lệ tiêu hoá các thức ăn ở nước ngoài để tính giá trị dinh dưỡng các thức ăn cho gia súc của ta Vì lý do này, khi áp dụng các giá trị dinh dưỡng trong bảng để lập khẩu phần chúng ta không biết chắc được là khẩu phần lập ra thừa hay thiếu so với nhu cầu Khắc phục tình trạng phải đi mượn số liệu của nước ngoài về tỷ lệ tiêu hoá và quan trọng hơn là tạo ra một cơ sở dữ liệu về thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn cho gia súc Việt Nam có độ tin cậy cao hơn cho

Trang 10

người sử dụng, việc tiến hành các nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá và giá trị dinh

dưỡng của các loại thức ăn bằng phương pháp in vivo là rất cần thiết

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định được thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng

của một số loại thức ăn phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần bổ sung dữ liệu về thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn dùng cho trâu nuôi thịt ở Việt Nam

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả của đề tài có giá trị như tài liệu khoa học để các cơ quan

quản lý, Viện nghiên cứu, các Trường Đại học, giáo viên, sinh viên ngành Nông nghiệp tham khảo

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở cho các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp, chủ trang trại và những người chăn nuôi khi xây dựng

khẩu phần ăn cho trâu nuôi thịt, vỗ béo

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm thức ăn

Thức ăn là những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật và khoáng vật, những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng cho gia súc, các chất dinh dưỡng đó phải phù hợp với đặc tính sinh lý, với cấu tạo bộ máy tiêu hóa giúp con vật có thể ăn uống, tiêu hóa và hấp thu được nhằm sinh sống bình thường trong một thời gian

Khái niệm thức ăn thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh

tế xã hội Thời kỳ chăn nuôi du mục, cỏ xanh trên bãi chăn là nguồn thức ăn duy nhất Khi ngành trồng trọt phát triển, thức ăn bao gồm cả các sản phẩm phụ của cây trồng Địa vị của ngành chăn nuôi được nâng cao, người ta gieo trồng cây thức ăn cho gia súc, sử dụng các nguồn nguyên liệu trong các ngành công nghiệp, đẩy mạnh các biện pháp bảo quản, chế biến, phối hợp thức ăn,

áp dụng các thành tựu mới nhất trong dinh dưỡng học gia súc, sử dụng thức

ăn có hiệu quả nhất, nâng cao năng suất ngành chăn nuôi

Theo Pond và cs (1995) [52] đã đưa ra khái niệm về chất dinh dưỡng như sau: Chất dinh dưỡng là một nguyên tố hay một hợp chất hóa học mà có thể giữ được sự sinh trưởng, sinh sản, cho sữa một cách bình thường hoặc duy trì sự sống nói chung Theo đó, thức ăn được định nghĩa là: Một vật liệu có thể ăn được nhằm cung cấp chất dinh dưỡng Tác giả cũng cho rằng tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác động tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc

Trang 12

2.1.2 Phân loại thức ăn cho gia súc nhai lại

Phân loại thức ăn là đưa các thức ăn vào từng nhóm, trong nhóm đó các thức ăn có các đặc tính, giá trị dinh dưỡng tương tự nhau và có thể sử dụng cho cùng một mục đích (Dryden, 2010) [31] Các thức ăn có cùng nguồn gốc thường có giá trị dinh dưỡng không khác nhau quá nhiều và vì thế cách

mà chúng ảnh hưởng đến năng suất gia súc cũng khá tương đồng Ví dụ, bột đậu tương, bột hạt bông, bột hạt hướng dương đều là phụ phẩm của công nghiệp tách dầu từ các hạt có dầu và được sử dụng để tăng hàm lượng protein của khẩu phần (Dryden, 2010) [31] Trong khi đó hạt ngô, hạt mì và kê đều là các ngũ cốc có hàm lượng năng lượng tiêu hóa cao (Dryden, 2010) [31] Thức

ăn cùng nguồn gốc không những có giá trị dinh dưỡng tương tự nhau mà chúng còn có ảnh hưởng tương tự đến sức khỏe gia súc và chất lượng sản phẩm chăn nuôi (Dryden, 2010) [31]

Để sử dụng hiệu quả thức ăn và có biện pháp chế biến bảo quản thích hợp, cần thiết phải phân loại thức ăn Có nhiều cách phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ vào nguồn gốc, đặc tính dinh dưỡng, tính chất thức ăn

2.1.2.1 Phân loại thức ăn theo nguồn gốc

Căn cứ vào nguồn gốc, thức ăn được chia thành các nhóm sau:

- Thức ăn có nguồn gốc từ thực vật: Trong nhóm này gồm các thức ăn

xanh, thức ăn rễ, củ, quả, thức ăn hạt, các sản phẩm phụ của ngành chế biến nông sản: Thức ăn xơ, rơm, rạ, dây lang, thân lá lạc, thân cây ngô, các loại cám, khô dầu, bã bia, rượu Nhìn chung, loại thức ăn này là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho gia súc, ngoài ra nó còn cung cấp vitamin, protein thô, các loại vi khoáng, kháng sinh, hợp chất sinh học

- Thức ăn có nguồn gốc từ động vật: Gồm tất cả các loại sản phẩm chế

biến từ nguyên liệu động vật như: Bột cá, bột tôm, bột thịt, bột nhộng tằm, bột sữa, bột máu Hầu hết thức ăn có nguồn gốc từ động vật đều có hàm lượng

Trang 13

prôtein chất lượng cao, có đủ các axit amin thiết yếu, các nguyên tố khoáng

và một số vitamin A, D, E, B12 Tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn có nguồn gốc động vật cao hay thấp phụ thuộc vào cách chế biến, làm thức ăn bổ sung protein quan trọng trong khẩu phần của gia súc

- Thức ăn có nguồn khoáng chất: Gồm các loại bột sò, đá vôi và các

muối khoáng nhằm bổ sung chất khoáng đa và vi lượng

2.1.2.2 Phân loại theo thành phần các chất dinh dưỡng

Phương pháp này chủ yếu dựa vào hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thức ăn và chia ra các nhóm: Nhóm thức ăn giàu protein, thức ăn giàu lipit, thức ăn giàu gluxit, thức ăn nhiều nước, nhiều xơ, thức ăn giàu khoáng, giàu vitamin và thức ăn bổ sung khác

2.1.2.3 Phân loại theo đương lượng tinh bột

Theo phương pháp này, người ta chia thức ăn thành 2 loại: Thức ăn tinh

và thức ăn thô

- Thức ăn thô: Bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột dưới 45%

- Thức ăn tinh: Bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột

trên 45%

Hiện nay, trên thế giới người ta phân thức ăn thành 8 nhóm:

Nhóm thức ăn thô khô: Tất cả các loại cỏ xanh tự nhiên thu cắt và các

phế phụ phẩm của cây trồng đem phơi khô có hàm lượng xơ trên 18% đều là thức ăn thô khô Bao gồm: Cỏ khô họ đậu hoặc hòa thảo, rơm rạ, dây lang, dây lạc và thân cây ngô phơi khô Ngoài ra còn gồm các loại hạt thóc, lạc, đậu, lõi và bao ngô

Nhóm thức ăn xanh: Tất cả các loại cỏ trồng, cỏ tự nhiên, các loại rau

xanh cho gia súc sử dụng ở trạng thái tươi, xanh bao gồm: Rau muống, bèo hoa dâu, lá bắp cải, cỏ tự nhiên, cỏ trồng

Trang 14

Nhóm thức ăn ủ chua: Tất cả các loại thức ăn chua, các loại cỏ hòa thảo

hoặc thân, bã phụ phẩm của ngành trồng trọt như thân lá lạc, bã rứa, thân cây ngô vỏ chuối, đem ủ chua

Nhóm thức ăn giàu năng lượng: Tất cả các loại thức ăn có mức protein

dưới 20% và xơ thô dưới 18% Bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, gạo, sắn, củ khoai lang, cao lương, mạch, mỳ và phế phụ phẩm của ngành xay xát như cám gạo, cam mỳ, tấm nhóm nguyên liệu này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các công thức thức ăn hỗn hợp, thường chiếm 40 - 70% tỷ trọng Một

số loại dầu thô, mỡ thô cũng được dùng bổ sung vào công thức thức ăn hỗn hợp nhưng không vượt quá 4 - 5% Ngoài ra còn có các loại củ như sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ,

Nhóm thức ăn giàu protein: Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng

protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật: Bột cá, bột thịt, sữa bột, bột thịt xương, bột máu, ; thức ăn giàu protein

có nguồn gốc từ thực vật: Hạt đỗ tương, lạc, đậu xanh, đậu triều, đậu nho nhe, khô đỗ tương, khô lạc, khô dầu dừa, khô dầu bông

Nhóm thức ăn bổ sung khoáng: Gồm bột vỏ sò, bột đá, vỏ hến,

dicanxiphotphat, bột xương,

Nhóm thức ăn bổ sung vitamin: Các loại vitamin B1, B2, B3, D, A hoặc premix vitamin

Nhóm các loại thức ăn bổ sung khác (các chất phụ gia): Đây là nhóm

thức ăn rất đa dạng, như: Các chất kháng sinh, chất chống ôxy hóa, các chất vi lượng, các loại men, sản phẩm vi sinh vật, chất tạo hương vị, chất kết dính Trong tám nhóm thức ăn trên, các nhóm nguyên liệu thường sử dụng trong chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp là các nhóm: Nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm thức ăn giàu protein, nhóm thức ăn bổ sung khoáng, Nhóm thức ăn bổ sung vitamin và các loại thức ăn bổ sung khác Còn các

Trang 15

nhóm: Nhóm thức ăn thô khô, nhóm thức ăn xanh, nhóm thức ăn ủ chua thường dùng cho gia súc nhai lại, nhóm 2 cũng dùng cho các nhóm gia súc khác như thức ăn bổ sung

2.1.3 Các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại

Xác định tỷ lệ tiêu hoá để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn hay còn gọi là phương pháp thử mức tiêu hoá Phương pháp này được sử dụng để xác định, tính toán phần có khả năng tiêu hoá được của thức ăn trong cơ thể gia súc kết hợp với phương pháp phân tích thức ăn (phân tích thành phần hoá học), hai phương pháp này xác định giá trị dinh dưỡng của thức ăn khá chính xác Có hai phương pháp cơ bản để xác định tỷ lệ tiêu hoá là: Xác định tỷ lệ

tiêu hoá trực tiếp trên cơ thể con vật (in vivo) và xác định tỷ lệ tiêu hoá gián tiếp trong phòng thí nghiệm (in vitro)

Xác định tỷ lệ tiêu hoá trực tiếp trên cơ thể con vật (in vivo) hay còn

gọi là phương pháp thu thập tổng số (Total collection), theo phương pháp này, lượng thức ăn ăn vào, còn thừa, phân và nước tiểu của từng cá thể gia súc được thu thập, cân và ghi chép hàng ngày trong thời gian thí nghiệm 7-10 ngày để tính tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng (Cochran và Galyean, 1994 [28]; Burns và cs, 1994 [27]) Phương pháp này chính xác nhất, nhưng giá thành cao, tốn nhiều thời gian, cần khối lượng lớn thức ăn nhưng lại chỉ xác định được một số lượng hạn chế các loại thức ăn (Cochran và Galyean, 1994 [28]; Burns và cs, 1994 [27])

Xác định tỷ lệ tiêu hoá gián tiếp trong phòng thí nghiệm (in vitro) được

sử dụng trong phòng thí nghiệm để ước tính phân giải và tiêu hóa thức ăn rất quan trọng trong dinh dưỡng gia súc nhai lại Một phương pháp phòng thí nghiệm cần đạt các yêu cầu: Có khả năng lặp lại, chính xác so với các kết

quả in vivo (Markar, 2004) [41] Tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của thức

Trang 16

ăn cho gia súc nhai lại hiện được xác định bằng nhiều phương pháp phòng thí nghiệm khác nhau như: 1) Phương pháp của Tilley và Terry (1963) [57]; 2) Phương pháp gas production của Đại học Hoheinhem (Đức) (Menke và

cs, 1979) [43]; 3) Phương pháp in situ hay nylon bags (Mehrez và Orskov,

1977) [42]; 4) Phương pháp dùng enzyme pepsine và cellulase (De Boever

và cs, 1986) [29]; 5) Phương pháp dùng quang phổ hấp phụ cận hồng ngoại (NIRS - Near Infrared Reflectance Spectroscopy)

Các phương pháp sinh học 1-3 và phương pháp 5 hợp lý và hữu dụng hơn các phương pháp hóa học (dùng hóa chất) vì ở các phương pháp 1-3 vi sinh vật và enzyme dùng trong các phương pháp này mẫn cảm hơn với các yếu tố có ảnh hưởng đến tỷ lệ và tốc độ tiêu hóa thức ăn (Van Soest, 1994) [59] Riêng phương pháp 5 là phương pháp không dùng hóa chất và không gây ô nhiễm môi trường

Dưới đây sẽ giới thiệu chi tiết một số phương pháp thường dùng trong xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại

2.1.3.1 Phương pháp thu thập tổng số

Phương pháp này được tiến hành gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị (hay giai đoạn thích nghi) và giai đoạn thí nghiệm (hay giai đoạn thu phân) Theo phương pháp này cần chọn những gia súc khỏe mạnh, có sức sản xuất đại diện chung cho đàn, để đưa vào thí nghiệm

Giai đoạn chuẩn bị: Cần phải có thời gian nhất định để con vật bài tiết

hết thức ăn cũ trong đường tiêu hóa, làm quen với thức ăn thí nghiệm và có điều kiện để quan sát trạng thái của con vật Thời gian chuẩn bị của mỗi loài gia súc khác nhau thì khác nhau: Trâu, bò, dê, cừu: 10 - 15 ngày

Thời gian chuẩn bị phụ thuộc vào loại thức ăn Thức ăn thô và thức ăn không truyền thống cần nhiều thời gian nuôi chuẩn bị hơn thức ăn tinh và thức ăn truyền thống

Trang 17

Trong giai đoạn chuẩn bị, gia súc được nuôi khẩu phần thí nghiệm với lượng ăn tự do và sau đó xác định lượng ăn vào tối đa Nước uống được cung cấp đầy đủ Thông thường gia súc sử dụng vòi uống nước tự động, nếu không thì tỷ lệ nước với thức ăn cung cấp được áp dụng là 2 - 4:1 Tỷ lệ nước cao trong mùa khô

Giai đoạn thí nghiệm: Đối với đại gia súc thường kéo dài 7 - 10 ngày

Thời gian có thể ngắn hoặc dài hơn phụ thuộc loại thức ăn như đã đề cập ở trên Trong giai đoạn này, gia súc được nuôi khẩu phần thí nghiệm, thông thường lượng ăn hàng ngày thấp hơn lượng ăn tối đa của giai đoạn chuẩn bị (nuôi ở mức duy trì) Phân được thu hàng ngày và cân để xác định khối lượng, sau đó lấy khoảng 10% đem bảo quản ở nhiệt độ 40C để lấy mẫu phân tích sau này Mẫu phân được lấy khoảng 10% của tổng lượng mẫu phân và nước tiểu của cả giai đoạn thí nghiệm, trộn đều và lấy mẫu đem sấy ở nhiệt độ 600C bảo quản và phân tích thành phần hoá học về sau

Phương pháp này xác định chính xác tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn nhưng giá thành cao, tốn nhiều thời gian, cần khối lượng lớn thức ăn và do đó chỉ xác định được số lượng hạn chế các loại thức ăn

Giá trị năng lượng và protein của thức ăn (TA) thường được xác định thông qua tỷ lệ tiêu hóa (TLTH) có được từ các thí nghiệm tiêu hóa trên gia

súc (in vivo) Cừu là gia súc thường được sử dụng để xác định TLTH ở loài

nhai lại Mặc dù tiêu hóa TA có vài điểm khác biệt giữa cừu và bò, khác bịêt này là rất nhỏ và chấp nhận được Hơn nữa tiến hành thí nghiệm tiêu hóa trên

bò khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều

2.1.3.2 Phương pháp sử dụng túi sợi hay kỹ thuật sử dụng túi nilon (nilon bag technique, in situ hay in sacco)

Theo phương pháp này các loại túi được sử dụng có đặc tính không tiêu hóa, bền trong môi trường dạ cỏ Thường dùng túi có cấu tạo bằng sợi hoặc

Trang 18

nilon Các mắt lưới của túi rộng khoảng 20 - 40 m để cho dịch dạ cỏ có thể xâm nhập vào bên trong túi cũng như chất dinh dưỡng dễ dàng thoát qua bề mặt túi Thức ăn được cân sau đó cho vào túi, buộc chặt rồi đặt chúng vào trong dạ cỏ của con vật đã được mổ lỗ dò, với các thời gian khác nhau Sau đó

ủ một thời gian thích hợp, lấy các túi ra rửa bằng nước sạch vài lần rồi đem sấy khô Sau khi sấy khô cân khối lượng đến khi không đổi, căn cứ vào sự chênh lệch khối lượng đầu và cuối của túi, từ đó tính ra tỷ lệ tiêu hóa của thức

2.1.3.3 Phương pháp 2 giai đoạn

Phương pháp này dựa theo phương pháp của Tilley và Terry (1963) [57] Nguyên tắc của phương pháp này là mẫu thức ăn sau khi đem ủ với dịch

dạ cỏ khoảng 48 giờ, được thủy phân bằng enzym pepsin và cellulase Sau đó toàn bộ phần thủy phân được lọc bằng giấy lọc và phần vật chất giữ lại trên giấy lọc sẽ được sấy khô xác định khối lượng Căn cứ vào sự chênh lệch khối lượng giữa mẫu thức ăn trước khi xử lý và phần còn lại trên giấy lọc có thể xác định tỷ lệ tiêu hóa của mẫu thức ăn

Phương pháp này tính được khả năng tiêu hóa biểu kiến của thức ăn Tuy nhiên, chất cặn bã có thể gồm các chất cặn bã của VSV và những chất không hòa tan trong men pepsin do đó ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng

2.1.3.4 Phương pháp sinh khí in vitro (in vitro gas production method)

Xác định tỷ lệ tiêu hóa trên môi trường dạ cỏ nhân tạo hay còn gọi là

phương pháp in vitro, phương pháp này thường được áp dụng để tính toán khả

năng tiêu hóa của thức ăn thô xanh, thức ăn giàu xơ

Trang 19

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn được xác định không chỉ bằng thành phần hóa học mà còn bằng cả tốc độ và tỷ lệ tiêu hóa của chúng Thí nghiệm

tiêu hóa in vivo là một phương pháp quan trọng trong việc xác định giá trị

dinh dưỡng của thức ăn gia súc nhai lại Tuy nhiên, đây là phương pháp đắt tiền và tốn nhiều thời gian để thực hiện Không phải lúc nào cũng có thể đánh giá giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn trong thí nghiệm nuôi dưỡng Vì lý

do trên đã có một số nghiên cứu với mục đích tìm ra phương pháp chẩn đoán

nhanh và đơn giản, đó là phương pháp in vitro để có thể xác định nhanh một

số lượng lớn các nguyên liệu thức ăn thô đồng thời chẩn đoán tỷ lệ tiêu hóa và

giá trị năng lượng Menke và cs (1979) [43] đã phát triển kỹ thuật sinh khí (in

vitro gas production) để đánh giá giá trị dinh dưỡng các loại thức ăn Kỹ thuật

này phát hiện được các sai khác nhỏ trong một số loại thức ăn và cho phép lấy mẫu lặp lại thường xuyên hơn so với các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa

in vivo (De Peters và cs, 2003) [30] Lượng khí sinh ra khi lên men thức ăn có

thể dùng để đo gián tiếp khả năng tiêu hóa chất khô Lượng khí sinh ra khi ủ

200 mg chất khô mẫu thức ăn tại thời điểm 24 giờ cùng với protein thô và khoáng tổng số có thể xác định được giá trị năng lượng và tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (Menke và cs, 1979) [43] Lượng khí sinh ra còn liên quan tới việc sản sinh các axit béo bay hơi sau đó lên men chúng, vì thế việc lên men các chất lớn hơn lượng khí sinh ra (Blummed và Orskov, 1993) [26] Kỹ thuật sinh khí còn là kỹ thuật tin cậy trong xác định giá trị dinh dưõng và so sánh các loại cỏ (Makkar và cs, 1996) [37]

Nguyên lý của phương pháp là khi lên men yếm khí thức ăn trong dạ cỏ bởi vi sinh vật sẽ tạo ra axit béo mạch ngắn (SCFA), CO2, CH4 và một lượng

nhỏ hydro, axit béo mạch ngắn trong cả hai điều kiện in vivo và in vitro sẽ

phản ứng với đệm bicarbonate để giải phóng thêm CO2 (Markar, 2000) [38] Như vậy, quá trình sinh khí xẩy ra đồng thời, song hành với quá trình phân

Trang 20

giải xơ (Schofield và cs, 1994) [56] Lượng khí sinh ra khi ủ thức ăn với dịch

dạ cỏ trong điều kiện in vitro vì thế có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ tiêu hoá và

giá trị năng lượng của thức ăn (Menke và cs, 1979 [43]; Menke và Steingass,

1988 [44]) Vì những nguyên nhân kể trên, đo lượng khí sinh ra không những

có thể sử dụng để xác định tốc độ và tỷ lệ tiêu hoá mà còn có thể dùng để xác định tương tác giữa các thành phần thức ăn trong khẩu phần (Prasard và cs, 1994) [54]

Để xác định động thái sinh khí in vitro gas production của thức ăn tiến

hành ủ một lượng mẫu thức ăn nhất định hoặc một mẫu nhất định của khẩu phần (thường 200 - 300 mg tùy loại thức ăn) trong các xylanh chuyên dụng (xylanh thủy tinh có dung tích 100ml) với hỗn hợp dung dịch đệm và dịch dạ cỏ ở 390C (trong tủ ấm hoặc bồn nước ấm 39oC) khoảng 96 giờ tùy từng loại thức ăn Căn

cứ vào lượng khí sinh ra sau các thời điểm ủ mẫu khác nhau (3 giờ, 6 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96 giờ) để xác định khả năng tiêu hóa của các loại thức ăn trong dạ cỏ Bằng cách kết hợp với thành phần hóa học của các thức ăn nghiên cứu có thể ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ (ODM (g/kg DM) và giá trị năng lượng trao đổi ME (MJ/kg DM) của thức ăn đó

Ưu, nhược điểm của phương pháp in vitro gas production

Phương pháp này hiện đang được sử dụng rộng rãi để đánh giá giá trị dinh dưỡng của thức ăn (Markar, 2000) [38] Gần đây, ngày càng có nhiều quan tâm đến sử dụng có hiệu quả các khẩu phần nhiều thức ăn thô đã dẫn đến việc tăng sử dụng phương pháp này do các ưu việt của nó trong nghiên cứu động thái lên men (Markar, 2004) [41] Lợi thế và nhược điểm của chúng

đã được Getachew và cs (1998) [34] thảo luận khá kỹ

Phương pháp in vitro gas production cung cấp các số liệu hữu ích của

cả phần hòa tan và không hòa tan của thức ăn nên cho phép nghiên cứu động thái lên men của các loại thức ăn trong dạ cỏ (Markar, 2004) [41] Phương

Trang 21

pháp cũng khá thích hợp cho việc ước tính, xác định tỷ lệ tiêu hoá cũng như giá trị năng lượng của thức ăn so với các phương pháp khác (Markar, 2004) [41] Gần đây, phương pháp này còn được sử dụng cho nghiên cứu giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2 và CH4 từ dạ cỏ gia súc nhai lại (Fievez và cs,

2005) [33] Phương pháp này hiệu quả hơn in sacco trong đánh giá ảnh hưởng

của tanin và các yếu tố kháng dinh dưỡng khác (Markar và cs, 1995b [40];

Markar, 2004) [41] Thêm vào đó in vitro gas production có thể giám sát được

tương tác giữa chất dinh dưỡng và chất kháng dinh dưỡng và ngược lại (Markar và cs,1995a [39]; Markar và cs, 1996 [37]) Phương pháp này có lợi

thế hơn so với các phương pháp in vitro truyền thống khác khi nghiên cứu

tiêu hoá carbonhydrat vì lượng khí sinh ra là do lên men cả phần chất nền hoà tan và không hoà tan (Pell và Schofield, 1993) [53] Tương quan giữa lượng khí sinh ra và hàm lượng NDF khá chặt (R2

= 0,99) (Pell và Schofield, 1993) [53], còn tương quan giữa lượng khí sinh ra với chất khô mất đi theo phương

pháp in sacco cũng rất cao (R2 = 0,9) (Prasard và cs., 1994) [54] chứng tỏ

phương pháp này có thể thay thế cho các phương pháp in vitro khác trong

việc đánh giá nhanh giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho loài nhai lại Phương pháp còn cho phép xác định tổng a xít béo mạch ngắn và sinh khối vi sinh vật được tạo ra từ quá trình tiêu hoá thức ăn (Markar, 2004) [41]

Phương pháp in vitro gas production dễ làm, nhanh, làm được nhiều

mẫu cùng một lúc, không yêu cầu nhiều gia súc (hai gia súc mổ lỗ dò là đủ) (Markar, 2004) [41] Phương pháp này khá phù hợp với các nước đang phát triển vì không đòi hỏi nhiều lao động, trang thiết bị và khá rẻ tiền Đặc biệt,

khi kết hợp với phương pháp in vivo có thể mang lại kết quả cao hơn trong

việc dự đoán giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại

Nhược điểm của phương pháp là không đánh giá được ảnh hưởng của các

phương pháp chế biến đến giá trị dinh dưỡng của thức ăn (Krishnamoorthy và cs, 1995) [36]

Trang 22

Tóm lại, phương pháp in vitro gas production có một vài ưu điểm

(Markar, 2004) [41]: i) cho phép đánh giá một số lượng lớn mẫu thức ăn để quyết định chọn các giống cây thức ăn có giá trị dinh dưỡng tốt; ii) cho phép đánh giá và phát triển các chiến lược bổ sung dinh dưỡng trên cơ sở sử dụng tốt nguồn thức ăn sẵn có để có được hiệu quả sinh tổng hợp protein vi sinh vật

dạ cỏ tốt nhất; iii) giúp nghiên cứu thay đổi mô hình lên men dạ cỏ theo hướng tăng hiệu quả sinh tổng hợp protein vi sinh vật dạ cỏ và giảm thiểu thải khí methane từ dạ cỏ; iv) là công cụ tốt để xem xét quan hệ giữa chất dinh dưỡng và chất kháng dinh dưỡng và vai trò của các chất dinh dưỡng khác nhau (thay đổi thành phần của dung dịch ủ)

2.1.4 Các hệ thống đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn cho gia súc nhai lại ở các nước có nền chăn nuôi tiên tiến

2.1.4.1 Hệ thống đánh giá Scandinavơ

- Đơn vị thức ăn Scandinavơ (SFU): Có nguồn gốc từ Đan Mạch vào khoảng những năm 1880, tại đây người ta coi 1 kg thức ăn tinh là một đơn vị thức ăn Thức ăn tinh vào thời điểm này là hỗn hợp của ngũ cốc (gồm yến mạch và đại mạch), nhưng đến 1915 - 1916 các nước Bắc Âu đồng ý sử dụng

1 kg đại mạch là một đơn vị thức ăn chuẩn Nhờ Niels Johannes Fjord và Nils Hansson, SFU đã được phát triển mạnh hơn và nhiều thí nghiệm nuôi dưỡng

đã được tiến hành để xác định giá trị thay thế của rất nhiều thức ăn khác so với đơn vị chuẩn Ngày nay, SFU được tính bằng phương pháp tương tự như đơn vị thức ăn cho vỗ béo trước đây (Fattening Feed Unit - FFU)

- Hệ thống đánh giá giá trị protein (AAT - PBV): Hệ thống này dựa trên cân bằng nitơ trong dạ cỏ và lượng axit amin hấp thu ở ruột non Trong đó:

AAT: Axit amin được hấp thu tại ruột non

PBV: Cân bằng protein trong dạ cỏ

Trang 23

Cơ sở của cách tính này là tính lượng MP từ các thông số: Năng lượng

x hiệu xuất tổng hợp MP va UDP [ UDP = protein thô x (1 - tỷ lệ phân giải của protein trong dạ cỏ)] một cách riêng rẽ, sau đó nhân với tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các thành phần này ở ruột non

AAT(g/kg VCK) = protein thô(g/kg VCK) x (1 - tỷ lệ protein phân giải của trong dạ cỏ) x tỷ lệ axit amin UDP x tỷ lệ tiêu hóa của axit amin UDP tai ruột non + lượng MP(g/kg VCK) x tỷ lệ axitamin MP x tỷ lệ tiêu hóa của axitamin MP tại ruột non

PBV(g/kg VCK) = protein(g/kg VCK) x tỷ lệ protein phân giải trong dạ

cỏ - lượng MP(g/kg VCK)

2.1.4.2 Hệ thống đánh giá giá trị dinh dưỡng của Mỹ (NRC)

- Hệ thống năng lượng NE cho bò ở Hoa kỳ của Hội đồng nghiên cứu quốc gia (National Research Council - NRC) có một lịch sử khá dài và lần xuất bản gần đây nhất vào năm 2001, là lần xem xét lại thứ bảy Hệ thống này khởi nguồn từ TDN, nhưng hiện nay TDN không còn được dùng nữa và chuyển TDN thành DE để sử dụng trong hệ thống NE mới

- Hệ thống đáng giá giá trị protein (AP): Hệ thống này dựa trên cơ sở tính lượng protein hấp thu được ở ruột non và tỷ lệ phân giải protein trong dạ cỏ; lượng MP

2 1.4.3 Hệ thống đánh giá giá trị dinh dưỡng của Anh (ARC)

- Hệ thống đánh giá giá trị năng lượng: Hệ thống này cho phép ước tính nhu cầu năng lượng của bò, cừu, gia súc nhai lại đang sinh trưởng, chửa và tiết sữa Trong hệ thống này giá trị năng lượng của thức ăn cũng được biểu thị dưới dạng năng lượng trao đổi và giá trị năng lượng trao đổi của một khẩu phần bằng tổng giá trị năng lượng của các thức ăn thành phần tạo nên khẩu phần đó Nhu cầu năng lượng của gia súc được biểu thị bằng năng lượng thuần Điểm chủ yếu của hệ thống này là một hệ thống các phương trình dự

Trang 24

đoán hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho duy trì, sinh trưởng và tiết sữa Các dự đoán này được xác lập trên cơ sở hàm lượng năng lượng trao đổi của khẩu phần và được biểu thị ME/GE chứ không phải là MJ/kg Hàm lượng năng lượng trao đổi của khẩu phần có thể chuyển thành MJ ME/kg chất khô bằng cách nhân tỷ lệ ME/GE với 18,4 là hàm lượng năng lượng trao đổi trung bình của 1 kg DM Giá trị này quá cao cho các thức ăn có nhiều khoáng và quá thấp cho các thức ăn giàu protein và mỡ

Hệ thống đánh giá giá trị protein (RDP/UDP): Hệ thống này gọi là hệ thống RDP/UDP, cơ sở của hệ thống này là tách protein trong thức ăn thành 2 phần: Protein bị phân giải trong dạ cỏ (RPD) và protein không bị phân giải trong dạ cỏ (UDP)

2 1.4.4 Hệ thống đánh giá giá trị dinh dưỡng thức ăn của Pháp (INRA)

Cuối những năm 1970, Viên nghiên cứu nông nghiệp Quốc gia Pháp (IRNA) đã tập hợp tất cả các kết quả nghiên cứu được tiến hành từ những năm 1954 ở tất cả các nước trên thế giới về dinh dưỡng tiêu hóa và trao đổi

ở gia súc nhai lại để xây dựng một hệ thống dinh dưỡng mới với 2 giá trị là đơn vị tạo sữa (UFL) và protein hấp thu ở ruột non (PDI) (Paul Pozy và cs, 2002) [12]

- Hệ thống đánh giá giá trị năng lượng:

Giá trị năng lượng của một loại thức ăn tương đương với lượng năng lượng thuần của một kg thức ăn đó tham gia làm thỏa mãn các nhu cầu về duy trì và sản xuất của bò sữa Giá trị này được người ta đo bằng kilocalori cho 1

kg làm thức ăn Để dễ dàng sử dụng trong thực tế, đã từ lâu, người ta quy ước lấy giá trị của 1 kg yến mạch, với 87% vật chất khô, là đơn vị thức ăn (UF) (Paul Pozy và cs, 2002 ) [12]

Số đơn vị năng lượng của 1 đơn vị thức ăn (UF) = Năng lượng thuần của 1 kg thức ăn

Năng lượng thuần của 1 kg yến mạch

Trang 25

Có sai khác trong hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi cho sữa và cho sinh trưởng - vỗ béo Đối với loại thức ăn, người ta xác định 2 loại giá trị UF:

- Đơn vị thức ăn cho tiết sữa (UFL)

- Đơn vị thức ăn cho sinh trưởng - vỗ béo (UFV)

(Trong thực tế, khi tốc độ tăng trưởng của bò sữa dưới 1000g/ngày, người tra chỉ sử dụng UFL)

Một UFL (đơn vị thức ăn cho tiết sữa) là lượng năng lượng thuần (1700 Kcal), của 1 kg yến mạch, được phân phối ở mức độ cao hơn mức duy trì cho một bò sữa hoặc được cố định (dự trữ) trong cơ thể của bò sữa

- Hệ thống đánh giá giá trị protein

Cơ sở khoa học của phương pháp đánh giá PDI như sau (Paul Pozy và

cs, 2002 [12]; Phùng Quốc Quảng, 2001 [13]):

+ Protein của thức ăn vào dạ cỏ, có một phần đi thẳng xuống ruột được enzym tiêu hóa biến thành axit amin rồi được hấp thu goi là PDIA Một phần protein của thức ăn bị vi sinh vật tác động biến thành amoniac và được tổng hợp thành protein vi sinh vật Protein vi sinh vật xuống ruột non bị phân giải thành axit amin và được hấp thu Phần protein vi sinh vật được hấp thu ở ruột được gọi là PDIM

Như vậy, giá trị protein của một loại thức ăn là tổng lượng protein được tiêu hóa tại ruột (PDI) (INRA, 1989) Giá trị PDI này bằng tổng của 2 giá trị PDIA và PDIM (PDI = PDIA + PDIM)

Hệ thống PDI này của Pháp cũng như các hệ thống dinh dưỡng hiện đại khác cho phép đánh giá vai trò của thức ăn và của vi sinh vật dạ cỏ trong việc cung cấp protein tới ruột của gia súc nhai lại Việc tổng hợp protein của vi sinh vật từ amoniac liên quan chặt chẽ đến nguồn năng lượng (dưới dạng ATP) được sinh ra từ quá trình lên men các chất hữu cơ phân giải trong dạ cỏ Tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy trung bình cứ mỗi 1

Trang 26

kg chất hữu cơ được lên men trong dạ cỏ thì có 135 - 145 g protein thô (CP) của vi sinh vật được tổng hợp Vì thế giá trị protein của thức ăn (PDI) có thể được tính toán theo hai yếu tố là nitơ và năng lượng của thức ăn đó Thực vậy,

sự phát triển của vi sinh vật dạ cỏ không chỉ phụ thuộc vào số lượng amoniac

mà cả vào số lượng năng lượng có mặt tại cùng một thời điểm trong dạ cỏ

Khi năng lượng và các chất dinh dưỡng khác trong dạ cỏ không bị hạn chế thì sự tổng hợp protein của vi sinh vật phụ thuộc vào nguồn N của thức ăn phân giải để sinh ra amoniac trong dạ cỏ Số lượng PDIM có được từ nguồn nitơ phân giải của thức ăn khi năng lượng và các chất dinh dưỡng khác không

bị hạn chế trong dạ cỏ được gọi là PDIMN Số lương PDIM có được từ nguồn năng lượng của thức ăn khi N và các chất dinh dưỡng khác không bị hạn chế trong dạ cỏ được gọi là PDIME

Giá trị PDIMN của một loại thức ăn thường khác với giá trị PDIME của thức ăn đó, vì thế giá trị protein của một thức ăn sẽ có hai giá trị: PDIN và PDIE

PDIN = PDIA + PDIMN

PDIE = PDIA + PDIME

Hai giá trị này không mang tính cộng gộp Giá trị thấp nhất trong hai giá trị PDIN và PDIE của một loại thức ăn phải được lấy để coi là số lượng protein tiêu hóa ở ruột (PDI) của thức ăn đó khi nó là thành phần duy nhất của khẩu phần cho bò (Paul Pozy và cs, 2002) [12] Điều này cũng có nghĩa giá trị cao nhất trong hai giá trị PDIN và PDIE là giá trị tiềm năng của thức ăn đó nếu nó được phối hợp với các thành phần khác có giá trị dinh dưỡng bổ sung

để có khẩu phần hỗn hợp cho bò

Như vậy, để biết được giá trị PDI của một khẩu phần, trước hết chúng

ta tính tổng lượng PDIN, tổng này bằng giá trị PDIN của từng loại thức ăn sử dụng trong khẩu phần Sau đó tính tổng PDIE của khẩu phần theo cách tương

tự (không lấy tổng của PDIN và PDIE) Cuối cùng giá trị thấp nhất của tổng

Trang 27

PDIN hoặc PDIE của khẩu phần chính là số lượng protein được tiêu hóa ở ruột (PDI) của khẩu phần đó Để xây dựng một khẩu phần tối ưu (không bị lãng phí N hay năng lượng) người ta phải phối hợp các loại thức ăn sao cho PDIN = PDIE (tính cho toàn bộ khẩu phần) bằng cách dùng những thức ăn có giá trị PDIN cao nhưng PDIE thấp phối hợp cùng với những thức ăn có giá trị PDIN thấp nhưng lại có PDIE cao

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Xác định tỷ lệ tiêu hoá các loại thức ăn trực tiếp trên gia súc (in vivo)

đóng vai trò quan trọng trong việc ước tính giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho loài nhai lại Công việc này đã được tiến hành rất lâu ở hầu hết các nước trên thế giới có ngành chăn nuôi gia súc nhai lại phát triển

Ở các nước phát triển: Mỹ, Canada, Úc và các nước Châu Âu, Nhật Bản hiện nay đều đã có bảng giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại và bảng nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại (ARC, 1980 [24]; ARC,

1990 [23]; AFRC, 1990 [19]; AFRC, 1993 [20]; Feed into milk, 2004 (UK) [32]; Agriculture, Forestry and Fisheries Reseach Council Secreteriat, 1999 (Nhật Bản) [21]; Andrieu và cs, 1989 (Pháp) [22]; NRC, 1988 [46]; NRC

1996 [47]; NRC, 2001 [48] (Hoa Kỳ); Nutrient Requirement for Australian Livestock, 1999 [49] (Úc); Rostock Feed Evaluation System, 2003 (Đức) [55] Giá trị dinh dưỡng của các thức ăn cho loài nhai lại trong các bảng này phần lớn dựa trên tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô, xơ thô, protein thô của các loại

thức ăn xác định trực tiếp trên gia súc (in vivo) chủ yếu là trên cừu, phần còn lại dựa trên tỷ lệ tiêu hoá in vivo ước tính từ tỷ lệ tiêu hoá in vitro, ước tính từ thành phần hoá học, lượng khí sinh ra, tỷ lệ phân giải in sacco v.v (ARC,

1980 [24]; ARC, 1990 [23]; AFRC, 1990 [19]; AFRC, 1993 [20]; Feed into milk, 2004 (UK) [32]; Agriculture, Forestry and Fisheries Reseach Council

Trang 28

và cs, 1984 [18]; De Boever và cs, 1986 [29]) Hơn nữa, tiến hành thí nghiệm tiêu hoá trên bò khó khăn và tốn kém hơn rất nhiều (Aerts và cs, 1984 [18];

De Boever và cs, 1986 [29])

Tại các nước đang phát triển, có nhiều lý do, đặc biệt là tài chính, cho

nên các nghiên cứu tiêu hoá in vivo còn chưa nhiều Để xác định giá trị dinh

dưỡng của hầu hết các loại thức ăn, người ta thường phải sử dụng tài liệu tiêu hoá từ các nước phát triển Ở một vài khu vực nhờ có nguồn kinh phí tài trợ,

tỷ lệ tiêu hoá in vivo của các loại thức ăn đã được xác định khá đầy đủ Khu

vực vùng biển Caribê và Trung Mỹ là một ví dụ Tại các nước: Guana thuộc Pháp, West Indies thuộc Pháp, Dominica, Cu Ba, các tác giả Xande và cs (1989 a, [61], b [62]); Aumont và cs (1995) [25] đã tiến hành nghiên cứu công phu tỷ lệ tiêu hoá của 1313 loại thức ăn trên cừu và đã tính toán giá trị dinh dưỡng của chúng theo hệ thống của Pháp

Ở các nước khu vực Châu Á, các nghiên cứu về thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn cho gia súc nhai lại chưa nhiều, chưa được hệ thống, tỷ lệ tiêu hoá thức ăn chủ yếu có được từ các nghiên cứu gián tiếp, các

nghiên cứu trực tiếp in vivo không nhiều và chủ yếu là trên các phụ phẩm

nông nghiệp Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Wanapat (1985) [60] về rơm ở Thái Lan, Prasard và cs (1994) [54] ở Ấn Độ Gần đây, ở Thái Lan, với sự giúp đỡ của JIRCAS (Nhật Bản) đã công bố thành phần hóa học

Ngày đăng: 20/11/2017, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bả, Lê Đức Ngoan, Vũ Chí Cương (2004), “Giá trị dinh dưỡng của lá râm bụt ủ chua và ảnh hưởng của các mức bổ sung lá dâm bụt đến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hoá, tích luỹ nitơ ở cừu sinh trưởng”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 11(48), tr. 1513-1516 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dưỡng của lá râm bụt ủ chua và ảnh hưởng của các mức bổ sung lá dâm bụt đến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hoá, tích luỹ nitơ ở cừu sinh trưởng”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Xuân Bả, Lê Đức Ngoan, Vũ Chí Cương
Năm: 2004
2. Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Trạch, Đinh văn Mười (2003), “Áp dụng hệ thống dinh dƣỡng UFL/PDI trong nuôi dƣỡng bò sữa ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học nông nghiệp 1, tập 1, số 3, tr. 203-208 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng hệ thống dinh dƣỡng UFL/PDI trong nuôi dƣỡng bò sữa ở Việt Nam”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Vũ Chí Cương, Nguyễn Xuân Trạch, Đinh văn Mười
Năm: 2003
3. Vũ Chí Cương, Đặng Vũ Hoà, Nguyễn Thành Trung, Đoàn Thị Khang, Graeme Mc Crabb (2004a), “Nghiên cứu xác định thành phần hoá học và giá trị dinh dƣỡng của rỉ mật”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số1, tr. 45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định thành phần hoá học và giá trị dinh dƣỡng của rỉ mật”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
4. Vũ Chí Cương, Anton Baynen, Nguyễn Xuân Hoà, Phạm Hùng Cường, Paulo Salgado, Lưu Thị Thi (2004b), “Thành phần hoá học, tỷ lệ tiêu hoá và giá trị dinh dƣỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Số 8, tr. 1115-1119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hoá học, tỷ lệ tiêu hoá và giá trị dinh dƣỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
5. Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Thành Trung (2004c), “Ước tính tỷ lệ tiêu hoá và giá trị năng lƣợng của một số loại thức ăn thô dùng cho bò bằng phương pháp in vitro gas production và thành phần hoá học”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Số 3(39), tr.340-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước tính tỷ lệ tiêu hoá và giá trị năng lƣợng của một số loại thức ăn thô dùng cho bò bằng phương pháp "in vitro" gas production và thành phần hoá học”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
6. Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Phạm Hùng Cường, Lưu Thị Thi (2004d), “Kết quả ƣớc tính tỷ lệ tiêu hoá, và giá trị năng lƣợng của một số loại thức ăn dùng cho bò từ lƣợng khí sinh ra khi lên men in vitro Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả ƣớc tính tỷ lệ tiêu hoá, và giá trị năng lƣợng của một số loại thức ăn dùng cho bò từ lƣợng khí sinh ra khi lên men
7. Vũ Chí Cương, Đinh Văn Mười, Phạm Kim Cương, Lưu Thị Thi, Cấn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Viết Đôn (2016a), “Kết quả xây dựng phương trình hồi quy ƣớc tính ME của thức ăn cho gia súc nhai lại từ các số liệu về lƣợng khí sinh ra sau 24 giờ và thành phần hóa học”, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, số 60, tr. 14-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xây dựng phương trình hồi quy ƣớc tính ME của thức ăn cho gia súc nhai lại từ các số liệu về lƣợng khí sinh ra sau 24 giờ và thành phần hóa học”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi
8. Vũ Chí Cương, Đinh Văn Mười, Phạm Kim Cương, Lưu Thị Thi, Nguyễn Viết Đôn, Nguyễn Văn Hùng (2016b), “Phương trình hồi quy ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của thức ăn cho gia súc nhai lại từ các số liệu về lƣợng khí sinh ra sau 24 giờ và thành phần hóa học”, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, số 62, tr. 39-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương trình hồi quy ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của thức ăn cho gia súc nhai lại từ các số liệu về lƣợng khí sinh ra sau 24 giờ và thành phần hóa học”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi
9. Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thanh Vân, Từ Trung Kiên (2013), Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi
Tác giả: Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thanh Vân, Từ Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
10. Đinh Văn Mười (2012), Tỷ lệ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng và phương trình ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ, giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn cho gia súc nhai lại, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viên Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng và phương trình ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ, giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn cho gia súc nhai lại
Tác giả: Đinh Văn Mười
Năm: 2012
11. Paul Pozy, Vũ Chí Cương, Armand Deswyen, Đặng Văn Quỳnh Châu, Denis Devos, Lê Văn Ban, Nguyễn Thị Tám, Đoàn Thị Khang, Nguyễn Thành Trung, Đinh Văn Tuyền (2001), “Giá trị dinh dƣỡng của cỏ tự nhiên, cỏ voi, rơm làm thức ăn cho bò sữa tại các hộ gia đình vùng ngoại thành Hà Nội”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 6, tr. 392-395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị dinh dƣỡng của cỏ tự nhiên, cỏ voi, rơm làm thức ăn cho bò sữa tại các hộ gia đình vùng ngoại thành Hà Nội”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Paul Pozy, Vũ Chí Cương, Armand Deswyen, Đặng Văn Quỳnh Châu, Denis Devos, Lê Văn Ban, Nguyễn Thị Tám, Đoàn Thị Khang, Nguyễn Thành Trung, Đinh Văn Tuyền
Năm: 2001
12. Paul Pozy, Dahareng D., Vu Chi Cuong (2002), Nhu cầu dinh dưỡng của bò và giá trị dinh dưỡng của thức ăn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng của bò và giá trị dinh dưỡng của thức ăn
Tác giả: Paul Pozy, Dahareng D., Vu Chi Cuong
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Phùng Quốc Quảng (2001), Nuôi dưỡng bò sữa - năng suất cao, hiệu quả lớn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dưỡng bò sữa - năng suất cao, hiệu quả lớn
Tác giả: Phùng Quốc Quảng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
14. Trần Văn Thăng, Nguyễn Hƣng Quang, Mai Anh Khoa (2016), “Đánh giá năng suất, chất lƣợng và khả năng sử dụng một số giống cỏ trong chăn nuôi bò tại Sơn La”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, số 62, tr. 88-100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng suất, chất lƣợng và khả năng sử dụng một số giống cỏ trong chăn nuôi bò tại Sơn La”, "Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi
Tác giả: Trần Văn Thăng, Nguyễn Hƣng Quang, Mai Anh Khoa
Năm: 2016
16. Nguyễn Văn Thưởng, Sumilin I. S., Nguyễn Nghi, Bùi Văn Chính, Đào Văn Huyên, Đặng Thị Tuân, Nguyễn Thanh Thủy, Bùi Thị Oanh, Nguyễn Ngọc Hà, Vũ Duy Giảng, Trần Quốc Việt (1992), Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam năm 1992, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam năm 1992
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng, Sumilin I. S., Nguyễn Nghi, Bùi Văn Chính, Đào Văn Huyên, Đặng Thị Tuân, Nguyễn Thanh Thủy, Bùi Thị Oanh, Nguyễn Ngọc Hà, Vũ Duy Giảng, Trần Quốc Việt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
17. Viện Chăn nuôi (2001), Thành phần và giá trị ding duỡng thức ăn gia súc-gia cầm Việt Nam năm 2001, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và giá trị ding duỡng thức ăn gia súc-gia cầm Việt Nam năm 2001
Tác giả: Viện Chăn nuôi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
18. Aerts J. V., De Boever J. L., Cottyn B. G., De Brabander D. L. and Buysse F. S., (1984), “Comparative digestibility of feedstuffs by sheep and cows”, Anim. Feed Sci. Technol., 12 (1), pp. 47-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative digestibility of feedstuffs by sheep and cows”, "Anim. Feed Sci. Technol
Tác giả: Aerts J. V., De Boever J. L., Cottyn B. G., De Brabander D. L. and Buysse F. S
Năm: 1984
19. AFRC, Agricultural and Food Research Council (1990), Technical Committee on Responses to Nutrients, Report Number 5, Nutritive Requirements of Ruminant, Animals: Energy, Nutrition Abstracts and Reviews (Series B), 60, pp. 729-804 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical Committee on Responses to Nutrients, Report Number 5, Nutritive Requirements of Ruminant
Tác giả: AFRC, Agricultural and Food Research Council
Năm: 1990
20. AFRC, Agricultural and Food Research Council (1993), Energy and protein requirements of ruminants, Alderman, G., Cotrill, B.R., editors.CAB International, Wallingford, Oxon OX10 8DE, U.K Sách, tạp chí
Tiêu đề: Energy and protein requirements of ruminants
Tác giả: AFRC, Agricultural and Food Research Council
Năm: 1993
21. Agriculture, Forestry and Fisheries Reseach Council Secreteriat (1999), Japanese Feeding Standard for Dairy Cattle, Japan Livestock Industry Association, Tokyo, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japanese Feeding Standard for Dairy Cattle
Tác giả: Agriculture, Forestry and Fisheries Reseach Council Secreteriat
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm  Chỉ tiêu - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm Chỉ tiêu (Trang 34)
Bảng 4.1. Thành phần hóa học của bốn loại thức ăn thô xanh đã sử dụng - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.1. Thành phần hóa học của bốn loại thức ăn thô xanh đã sử dụng (Trang 37)
Bảng 4.2. Thành phần hóa học của phân bốn loại thức ăn thô xanh đã sử - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.2. Thành phần hóa học của phân bốn loại thức ăn thô xanh đã sử (Trang 39)
Bảng 4.3. Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein thô và mỡ thô của bốn loại - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.3. Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô, protein thô và mỡ thô của bốn loại (Trang 41)
Bảng 4.4. Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô, NDF, ADF và khoáng tổng số của bốn - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.4. Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô, NDF, ADF và khoáng tổng số của bốn (Trang 42)
Bảng 4.5. Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của bốn loại thức ăn xanh (%) - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.5. Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của bốn loại thức ăn xanh (%) (Trang 43)
Bảng 4.6. Giá trị năng lƣợng của bốn loại thức ăn thô xanh (MJ/kg DM) - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Bảng 4.6. Giá trị năng lƣợng của bốn loại thức ăn thô xanh (MJ/kg DM) (Trang 44)
Hình 1: Giá trâu thí nghiệm                            Hình 2: Trâu thí nghiệm - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Hình 1 Giá trâu thí nghiệm Hình 2: Trâu thí nghiệm (Trang 55)
Hình 5: Thái cỏ                                                   Hình 6: Cỏ Ghinê Hamil - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Hình 5 Thái cỏ Hình 6: Cỏ Ghinê Hamil (Trang 56)
Hình 9: Dụng cụ đựng mẫu                                 Hình 10: Ghi chép mẫu - Xác định tỷ lệ tiêu hóa và giá trị năng lượng của một số loại thức ăn thô xanh phổ biến nuôi trâu bằng phương pháp in vivo
Hình 9 Dụng cụ đựng mẫu Hình 10: Ghi chép mẫu (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w