1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại bình minh huyện mỹ đức hà nội và biện pháp điều trị

55 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 728,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn nái tại trại .... Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh ảnh hưởn

Trang 2

-

HỒ THỊ XUÂN

Tên chuyên đề:

TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI BÌNH MINH - HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong cả một quá trình phấn đấu, rèn luyện và học tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em nhận thấy đã trưởng thành rất nhiều từ phẩm chất đạo đức tới trình độ chuyên môn và để có được sự trưởng thành như ngày hôm nay đó là một phần không nhỏ từ sự giúp đỡ và dạy bảo của tất cả các thầy cô, bạn bè cùng gia đình Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, quý thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên của Khoa Chăn nuôi Thú y-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ và dạy dỗ em trong suốt 4 năm học trên giảng đường đại học và thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Tiếp đến, em xin chân thành cảm ơn chú Nguyễn Sỹ Bình - chủ trang trại lợn huyện Mỹ Đức- Hà Nội, cùng toàn thể các cô, chú, anh chị là kĩ sư, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt 6 tháng thực tập

Và cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã chia sẻ động viên em trong suốt 4 năm học và hoàn thành đề tài tốt nghiệp lần này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Sinh viên

Hồ Thi ̣ Xuân

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái trong 3 năm (2014 – 2016) 6

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 22

Bảng 3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi 31

Bảng 3.2 Quá trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi 32

Bảng 4.1 Tỷ lệ viêm tử cung của đàn lợn nái trong 3 năm (từ năm 2014 đến tháng 11 năm 2016) 37

Bảng 4.2a Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng 38

Bảng 4.2b Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 39

Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 40

Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo trường hợp đẻ 41

Bảng 4.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 42

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản 43

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự

CP : Charoen Pokphand

E Coli : Escherichia coli

MMA : Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa

Nxb : Nhà xuất bản

TT : Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.1.2.Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 3

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 3

2.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 5

2.2.1 Đối tượng nuôi của trại 5

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở 5

2.3 Cơ sở khoa học 6

2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái 6

2.3.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 10

2.3.3 Một số nguyên nhân gây bệnh 17

2.3.4 Các thể viêm tử cung 18

2.3.5 Đường xâm nhập 21

2.3.6 Chẩn đoán viêm tử cung 21

2.3.7 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 23

2.3.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 25

2.4 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 27

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 29

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

Trang 7

3.4 Các chỉ tiêu và Phương pháp theo dõi 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 30

3.4.3 Một số công tác khác 31

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35

3.4.5 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 36

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 37

4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2014 - 11/2016) 37

4.2 Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 38

4.3 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 39

4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo trường hợp đẻ 41

4.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung 42

4.6 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn nái tại trại 42

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC

Trang 8

Với nhu cầu cuộc sống hiện nay thì sản phẩm thịt lợn không thể thiếu được với người tiêu dùng Theo USDA, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2014 Để phát triển đàn lợn mỗi trại, mỗi gia đình một cách nhanh chóng và có chất lượng tốt thì việc cải tạo, chọn lọc con giống, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn là rất quan trọng Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con sẽ chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dân đến vô sinh, mất khả năng sinh sản Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS Từ Quang Hiển cùng với sự giúp đỡ của cơ sở thực tập em

đã tiến hành chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại

Bình Minh - Huyện Mỹ Đức - Hà Nội và biện pháp điều trị”

Trang 9

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn

- Xác định hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị

1.1.2.Yêu cầu

- Đánh giá được tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn

- Xác định được hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty CP Bình Minh

Công ty CP Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức,

Hà Nội Trang trại được thành lập năm 2008, là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn

Sĩ Bình làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:

Chủ trại: 01 người

Quản lý trại: 01 người

Quản lý kỹ thuật: 03 người

Kế toán: 01người

Cong nhân: 7 người và 19 sinh viên thực tập

Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại: 01 người

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thương phẩm, nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại

Công ty CP Bình Minh nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc xóm thượng xã Phù Lưu Tế, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 10,2 ha Trong đó:

- Đất trồng cây ăn quả: 2,3 ha

- Đất xây dựng: 2,5 ha

Trang 11

- Đất trồng lúa: 2,4 ha

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 3 ha

Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà

ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho

1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m x 1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65m/ô), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 9 chuồng lợn thịt (mỗi chuồng nuôi 550 con) cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách

ly, 2 quạt đối với chuồng đực Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ

có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm Trên trần được lắp

hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống

cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng

nái chửa 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí

từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con; mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra

Trang 12

Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 4 phòng: phòng sát

trùng nam, phòng sát trùng nữ, phòng sát trùng kỹ sư

Cong nhân: 7 người và 19 sinh viên thực tập và phòng sát trùng khách Mỗi

phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng

và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm,

chậu rửa, móc quần áo, xà bông, dầu gội

Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi

Kho chứa thức ăn: trần đóng kín không dột, có sạp kê cám

Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió,

có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi

Các công trình phụ trợ khác: Khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi

2.2 Đối tƣợng và các kết quả sản xuất của cơ sở

2.2.1 Đối tượng nuôi của trại

Trại lợn của công ty nuôi các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở

Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn

Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn của công ty

- Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán khoảng

5 đến 6 tháng với trọng lượng trung bình từ 90 đến 105kg

Trang 13

- Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm

Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm tính đến tháng 11 năm 2016 được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái trong 3 năm (2014 – 2016)

2.3 Cơ sở khoa học

2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái

Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình

2.3.1.1 Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hormone: estrogen, progesterone, oxytocine, relaxin và inhibin Các hormone này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thế vàng tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân

Trang 14

tiết của tử cung đế nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytoxin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng ở buồng trứng khi lơ ̣n g ần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để th ải sữa Ở lợn, relaxin do thể vàng ti ết ra để gây giãn n ở xương chậu, làm giãn và mềm cơ tử cung,

do đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ

Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một lớp liên kết được bao bọc bởi lớp biểu mô hình lập phương Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng (thể vàng thoái hóa) Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãn nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang) Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này Noãn nang bậc một

có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang) Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf) Noãn nang có xoang bao gồm 3 lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt Lớp bao ngoài là mô liên kết lỏng lẻo Lớp bao trong sản xuất androgen dưới tác dụng của LH Lớp tế bào hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích thích tố LH Những chất quan trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là estrogen, inhibin và dịch nang

Theo Trần Thị Dân 2004 [3], khi nang gần xuất noãn, những mạch máu nhỏ

Trang 15

bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng

2.3.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)

Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu mở ra

để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung Nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung Ở lợn, sự co thắt của nơi tiếp giáp eo tử cung tạo thành rào cản đối với tinh trùng để không có quá nhiều tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập noãn

2.3.1.3 Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung:

Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng

Thân tử cung dài 3 - 5cm

Cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược, thông với âm đạo

Trang 16

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc

- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối

tiếp vào hệ thống các dây chằng

- Lớp cơ trơn: Đặng Đình Tín (1986) [19] cho biết, lớp cơ trơn gồm cơ vòng

rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng lưới v ừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khoẻ nhất trong cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng) khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung

- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế

bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống

2.3.1.4 Âm đạo (Vagina)

Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời

Trang 17

là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ

- Lớp niêm mạc âm đạo: âm đạo lợn dài 10 - 12cm

2.3.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:

- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau

thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc gấp lại thành một nếp

- Lỗ niệu đạo: ở sau và dưới màng trinh

- Hành tiền đình: là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể

hổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về

âm vật

2.3.1.6 Âm vật (Clitoris)

Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương của đường sinh dục cái, được dính vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng

Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là niêm mạc âm vật

2.3.1.7 Âm hộ (Vulva)

Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi vùng hồi âm Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới Môi âm

hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính

2.3.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc

Trang 18

trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế

hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng, Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:

2.3.2.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục

và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt

và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng

+ Giống

Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh (1995) [4], tuổi thành thục về tính của lợn cái ngoại

và lợn cái lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Mường Khương, ) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại X nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi

+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý

Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

+ Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính

Trang 19

sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu

bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo Paul Hughes và

cs, (1996) [23], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15

- 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn

Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đ ảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng

2.3.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp

* Chu kỳ tính

Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang graaf Khi nang graaf vỡ, trứng rụng gọi là

sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ

Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình

là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi

* Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 - 2 ngày, là thời gian

Trang 20

chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai

Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 - 12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ t ử cung hé mở Các noãn bao chín,

tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở và có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình

* Giai đoạn động dục

Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đối của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,70C, pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khuỵu xuống sẵn sàng chịu đực

Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính

Trang 21

* Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 – 8 mm và bắt đầu tiết progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

* Giai đoạn nghỉ ngơi

Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Trang 22

oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tố của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra

LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ

ra Thể vàng tiết progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng

tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục

* Thời điểm phối giống thích hợp

Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể

Trang 23

nút niêm dịch ở cơ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ: + Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu

- Cơ chế đẻ: đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế

thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục

- Về mặt cơ giới: thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng,

đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài

- Nội tiết: trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra progesterone, hàm lượng progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng progesterone giảm (chỉ còn 0,22%) Đồng thời tuyến yên tiết oxytocine, nhau thai tăng tiết relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với oxytocine trước khi đẻ

- Biến đối quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: khi thai đã thành thục thì quan

hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ

- Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6h,

nó được tính từ khi cố tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Trang 24

Theo Nguyễn Thị Ngân và cs, (2016) [10] thân nhiệt của lợn trong điều kiện

sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,5°C

 Sốt:

Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu

là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường Quá trình chủ yểu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình sinh bệnh Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó Một số kích

tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu trương đều có thể gây sốt

 Tần số hô hấp

Tần số hô hấp là số lần thở trên phút , nó phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp tăng hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật có thể vóc lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp bình thường dao động trong khoảng 8 - 18 lần/phút

2.3.3 Một số nguyên nhân gây bệnh

Theo Trần Tiến Dũng (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo Đào Trọng Đạt và cs, (2000) [7], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường

do các nguyên nhân sau:

Trang 25

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được

vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm m ạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao, gây viêm

Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ t ử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó

cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cs, 1997 [9])

Theo Madec, Neva (1995) [22], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

2.3.4 Các thể viêm tử cung

Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt trước hết phải kể đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc Theo Bane (1986) [20], các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh

Trang 26

dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái

Theo Đặng Đình Tín (1985) [19], bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

2.3.4.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [15], Black (1983) [21], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ

lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc

tử cung bị tổn thương, tiếp đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus,

E.coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus… xâm

nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [12], bệnh viêm nội mạc

tử cung có thể chia 2 loại:

- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung

- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử

* Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis)

Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy

ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại thành từng đám vảy màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch rỉ viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả

Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương đã

ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử Lợn nái mắc bệnh này

Trang 27

thường xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm xuống Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch,

2.3.4.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis puerperalis)

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [12], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ

và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi

do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường

kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

2.3.4.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis puerperali)

Theo Đặng Đình Tín (1985) [19], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ ch ức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể paramestritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc

Ngày đăng: 20/11/2017, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XXIII (số 5), Tr.51 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trần Ngọc Bích, Nguyễn Thị Cẩm Loan, Nguyễn Phúc Khánh
Năm: 2016
2. Lê Xuân Cường (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1986
3. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
4. Phạm Hữu Doanh (1995), “Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái lai ngoại và ngoại thuần chủng”, Tạp chí Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái lai ngoại và ngoại thuần chủng”
Tác giả: Phạm Hữu Doanh
Năm: 1995
5. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 35 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Trần Tiến Dũng (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
7. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2000
8. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
9. Lê Văn Năm (1997), Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
10. Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Quang Tính (2016), Giáo trình chẩn đoán bệnh gia súc, gia cầm, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chẩn đoán bệnh gia súc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Quang Tính
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2016
11. Nguyễn Hùng Nguyệt, Đặng Đình Tín (1986), Sản khoa và Bệnh sản khoa Thú y, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 31 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản khoa và Bệnh sản khoa Thú y
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt, Đặng Đình Tín
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1986
14. Nguyễn Văn Thanh (2003), “Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại ĐBSH và thử nghiệm điều trị”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2003
15. Nguyễn Văn Thanh (2007), “Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại vùng đồng bằng Bắc bộ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, Tập XIV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi tại một số trang trại vùng đồng bằng Bắc bộ”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Thương, Giang Hoàng Hà (2015), Bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản chăn nuôi theo mô hình gia trại, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản chăn nuôi theo mô hình gia trại
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Thương, Giang Hoàng Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán (2016), Giáo trình Bệnh sản khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bệnh sản khoa gia súc
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2016
19. Đặng Đình Tín (1986), Sản khoa và bệnh sản khoa thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội. II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1986
20. Bane A. (1986), Control and Prevention of inferited disorder causing infertility. Technical Managemen A.I. Programmes Swisdish University of Agricultural sciences. Uppsala Sweden Sách, tạp chí
Tiêu đề: Control and Prevention of inferited disorder causing infertility
Tác giả: Bane A
Năm: 1986
21. Black W.G. (1983), Inflammatory response of the bovine endometrium.Am. Jour. Vet. Res. 14; 179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflammatory response of the bovine endometrium.Am. "Jour. Vet. Res. 14
Tác giả: Black W.G
Năm: 1983
22. Madec F., Neva C. (1995), "Inflammation of the uterus and reproductive function of sows", Scientific Veterinary Journal , vol II No. 1 - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflammation of the uterus and reproductive function of sows
Tác giả: Madec F., Neva C
Năm: 1995
23. Paul Hughes, James Tilton (1996), Maximising pigs production and reproduction. Compus, Hue University of Agricultural and Forestry, September Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maximising pigs production and reproduction
Tác giả: Paul Hughes, James Tilton
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm