ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦN HOÀNG LONG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI PCB TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRẦN HOÀNG LONG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRONG VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI PCB TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Môi trường và phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ HỒNG
Hà Nội - Năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp
đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS Trần Thị Hồng là người trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban quản lý Dự án PCB tại Việt Nam và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Hoàng Long
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện và hoàn thành luận văn này đã đƣợc cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Trần Hoàng Long
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục tiêu 2
3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
5 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận về truyền thông 5
1.1.1 Truyền thông 5
1.1.2 Thông tin, truyền thông tại Việt Nam 8
1.2 Thông tin về chất thải nguy hại PCB 9
1.2.1 Nguồn gốc của PCB 9
1.2.2 PCB xuất hiện ở đâu 10
1.2.3 PCB ảnh hưởng tới sức khỏe 10
1.2.4 PCB trong môi trường 12
1.2.5 PCB Trên thế giới và Việt Nam 13
1.2.6 Truyền thông PCB trên thế giới & Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 19
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và đối tượng nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp tiếp cận 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu 21
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu KAP 21
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và so sánh 26
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Trang 6CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Kết quả khảo sát truyền thông PCB tại Việt Nam 27
3.1.2 Các loại truyền thông tại Việt Nam 27
3.1.2 Số lượng sản phẩm truyền thông 34
3.2 Khảo sát hiểu biết về PCB 35
3.2.1 Văn bản pháp lý 35
3.2.2 Kết quả khảo sát 40
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông PCB 55
3.3.1 Các cán bộ quản lý 64
3.3.2 Người lao động 64
3.3.2 Cộng đồng 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Kết luận 67
Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Phụ lục 1: Văn bản pháp lý quốc tế về PCB 71
Phụ lục 2: Các loại phiếu đều tra 75
Phụ lục 3: Danh sánh nhưng người được phòng vấn 82
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bộ LĐTBXH Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội
MHS Khảo sát thói quen sử dụng các phương tiện truyền thông
Sở LĐTBXH Sở Lao động - Thương binh - Xã hội
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Mô tả nhóm đối tượng nghiên cứu 19
Bảng 2.2 Các vấn đề về KAP theo mỗi đối tượng 23
Bảng 3.3 Tỷ lệ người nghe đài hàng thành phố 29
Bảng 3.4 10 tờ báo dẫn đầu về tỷ lệ độc giả tại 4 thành phố 30
Bảng 3.5 10 tạp chí dẫn đầu về tỷ lệ độc giả tại 4 thành phố 31
Bảng 3.6 Số lượng các sản phẩm truyền thông PCB 34
Bảng 3.7 Các nhóm đối tượng và VBPL cần biết tương ứng về PCB 36
Bảng 3.8 Quy mô mẫu khảo sát KAP và tỉ lệ phản hồi 40
Bảng 3.9 Hiểu biết về PCB của người lao động trong và ngoài EVN 47
Bảng 3.10 Thực hành an toàn về PCB của công nhân và kỹ thuật viên 50
Bảng 3.11 Giải pháp về hình thức truyền thông và nội dung 58
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ Trang Đồ thị 1.1 Khung giờ các hộ gia đình xem thông tin truyền hình 28
Đồ thị 3.2 Tỷ lệ người nghe đài - Lượng thính giả 30
Đồ thị 3.3 10 website được truy cập thường xuyên tại TP 33
Đồ thị 3.4 Độ tuổi trong kết quả khảo sát 42
Đồ thị 3.5 Hiểu biết về PCB với nhóm cán bộ quản lý 43
Đồ thị 3.6 Hiểu biết về PCB của nhóm cán bộ quản lý 44
Đồ thị 3.7 Hiểu biết về văn bản pháp lý của nhóm Cán bộ quản lý 45
Đồ thị 3.8 Hiểu biết về quy định quản lý PCB của nhóm người lao động 48
Đồ thị 3.9 Hiểu biết về PCB và văn bản pháp lý của báo chí 53
Đồ thị 3.10 Nguồn thông tin và kênh thông tin sử dụng 54
Trang 9MỞ ĐẦU
Hiện nay quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố, lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc ước khoảng 800.000 tấn/năm Polychlorinated biphenyl (PCB) là hợp chất hữu cơ khó phân huỷ, độc hại có tính hóa lý tương tự Dioxin và được hiện hữu trong dầu của các thiết bị công nghiệp, thiết bị điện tử cũ như: Máy biến thế, tụ điện chúng có nguy cơ rò rỉ cao nếu không được bảo quản tốt PCB xâm nhiễm vào cơ thể bằng cách tích tụ theo chuỗi thức ăn, hay khi tiếp xúc, khi có sự cố rò rỉ … khi vào cơ thể người gây ra các bệnh mãn tính hay cấp tính nguy hiểm như: Ban đỏ, khô ngứa, rối loạn tiêu hóa, rối loại sinh sản, biến đổi Gen, ung thư,
Bên cạnh đó, nhận thức về chất thải nguy hại nói chung, và đặc biệt đối với hợp chất hữu cơ PCB nói riêng còn hạn chế Cộng đồng hay những cán bộ quản lý, nhiều nhà chức trách còn chưa nắm hết được CTNH nói chung và CNTH PCB là gì? nguy hại ra sao? tính độc thế nào? các kênh thông tin còn ít đề cập tới, tính phổ biến chưa sâu rộng, đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn nếu có sự cố hay vô tình tiếp xúc nếu không có những kiến thức nhất định để có những hành động sẽ ảnh hưởng rất lớn, gây tiêu cực tới môi trường và con người, thiệt hại nặng nề về kinh tế -xã hội
Vậy phải làm thế nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với CTNH đặc biệt là PCB mà không gây tác động xấu tới môi trường? Đây là một câu hỏi tương đối hóc búa đối với các nhà quản lý, tuyên truyền, Trong xu thế hội nhập toàn cầu và bùng
nổ thông tin như hiện nay, truyền thông có vai trò quan trọng, chi phối mạnh mẽ tới hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội, mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế -
xã hội - môi trường, việc cung cấp thông tin-truyền tải nội dung rất quan trọng đây
là một trong những phương pháp mang lại giá trị nhất hiện nay là truyền thông để cộng đồng có một góc nhìn toàn diện hơn cũng như nhận thức rõ được những hậu quả nghiêm trọng mà PCB gây ra
Trang 101 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POPs) vào ngày 22 tháng 07 năm 2002 và trở thành quốc gia thành viên thứ 14 của Công ước Tính đến tháng 10 năm 2011, 151 quốc gia và các vùng lãnh thổ đã phê chuẩn Công ước Stockholm [3] Đến nay, Công ước Stockholm đã đưa vào danh sách quản lý 22 hóa chất/nhóm hóa chất POP Nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường cũng như triển khai Kế hoạch thực hiện công ước Stockholm của Việt Nam theo Quyết định 184/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm
2006 của Thủ tướng chính phủ, Tổng cục Môi trường (TCMT), Bộ tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) đang nỗ lực tăng cường hợp tác với các bên, đặc biệt là Cục
kỹ thuật an toàn và môi trường công nghiệp (Cục ATMT) và Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), Bộ Công Thương (Bộ CT), thực hiện các nhiệm vụ của Kế hoạch
“Giảm thiểu phát thải PCB vào môi trường, loại bỏ việc sử dụng PCB trong các thiết
bị, máy móc từ nay đến năm 2020 và tiêu huỷ an toàn PCB đến năm 2028” [5]
Bên cạnh những giải pháp kiểm tra, quản lý, theo dõi, thì việc cung cấp thông tin, truyền thông về CTNH nói chung và hợp chất nguy hại PCB nói riêng là một nhu cầu hết sức cần thiết, đây là một cách phòng ngừa hiệu quả nhất để bảo vệ môi trường, sức khỏe cũng như phát triển bền vững tránh xẩy ra những sự cố
Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn, luận văn: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông trong việc quản lý chất thải nguy hại PCB tại Việt Nam” với mục đích đánh giá xác thực hiện trạng truyền thông, mức
độ hiểu biết về chất thải PCB và từ đó đưa ra những giải pháp truyền thông nâng cao hiệu quả quản lý mang lại an toàn cho cộng đồng, cũng như đưa ra được những giải pháp truyền thông một cách phù hợp với CTNH PCB nói riêng và toàn bộ CTNH tại Việt Nam nói chung
2 Mục tiêu
- Hiện trạng truyền thông, mức độ hiểu biết về CTNH PCB tại Việt Nam
- Đề xuất giải pháp thúc đẩy truyền thông góp phần quản lý CTNH PCB tại Việt Nam
Trang 113 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác giả tập trung chủ yếu vào các đơn vị đại diện có tác động trực tiếp có vai trò như:
- Cán bộ quản lý, hoạch định chính sách, thanh tra, giám sát, kiểm soát hoạt động liên quan đến hóa chất nguy hiểm PCB và chất thải nguy hại;
- Người lao động và Cộng đồng xung quanh tại các khu vực có nghi nhiễm hoặc có nguy cơ chứa PCB;
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập, thống kê về truyền thông Việt Nam và CTNH PCB;
- Khảo sát hiểu biết về PCB đối với các đối tượng nghiên cứu đã đề ra;
- Đề xuất giải pháp cụ thể, thúc đẩy truyền thông và quản lý CTNH PCB tại Việt Nam
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Tổng quan hiện trạng truyền thông Việt Nam nói chung và truyền thông CTNH PCB nói riêng;
- Mức độ nhu cầu và hiểu biết về CTNH PCB ở các đối tượng có liên quan từ
đó đưa ra giải pháp truyền thông hóa chất nguy hại PCB hiệu quả
Trang 12- Nền móng cho các công trình nghiên cứu truyền thông cho CTNH PCB nói chung và các CTNH khác nói riêng
5 Cấu trúc luận văn
Kết cấu Luận văn: Luận Văn có kết cấu như sau
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Nội dung, phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về truyền thông
1.1.1 Truyền thông
a Định nghĩa về truyền thông
Lịch sử loài người cho thấy, con người có thể sống được với nhau, giao tiếp
và tương tác lẫn nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền thông (thông qua ngôn ngữ hoặc cử chỉ, điệu bộ, hành vi…để chuyển tải những thông điệp, biểu lộ thái độ cảm xúc) Qua quá trình truyền thông liên tục, con người sẽ có sự gắn kết với nhau, đồng thời có những thay đổi trong nhận thức và hành vi Chính vì vậy, truyền thông được xem là cơ sở để thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người, là nền tảng hình thành nên cộng đồng, xã hội Nói cách khác, truyền thông là 1 trong những hoạt động căn bản của bất cứ 1 tổ chức xã hội nào
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin Truyền thông
là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia
sẻ các qui tắc và tín hiệu chung Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi
và người nhận Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ [9]
Truyền thông thường gồm ba phần chính: Nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình [4] Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin
Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93% “ý
Trang 14nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia [10]
Hình thức truyền thông hiện nay được thể hiện qua nhiều cách khác nhau: Phổ biến như: Báo, Đài, Truyền hình, tờ rơi, áp phích, hội thảo, Mỗi một hình thức truyền thông đều mang tới cho người được tiếp cận một cách nhìn riêng trực quan khi tương tác với từng vấn đề đang được đề cập
b Vai trò và lợi của truyền thông
Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội Nhờ đến truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh trong công chúng Truyền thông có tác động lớn đến các nhóm đối tượng lớn như sau [14]:
Đối với chính quyền nhà nước:
Giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân về các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến với dân chúng, thuyết phục công chúng thay đổi về nhận thức và hành xử đúng pháp luật Ngoài
ra chính phủ cũng nhờ truyền thông để thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp lý Nhờ truyền thông mà nhà nước điều chính các chính sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong dân chúng
Truyền thông làm cho chính phủ, những người thừa hành pháp luật được trong sạch và minh bạch hơn, thông qua thông tin phản biện của các đối tượng dân chúng trong xã hội
Đối với công chúng:
Trang 15 Giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế văn hóa xã hội, pháp luật trong và ngoài nước Giúp người dân giải trí và học tập về phong cách sống những người xung quanh Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu Truyền thông đóng vai trò trong việc tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, thời trang…
Ngoài ra truyền thông còn giúp cho người dân phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình
Đối với nền kinh tế:
Nhờ có truyền thông mà doanh nghiệp có thể quảng bá sản phẩm và dịch vụ, giúp cho người mua nhận biết và sử dụng sản phẩm và dịch
vụ Truyền thông cũng tạo ra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, giúp các công ty tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, giúp kinh tế phát triển
Bản thân truyền thông cũng là một ngành kinh tế quan trọng của một quốc gia, giải quyết công ăn việc làm và tạo ra giá trị cho nền kinh tế
Truyền thông cũng là công cụ giúp cho người tiêu dùng phản ánh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các nhà sản xuất
c Tính 2 mặt của truyền thông
Truyền thông cũng có tính 2 mặt của nó nếu thông tin, hình ảnh truyền đi mang tính tiêu cực, thì tác động của truyền thông cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các đối tượng công chúng trong xã hội Nhất là những đối tượng thanh thiếu niên, những đối tượng có trình độ nhận thức còn thấp, không có khả năng chắt lọc thông tin, nếu thông tin từ truyền thông tiêu cực thì dễ bị lôi kéo và có những tác động tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng xã hội
Trong kinh tế, truyền thông tác động đến tiêu dùng của người dân giúp người dân tiêu dùng nhiều hơn, giúp kinh tế phát triển Tuy nhiên, truyền thông cũng tác động đến việc con người ngày càng tiêu dùng nhiều hơn so với nhu cầu cần thiết Con người ngày càng làm việc nhiều hơn để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng Các giá trị vật chất ngày càng được xã hội đánh giá cao hơn các giá trị tinh thần
Trang 16Sản xuất và tiêu dùng nhiều sẽ hủy diệt môi trường và tác động xấu đến đời sống của người dân
Cùng với đó việc lựa chọn thông tin một cách chính thống từ những trang được nhà nước công nhận là hết sức quan trọng, làm nền móng định hướng kinh tế
xã hội [14]
1.1.2 Thông tin, truyền thông tại Việt Nam
Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành Truyền thông Việt Nam đã có được tốc độ tăng trưởng cao cả về quy mô, doanh số, thị trường và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường ngày càng tăng, nhất là khi Luật Viễn thông, Luật Tần số vô tuyến điện đã mở rộng theo hướng cho phép tất cả các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ và thiết lập hạ tầng mạng viễn thông
Mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet trong nước, quốc tế, thông tin hàng hải và truyền báo luôn đảm bảo an toàn thông tin trong hoàn cảnh khó khăn do lũ, lụt, thiên tai Thông tin liên lạc từ trung ương đến địa phương luôn được thông suốt, phục vụ tốt các hoạt động, sự kiện lớn của đất nước cũng như công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
Lĩnh vực CNTT tiếp tục phát triển với năng suất và hiệu quả cao Theo thống
kê của Tổng cục Hải quan, lũy kế doanh thu xuất khẩu các sản phẩm máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại và linh kiện điện tử ước đạt 9 tỷ USD Số lượng doanh nghiệp không ngừng tăng lên, Việt Nam hiện đã có nhiều doanh nghiệp CNTT đạt quy mô trên 1.000 người với tổng số lao động ước tính khoảng 250 ngàn người [10]
Lĩnh vực báo chí tiếp tục phát triển về số lượng, chất lượng, hình thức và nội dung Tính đến nay, toàn quốc có 728 cơ quan báo chí in với hơn 900 ấn phẩm, trong đó các cơ quan trung ương có 76 báo, 431 tạp chí; địa phương có 103 báo,
118 tạp chí Mạng lưới PTTH có 67 đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương, trong đó có 03 đài phủ sóng toàn quốc, gồm có đài tiếng nói Việt Nam, đài truyền hình Việt Nam và đài truyền hình kỹ thuật số VTC; 67 Đài Phát thanh,
Trang 17truyền hình địa phương gồm 64 đài phát thanh, truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương [2]
1.2 Thông tin về chất thải nguy hại PCB
1.2.1 Nguồn gốc của PCB
PCB là từ viết tắt của các chữ tiếng Anh Polychlorinated Biphenyls, là nhóm chất hữu cơ thuộc danh sách các nhóm chất POP PCB là một nhóm hợp chất thơm của halogen được tạo thành khi thay thế từ 1 đến 10 nguyên tử hiđro trong phân tử biphenyl bằng các nguyên tử clo PCB có 10 đồng đẳng và 209 đồng phân, trong đó
130 đồng phân được sản xuất thương mại PCB tồn tại ở thể lỏng tại nhiệt độ thường, không mùi, không vị, có màu từ trong suốt đến vàng nhạt và không thể phát hiện bằng mắt thường PCB có xu hướng tồn tại bền vững trong mọi môi trường Mức độ phân hủy hoặc chuyển hóa PCB phụ thuộc vào số lượng nguyên tử clo và
vị trí thế của chúng PCB có thời gian bán hủy trung bình trong đất, trầm tích, nước mặt là 6 năm [20]
POP là từ viết tắt của các chữ tiếng Anh Persistant Organic Polutants, được dùng cho các hóa chất/nhóm hóa chất hữu cơ độc hại bền vững trong môi trường với 4 đặc tính chính: (i) độc tính cao; (ii) khó phân hủy trong môi trường tự nhiên; (iii) khả năng di chuyển và phát tán xa; (iiii) khả năng tích tụ sinh học cao: hấp thụ
dễ dàng vào các mô mỡ và tích tụ trong cơ thể của các sinh vật sống (tích tụ sinh học) theo chuỗi thức ăn POP gây nguy hại đến sức khoẻ con người và môi trường [1] PCB không sinh ra trong tự nhiên mà do con người sản xuất thành các sản phẩm công nghiệp dưới nhiều tên thương mại khác nhau (Aroclor, Askarel ) PCB được tổng hợp lần đầu tiên tại Đức vào năm 1881, và thương mại hóa năm 1929 bởi Công ty hóa chất Swann (Mỹ) như một chất phụ gia được sử dụng trong một số ngành công nghiệp như dầu cách điện máy biến thế và tụ điện, dầu thủy lực và dầu cắt công nghiệp, sơn, mực in, giấy không chứa carbon, chất dính, chất bôi trơn, chất bịt kín, chất làm dẻo trong PVC và cao su nhân tạo, thuốc trừ sâu, chất chống cháy (trong vải, thảm, bọt polyurethane,…) Sau khi phát hiện tính độc hại của chất này,
Trang 18nhiều nước trên thế giới đã dừng sản xuất PCB từ những năm 1970 Theo thống kê,
từ năm 1930 đến 1993, thế giới đã sản xuất 1,3 triệu tấn PCB, trong đó chỉ có 4% bị phân hủy, 31% tồn tại trong môi trường (đất liền và ven biển), phần còn lại tập trung chủ yếu ở ngành điện, là chất phụ gia trong dầu của các thiết bị điện như máy biến thế, tụ điện [21]
1.2.2 PCB xuất hiện ở đâu
PCB có thể được tìm thấy trong sản phẩm, hàng hóa được sản xuất trước năm 2000 hoặc các sản phẩm, hàng hóa bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm chéo PCB
- Công nghiệp: Máy biến áp, tụ điện, máy cắt, thiết bị nâng hạ thủy lực,…;
- Dân dụng: Linh kiện điện tử, sản phẩm chống cháy, chống thấm, sơn, chất kết dính trong tòa nhà cũ, ;
- Môi trường: môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí chủ yếu là trong các trầm tích); Chuỗi thức ăn (sinh vật thủy sinh, thủy sản (trong nước) và gia cầm (trên cạn) )
1.2.3 PCB ảnh hưởng tới sức khỏe
Trong sản xuất cũng như sinh hoạt, khi phơi nhiễm, PCB được “ngấm dần” trong cơ thể và chỉ khi đạt một ngưỡng nhất định mới phát sinh các triệu chứng để nhận biết Do tính độc, bền và dễ lưu giữ trong các mô mỡ của PCB, việc chữa chạy
sẽ khó khăn và hệ quả có thể ảnh hưởng đến thế hệ tiếp theo Do đó, các nhà khoa học còn gọi PCB là “sát thủ vô hình” đối với sức khỏe Trong số 209 đồng phân của
PCB, có tới 12 PCB đồng phẳng được so sánh tương tự Dioxin [22] Độ độc tương
đương TEF của các đồng phẳng này so với Dioxin có tính độc cao nhất (2,3,7,8 - TCDD) dao động từ 0,00003 đến 0,1 ppm, trong đó PCB-126 là loại có độ độc cao nhất PCB thương mại được sử dụng trong các ứng dụng bao gồm: tập hợp nhiều đồng phân PCB, trong đó có cả các đồng phẳng và có độ độc khác nhau Triệu chứng khi nhiễm độc PCB là chán ăn, buồn nôn, đau vùng bụng, , biến đổi cấu trúc
da và móng tay như phù, mụn, bỏng, trầy xước, ban đỏ, khô ngứa , đau đầu, suy nhược thần kinh, hoa mắt, mất trí nhớ, hoảng loạn, bất lực hoặc các biểu hiện như
Trang 19viêm gan, gan to, rối loạn tiêu hóa, huyết niệu, bỏng mắt, biến đổi một số men trong máu PCB có thể gây ra ảnh hưởng cấp tính và mãn tính đối với sức khỏe, tác động lên hệ thần kinh, hệ sinh sản, hệ tiêu hóa, hệ miễn dịch, phát sinh các khối u
Cụ thể hơn, khi phơi nhiễm PCB, con người có thể gặp các bệnh liên quan đến hệ thần kinh (tê liệt, đau đầu, run rẩy chân tay), quá trình sinh sản (giảm khả năng sinh sản của nữ giới và số lượng tinh trùng ở nam giới), phát sinh các khối u
và ung thư (hệ tiêu hóa, hệ bạch huyết, gan, da) PCB làm tăng kích thước và cản trở sự hoạt động bình thường của tuyến nội tiết, như làm giảm lượng các homon tuyến giáp ở người, ảnh hưởng đến sự trưởng thành và phát triển của cơ thể Ngoài
ra, PCB còn gây ảnh hưởng đến hệ miễn dịch như làm teo các cơ quan và làm giảm lượng bạch cầu máu
Chưa thể kết luận PCB là nguyên nhân gây ra ung thư PCB được xếp vào nhóm 2A các chất có khả năng gây ung thư (chưa đủ minh chứng gây ung thư trên người, đã đủ bằng chứng trên động vật) PCB có liên quan đến nguy cơ ung thư hệ tiêu hoá, gan và da, thậm chí nếu hàm lượng PCB trong máu cao có thể liên quan tới ung thư hệ bạch huyết Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa PCB và ung thư hiện
Trang 20thương mại Kết quả cho thấy có 62/295 trường hợp bị tử vong do ung thư [20]
1.2.4 PCB trong môi trường
PCB được tìm thấy trong trầm tích, đất, nước, không khí và trong chuỗi thức
ăn Sự phân hủy PCB trong môi trường diễn ra chậm, phụ thuộc vào số nguyên tử
và vị trí của clo trong đồng phân, sự có mặt của ánh sáng mặt trời và vi khuẩn Thời gian bán hủy của PCB có thể dao động từ vài ngày đến vài năm Việt Nam đã có các kết quả nghiên cứu PCB trong môi trường với nồng độ ô nhiễm cao
Trong môi trường, PCB có thể di chuyển với khoảng cách dài và tích tụ theo thời gian PCB được tìm thấy trong trầm tích, đất, nước, không khí, cũng như trong chuỗi thức ăn, thậm chí tại nơi không có các hoạt động công nghiệp Do ít tan trong nước, PCB có xu hướng tách khỏi pha nước và hấp phụ trên bề mặt đất, trầm tích hoặc các hạt keo lơ lửng Từ đất, PCB có thể được tích tụ trong hoa màu, sâu bọ, côn trùng, và chuyển đến chim và động vật có vú PCB bị phân hủy chậm trong đất bởi các vi sinh vật, thậm chí trong điều kiện thiếu oxy Thời gian bán hủy trung bình của PCB trong đất là 6 năm Trong nước, PCB ít hòa tan và có xu hướng lắng đọng trong trầm tích, trên bề mặt vật thể hữu cơ, các hạt rắn lơ lửng PCB có thể chuyển từ nước vào không khí khi gặp nhiệt độ cao và khi nồng độ trong trầm tích cao Trong vùng nước nông, dưới ánh sáng mùa hè, thời gian bán hủy PCB là 17 đến 210 ngày Các loài cá lớn trong chuỗi thức ăn và động vật đáy tích lũy PCB với lượng cao [4]
Trong không khí, PCB bám trong bụi và các hạt bụi than, được vận chuyển đến môi trường nước và đất nhờ quá trình lắng đọng (mưa, tuyết, hạt lơ lửng) hoặc
do côn trùng PCB trong không khí có xu hướng phản ứng với ozone và nước dưới tác động của ánh sáng mặt trời Thời gian bán hủy của PCB trong không khí là 4 đến 83 ngày (đối với phân tử có từ 1 đến 5 nguyên tử clo) Nồng độ PCB trong không khí ở vùng nông thôn thấp hơn đô thị tại những nơi có hoạt động công nghệp phát triển Ví dụ, tại Balti-more (Maryland, Mỹ), nồng độ PCB tại khu vực đô thị
là 0,38 - 3,36 ng/m3, trong khi đó tại nông thôn là 0,02 - 0,34 ng/m3 [4]
PCB được tìm thấy trong các mô mỡ của động vật, đặc biệt là trong động vật
Trang 21bậc cao của chuỗi thức ăn PCB được vận chuyển bởi sâu bọ, cua, hoa màu, và thậm chí cả một số loài chim, cá và động vật có vú Các loại động vật cuối trong chuỗi thức ăn như cá lớn, cá thuộc loại động vật có vú được tích tụ PCB cao hơn hẳn các loại thủy sinh Năm 1966, Tiến sĩ Jensen công bố nghiên cứu về việc phát hiện PCB trong 200 con cá măng, một số loài cá khác và đại bàng tại Thụy Điển và đề cập đến khả năng “tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn” của PCB [22]
1.2.5 PCB Trên thế giới và Việt Nam
1.2.5.1 Trên thế giới
Hiện nay, PCB không còn được sản xuất trên thế giới nhưng đã có trên 1,3 triệu tấn PCB được sản xuất trong giai đoạn 1930-1993 để sử dụng làm chất phụ gia trong dầu của các thiết bị điện, thiết bị công nghiệp và thậm chí là các sản phẩm gia dụng PCB có thể được phát tán ra môi trường trong quá trình sử dụng và thải bỏ do các sự cố tràn dầu, rò rỉ, cháy nổ hoặc do thải bỏ không đúng nơi quy định Một lượng nhỏ PCB cũng được sinh ra không chủ định trong quá trình sản xuất
Mặc dù đã bị cấm từ cuối những năm 1970, nhưng những vụ rò rỉ chất độc PCB trong quá khứ cũng đã kịp gây ra nhiều nỗi kinh hoàng cho hàng vạn nạn nhân trên thế giới Kèm theo đó là hàng tỷ USD mà Chính phủ các nước đã phải chi ra để
xử lý hậu quả [18]
Năm 1968, tại Nhật Bản, 14.000 người bị ngộ độc hóa chất sau khi ăn phải loại dầu ăn bị nhiễm PCB Trong số đó, gần 2.000 người bị phơi nhiễm rất nặng, gây ra các chứng bệnh mãn tính suốt đời Từ năm 1982-1985, Tòa án Fukuoka đã công nhận 1.082 bệnh nhân nhiễm độc và buộc hai công ty gây ô nhiễm dầu ăn cùng Chính phủ Nhật đền bù khoản bồi thường 13 tỷ Yen (khoảng 2.700 tỷ VND)
Năm 1977, chính quyền bang New York - Mỹ đã phải ra lệnh cấm sử dụng
cá được đánh bắt từ sông Hudson làm nguyên liệu chế biến thực phẩm sau khi phát hiện nồng độ PCB cao hơn mức cho phép Đây là kết quả của việc công ty General Electric thải trên 450 tấn PCB xuống sông cách đó 30 năm Theo ước tính, chi phí
để khắc phục hậu quả môi trường lên tới 500 triệu USD
Trang 22Tháng 1/1999, nước Bỉ khiến thế giới chấn động với thông tin hàng ngàn trang trại bị nhiễm chất độc PCB chứa dioxin Vụ việc xảy ra sau khi một hỗn hợp PCB bị trộn lẫn vào lượng chất béo tái chế dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Bỉ
100 lít dầu PCB đã làm nhiễm độc 500 tấn thức ăn cho gia súc và gây ảnh hưởng tới 2.500 trang trại chăn nuôi ở Bỉ và một số quốc gia khác ở châu Âu Sự cố này đã buộc Bỉ phải tiêu tốn 625 triệu Euro để xử lý [18]
Năm 2003, Tòa án tại Anniston (Alabama, Hoa Kỳ) phạt hãng Mosanto 700 triệu USD vì thải chất độc PCB ra môi trường, trong đó 600 triệu USD được dùng
để bồi thường cho các nạn nhân bị ảnh hưởng Ngoài việc bồi thường bằng tiền mặt, một phòng khám y tế - môi trường và cơ sở nghiên cứu ở Anniston với chi phí 75 triệu USD được thiết lập trong 20 năm để cung cấp thuốc miễn phí theo đơn thuốc
và khám sức khỏe [18]
Ngày 26/7/2010, hơn 260.000 lít dầu đã tràn ra sông Kalamazoo, phía bắc bang Michigan (Mỹ) Mặc dù công tác dọn dẹp dầu tràn được thực hiện ngay lập tức, nhưng gần 7 triệu m3 đất ở dưới lòng sông đã bị nhiễm độc PCB Việc khắc phục hậu quả môi trường ước tính sẽ tiêu tốn chi phí từ 350-450 triệu USD [7]
Vì những hậu quả nghiêm trọng nên sau vụ "Ngộ độc Yusho" năm 1968 do dầu cám nhiễm PCB tại miền Bắc, Nhật Bản làm hàng nghìn người bị ngộ độc, năm
1973, Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên hạn chế sử dụng và xây dựng các chính sách kiểm soát, quản lý PCB [19]
Cho đến năm 2015, 182 nước đã cam kết đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu phơi nhiễm và rủi ro từ các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, trong đó có PCB bằng việc thông qua một hiệp ước toàn cầu có tên gọi là Công ước Stốckhôm, các vấn đề liên quan đến việc thực hiện Công ước bao gồm: Các biện pháp để giảm hoặc loại bỏ các hợp chất hữu cơ khó phân hủy PCB/POP như DDT, Polychlorinated biphenyls,… Xác định và đánh giá lại danh mục các chất hữu cơ khó phân hủy, trên cơ sở đó xây dựng các kế hoạch nhằm giảm thiểu và thải bỏ hoàn toàn các hợp chất này trong đời sống
Ở một số nước, việc phòng tránh phơi nhiễm PCB với người lao động được
Trang 23quy định thông qua khung pháp lý về an toàn vệ sinh môi trường Ví dụ, tại Niu
Di-lân, Bộ Y tế đã ban hành quy định: "Người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với các chất lỏng chứa PCB phải mặc quần áo bảo vệ chuyên dụng không thấm PCB như găng tay, giầy ống bằng cao su hoặc ủng, áo liền quần và yếm tạp để bao phủ được phẩn trên của giầy; kính an toàn với các mặt chắn, kính bảo hộ an toàn hóa chất, hoặc tấm che mặt"
Ngoài ra, tại các nước phát triển như: Mỹ, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Bỉ, Đan Mạch, Thụy Điển, nồng độ PCB trong môi trường không khí, đất, nước đều được quy định cụ thể như ở Mỹ, ngưỡng giới hạn về hàm lượng PCB trong không khí tại nơi làm việc với thời gian làm việc là 8 tiếng/ngày, 40 tiếng/tuần là 1,0 mg/m3
(PCB
có hàm lượng chlorine 42%) và 0,5 mg/m3 (PCB có hàm lượng chlorine 54%); Ngưỡng quy định vẽ nồng độ PCB tại nơi làm việc thấp nhất là ở Thụy Điển, với mức cho phép là 0,01 mg/m3
Không chỉ với môi trường, nồng độ PCB trong thực phẩm cũng được quy định với nước uống, sữa và các sản phẩm từ sữa, với thực phẩm như thịt và sản phẩm thịt lợn, bò, cừu, gia cầm, cá, thậm chí đối với cả bao gói thực phẩm bằng nhựa tại các nước châu Âu và Mỹ Cục BVMT Mỹ (EPA) đã đưa ra cảnh báo, người dân có nguy cơ phơi nhiễm PCB cao nhất thông qua con đường tiêu hóa khi
ăn các loài cá, thịt gia cầm và sữa mẹ bị nhiễm PCB Ngày 19/12/2006, ủy ban châu
Âu đã ban hành Quy định số 1881/2006 về giới hạn tối đa các chất nhiễm bẩn trong thực phẩm, theo đó, hàm lượng tối đa tổng Dioxin và các chất PCB giống Dioxin (WHO-PCDD/F-PCB-TEQ) trong thực phẩm dao động từ 1,5 - 6 pg/g chất béo [19]
1.2.5.2 Tại Việt Nam
Việt Nam không sản xuất PCB nhưng nhập khẩu thiết bị và dầu có khả năng chứa PCB như: dầu biến thế, dầu cách điện, dầu công nghiệp (dầu thuỷ lực, dầu turbine khí, dầu bôi trơn và chất phụ gia nhựa) từ cuối những năm 1940 và đã ngừng nhập khẩu vào khoảng những năm 1980, khi các nước trên thế giới ngừng sản xuất PCB do bắt đầu ý thức được mức độ nguy hiểm, độc hại của PCB đối với
Trang 24con người và môi trường
Các nước trên thế giới đã đồng loạt dừng sản xuất PCB từ những năm 70 do hợp chất này được phát hiện có gây độc với con người và môi trường Còn tại VN, theo ước tính có 27.000 - 30.000 tấn dầu có chứa PCB đã được nhập khẩu vào VN, trong đó chỉ 2.000 tấn dầu được phát hiện có chứa PCB theo kết quả kiểm kê của năm 2006 và đã được nhận diện, cách ly Số còn lại vẫn đang được sử dụng trong các thiết bị điện dân dụng, tại các cơ sở lưu giữ, tái chế hoặc đang được phát thải ra môi trường [4]
Gần đây, Bộ Tài nguyên Môi trường phối hợp với Bộ Công thương tiến hành kiểm kê PCB trên toàn quốc nhằm xác định các thiết bị, dầu nghi nhiễm/có chất PCB Việc kiểm tra tập trung vào các thiết bị điện, các thiết bị khác sử dụng dầu có khả năng có PCB (nâng hạ thủy lực bơm,…), dầu lưu giữ, chất thải;… Phạm vi kiểm kê được tập trung 64 tỉnh thành, tập đoàn Điện lực VN (EVN) và các DN khác ngoài ngành
Qua kiểm kê PCB ngoài ngành điện tại 50/63 tỉnh thành, kết quả cho thấy đã
có gần 36.000 thiết bị, bao gồm các thiết bị sản xuất trước năm 1995 (6.000 máy),
từ năm 1996 - 2000 (9.000 máy) và thiết bị không có thông tin (21.000 máy) bị nghi ngờ có PCB Đối với ngành điện, có tới 180.000 máy biến áp bị nghi ngờ có PCB Qua phân tích nhanh PCB đối với 24.300 máy cho thấy: số lượng nồng độ PCB dưới 5ppm chiếm hơn 10%, từ 5-50 ppm chiếm 8%, trên 50ppm chiếm 82% Theo quy định của VN, khi phát hiện hàm lượng PCB trong sản phẩm ở mức 10ppm thì phải xử lý Điều này cho thấy mối nguy hại của PCB còn đang hiện hữu, cần phải được quản lý chặt chẽ [6]
Các mẫu trầm tích lấy từ sông Nhuệ, Tô Lịch, Lù, Sét, Kim Ngưu và hồ Yên
Sở cho thấy nồng độ của PCB trong trầm tích cao (1,3 - 384 ng/g), tương đương với các điểm ô nhiễm PCB trên thế giới như cảng Alexan- dria (Ai cập), Cảng Macao (Trung quốc) Nồng độ này tăng lên đáng kể so với nồng độ trầm tích dao động từ 0,79 - 40 ng/g vào năm 1997 [12]
PCB trong trầm tích Sông Sài gòn-Đồng Nai, kênh rạch và cửa sông vùng
Trang 25phát triển công nghiệp nhất thành phố Hồ Chí Minh là 0,05 - 150 ng/g [10] PCB trong nước tại các sông Nhuệ, Tô Lịch, Lù, Sét, Kim Ngưu và hồ Yên Sở tại Hà nội dao động từ 8,6 - 88 ng/l, tương đối cao so với các điểm ô nhiễm PCB được công bố trên thế giới [13]
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu tại Cần Thơ và Cao Lãnh cho thấy nồng
độ PCB trong cá dao động từ 1 - 80 ng/g chất béo, trong đó nồng độ PCB trung bình trong cá nuôi là 13 ng/g chất béo và trong cá gần khu vực thải bỏ chất thải là 50 ng/g chất béo, con người phơi nhiễm PCB thông qua môi trường, bao gồm cả chuỗi thức ăn [17]
Tại Việt Nam công tác quản lý PCB được thể hiện qua việc kiểm kê lượng PCB được nhập vào sau những năm sử dụng và cùng với đó thực hiện kế hoạch hành động quốc gia và Công ước Stockholm về các hợp chất POP Việt Nam sẽ giảm thiểu phát thải PCB vào môi trường, loại bỏ việc sử dụng PCB trong các thiết
bị, máy móc vào năm 2020 (sớm hơn so với yêu cầu của công ước) và tiêu hủy an toàn PCB vào năm 2028 [5]
Bên cạnh đó, để quản lý PCB hiệu quả thì việc tăng cường năng lực cho các nhà quản lý, các doanh nghiệp, tập đoàn, trong việc quản lý PCB cũng rất quan trọng Bộ Công Thương đã và đang tiến hành lồng ghép nội dung quản lý PCB vào các chương trình tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản, Tổng công ty Dệt May, Tổn công ty Thép … Ở từng DN cũng đang áp dụng biện pháp quản lý PCB chặt chẽ và an toàn
1.2.6 Truyền thông PCB trên thế giới & Việt Nam
Sau khi các sự cố về CTNH PCB được diễn ra, việc tuyên truyền nhận thức cảnh báo tại các nước được thực hiện một cách rõ rệt bằng các phương tiện truyền thông tại mỗi thời điểm Tuy nhiên số liệu không rõ ràng vì đây là một trong những sản phẩm không liệt kê và nằm xen lẫn giữa các hình thức và theo nghiên cứu của tác giả thì cũng chưa có đánh giá hiện trạng truyền thông riêng về CTNH và đặc biệt là về PCB Cũng như thế giới, theo tác giả tìm hiểu hiện nay tại Việt Nam chưa xảy ra sự cố nào về PCB, mới chỉ dừng lại ở việc thống kê lượng dầu có chứa chất
Trang 26thải và đưa ra phương án xử lý và lưu trú
Gần đây nhất từ tháng 11/2007, Công ty cổ phần đầu tư Cửu Long Vinashin (nay là Công ty cổ phần đầu tư Cửu Long) có trụ sở tại thành phố Hải Phòng nhập
về một lô hàng thiết bị điện gồm các máy biến thế đã qua sử dụng tại Hàn Quốc được sản xuất trước năm 1975, để phục vụ cho việc xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (Nam Định), nhưng dự án nhà máy nhiệt điện Sông Hồng không được triển khai nên lô hàng trên nằm tồn kho tại Cảng Cái Lân từ đó đến nay Tuy nhiên qua kiểm tra, các cơ quan chức năng phát hiện có chất PCB trong lô hàng 7 nghìn lít dầu chứa hóa chất độc đang nằm chờ ở Cảng Cái Lân, cách Vịnh Hạ Long chỉ chừng 200 mét Khi yêu cầu giải trình phía công ty này cho biết không thể tái xuất
về Hàn Quốc do đối tác xuất khẩu không chấp nhận lại nữa
Để đảm bảo các yếu tố về môi trường, trong khi chưa có biện pháp để xử lý, tháng 5/2014, Công ty cổ phần đầu tư Cửu Long, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, Chi cục Hải quan cảng Cái Lân đã đóng gói gần 6.900 lít dầu nhiễm PCB vào 35 thùng phi và được cất trong 2 container (1 container 40 feet và1 container 20 feet) được đặt tại khu vực kho bãi của công ty TNHH MTV cảng Quảng Ninh, tính tới thời điểm này đã được xử lý tiêu huỷ an toàn tại nhà máy xi măng Công ty TNHH Xi măng Holcim Việt Nam [8]
Đây chính là bài học đắt giá nhất theo tác giả nhận định, tốn kém chi phí kinh tế, chi phí thời gian thanh kiểm tra quản lý, xử lý hoá chất…Nếu như các phương tiện truyền thông quan tâm hơn nữa về PCB có những cảnh báo ngay từ ban đầu hay cung cấp những thông tin căn bản để nắm được những nguy hại có thể xẩy
ra Các cấp quản lý, các ngành, doanh nghiệp có kiến thức nắm bắt được những nguy cơ có thể gặp phải ngay từ ban đầu thì không có những sự cố đáng tiếc
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung thực hiện và khảo sát đánh giá truyền thông tại Việt Nam và thu thập số liệu tại các cơ quan quản lý gồm: Dự án Quản lý PCB tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, EVN,
2.2 Thời gian và đối tượng nghiên cứu
a) Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 02/2016 Thời gian hồi
cứu số liệu: Từ 3 - 5 năm gần đây
b) Đối tượng nghiên cứu: Các cán bộ quản lý, cộng đồng, công nhân tiếp xúc
với những thiết bị nghi nhiễm
Bảng 2.1 Mô tả nhóm đối tượng nghiên cứu
Cán bộ quản lý
Người ra quyết định hoặc ảnh hưởng đến thực hiện an toàn PCB trong môi trường làm việc, gồm:
Cán bộ quản lý nhà nước phụ trách công tác bảo
vệ môi trường, an toàn lao động và quản lý công nghiệp tại cấp trung ương và địa phương;
Cán bộ lãnh đạo tại doanh nghiệp
1 Lãnh đạo và chuyên viên Bộ/Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ/Sở Công Thương, Bộ/Sở Lao động, Thương binh
và Xã hội, Cục Hải Quan (Bộ Tài chính), Cục quản lý môi trường y tế
2 Lãnh đạo của các Doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)
3 Lãnh đạo của các Doanh nghiệp ngoài EVN
Người lao động Cán bộ công nhân viên tại
doanh nghiệp, bao gồm
1 Người lao động thuộc Doanh nghiệp trực thuộc EVN
Trang 28Nhóm đối tượng Mô tả Phân nhóm đối tượng
người lao động có khả năng tiếp xúc trực tiếp với dầu trong các hoạt động vận hành, bảo dưỡng, thí nghiệm, thủ kho và công nhân, các cán bộ quản lý cấp trung về an toàn và môi trường, về mua sắm, và các cán bộ công nhân viên khác trong doanh nghiệp
2 Người lao động thuộc các Doanh nghiệp ngoài EVN
Cộng đồng
Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp chịu tác động của PCB
và có khả năng hỗ trợ truyền thông PCB
1 Sinh viên
2 Cộng đồng xung quanh nhà máy nghi nhiễm PCB
3 Nhà báo
2.3 Phương pháp tiếp cận
Để giải quyết vấn đề truyền thông không thể tiến hành các nỗ lực riêng rẽ mà cần phải giải quyết tất cả các nhân tố tác động đến truyền thông, các phương tiện truyền thông trong một hệ thống hoàn chỉnh từ lúc nhận thức các yêu cầu của đối tượng đến lúc thỏa mãn các yêu cầu đó
Tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận vấn đề nghiên cứu qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng, đây là một cách tiếp cận toàn diện và rộng Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống là các thành phần có liên quan như truyền thông, môi trường, chất thải nguy hại, các tác động và xu thế biến đổi được xác định Tiếp cận qua khảo sát phỏng vấn bảng hỏi qua hệ thống số liệu truyền thông, các tài liệu, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan [14]
Trang 292.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu
a Thu thập, tổng hợp và kế thừa các thông tin, số liệu thứ cấp từ các tài liệu
có liên quan đến nghiên cứu
b Các số liệu cần thu thập bao gồm:
- Số liệu thu thập về nhu cầu thông tin, loại hình truyền thông,
- Thông tin về chất thải nguy hại PCB, nguồn gốc, sự tồn tại, nơi xuất hiện, ảnh hưởng tới môi trường và con người,
- Số liệu lịch sử về các tác động do thiếu thông tin chất thải nguy hại nói riêng
và PCB nói chung,
Ngoài ra đề tài còn tham khảo số liệu tại: “Báo cáo tổng hợp dự án Quản lý PCB tại Việt Nam năm 2014”, “Báo Cáo thị trường truyền thông tại Việt Nam”,
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu KAP
Phương pháp nghiên cứu hiện trạng Hiểu biết - Thái độ - Hành Vi (KAP) nhằm mục đích thu thập số liệu cho việc các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả truyền thông và nhận thức của các đối tượng khảo sát mà mục tiêu Luận văn hướng tới KAP cho chúng ta biết nhận thức của con người, cảm nhận của con người và hành vi của con người về một vấn đề nghiên cứu Với mỗi nghiên cứu dựa trên KAP được thiết kế với từng đối tượng và bối cảnh cụ thể
KAP tập trung vào kiến thức ở chỗ đi vào xem xét cách hiểu của người tham gia nghiên cứu về chính vấn đền nghiên cứu;
KAP tập trung vào thái độ để xem xét những cảm xúc của người tham gia nghiên cứu cũng như những ý kiến của họ liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
KAP tập trung đến hành vi như là cách đề cập đến cách thức mà chính người tham gia nghiên cứu thể hiện hành vi của mình trong mối quan hệ với nhận thức và thái độ của họ về vấn đề nghiên cứu Có thể hiểu mô hình KAP tìm ra sự khác biệt giữa nhận thức-thái độ-hành vi của người tham gia nghiên cứu về một vấn đề
Trang 30nghiên cứu cụ thể Trong thực tế của cuộc sống, rất nhiều người có nhận thức đúng đắn nhưng hành vi lại không dựa trên nhận thức của họ (ví dụ, nhận thức và thái độ
về vấn đề tuân thủ luật giao thông, về vấn đề ùn tắc giao thông… nhưng hành vi của
họ vẫn biểu lộ ở chiều hướng khác: vẫn phóng xe vượt ấu, vượt đèn đỏ, đi ngược chiều…) KAP sẽ tạo cho một bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu về KAP được tiến hành lặp để đo lường sự biến đổi của chủ thể nghiên cứu
Một tiến trình nghiên cứu về KAP thường được thực hiện ở các bước:
1 Xác định nội dung (về K-A-P);
2 Xác định đối tượng nghiên cứu và lượng mẫu cho nghiên cứu;
3 Lấy thông tin qua các hình thức bảng hỏi bằng giấy, trực tuyến, gửi qua thư tín, hoặc điện thoại;
4 Phân tích và viết kết quả
Ở Việt Nam, mô hình KAP được áp dụng nhiều ở các chương trình đánh giá của các tổ chức quốc tế như UNICEF, World Bank, UNDP, … mô hình nghiên cứu này được đánh giá là mang liệu hiệu quả kinh tế cao và giá trị khoa học tin cậy KAP rất phù hợp trong nghiên cứu và nhìn nhận các vấn đề của thân chủ trong công tác xã hội Đấy là cách nhìn dựa trên quan điểm kiến tạo luận xã hội Hiểu được vấn đề chung liên quan đến thân chủ trước khi đi vào đánh giá điểm mạnh-yếu-khả năng can thiệp
Nghiên cứu với KAP cũng cần kết hợp các phương pháp thu thập thông tin khác, đặc biệt là phỏng vấn KAP trang bị cho bức tranh chung, còn phỏng vấn hay quan sát cho biết được những đường nét cụ thể của bức tranh đó
Việc tìm hiểu về vấn đề hiện trạng truyền thông về PCB tại Việt Nam là một khía cạnh quan trọng nhưng bên cạnh đó một phần không kém phần cốt lõi là nhận
Trang 31thức hiện nay về chất thải nguy hại PCB, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp cụ thể và chính xác nhất dựa trên những gì thu thập được
Cùng với việc tham vấn những thông tin về PCB, tài liệu, các văn bản chính sách chính cũng đã được tham khảo để thiết kế phương pháp nghiên cứu KAP Các tài liệu cơ sở cho luận văn này bao gồm:
- Các văn bản pháp lý liên quan PCB;
- Các báo cáo liên quan đến PCB;
- Các tài liệu nghiên cứu về PCB tại Việt Nam
2.4.2.1 Xác định các vấn đề nghiên cứu KAP
Các vấn đề chính sau đây được xác định để nghiên cứu hiện trạng hiểu biết - thái độ - hành vi về PCB cho mỗi nhóm đối tượng:
Bảng 2.2 Các vấn đề về KAP theo mỗi đối tượng
Quản lý
Người lao động Cộng đồng
KIẾN THỨC CHUNG
Khả năng nhận biết thiết bị/vật liệu/chất thải
Kiến thức về rủi ro từ ô nhiễm PCB đến sức
Kiến thức về rủi ro đối với sức khỏe do nước
KIẾN THỨC VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LÝ
Trang 32Nội dung Khảo sát KAP Cán bộ
Quản lý
Người lao động Cộng đồng THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH AN TOÀN
Kiến thức về vận chuyển an toàn các thiết
Thái độ đối với vấn đề rủi ro sức khỏe khi
vận chuyển và lưu giữ thiết bị/vật liệu/chất
thải chứa PCB
x
Thái độ đối với rủi ro cho môi trường và sức
Thải độ đối với rủi ro do tai nạn bao gồm rò
rỉ, cháy đối với thiết bị/vật liệu/chất thải chứa
PCB
x
Thực hiện vận chuyển thiết bị/vật liệu/chất
Thức hành lưu giữ thiết bị/vật liệu/chất thải
Thực hiện sử dụng phương tiện bảo hộ lao
động trong vận chuyển các thiết bị/vật
liệu/chất thải có khả năng chứa PCB
x
Thực hiện tuân thủ theo quy định pháp lý x
Hành động cảnh giác với thức ăn có thể nghi
nghiễm PCB (hoặc các biện pháp phòng ngừa
khác)
x
Các vấn đề trên được đưa ra thành các nội dung trong phiếu điều tra được
đính kèm trong phụ lục của luận văn
Trang 332.4.2.2 Cách tiếp cận nghiên cứu KAP
Phương pháp chính là bằng phiếu điều tra có kết hợp gọi lại, kiểm tra thông tin, hay trực tiếp trao đổi lấy mẫu Khảo sát bằng phiếu điều tra trên 3 đối tượng là: Cán bộ quản lý, công nhân, cộng đồng (cộng đồng dân cư (xung quanh nhà máy sản xuất điện, sản xuất công nghiệp và khu xử lý chất thải), sinh viên các ngành công nghiệp và môi trường và Phóng viên báo chí)
2.4.2.3 Quy mô nghiên cứu KAP
Quy mô mẫu và phương pháp nghiên cứu của 3 nhóm đối tượng được xác định dựa trên kết quả đánh giá tầm quan trọng và dựa vào những đặc điểm nguồn phát thải PCB:
Cán bộ quản lý
- Phỏng vấn: 38 Cán bộ quản lý từ trung ương đến địa phương và doanh nghiệp,
bao gồm:
Cán bộ cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương
Cán bộ cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh thành
Lãnh đạo và cán bộ quản lý của doanh nghiệp thuộc EVN;
Cán bộ quản lý của doanh nghiệp ngoài EVN
Cán bộ phân tích phòng thí nghiệm của các Phòng thí nghiệm, trung tâm phân tích cấp trung ương và của các Viện nghiên cứu, trường Đại học
- Phiếu điều tra: 210 phiếu điều tra trong nhóm sau:
Cơ quan quản lý nhà nước
Doanh nghiệp thuộc EVN;
Doanh nghiệp ngoài EVN theo danh sách các Doanh nghiệp tiêu thụ năng lượng trọng điểm của Bộ Công Thương
Trang 34Người lao động
150 Phiếu điều tra được sử dụng để khảo sát nhóm đối tượng này Những cán
bộ công nhân viên được chọn là những người thường xuyên phải tiếp xúc với dầu biến thế, mẫu phân tích, chất thải nguy hại…
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu từ diều tra bảng hỏi
Phương pháp này giúp có cái nhìn sơ bộ và tổng quan về đối tượng, đồng thời giúp kiểm tra lại tính chính xác của những số liệu đã thu thập được từ đó xử lý thông tin tốt hơn trong bước tổng hợp phân tích
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Để đáp ứng mục tiêu đã đưa ra để phân tích dữ liệu và lập báo cáo luận văn được thực hiện theo đúng quy trình bao gồm: Kiểm tra số liệu, xử lý thống kê, xây dựng biểu đồ, Mối tương quan, nhận xét kết quả và từ đó có giải pháp thích hợp
Xử lý số liệu: Để đảm bảo độ tin cậy của kết quả kiên nghiên cứu, việc xử lý
số liệu nghiên cứu bằng các phần mềm chuyên ngành, thể hiện được kết quả nghiên cứu qua các sản phẩm trực quan, có tính ứng dụng cao như biểu đồ, bản đồ đóng vai trò quan trọng Số liệu nghiên cứu của luận văn được xử lý trên phần mềm: Excell
Trang 35CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả khảo sát truyền thông PCB tại Việt Nam
3.1.2 Các loại truyền thông tại Việt Nam
a Truyền hình [18]
Hiện cả nước có 67 đài PTTH (02 đài quốc gia là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC trước đây thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, nay đã chuyển sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam;
64 đài địa phương) Số kênh chương trình PTTH quảng bá là 183 kênh, với 106 kênh chương trình truyền hình quảng bá, 77 kênh chương trình phát thanh quảng bá
(năm 2015 cấp mới kênh FM cảm xúc và kênh Tiếng Anh 24/7; cấp mới 01 kênh truyền hình quảng bá, kênh Giáo dục - VTV7, cho đài Truyền hình Việt Nam); 75
kênh chương trình truyền hình trả tiền Cả nước có 05 đơn vị phát sóng truyền hình
số mặt đất và 03 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình vệ tinh; 27 nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp Số lượng thuê bao truyền hình số mặt đất đạt 7.000.000 thuê bao, tăng gấp đôi so với năm 2013; 973.000 thuê bao truyền hình số vệ tinh và 4.300.000 thuê bao truyền hình cáp
Trong giai đoạn 2011-2015, một số đơn vị mới tham gia hoạt động truyền hình, đánh dấu sự phát triển của truyền hình trong xu thế hội tụ và sử dụng chung hạ tầng, là các đơn vị: Đài Tiếng nói Việt Nam (Kênh Truyền hình VOV TV, Kênh Truyền hình Quốc hội); Trung tâm PTTH, Điện ảnh Công an nhân dân của Bộ Công
an (Kênh Truyền hình ANTV); Trung tâm Truyền hình thông tấn - TTXVN (Kênh VNews); Trung tâm PTTH Quân đội (Kênh Truyền hình Quốc phòng); Báo Nhân dân (Kênh Truyền hình Nhân dân) [13]
Tại Việt Nam từ lâu tivi đã trở thành phương tiện truyền thông không thể thiếu đối với hầu hết các hộ gia đình (HGĐ) và cho đến nay tỷ lệ HGĐ sở hữu ít nhất 1 TV vẫn vượt xa các phương tiện truyền thông khác như radio, đầu chơi băng/đĩa, dàn nghe nhạc v.v Mặt khác, tỷ lệ HGĐ có hơn 1 chiếc TV để đáp ứng nhu cầu xem khác nhau của các thành viên gia đình cũng đang ngày càng tăng [13]
Trang 36Kết quả khảo sát cho thấy đa số hộ gia đình ở khu vực nội thành của 4 thành phố hiện tại đã kết nối với các mạng truyền hình cáp Dẫn đầu là TPHCM với tỷ lệ 88% và Hà Nội 86% Ở Đà Nẵng và Cần Thơ, loại hình bắt sóng bằng Ăng-ten trời vẫn còn phổ biến và chiếm tỷ lệ lần lượt là 49.8% và 43.7% [14]
Các kênh truyền hình quảng bá vẫn chiếm thị phần lớn tại các thị trường tương ứng, điển hình HTV7, VTV3, VTV-Đà Nẵng, VL1 là các kênh dẫn đầu về thị phần khán giả trên 04 thành phố chính Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ Điềm nổi bật, ngoài thị trường Hà Nội, kênh VTV3 vẫn có thế mạnh lớn ở Đà Nẵng, Cần Thơ Xu hướng khán giả tập trung nhiều nhất để xem truyền hình vẫn là khung giờ trưa 12:00 – 13:00 và 19:00– 22:00 [13]
Đồ thị 1.1 Khung giờ các hộ gia đình xem thông tin truyền hình
Trang 37nhà mình tiếp nhận thông tin về các sự kiện thuộc đủ các lĩnh vực và mọi nơi trên trái đất một cách trực tiếp
Với mạng lưới phát sóng bao phủ khắp 64 tỉnh thành của cả nước, ngày nay radio vẫn là phương tiện truyền thông quan trọng không những đối với các khu vực nông thôn xa xôi mà ngay cả đối với các thành phố lớn ở Việt Nam Tỷ lệ người nghe radio ở các thành phố vẫn duy trì ở mức khá cao Nhìn chung tỷ lệ nghe radio
ở các khu vực phía Nam (TPHCM và Cần Thơ) cao hơn so với miền Trung và Bắc
bộ Trong đó, Cần Thơ chiếm tỷ lệ người nghe radio nhiều nhất với 36.2% dân số, xếp ngay sau là TP.HCM với 35.6% dân số khu vực thành thị có nghe radio hàng tuần [13]
Bảng 3.3 Tỷ lệ người nghe đài hàng thành phố
Nguồn: [18]
Nếu chỉ tính trong phạm vi 4 thành phố được khảo sát, kênh FM 99.9Mhz có
số lượng thính giả lớn nhất (xấp xỉ 22,4% dân số 4 thành phố) Tiếp đến là VOV giao thông với 20,2% dân số 4 thành phố Ngoài ra, khán giả nghe đài ở các khu vực khác nhau thường có sở thích khác nhau Như ở Hà Nội và TPHCM khán giả nghe nhiều VOV giao thông để tiện đi lại trong phố chật hẹp, trong khi ở Đà Nẵng VOV3 và FM 99.9 Mhz được nghe nhiều nhất, và 2 đài địa phương là Hậu Giang và Cần Thơ chiếm số lượng thính giả cao nhất khu vực Cần Thơ [18]
Trang 38Đồ thị 3.2 Tỷ lệ người nghe đài - Lượng thính giả Nguồn: [18]
c Báo và tạp chí (in)
Hiện cả nước có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương), 658 tạp chí (521 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương), 01 hãng thông tấn quốc gia Năm 2015, số lượng cơ quan báo chí
in tăng 12 cơ quan, chủ yếu là các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành của các trường đại học Nhiều cơ quan báo chí đã ra báo điện tử hoặc trang thông tin điện tử tổng hợp nhằm phục vụ nhu cầu thông tin nhanh của công chúng Trong 5 năm (2011-2015), số lượng báo chí tăng 71 cơ quan (05 báo, 66 tạp chí)
Bảng 3.4 10 tờ báo dẫn đầu về tỷ lệ độc giả tại 4 thành phố
Nguồn: [18]
Trang 39Bảng 3.5 10 tạp chí dẫn đầu về tỷ lệ độc giả tại 4 thành phố
Nguồn: [18]
d Tuyên truyền
Là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục người nghe nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành động theo đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương công tác Hội Hình thức này thường được sử dụng trong các bài giảng, báo cáo, bài thuyết trình, trong các buổi nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi, đối thoại, tọa đàm, tranh luận, hỏi đáp [7]…
Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất, dễ thực hiện nhất và cũng là hình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất
- Tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi hội, tổ hội, qua các câu lạc bộ, các khóa đào tạo tập huấn có liên quan tới nội dung cần thực hiện
- Tuyên truyền thông qua sử dụng hệ thống thông tin đại chúng
- Tuyên truyền thông qua hoạt động thư viện, sách báo, tranh ảnh, nhà văn hóa, câu lạc bộ, v.v ; các hình thức trực quan như khẩu hiệu, panô, áp phích,
tờ rơi, v.v
Trang 40- Tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tổ chức
lễ hội truyền thống Đây là hình thức tuyên truyền có bề rộng, dễ áp dụng vì được chuẩn bị kỹ, tiến hành thận trọng, khoa học
- Tuyên truyền thông qua các hoạt động tham quan thực tế, báo cáo điển hình, học tập gương người tốt, việc tốt
Việt Nam là một đất nước truyền thống với tinh thần đoàn kết cao trong những cuộc kháng chiến cũng như trong thời bình, việc tuyên truyền vận động được diễn ra khắp nơi và thường xuyên ở bất cứ nơi đâu từ thôn, bản xã đến thành phố Chưa có thống kê cụ thể về tuyên truyền tại Việt Nam nhưng đây là một hình thức phổ biến và có hiệu quả cao
d Báo thông tin điện tử và Mạng xã hội
Báo điện tử
Báo điện tử, báo trực tuyến, báo mạng hay tin tức trực tuyến là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet Báo mạng điện tử được xuất bản bởi Tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng, có kết nối Internet Khác với báo in, tin tức trên báo điện tử được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của Báo điện tử
đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống
Tại Việt Nam thông tin báo chí điện tử đã bùng nổ trong thời gian 5 năm qua với sự kết nối internert và các thiết bị di động máy tính bảng Dưới đây là thống kê
10 website được truy cập thường xuyên nhất tại Hà Nội & TP.HCM