Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá, lượng hóa kinh tế giá trị du lịch nhằm cung cấp thông tin phục vụ hoạch định quản lý và đề xuất các giải pháp quản lý gắn với bảo tồn các giá trị tài nguy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
PHAN THỊ QUỲNH LÊ
LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
PHAN THỊ QUỲNH LÊ
LƯỢNG HÓA GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THU HOA
Hà Nội – Năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn tốt nghiệp tại Lớp Cao học K10, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thu Hoa, người đã hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, các học viên Lớp Cao học K10, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành sản phẩm này
Tuy đã cố gắng nhưng bản Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để bản Luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng năm 2016
Học viên
Phan Thị Quỳnh Lê
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi, tất cả nội dung tham khảo đều đƣợc trích dẫn đầy đủ từ các nguồn tài liệu cụ thể Các kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng năm 2016
Học viên
Phan Thị Quỳnh Lê
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯỢNG HÓA KINH TẾ GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA 4
1.1 Cơ sở lý luận về lượng hóa giá trị du lịch VQG 4
1.1.1 Khái niệm Vườn quốc gia 4
1.1.2.Du lịch sinh thái 5
1.1.3 Tổng giá trị kinh tế hàng hóa và dịch vụ môi trường 6
1.2 Lượng giá hàng hóa, dịch vụ môi trường 8
1.2.1 Khái niệm lượng hóa kinh tế (lượng giá) giá trị tài nguyên và môi trường 8
1.2.2 Các phương pháp lượng giá tài nguyên và môi trường 9
1.3 Các nghiên cứu lượng giá giá trị du lịch trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 12
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 14
CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Giới thiệu VQG Bái Tử Long 20
2.1.1 Thông tin chung 20
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 24
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 28
2.1.4 Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tại Vườn quốc gia Bái Tử Long 31
2.2 Thời gian nghiên cứu: 39
Trang 62.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LƯỢNG HÓA KINH TẾ GIÁ TRỊ DU LỊCH VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG 52
3.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội của du khách tại VQG Bái Tử Long 52
3.1.1 Du khách quốc tế 52
3.1.2 Du khách trong nước 53
3.2 Đánh giá chung của du khách về du lịch tại VQG Bái Tử Long 55
3.3 Lượng giá giá trị du lịch Vườn quốc gia Bái Tử Long 57
3.3.1 Phân vùng địa điểm xuất phát của du khách 57
3.3.2 Xác định tỉ lệ du khách mỗi vùng 59
3.3.3 Xác định chi phí du lịch 59
3.3.4 Hàm cầu giải trí 63
3.3.5 Giá trị giải trí của VQG Bái Tử Long 64
3.4 Đánh khả năng chi trả thêm của du khách từ việc xây dựng hệ thống vé vào cửa 64
3.5 Bình luận về kết quả lượng hóa và đề xuất một số giải pháp quản lý VQG Bái Tử Long 69
3.5.1 Giải pháp về tài chính: 69
3.5.2 Một số giải pháp quản lý du lịch khác nhằm đảm bảo phát triển hài hòa giữa du lịch và bảo vệ môi trường tại VQG 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 74
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 76
PHỤ LỤC 79
Phụ lục 1 Bảng hỏi Phỏng vấn khách du lịch tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long - Q1: Khách du lịch nội địa 79
Phụ lục 2 Bai Tu Long National Park (BTLNP) Survey - Q2: International Tourists 85
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm 28
Bảng 2.2 Số lượng người sinh sống trong VQG 29
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất của VQG 30
Bảng 2.4 Số lượng khách du lịch đến đảo Vân Đồn qua các năm 32
Bảng 3.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội và thu nhập của du khách quốc tế 52
Bảng 3.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội và thu nhập của khách nội địa 54
Bảng 3.3 Mục đích du khách tới tham quan VQG Bái Tử Long 55
Bảng 3.4 Hoạt động ưa thích của du khách 56
Bảng 3.5 Đánh giá của du khách về chất lượng môi trường VQG Bái Tử Long 56
Bảng 3.6 Phân vùng khách du lịch 58
Bảng 3.7 Tỉ lệ du khách theo vùng xuất phát 59
Bảng 3.8 Chi phí đi lại của du khách 61
Bảng 3.9 Chi phí thời gian của du khách 62
Bảng 3.10 Chi phí ăn ở và các khoản chi phí khác của du khách tại VQG Bái Tử Long 62
Bảng 3.11 Bảng tổng hợp chi phí của du khách theo vùng 63
Bảng 3.12 Lí do du khách không sẵn lòng chi trả thêm cho mức giá vé vào cửa mới 65
Bảng 3.13 Mức sẵn lòng chi trả giá vé vào cửa mới của du khách tham quan VQG Bái Tử Long 65
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa, dịch vụ môi trường 6
Hình 1.2 Đồ thị hàm cầu giải trí 10
Hình 1.3 Đồ thị hàm cầu về giải trí trong TCM 46
Hình 2.1 Bản đồ phân khu quản lý/ Bảo vệ VQG BTL 21
Hình 2 2 Số lượng khách du lịch tại Bái Tử Long qua các năm 32
Hình 3.1 Đường cầu du lịch tại VQG Bái Tử Long 64
Hình 3.2 Tác động của trình độ học vấn và thu nhập tới WTP- du khách quốc tế 66 Hình 3.3 Tác động của thu nhập và tuổi tới WTP- du khách nội địa 66
Hình 3.4 Đường hồi qui tuyến tính WTP theo thu nhập học vấn tuổi của du khách quốc tế 67
Hình 3.5 Đường hồi qui tuyến tính WTP theo thu nhập học vấn tuổi của du khách nội địa 67
Trang 10MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên được xem như là một trong nhiều ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Theo đó, Việt Nam đã đưa ra nhiều công cụ, chính sách nhằm khoanh vùng diện tích
để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đang bị đe dọa và suy giảm bởi hoạt động của con người Trong các hình thức đó, việc thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên là một trong những biện pháp góp phần gia tăng những nỗ lực bảo tồn nguồn tài nguyên Thực tế cho thấy, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam thiết lập ngày càng nhiều nhằm duy trì những tài sản thiên nhiên quý giá cho thế thế hiện tại và mai sau Hiện nay Việt Nam đã thiết lập 164 Khu rừng đặc dụng (gồm có 30 Vườn quốc gia, 58 Khu bảo tồn thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, 45 Khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu khoa học, thực nghiệm)
Kinh nghiệm thế giới cho thấy thông tin về giá trị kinh tế của Vườn quốc gia (VQG) và Khu Bảo tồn (KBT) là một yếu tố đầu vào quan trọng cho việc quản lý hiệu quả các Vườn Tuy nhiên, tại Việt Nam các thông tin về giá trị kinh tế của các VQG còn rất thiếu, rời rạc và kém đồng bộ Mặc dù đã có 164 Khu rừng đặc dụng trên cả nước nhưng những quyết định quản lý, sử dụng tài nguyên tại các khu vực này vẫn mang tính hành chính, kỹ thuật trong khi các khía cạnh kinh tế chưa được nhìn nhận và xem xét đúng mức Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là chúng ta chưa
có các dữ liệu về giá trị kinh tế của các VQG Các quyết định sử dụng tài nguyên thường đứng trên quan điểm cá nhân và chỉ tính đến những lợi ích trực tiếp mà VQG mang lại cho cá nhân trong khi các lợi ích tổng thể mà VQG cung cấp cho xã hội thường bị bỏ qua hoặc đánh giá thấp Từ đó các quyết định phân bổ sử dụng VQG thường không hiệu quả, không mang lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng và xã hội VQG Bái Tử Long là một khu vực có cảnh quan biển đảo, với nhiều vẻ đẹp khác biệt, bên cạnh đó do môi trường trong sạch đã tạo ra một sự hấp dẫn lớn đối với du khách, một giá trị đặc sắc phục vụ cho phát triển du lịch mạo hiểm khám phá thiên
Trang 11nhiên và du lịch sinh thái Việc lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của VQG Bái Tử Long
sẽ góp phần cung cấp thông tin cho việc hoạch định quản lý hiệu quả và bền vững tài nguyên và môi trường tại đây Với lý do như vậy, học viên chọn thực hiện đề tài nghiên
cứu “Lượng hóa giá trị du lịch của Vườn Quốc gia Bái Tử Long”
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá, lượng hóa kinh tế giá trị du lịch nhằm cung cấp
thông tin phục vụ hoạch định quản lý và đề xuất các giải pháp quản lý gắn với bảo
tồn các giá trị tài nguyên và môi trường của VQG Bái Tử Long
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên và giá trị du lịch của VQG Bái Tử Long
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: VQG Bái Tử Long thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Phạm vi thời gian: Phân tích, đánh giá tài nguyên và giá trị du lịch của VQG sử dụng các số liệu trong giai đoạn 2010 – 2015, đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của VQG;
- Phân tích đánh giá hiện trạng tài nguyên, lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của VQG Bái Tử Long;
- Đề xuất các giải pháp quản lý gắn với bảo tồn các giá trị tài nguyên và môi trường của VQG Bái Tử Long
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần tổng hợp, làm rõ cơ sở lý luận về lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của VQG, xác định quy trình thực hành lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của một VQG
cụ thể
Trang 12Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài phân tích, đánh giá hiện trạng tài nguyên, lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của VQG Bái Tử Long Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thông tin hỗ trợ hoạch định chính sách quản lý bền vững tài nguyên và môi trường tại VQG Bái Tử Long, đồng thời là tài liệu tham khảo cho các VQG khác
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
- Chương 1: Tổng quan lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của vườn quốc gia
- Chương 2: Địa điểm và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu lượng hóa kinh tế giá trị du lịch của vườn quốc gia Bái Tử Long
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LƯỢNG HÓA KINH TẾ GIÁ TRỊ DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA
1.1 Cơ sở lý luận về lượng hóa giá trị du lịch VQG
1.1.1 Khái niệm Vườn quốc gia
Theo định nghĩa của Luật Đa dạng sinh học, 2008 thì VQG phải có các tiêu chí chủ yếu sau đây:
- Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên;
- Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;
- Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục;
- Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái
VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn
Các đặc trưng của VQG: VQG thường có những đặc trưng sau:
Các VQG thông thường nằm tại các khu vực chủ yếu là chưa phát triển, thường là những khu vực với động - thực vật bản địa quý hiếm và các hệ sinh thái đặc biệt (chẳng hạn cụ thể là các loài đang nguy cấp), sự đa dạng sinh học, hay các đặc trưng địa chất đặc biệt Đôi khi, các VQG cũng được thành lập tại các khu vực
đã phát triển với mục tiêu làm cho khu vực đó trở lại gần giống như tình trạng ban đầu của nó, càng gần càng tốt
Tại một số quốc gia, chẳng hạn như tại Vương quốc Anh và Wales, các khu vực được dùng làm VQG không phải là vùng hoang vu, cũng không do nhà nước sở hữu, và có thể bao gồm các khu dân cư và việc sử dụng đất là đáng kể, thông
Trang 14thường chúng là một bộ phận hợp thành của cảnh quan khu vực
Quản lý và sử dụng:
Phần lớn các VQG có vai trò kép, một mặt đây là khu vực cung cấp nơi cư trú cho sự sống hoang dã, mặt khác nó lại phục vụ như là nơi du lịch phổ biến cho quần chúng Việc quản lý các mâu thuẫn tiềm ẩn giữa hai mục đích này có thể là một vấn
đề, cụ thể là du khách sẽ đem lại thu nhập cho VQG và VQG sử dụng nguồn thu nhập này để duy trì và phát triển các dự án bảo tồn
Các VQG cũng là nguồn cung cấp các tài nguyên thiên nhiên có giá trị, chẳng hạn như gỗ, khoáng sản và các loại tài nguyên có giá trị khác Sự cân bằng giữa nhu cầu khai thác các tài nguyên này với tổn thất do việc khai thác gây ra, thường là thách thức rất quan trọng đối với hệ thống quản lý VQG Các VQG cũng hay bị đốn
hạ bất hợp pháp và các dạng khai thác lậu khác, đôi khi là do tham nhũng Điều này
đe dọa tính nguyên vẹn của nhiều môi trường sống có giá trị
1.1.2.Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch đặc thù vừa có thể trải nghiệm tự nhiên, vừa quan tâm tới việc bảo vệ môi trường sinh thái (bao gồm hệ thống sinh thái nguyên sinh, bao gồm cả sinh thái tự nhiên và sinh thái văn hóa), khác biệt với các hình thức du lịch tự nhiên khác Du lịch sinh thái là mô hình quan trọng để du lịch tuần hoàn kinh tế, nhấn mạnh việc khai tháctheo hình bậc thang,ứng dụng, cắt giảm hợp lý tài nguyên sinh thái tự nhiên, thực hiện một hệ thống tuần hoàn khép kín trong hệ thống ngành du lịch Trong khi quy hoạch khu du lịch thì tiến hành kết hợp
và sử dụng nguồn tài nguyên ở các tầng bậc, thực hiện việc trao đổi thông tin và sử dụng các sản phẩm phụ, thông qua phương thức kinh doanh du lịch sinh thái hợp lý
để cuối cùng đạt tới mục đích thu lợi cho ngành du lịch mà vẫn bảo vệ môi trường
Du lịch sinh thái gắn liền với các VQG, KBT, những điểm có cảnh quan đặc biệt Du lịch sinh thái là dịch vụ góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân tại địa phương, thông qua du lịch sinh thái người dân địa phương sẽ nhận được những giá trị do nguồn tài nguyên từ VQG, KBT mang lại từ đấy họ sẽ
Trang 15có sự gắn bó và ý thức gìn giữ các nguồn tài nguyên này một các bền vững
1.1.3 Tổng giá trị kinh tế hàng hóa và dịch vụ môi trường
Giá trị của các hàng hoá môi trường: Tổng giá trị kinh tế
Giá trị xét về góc độ kinh tế là một khái niệm nhân tâm nghĩa là giá trị được xác định bởi con người trong xã hội chứ không phải do chính quyền hay quy luật của tự nhiên quy định Các nhà kinh tế đã phát triển một nguyên tắc phân loại các giá trị kinh tế khi liên hệ với môi trường tự nhiên Tổng giá trị kinh tế của tài
nguyên được chia thành hai nhóm là các giá trị sử dụng (use value) và các giá trị phi
sử dụng (non use value) Trong đó, (i) Giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV), giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV),
và giá trị lựa chọn (Option Value - OP) và (ii) Giá trị phi sử dụng gồm giá trị tồn tại (Existence value - EV) và giá trị để lại hay giá trị lưu truyền (Bequest value - BV)
Nguồn: [11]
Hình 1.1 Tổng giá trị kinh tế của hàng hóa, dịch vụ môi trường
Đối với một hàng hóa, dịch vụ môi trường, tổng giá trị kinh tế sẽ được phân tích như sau:
Giá trị sử dụng là giá trị mà một tài nguyên môi trường mang lại lợi ích sử
dụng cho hiện tại hoặc tương lai Bao gồm:
+ Giá trị sử dụng trực tiếp : là giá trị của các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có thể tính được về giá cả và khối lượng trên thị trường mà một cá nhân có thể trực
Tổng giá trị kinh tế Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng
Giá trị sử
dụng trực
tiếp
Giá trị sử dụng gián tiếp
Giá trị lựa chọn
Giá trị tồn tại Giá trị lưu
truyền
Trang 16tiếp hưởng thụ nguồn tài nguyên bằng cách tiêu dùng nó ( ví dụ trồng cây để lấy củi)
+ Giá trị sử dụng gián tiếp : là giá trị mà môi trường gián tiếp mang lại cho hoạt động của con người và chủ yếu đó là các giá trị có ý nghĩa về mặt sinh thái dựa trên các chức năng của môi trường đem lại và thường không tính được giá trực tiếp
mà phải thông qua giá thay thế trên thị trường Ví dụ : Một khu hồ mang lại không khí thoáng mát, hạn chế lũ lụt, hạn hán những giá trị này không có giá trên thị trường nhưng nó được định giá nhờ vào các giá trị gián tiếp khác
Đó là sự phân biệt giá trị trực tiếp và gián tiếp một cách tương đối tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể phân biệt một cách rõ ràng
Giá trị không sử dụng : thể hiện các giá trị phi vật chất nằm trong bản chất của
sự vật, không liên quan đến việc sử dụng thực tế hoặc thậm chí việc lựa chọn sự vật này Tuy nhiên, thay vào đó, những giá trị này thường liên quan nhiều về lợi ích của con người Giá trị không sử dụng bao gồm:
+ Giá trị tuỳ chọn là giá trị mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn nguồn tài nguyên hoặc một phần sử dụng đó, để sử dụng cho tương lai Đây là giá trị do nhận thức, lựa chọn của con người đặt ra trong hệ sinh thái Vì vậy mà giá trị của nó không có tính thống nhất Ví dụ khu rừng ngập mặn giao thuỷ giá trị bảo tồn nó giúp chúng ta xác định đựơc chúng ta nên biến đổi nó trong tương lai hay giữ lại nó điều đó dựa vào những thông tin được thu thập về giá trị tương đối của khu vực tự nhiên
+ Giá trị tuỳ thuộc : giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào nhiều yếu tố và các yếu tố đó có thể thay đổi theo thời gian hoặc theo sự khám phá của khoa học cũng như sự phát triển của nó và sự nhận thức của con người Những giá trị này cũng gần giống với giá trị tuỳ chọn vì vậy đôi khi hai giá trị này được hiểu chung Ví dụ khu rừng miền núi giá trị tuỳ thuộc phụ thuộc vào đặc trưng từng khu rừng mà có giá trị khác nhau nhưng chủ yếu phụ thuộc vào các loài cây gỗ quý, các loài vật quý hiếm + Giá trị tồn tại : liên quan đến các thế hệ mà duy trì giá trị hệ sinh thái đó để
Trang 17lại cho mai sau Giá trị đó được đánh giá dựa vào tính hữu ích của tài nguyên đó để lại cho mai sau hoặc thu lại lợi ích của thế hệ hiện nay là do công duy trì bảo tồn của thế hệ trước đây Vì vậy mà loại giá trị này nhận thức không khó nhưng lượng giá bằng tiền hết sức khó khăn Ví dụ như khu rừng miền núi giá trị tồn tại phụ thuộc vào việc duy trì khu rừng để giữ nguyên hệ sinh thái của khu rừng cho thế hệ tương lai
Như vậy, trong giá trị của hàng hóa, dịch vụ môi trường ngoài những giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp có thể nhìn thấy thì đối với giá trị tuỳ chọn, giá trị tuỳ thuộc và giá trị tồn tại đòi hỏi chúng ta phải có những cách nhìn nhận hết sức nhạy cảm và linh hoạt, phụ thuộc vào ý nghĩa của những giá trị này đối với con người, đối với hoạt động kinh tế Đó là lý do các nhà kinh tế học môi trường không ngừng hoàn thiện về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận để nhìn một cách toàn diện TEV của một khu rừng, một hệ sinh thái
1.2 Lượng giá hàng hóa, dịch vụ môi trường
1.2.1 Khái niệm lượng hóa kinh tế (lượng giá) giá trị tài nguyên và môi trường
Lượng hóa kinh tế giá trị tài nguyên và môi trường là việc sử dụng các công
cụ kỹ thuật nhằm lượng hoá giá trị bằng tiền của các hàng hoá tài nguyên và môi trường để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách về khai thác, sử dụng và quản lý các hàng hoá môi trường
Chúng ta nên lượng giá môi trường vì:
Thứ nhất, chất lượng môi trường thoả mãn vô số nhu cầu của con người như : cung cấp không gian sống và các điều kiện sống, cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho các quá trình sản xuất, chứa đựng và hấp thụ chất thải từ quá trình sản xuất và tiêu dùng của con người Đồng thời, việc phục hồi chất lượng môi trường là do lao động sản xuất của con người Điều đó có nghĩa là chất lượng môi trường thoả mãn hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị và giá trị sử dụng Vì chất lượng môi trường là hàng hoá nên chúng ta cần định giá nó, tránh gây thất bại thị trường
Trên thế giới hiện nay, có ba cách tiếp cận đánh giá các giá trị kinh tế của tài
Trang 18nguyên, môi trường:
Đánh giá phân tích tác động (Impact Analysis Valuation): được sử dụng để
đánh giá thiệt hại của môi trường, tài nguyên khi chịu tác động hay số bên ngoài như sự cố tràn dầu, ô nhiễm công nghiệp, thiên tai
Đánh giá từng phần (Partial Valuation): được sử dụng để đánh giá giá trị kinh
tế của hai hay nhiều phương án sử dụng tài nguyên khác nhau (ví dụ: nuôi tôm, phát triển du lịch hoặc bảo tồn)
Đánh giá tổng thể (Total Economic Valuation): được sử dụng để đánh giá
phần đóng góp tổng thể của tài nguyên, môi trường cho hệ thống phúc lợi xã hội
Để đánh giá hàng hoá môi trường hiện nay các nhà kinh tế môi trường dựa trên cơ sở lý thuyết của nền kinh tế học môi trường đã đưa ra những kỹ thuật đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn được áp dụng phổ biến trên thế giới Trong TEV
có những vấn đề được xác định trên cơ sở giá thị trường( những giá trị sử dụng trực tiếp) còn phần lớn các giá trị còn lại khó xác định trên cơ sở thị trường, nhưng phải đặt trong bối cảnh kinh tế thị trường vì vậy để tìm ra bản chất của vấn đề các nhà kinh tế cho rằng phải dựa trên nguyên lý lý thuyết đã học của kinh tế học để xem xét Như nguyên lý thu nhập biên và chi phí biên, dựa trên các mô hình có trong kinh tế mà người ta đã đưa ra trước đây
1.2.2 Các phương pháp lượng giá tài nguyên và môi trường
về cơ bản có 2 nhóm phương pháp sử dụng:
+ Các phương pháp sử dụng đường cầu
+ Các phương pháp không sử dụng đường cầu
Các phương pháp không sử dụng đường cầu
Đây là những phương pháp khi đưa vào đánh giá không cần thiết phải sử dụng
mô hình tổng cầu mà người ta dựa trên nguyên lý kinh tế để đánh giá kết hợp với
mô hình đã có, các yếu tố ràng buộc, sự biến động trong môi trường, các nguyên lý môi trường
Trang 19Các phương pháp không sử dụng đường cầu bao gồm :
Phương pháp đáp ứng liều lượng
Phương pháp chi phí thay thế
Phương pháp chi phí cơ hội
Các phương pháp sử dụng đường cầu
Là các phương pháp được sử dụng trên cơ sở xây dựng đường cầu để đánh giá giá trị hàng hoá môi trường Khi đánh giá chất lượng hàng hoá môi trường ở một khu vực nào đó người ta phải xác lập cho được hàm cầu mà dựa trên nguyên lý kinh
tế trong mối quan hệ giữa chất lượng môi trường và giá cả Đây là những phương pháp dùng để đo lường phúc lợi
Nguồn: [2]
Hình 1.2 Đồ thị hàm cầu giải trí
Các phương pháp sử dụng đường cầu bao gồm:
Phương pháp chi phí du lịch (TCM: travel cost method)
Trang 20 Phương pháp lượng giá theo hưởng thụ (HPM: Hedonic pricing method)
Phương pháp lượng giá ngẫu nhiên (CVM: Contingent valuation method)
Hiện nay, ngoài cách phân loại như trên còn có nhiều cách phân loại các phương pháp đánh giá môi trường khác Ví dụ như, trong Kinh tế môi trường: Hướng dẫn thực hành lại chia ra thành 5 cách tiếp cận cơ bản với hàng hoá chất lượng môi trường, đó là:
Đánh giá theo giá thị trường (market price – based): được ứng dụng khi dịch vụ hàng hoá môi trường cần thẩm định có thể chuyển được sang thị trường của hàng hoá thông thường, chẳng hạn các nguồn tài nguyên có thể khai thác được như gỗ, khoáng sản và những động vật quí hiếm Bao gồm: phương pháp tiếp cận phần còn lại – đánh giá giá trị tô kinh tế và định giá mờ
Lượng giá bằng thị trường ẩn hoặc thị trường thay thế (surrogate market – based): được sử dụng khi hàng hóa và dịch vụ môi trường không có trên thị trường thông thường Ở đây giá trị của nó có thể suy ra từ việc quan sát tác động của nó trong thị trường liên quan Những kỹ thuật hay dùng là phương pháp đánh giá theo hưởng thụ (HPM), phương pháp chi phí du lịch (TCM) và tiếp cân thay đổi năng suất (Change Produetivity)
Xây dựng thị trường giả định (hypothetical market – based): Một số hàng hoá và dịch vụ môi trường không hề tồn tại giá trị trên thị trường,
và cũng không có thị trường thay thế Vì thế trong trường hợp này, ta cần xây dựng một thị trường giả định Kĩ thuật thông dụng nhất là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
Lượng giá dựa vào chi phí (cost – based): dựa trên nguồn thông tin liên quan đến chi phí ẩn hoặc hiện của các dịch vụ môi trường có được nhờ quan sát trực tiếp hành vi của cá nhân trên thị trường Hàng hoá chất lượng môi trường sẽ được phản ánh dựa trên sự biểu hiện của “Giá” Kỹ
Trang 21thuật lượng giá này khá hữu hiệu, nó đã khắc phục được các khó khăn trong việc đo lường giá trị môi trường Có hai hình thức tiếp cận chi phí chính, đó là dựa vào chi phí phòng ngừa và chi phí thay thế
Chuyển giao lợi ích (benefit transfer): cho phép chuyển những ước tính hiện hành của giá trị môi trường từ nơi này sang nơi khác (cụ thể ở đây
là từ nơi nghiên cứu sang nơi hoạch định chính sách) Phương pháp này được sử dụng khi không đủ thời gian, nguồn vốn hoặc thiếu thông tin, không thể thực hiện các cách đánh giá lợi ích khác bằng dữ liệu sơ cấp
1.3 Các nghiên cứu lượng giá giá trị du lịch trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Định giá môi trường đã phát triển chủ yếu từ Hoa Kỳ trong những năm 1960
và 1970 và sau đó trở thành một lĩnh vực quan trọng ở châu Âu trong những năm
1980 và 1990 Đồng thời phương pháp định giá môi trường đã được áp dụng ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển ở châu Á, Mỹ Latinh và châu Phi Các chỉ số phát triển này bao gồm việc chuẩn bị cho hướng dẫn định giá môi trường của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) hợp tác với Ngân hàng Thế giới [37] Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã xây dựng hướng dẫn về đánh giá môi trường trong các chương trình nghiên cứu về đa dạng sinh học, và những nỗ lực tương tự của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB 1996), Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) Trong một báo cáo của UNEP xem xét kỹ thuật định giá ở các nước đang phát triển kết luận rằng giá trị kinh tế là (i) cực kỳ hữu ích trong việc mô tả các khía cạnh môi trường của các dự
án và chính sách phát triển; (ii) phổ biến về ứng dụng của nó ở các nước đang phát triển; và (iii ) thường thành công trong việc ứng dụng [38] Bản báo cáo không thảo luận về việc sử dụng các nghiên cứu định giá trong quá trình ra quyết định
Từ những năm 1960 đến nay kỹ thuật lượng giá môi trường ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển do nhu cầu cần thiết của thông tin phục vụ quản lý Cùng với nhu cầu khách quan đó, cơ sở lý
Trang 22thuyết, các phương pháp và mô hình lượng giá ngày càng đa dạng và hoàn thiện mặc dù cũng trở nên phức tạp hơn nhằm đem lại các kết quả chính xác, tin cậy cho các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên Dưới quan điểm kinh tế môi trường là một loại tài sản vì nó cung cấp cho con người nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau Môi trường có thể cung cấp những hàng hoá trực tiếp như tôm, cá gỗ củi, các nguồn nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất, các dịch vụ sinh thái như hạn chế bão lũ, chống xói mòn bờ biển, điều hoà khí hậu, nạp và điều tiết nước ngầm, cũng như các giá trị đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử khác Nói cách khác môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các loại giá trị (values)
và khi sử dụng chúng bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi ích nhất định (benefits)
Lượng giá giá trị các VQG có liên quan nhiều đến các nghiên cứu về giá trị của rừng
Vai trò của rừng trong việc giữ đất và nước là lớn hơn nhiều so với giá trị kinh tế trực tiếp mà nó mang lại Về nghiên cứu khả năng giữ nước của rừng vùng đầu nguồn hồ Tùng Hoa – Côn Minh (Trung Quốc) cho thấy diện tích rừng đầu nguồn 60.000ha, với độ tàn che 30% hàng năm giữ được khoảng 8,3 triệu mét khối nước Giá trị của rừng trong hạn chế xói mòn là rất đáng kể Xói mòn đất ở nơi phá rừng làm rẫy cao gấp 10 lần ở những khu vực có rừng tự nhiên Song song với quá trình xói mòn là sự tích tụ chất lắng đọng tại các vùng lòng chảo gây ra thiệt hại cho các công trình thuỷ lợi, ước tính khoảng 4USD/ha/năm và các hồ nhân tạo ước tính lên tới 6 tỷ USD/năm Trong khi đó, nếu được rừng bảo vệ, lợi ích về chống xói mòn, rửa trôi, kiểm soát dòng chảy có thể lên tới 80 USD/ha/năm Nghiên cứu về rừng đầu nguồn ở lưu vực sông ở Vân Nam – Trung Quốc liên quan đến khả năng giữ đất, nước và phân bón của rừng cho thấy giá trị này là khoảng 4.450,5 NDT (khoảng 8.455.855 VND, tỷ giá 1 NDT = 1.900 VND) chiếm 87.9% trong khi đó giá trị trực tiếp (than củi, gỗ) là 528.5 NDT (Khoảng 1.384.245 VND) chiếm 12,1% [34]
Trang 23Đánh giá giá trị của rừng Tapean rộng 1.824 ha tại xã Poey, huyện O Chum, tỉnh Natanakiri, Cam Pu Chia cho thấy giá trị của lâm sản ngoài gỗ khoảng 625-3.925 USD/hộ gia đình/năm, giá trị của gỗ, củi là 711 USD/ha/năm; lợi ích từ việc bảo về nguồn nước là 75,59 USD/ha/năm; giá trị của đa dạng sinh học là 300 - 511 USD/ha/năm và giá trị của chức năng tích trữ các bon khoảng 6,86 USD/ha/năm [32]
Với sự ra đời của Nghị định thư Kyoto, vai trò của rừng đã được khẳng định
Đó là khả năng hấp thụ khí các bon níc (CO2) của rừng nhờ khả năng quang hợp Giá trị hấp thụ CO2 của các khu rừng tự nhiên nhiệt đới thì khoảng từ 500 – 2.000 USD/ha và giá trị này với rừng ôn đới được ước tính ở mức từ 100 – 300 USD Giá trị kinh tế về hấp thụ CO2 ở rừng Amazon được ước tính là 1.625USD/ha/năm, trong đó rừng nguyên sinh là 4.000 – 4.400 USD/ha/năm, rừng thứ sinh là 1.000 – 3.000 USD/ha/năm và rừng thưa là 600 – 1.000 USD/ha/ [33]
Ngoài các giá trị nêu trên, giá trị cảnh quan/giải trí của rừng là rất lớn Ví dụ, người Bristish Clumbia chi tiêu khoảng 1.9 tỷ USD cho các hoạt động du lịch sinh thái, đóng góp cho ngành thuế của địa phương là 116 triệu Cơ chế chi trả cho dịch vụ giải trí
và du lịch ở Châu Âu và Bắc Mỹ được xác định theo mức "Bằng lòng chi trả - WTP (Willingness To Pay) với mức giá từ 1- 3USD/người/lần [34]
Như vậy, việc áp dụng phương pháp đánh giá nào sẽ tùy vào mục đích của các nhà nghiên cứu, quản lý
1.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
CácVQG kể từ khi được thành lập đã góp phần quan trọng trong việc gìn giữ các giá trị sinh thái, môi trường Đồng thời cũng góp phần tạo ra sinh kế bền vững cho một
số bộ phận người dân ở các khu vực xung quanh Tuy nhiên gần đây đánh giá của Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho thấy nhiều VQG ở Việt Nam đang bị suy giảm nhanh chóng về chất lượng bảo tồn Nguyên nhân của sự suy giảm chất lượng bảo tồn của các VQG bên cạnh những yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu, áp lực tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá, còn có sự yếu kém trong
hệ thống quản lý Cụ thể là hệ thống pháp lý thiếu đồng bộ, chồng chéo trong phân
Trang 24định chức năng của các cơ quan quản lý, hệ thống quyền tài sản chưa được phân định
rõ ràng, nguồn tài chính cho bảo tồn kém bền vững, thiếu cơ sở dữ liệu, tư liệu khoa học phục vụ quản lý
Lượng hóa giá trị kinh tế tài nguyên nói chung và giá trị của VQG nói riêng là một chủ đề mang tính chất khoa học - ứng dụng ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây trên thế giới bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển do nhu cầu khách quan và sự cần thiết của thông tin phục vụ quản lý
Cùng với nhu cầu khách quan đó cơ sở lý thuyết và các phương pháp và mô hình lượng giá ngày càng đa dạng và hoàn thiện mặc dù cũng trở nên phức tạp hơn nhằm đưa lại các kết quả chính xác, tin cậy cho các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên, Tại Việt Nam, việc lượng hóa giá trị kinh tế của tài nguyên và tác động môi trường bắt đầu vào giữa những năm 1990 cùng với sự ra đời của Luật BVMT 1993 (đến nay là Luật Bảo vệ Môi trường 2015) trong đó đòi hỏi việc xác định thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường gây ra Gần đây, việc đánh giá thiệt hại về tài nguyên và môi trường càng trở nên cấp bách cùng với áp lực phát triển kinh tế Đầu những năm
2000, các nghiên cứu có sử dụng các phương pháp định giá môi trường mới thực sự xuất hiện Mở đầu là nghiên cứu của tác giả Mai Trọng Nhuận và các cộng sự (2000)
sử dụng phương pháp giá thị trường để đánh giá giá trị kinh tế của một số hệ sinh thái đất ngập nước tại Việt Nam [8] Cũng sử dụng phương pháp giá thị trường, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã ước lượng được dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước tại tỉnh Cà Mau lên tới 7.549.824 đồng/ha/năm (giá năm 2005)[16] Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng sự (2006) cũng sử dụng phương pháp lượng giá trị sử dụng trực tiếp của Vườn quốc gia Giao Thuỷ, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định [7] Ngoài ra, phương pháp lượng giá giá thị trường còn được sử dụng trong các nghiên cứu về giá trị của hệ sinh thái rừng (bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng) trên cả nước của các tác giả Vũ Tấn Phương và Trần Thị Thu Hà trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2012 [4], [5], [6], [10], [11]
Trong những năm gần đây, sự hiểu biết về các dịch vụ hệ sinh thái rừng đã được
Trang 25quan tâm hơn bởi các cấp chính quyền tại Việt Nam Các văn bản pháp luật đã đề cập đến dịch vụ hệ sinh thái, đặc biệt, hệ sinh thái rừng Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) Các báo cáo, đánh giá gần đây của Quỹ bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) Việt Nam hay của tư vấn độc lập [15] đã nhấn mạnh những kết quả chính trên các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội tại các khu vực thực hiện chi trả DVMTR trên toàn quốc Thứ nhất, chi trả DVMTR đang từng bước tạo nên một nguồn tài chính ổn định hàng năm dành riêng cho quản lý bảo vệ rừng (QLBVR); từ đó giúp giảm áp lực chi hàng năm của ngân sách nhà nước cho đầu tư lâm nghiệp Thứ hai, chi trả DVMTR giúp mở rộng các diện tích rừng được quản lý, bảo vệ; huy động và tạo nhiều cơ hội tham gia cho hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng so với các chương trình, chính sách QLBVR trước đây Với định mức chi trả trung bình khá cao (250.000 đồng/ha/năm), chính sách này đã giúp bổ sung thêm thu nhập cho các hộ tham gia bảo vệ rừng Thứ
ba, chi trả DVMTR tạo ra nguồn thu mới, hỗ trợ thêm chi phí duy trì hoạt động cho các chủ rừng nhà nước, như các ban quản lý (BQL) rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hay các công ty lâm nghiệp trong bối cảnh hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn
Các dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học cũng được đề cập đến tại Luật Đa dạng sinh học, 2008 Trong đó, Khoản 1, Điều 73 quy định Tài chính cho việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học có bao gồm “Thu từ dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học và các nguồn khác theo quy định của pháp luật” Điều 74, Dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học quy định “ Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ” Điều 75 quy định về Bồi thường thiệt hại
về đa dạng sinh học Để thực hiện được các quy định trên nhất thiết phải có các nghiên cứu về lượng giá giá trị dịch vụ môi trường liên quan đến đa dạng sinh học, mà trước tiên phải kể đến giá trị dịch vụ hệ sinh thái Đây là công cụ quan trọng để các nhà hoạch định ra quyết định [12]
Trong khuôn khổ Dự án thành phần 4 “Điều tra, đánh giá, dự báo mức độ tổn
Trang 26thất, suy thoái và khả năng chống chịu, phục hồi của hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn ở vùng biển và ven biển Việt Nam; đề xuất các giải pháp bảo vệ theo hướng phát triển bền vững” của Đề án 47, đã thực hiện hợp phần Lượng giá tổn thất kinh tế từ sự suy thoái các hệ sinh thái biển (thảm cỏ biển rừng ngập mặn rạn san hô) tại các vùng nghiên cứu Vịnh Hạ Long Cửa Ba Lạt, Tam Giang – Cầu Hai, Côn Đảo, Đảo Nam Yết (Trường Sa) Dự án đã đưa ra được kết quả lượng giá suy thoái của các hệ sinh thái biển điển hình từ đấy làm cơ sở cho việc dự báo mức độ tổng thương của các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn ở vùng biển và ven biển Việt Nam [17]
Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng hướng dẫn lượng hóa giá trị kinh tế vườn quốc gia hệ sinh thái trên cạn trong đó có đưa ra một
số phương pháp lượng hóa giá trị hệ sinh thái cạn như: phương pháp lượng hóa giá trị lâm sản, phương pháp lượng hóa giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon, phương pháp lượng hóa giá trị phòng ngừa và phòng tránh thiên tai, phương pháp lượng hóa giá trị du lịch, phương pháp lượng hóa giá trị phi sử dụng Mục tiêu của Hướng dẫn nhằm: Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý nhằm xác định được lợi ích và chi phí của các phương án
sử dụng tài nguyên khác nhau, từ đó lựa chọn được phương án phân bổ tài nguyên thích hợp, mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội và cộng đồng; cung cấp thông tin giúp ban quản lý vườn quốc gia lý giải các hạng mục đầu tư cho bảo tồn vườn quốc gia vì lợi ích chung của xã hội vì thông tin lượng hóa giá trị cho biết lợi ích bằng tiền của công tác bảo tồn vườn quốc gia; cung cấp thông tin về giá trị các dòng lợi ích của môi trường nhằm hỗ trợ quá trình triển khai cơ chế chi trả cho các dịch vụ môi trường; hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách về các vấn đề phát triển, cụ thể là lựa chọn phương
án bảo tồn hay thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội trong những bối cảnh cụ thể; giúp xác định được mức thiệt hại khi có sự cố ô nhiễm, suy thoái tài nguyên-môi trường ở vườn quốc gia
Năm 2013, Dự án Khắc phục trở ngại nhằm tăng cường hiệu quả quản lý khu bảo tồn (Dự án PA) cũng đã xây dựng báo cáo “Lượng giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái VQG Bidoup – Núi Bà” Báo cáo này đã là xem xét các dịch vụ hệ sinh thái tại VQG Bidoup
Trang 27– Núi Bà và lượng giá được giá trị của hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái từ đó để cung cấp hướng dẫn về cơ chế tài chính có thể được sử dụng để phục vụ cho mục tiêu của
Dự án [3]
Trong khuôn khổ Diễn đàn Bảo tồn thiên nhiên và Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long năm 2013 tổ chức tại Cà Mau, tác giả Trần Thị Thu Hà cũng đã hệ thống lại phương pháp lượng giá các dịch vụ hệ sinh thái
Phương pháp chi phí du lịch cũng được phát triển nhằm lượng giá giá trị của dịch
vụ giải trí do các hệ sinh thái cung cấp Với phương pháp này, tác giả Nguyễn Đức Thanh và Lê Thị Hải (1999) đã ước lượng được giá trị du lịch của Vườnquốc gia Cúc Phương là 1,5 tỷ đồng/năm (giá năm 1999) [14] Ngoài ra, phương pháp chi phí du lịch tiếp tục được sử dụng để đánh giá dịch vụ giải trí của các hệ sinh thái tại: Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Mun [36], Vườn quốc gia Ba Bể [4], Vườn quốc gia Bạch Mã [11] Các giá trị kinh tế của cảnh quan được đánh giá tại quốc gia Ba Bể [4] chỉ ra một mức sẵn lòng chi trả (WTP) cho phí tham quan là 21.300 đồng đối với du khách trong nước
và 90.000 đồng (5,6 USD) cho du khách quốc tế Hay đối với Vườn Quốc gia Bạch Mã
để mức WTP để tham quan là 34.000 đồng và 39.000 đồng cho du khách trong nước và quốc tế tương ứng [11]
Luận án tiến sỹ của tác giả Đinh Đức Trường, 2010 về đánh giá giá trị kinh tế phục vụ quản lý tài nguyên đất ngập nước (ĐNN) - áp dụng tại vùng ĐNN cửa sông Ba Lạt, tỉnh Nam Định đã lượng giá tổng giá trị toàn phần 1 năm của vùng đất ngập nước cửa sông Ba Lạt là 88.619 triệu đồng [22]
Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng được áp dụng phổ biến
để xác định giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường Phương pháp này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của tác giả Bùi Dũng Thể (2005) để xác định mức chi trả của người dân để bảo tồn rừng đầu nguồn tại Huế và tác giả Đinh Đức Trường (2008)
để xác định sự suy giảm giá trị của hệ sinh thái san hô [21]
Từ các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể nhận thấy nhiều phương pháp đã
Trang 28được ứng dụng để lượng giá giá trị VQG, KBT, trong đó phương pháp TCM được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt đối với các VQG thu hút khách du lịch Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào lượng giá giá trị du lịch của VQG Bái Tử Long Đây là một Vườn quốc gia được quản lý tốt và có nhiều hoạt động tích cực, đạt hiệu quả cao trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học Thêm vào đó, VQG Bái Tử Long là khu vực có du lịch phát triển, được nhiều người biết đến Với các lý do nêu trên tác giả
đã lựa chọn nơi đây là địa điểm nghiên cứu cho đề tài
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu VQG Bái Tử Long
2.1.1 Thông tin chung
Vườn quốc gia Bái Tử Long mà tiền thân là Khu rừng cấm Đảo Ba Mùn được Thủ tướng Chính phủ đưa vào danh sách các Khu rừng cấm đầu tiên của Việt Nam tại Quyết định số 411-TTg ngày 24/01/1977 “về việc quy định các khu rừng cấm” Trong
10 khu rừng cấm đầu tiên của Việt Nam năm 1977 (gồm: Đền Hùng Vương, Pắc Bó, Bắc Sơn, Tân Trào, Đảo Ba Mùn, Ba Bể, Núi Ba Vì, Núi Tam Đảo, Bán đảo Sơn Trà, Khu rừng Thông tỉnh Lâm Đồng), có duy nhất đảo Ba Mùn là khu bảo vệ thiên nhiên chim thú, 9 khu còn lại (có 4 khu bảo vệ di tích lịch sử và 5 khu bảo vệ thắng cảnh + môi trường/ đầu nguồn) Trên cơ sở đảo Ba Mùn là khu rừng cấm quốc gia, ngày 29/9/1999 UBND tỉnh Quảng Ninh đã thành lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn tại Quyết định số 2298/QĐ-UB; và ngày 01/6/2001 Vườn quốc gia Bái Tử Long chính thức được thành lập trên cơ sở mở rộng và chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Ba Mùn, tỉnh Quảng Ninh theo Quyết định số 85/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, vị trí, diện tích của Vườn quốc gia Bái Tử Long được xác định như sau:
- Vị trí địa lý:
Vườn quốc gia Bái Tử Long bao gồm hệ thống các đảo nổi và một phần biển thuộc thềm đảo 1 km, nằm trong vịnh Bái Tử Long thuộc huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh, có toạ độ địa lý:
- Từ 200 55' 05" đến 210 15' 10" vĩ độ Bắc;
- Từ 1070 30' 10" đến 1070 46' 20" kinh độ Đông
Phía Bắc giáp vùng biển thuộc huyện Tiên Yên;
Phía Nam giáp xã Quan Lạn, Bản Sen huyện Vân Đồn;
Phía Đông giáp vùng biển huyện Vân Đồn;
Trang 30Phía Tây giáp xã Vạn Yên, Hạ Long và phần đảo Trà Bản
- Diện tích:Vườn quốc gia có tổng diện tích tự nhiên 15.783 ha, nằm trong địa
giới hành chính của 3 xã Minh Châu, Vạn Yên và xã Hạ Long huyện Vân Đồn Trung tâm Vườn quốc gia cách thị trấn Cái Rồng 20 km về phía Đông và cách Vịnh Hạ Long khoảng 60 km về phía Đông Bắc Phân khu chức năng trong Vườn quốc gia Bái Tử Long được chia thành 3 phân khu chính:
Nguồn: [1]
Hình 2.1 Bản đồ phân khu quản lý/ Bảo vệ VQG BTL
Trang 31Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt:
- Phạm vi, Quy mô: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt nằm trên phần lớn diện tích các đảo: Ba Mùn, Sậu Nam, Sậu Đông, Trà Ngọ đá Tổng diện tích 4.019.2 ha Bao gồm: + Rừng tự nhiên: 3.896.1 ha
+ Rừng trồng: 25.5 ha
+ Đất chƣa có rừng: 97.6
- Chức năng nhiệm vụ: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt đƣợc xác lập có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên, đáp ứng quy luật phát triển tự nhiên của rừng và hệ sinh thái tự nhiên; đƣợc quản lý, bảo vệ chặt chẽ vì mục đích bảo tồn nguyên vẹn, kết hợp tổ chức thực hiện các chức năng khác của rừng đặc dụng theo quy định tại Khoản 1, Điều 9, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ
Phân khu phục hồi sinh thái:
- Phạm vi quy mô: Phân khu phục hồi sinh thái đƣợc quy hoạch có diện tích nằm trên một số đảo chính nhƣ: Trà ngọ lớn (phần đảo đất), Trà Ngọ nhỏ, Đông Ma, Hòn chín, Hòn Vành, Lỗ Hố, Soi nhụ Tổng diện tích 1.374.4ha Bao gồm:
+ Đất chƣa có rừng: 198.0 ha
- Chức năng nhiệm vụ: Phân khu phục hồi sinh thái là bộ phận của khu rừng đặc dụng đƣợc xác lập để khôi phục các hệ sinh thái nhằm đáp ứng yêu cầu chủ yếu là phục hồi rừng và các hệ sinh thái tự nhiên Phân khu phục hồi sinh thái đƣợc quản lý có tác động bằng một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh và bảo tồn kết hợp với tổ chức thực hiện các chức năng khác theo quy định tại điểm a, Khoản 2, Điều 9, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ
Phân khu dịch vụ hành chính:
Phạm vi, quy mô của Phân khu dịch vụ hành chính đƣợc điều chỉnh, căn cứ quy
Trang 32định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 3 Thông tư số: 78/2011/TT-BNNPTNT, ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT:
Phân khu dịch vụ - hành chính:
Phân khu dịch vụ - hành chính là bộ phận của khu rừng đặc dụng được xác lập chủ yếu để xây dựng các công trình làm việc, sinh hoạt của Ban quản lý khu rừng đặc dụng, nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, cứu hộ và phát triển sinh vật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái, vui chơi giải trí và tổ chức thực hiện các chức năng khác theo quy định của pháp luật
Các phân khu chức năng của khu rừng đặc dụng quy định tại Khoản 1, 2, 3 của Điều này có thể được quy hoạch ở các vị trí khác nhau trong khu rừng đặc dụng Việc điều chỉnh quy hoạch từng phân khu chức năng dựa trên đặc điểm thực trạng diễn biến của rừng và mục đích quản lý sử dụng rừng và được thực hiện sau mỗi kỳ quy hoạch hoặc sau mỗi lần rà soát diện tích các loại rừng theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ
- Phân khu dịch vụ hành chính được quy hoạch tại các khu vực chính sau:
+ Khu trụ sở Ban quản lý;
+ Diện tích xã đảo Minh Châu;
+ Diện tích của các tổ chức đã được cấp có thẩm quyền giao đất hoặc cho thuê đất
- Tổng diện tích phân khu dịch vụ - hành chính: 731,4 ha, bao gồm:
+ Rừng tự nhiên: 95,1 ha
+ Rừng trồng: 119,3 ha
+ Đất chưa có rừng: 395,0 ha
+ Đất nông nghiệp: 29,0ha
+ Đất phi nông nghiệp: 93,0 ha
- Chức năng nhiệm vụ: Phân khu dịch vụ - hành chính là bộ phận của khu rừng
Trang 33đặc dụng được xác lập chủ yếu để xây dựng các công trình làm việc, sinh hoạt của Ban quản lý khu rừng đặc dụng, nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, cứu hộ và phát triển sinh vật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, hỗ trợ cộng đồng vùng đệm sử dụng bền vững tài nguyên và tổ chức thực hiện các chức năng khác theo quy định của pháp luật
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
a) Địa hình, địa mạo
Hệ thống đảo trong phạm vi Vườn quốc gia nằm trong đới địa chất đứt gãy duyên hải Bắc Bộ, hướng cấu trúc kiến tạo Đông Bắc - Tây Nam, song song với bờ biển của đất liền Các đảo này thuộc phức hệ nếp lồi Quảng Ninh, và ở đơn vị cấp nhỏ hơn là khối nâng đơn nghiêng Vân Đồn Có thể chia ra các kiểu chính sau:
Địa hình đồi núi thấp, bao gồm những đỉnh cao dưới 300 mét so với mặt biển, cao nhất là đỉnh Cao Lồ trên đảo Ba Mùn với độ cao 314 m Nhìn chung các đảo đều hẹp
về chiều ngang và kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Độ dốc của 2 sườn đảo có
sự phân hóa rõ rệt, sườn đảo phía Đông thường có độ dốc lớn, sườn phía Tây khá thoải, Diện tích kiểu địa hình này chiếm 67.8% tổng diện tích đảo nổi;
Địa hình castơ (đá vôi) thuộc đai thấp (<700 m), phân bố chủ yếu ở phía Nam đảo Trà Ngọ Lớn với đỉnh cao 280 m cấu trúc địa hình xếp theo hình khối không liên tục tạo nên các thung áng từ vài ha đến hàng trăm ha và một số đảo độc lập có vách núi thẳng đứng Diện tích kiểu địa hình cacstơ chiếm 22.5% tổng diện tích đảo nổi;
Ven chân các đảo có nhiều vũng, bãi gian triều đất bùn hoặc nhiều bãi cát hẹp và bãi đá ở chân đảo rộng từ 30 mét đến 70 mét, ngập triều theo chu kỳ Một số vũng rộng hàng trăm héc ta, vừa có bãi bùn, vừa có bãi cát, bãi đá, vừa có chỗ sâu, cảnh quan đẹp, thuận lợi cho việc neo trú tầu thuyền, như vũng Cái Quýt, Vũng Ổ Lợn, Lạch Cống giữa 2 đảo Trà Ngọ Lớn và Trà Ngọ Nhỏ, Vũng Cái Đé Đặc sắc nhất là các bãi Chương Nẹp, bãi Nhãng Rìa thuộc xã Minh Châu
b) Địa chất và thổ nhưỡng
Đất trên các đảo hầu hết thuộc loại đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt thô Từ độ cao 100 m trở lên đất có rừng che phủ, độ
Trang 34ẩm cao, tầng dầy khoảng 50 cm và giàu dinh dưỡng Từ độ cao 100 m trở xuống, khu vực ven chân đảo đất có tầng mỏng khoảng 40 cm, đất nghèo dinh dưỡng do quá trình xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh hơn
Trên các đảo Sậu Nam Ba Mùn, Trà Ngọ Nhỏ và phần núi đất trên đảo Trà Ngọ Lớn có tầng đá mẹ là đá lục nguyên màu đỏ, tuổi Đề - Vôn Sớm hệ tầng Vĩnh Thực, với những thành phần cát sạn, thạch anh, kết cấu cát và cuội dạng quắc zít, pha lẫn trầm tích vụn thô - nguồn gốc hình thành từ trầm tích cơ học Phần còn lại, bao gồm cả phần lớn đảo Trà Ngọ đá và các đảo đá nằm rải rác trong Vườn quốc gia, tầng đá mẹ là đá vôi có nguồn gốc hình thành là trầm tích hóa học Như vậy đảo Trà Ngọ Lớn có cấu tạo địa chất khá đặc biệt, một thân đảo có 2 nền địa chất với nguồn gốc hình thành rất khác nhau Phía Bắc đảo là “núi đất” trên nền đá lục nguyên (gồm các đá mẹ sa thạch, cuội kết, cát kết) chiếm 1/3 diện tích đảo Phía Nam đảo là núi đá vôi, đặc trưng bởi địa hình castơ có nhiều hang động và thung áng Do chịu ảnh hưởng thủy triều, các thung áng này hình thành các vũng kín trong lòng núi, tạo ra những cảnh quan rất đặc sắc và hấp dẫn
Tóm lại, về địa chất, thổ nhưỡng khu vực Vườn quốc gia khá đa dạng, bao gồm nhiều kiểu hệ khác nhau như kiểu hệ núi đá vôi với nhiều hang động, thung, áng và ngấn biển; kiểu núi đất lục nguyên thường bị lở đất ở phía biển; môi trường đới triều thường hẹp, nền đáy là cuội sỏi chiếm ưu thế Sự đa dạng về môi trường này chính là nguyên nhân của sự phong phú về giá trị đa dạng sinh học của hệ sinh thái trong Vườn quốc gia
c) Khí hậu, Thủy/ Hải văn
Đặc điểm khí hậu
Theo tài liệu quan trắc khí tượng thuỷ văn năm 2012 đo tại trạm Cửa Ông tỉnh Quảng Ninh, đặc điểm khí hậu khu vực Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, đó là: mùa mưa và mùa khô
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng tháng 3 năm sau, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ thấp, lượng mưa ít
Trang 35Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều thường chịu ảnh hưởng của bão
Nhìn chung do đặc điểm các yếu tố khí hậu đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh trưởng, phát triển của cây rừng, đồng thời chi phối hoạt động sản xuất trong vùng
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,60c, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,80c
và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 4,60c
- Lượng mưa trung bình năm là 2.249,9 mm, lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Các tháng mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10) chiếm 91% tổng lượng mưa cả năm Tháng có lượng mưa thấp là các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) dao động từ 24,8 mm đến 73,7 mm
- Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là 936,6 mm và phân bố không đều Những tháng có lượng mưa ít thường bốc hơi cao Tỷ số lượng nước bốc hơi/lượng mưa >1, thường xảy ra ở các tháng mùa khô, chứng tỏ trong các tháng này thường xảy
ra khô hạn
- Chế độ gió: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Cường độ tác động của 2 hướng gió mùa tới vùng đảo này mạnh hơn so với đất liền Tốc độ gió trung bình lớn nhất tại đảo Cái Bầu là 5 m/s, trong khi đó tốc độ gió ở trong đất liền chỉ có 2,5 - 3,5 m/s
- Bão và lốc xoáy: Khu vực Vườn quốc gia Bái Tử Long nằm trong vùng ảnh hưởng chung của bão và áp thấp nhiệt đới từ Quảng Ninh tới Ninh Bình Trung bình hàng năm có từ 5 - 6 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào Quảng Ninh, từ tháng 7 đến tháng 9, với cường độ gió cấp 7 - 8 trở lên, ảnh hưởng trực tiếp vào Vườn quốc gia, gây mưa lớn, triều cường dâng từ 2 - 5 m, biển động dữ dội Trong các cơn dông thường xuất hiện lốc xoáy cục bộ, gây tổn hại lớn đến hệ sinh thái rừng trên đảo cũng như tính mạng và tài sản của ngư dân
Thủy văn
Trên đảo Ba Mùn có 4 khe suối lớn (khe Thôn Ba, khe Tranh, khe Chè, khe Coọng) tổng chiều dài 8,3 km, các khe này có nguồn nước chảy ổn định quanh năm, độ
Trang 36ngọt cao, do có độ che phủ của rừng cao (>85%) Trên đảo Trà Ngọ nhỏ có 3 suối lớn (khe Nam, khe Tây, khe Đông), tổng chiều dài 5,8 km, có nguồn nước ngọt trong sạch chảy quanh năm Đảo Trà Ngọ lớn có 2 suối chính (khe ông Tích, khe Cái Lim), tổng chiều dài 2,6 km, có nước ngọt chảy quanh năm
Ngoài nguồn nước chảy trên mặt còn có nguồn nước ngầm rất dồi dào, trữ lượng lớn, kết quả thăm dò một số giếng nước do dân và bộ đội đào ở trên đảo ở độ sâu 3-5 m
đã có nước ngầm và độ ngọt cao; ngoài ra còn thấy những mạch nước ngọt ngầm tự chảy ở trên các đảo Ba Mùn, Trà Ngọ lớn, Trà Ngọ nhỏ Như vậy nguồn nước mặt và nước ngầm đã ảnh hưởng tích cực đối với hệ sinh thái rừng trên các đảo này
Đặc điểm hải văn
Thuỷ triều: Theo chế độ nhật triều thuần nhất, tức là trong một ngày có một lần nước lớn và một lần nước ròng Các đỉnh triều (nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Số ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống chiếm 85 - 95% (khoảng trên 25 ngày) trong tháng Trong khu vực có biên độ triều rất lớn, độ lớn cực đại của thuỷ triều
có thể lên trên 4 m, thủy triều cao nhất vào các tháng 1,6,7 và 12, số ngày trong năm có mực nước cao trên 3,5 m là 101 ngày Thủy triều thấp nhất vào các tháng 3,4,8, và 9, mực nước ở mức 0,3 m
Dòng chảy: Các dòng hải văn biến đổi phức tạp theo thuỷ triều, theo mùa gió thịnh hành, theo mức độ tần suất sóng, nhưng đều theo chiều hoàn lưu ven bờ vịnh Bắc
bộ vòng xuống phía Nam và Tây Nam Độ dài bước sóng trung bình 50 - 80m, chu kỳ trung bình 5 - 7 giây Khi sóng vỗ, năng lượng sóng biển thành lực di chuyển dòng chảy tạo ra quá trình mài mòn các chân đảo Hướng của dòng chảy có ảnh hưởng đến quá trình vận chuyển bồi tích và hình thành bãi triều
Độ mặn: có sự phân hóa rõ rệt về độ mặn giữa hai mùa, mùa mưa độ mặn giảm (26 - 27,60/00), mùa khô độ mặn tăng (30 - 320/00), Độ mặn ở biển thuộc mặt đông đảo Ba Mùn tuy có cao hơn so với mặt tây tuy nhiên sự khác biệt đó là không đáng kể
Sự phân bố độ mặn, nhiệt độ theo mùa kéo theo phân bố về thành phần loài thủy sinh vật theo mùa
Trang 37Tóm lại, từ những đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, hải văn khu vực Vườn quốc gia Bái Tử Long đã ảnh hưởng tích cực tới hệ sinh thái trên các đảo nổi cũng như dưới biển và thềm đảo Thảm thực vật rừng phát triển với thành phần loài đa dạng, độ che phủ cao có tác dụng lưu giữ nguồn nước ngọt, tạo nên môi trường sống thích nghi với nhiều loài động, thực vật Dòng hải lưu chi phối bởi chế độ nhật triều và hoàn lưu ven
bờ hình thành những khu vực nước mặn, nước lợ với hàm lượng o xy hoà tan cao, luôn trên 5mg/l, hàm lượng amoniac thấp, do đó chưa có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất thải
có chứa hợp chất hữu cơ, nước có hàm lượng vật lơ lửng thấp, đây là điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài sinh vật biển
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
a) Dân số (sống trong và xung quanh VQG)
Dân số hiện sống và sản xuất nuôi trồng thủy sản thường ngày trong ranh giới Vườn là khoảng 1.500 người Toàn vùng lõi và vùng đệm là 16.671 người gồm 4.482
hộ, trong đó nữ là 7.344 người Tổng số lao động là 11.529 chiếm 73% trong đó lao động nữ là 5.568 người chiếm 48,3% số lao động Vùng lõi gồm 4 thôn thuộc xã Minh Châu có 251 hộ với 1.003 nhân khẩu, lao động trong độ tuổi là 436 người chiếm 43,46% trong đó lao động nam chiếm 255 người, lao động nữ chiếm 181 người Các thôn vùng đệm gồm 34 thôn có 4.194 hộ gồm 11.093 lao động, trong đó lao động nam
là 5.706 người, số lao động nữ là 5.387 người
Bảng 2.1 Dân số và thành phần dân tộc các xã vùng đệm
STT Tên xã
Tổng dân số Kinh Dân tộc thiểu số
Tên các dân tộc thiểu số
Số
hộ
Số khẩu
Số
hộ
Số khẩu
Tỷ
lệ (%)
Số
hộ
Số khẩu
Tỷ
lệ (%)
Trang 38Mường Thái Nùng
5 Vạn Yên 412 1517 232 911 61 180 606 40
Hoa Sán dìu Dao Tày Thái
Tổng: 4.482 16.671 4.144 15.434 93 338 1.237 7 -
Nguồn: [23]
Bảng 2.2 Số lượng người sinh sống trong VQG
Tên thôn Số hộ gia
đình Dân tộc
Diện tích đất nông nghiệp do thôn sử dụng
(ha)
Diện tích đất rừng
do thôn sử dụng (ha)
Nguồn: [1]
Toàn bộ khu vực hiện có 9 dân tộc thiểu số với 338 hộ và 1.2371 khẩu; chiếm 7 % dân số trong vùng đệm Các xã có tỷ lệ dân tộc thiểu số khác nhau, tỷ lệ phần trăm các dân tộc này, sắp xếp từ cao đến thấp như sau: (1) dân tộc Sán Dìu có 706 khẩu chiếm 4%; (2) Dao có 458 khẩu chiếm 2,8 % các dân tộc khác có 73 khẩu chiếm 0,2%
b) Sinh kế, sử dụng đất và tình trạng đói nghèo
Sinh kế chính của người dân sống xung quanh VQG là canh tác lúa nước, lúa nương, nuôi trồng, khai thác thủy sản và dịch vụ
Dân tộc Sán Dìu đã định cư lâu đời tại huyện Vân Đồn nên họ có đất trồng lúa và
cả đất rừng Với nhiều kinh nghiệp canh tác trên đất bằng và đất dốc nên năng suất thường cây trồng của họ thường cao hơn các nhóm khác Dân tộc Dao tập trung chủ yếu
ở xã Vạn Yên là mhóm mới di cư tự do đến từ hơn 20 năm trở lại đây và số lượng ngày càng gia tăng theo các năm Nhóm này được xếp vào diện các hộ nghèo của xã do không
có đất, sinh kế dựa vào khai thác tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Bái Tử Long
Chăn nuôi ở vùng đệm cũng khá phát triển nhờ có sự chuyển giao kỹ thuật từ các chương trình khuyến nông của huyện
Nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản là nghề phát triển và mang lại thu nhập cao nhất cho
Trang 39người dân xung quanh VQG với nhiều hình thức nuôi trồng, đánh bắt xa bờ và gần bờ
c) Trình độ học vấn
Người dân trong vùng có trình độ học vấn tốt hầu hết đều biết đọc viết nhiều nguời có trình độ đại học Một số trong cộng đồng làm cán bộ viên chức nhà nước Trong khu vực có 02 trường Trung học phổ thông tại xã Hạ Long và xã Quan Lạn Các
xã đều có các trường Trung học cơ sở và tiểu học trường mầm non
d) Hiện trạng sử dụng đất trong và xung quanh VQG
Tổng diện tích của VQG theo quyết định 85/QĐ-TTg là 15.783 ha Trong đó diện tích phần biển 9.658ha (gồm các diện tích biển cách các đảo nổi 1km); phần rừng
và đất lâm nghiệp 6.125ha Theo Phụ lục I, đính kèm Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014, của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn đếm năm 2030; Trong đó Vườn quốc gia Bái Tử Long thuộc loại quy hoạch chuyển tiếp, diện tích quy hoạch là 15.283 ha
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất của VQG
Hạng mục
DT theo QĐ 1991/UBND năm
2005
Hiện trạng
Tăng (+) giảm (-) Tổng diện tích VQG 6.125 6.125 -
Trang 40tử Long nói riêng mới được khám phá, nhiều điểm du lịch vẫn giữ được dáng vẻ hoang
sơ, chưa bị khai thác quá mức nên du khách quốc tế đến đây để khám phá và chiêm ngưỡng Khách du lịch quốc tế chủ yếu là du khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ luôn bị thu hút bởi vẻ đẹp tự nhiên ít chịu tác động của con người
Xu hướng du lịch hiện nay của khách nội địa vẫn chủ yếu là nghỉ dưỡng, ít khám phá Vì vậy tour du lịch sinh thái (DLST) nghỉ dưỡng tại đây rất phù hợp với đối tượng
có nhu cầu nghỉ ngơi hoặc thám hiểm Thường đối với khách thích tham quan, nghỉ dưỡng chủ yếu là khách thiếu niên, trung niên Còn đối tượng khách thích khám phá, mạo hiểm và muốn quay về với cuộc sống thiên nhiên, hoang sơ thì phù hợp với đối tượng khách là thanh niên
Thành phần khách nội địa đến VQG chủ yếu là những nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên đến VQG với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu và học hỏi Ngoài ra còn có giáo viên, cán bộ công nhân viên chức đến khu vực VQG để tham quan và nghỉ dưỡng
Số lượng khách
* Số lượng khách du lịch đến Vân Đồn
Năm 2015, tổng số lượt khách đến Vân Đồn ước tính đạt 256.117 lượt Trong đó