1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị của khu dự trữ sinh quyển thế giới cù lao chàm – hội an với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương nhằm cải thiện sinh kế và phát triển bền vững

95 358 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN THỊ VIỆT TRÂM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI CÙ LA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ VIỆT TRÂM

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ

CỦA KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI

CÙ LAO CHÀM – HỘI AN VỚI SỰ THAM GIA TÍCH CỰC CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ VIỆT TRÂM

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ

CỦA KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI

CÙ LAO CHÀM – HỘI AN VỚI SỰ THAM GIA TÍCH CỰC CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Chuyên ngành : Môi trường và Phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Trang 3

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến các anh chị em trong BQL khu DTSQ

Cù Lao Chàm – Hội An, BQL khu BTB Cù Lao Chàm, UBND xã Tân Hiệp, các trưởng thôn Cấm, Bãi Làng, Bãi Ông đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ về mặt tài liệu và thông tin để hoàn thiện luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành đến Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường cùng các thầy, cô giáo đã tận tình chỉ dạy và truyền thụ những bài học, kinh nghiệm bổ ích về chuyên môn trong suốt quá trình học tập ở đây

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình và bạn

bè đã đồng hành, động viên và giúp đỡ về mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Việt Trâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác khi chưa được công bố hoặc chưa được sự đồng ý Những kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Việt Trâm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Tổng quan về khu DTSQ 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Cấu trúc và chức năng của khu DTSQ 6

1.2 Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong khu DTSQ 8

1.2.1 Phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển cho bảo tồn của các khu DTSQ 8

1.2.2 Bảo tồn để phát triển (bảo tồn là công cụ để phát triển kinh tế - xã hội) 9 1.2.3 Phát triển để bảo tồn (Phát triển kinh tế để nâng cao hiệu quả bảo tồn) 9 1.3 Sinh kế và sinh kế bền vững 10

1.3.1 Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững và các phương thức sinh kế 10

1.3.2 Tiếp cận sinh kế bền vững 11

1.3.3 Giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế 111

1.3.4 Tương quan giữa sinh kế bền vững với bảo tồn tài nguyên ĐDSH ở các Khu DTSQ 12

1.4 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 13

1.4.1 Tại Việt Nam 13

1.4.2 Trên thế giới 14

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Địa điểm nghiên cứu 18

2.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.1 Phương pháp luận 18

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 26

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 29

3.1.3 Khái quát về khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An 32

3.2 Các giá trị TNTN và TNNV của Cù Lao Chàm 35

3.2.1 Các giá trị tài nguyên thiên nhiên 35

3.2.2 Các giá trị về tài nguyên nhân văn 41

3.3 Những vấn đề liên quan đến bảo tồn các nguồn tài nguyên của Cù Lao Chàm và sự tham gia của cộng đồng 47

3.3.1 Các vấn đề về bảo tồn TNTN và ĐDSH 47

3.3.2 Phát triển kinh tế đặc biệt là du lịch và sức ép lên vấn đề bảo tồn 51

3.3.3 Vấn đề vệ sinh môi trường 55

3.3.4 Sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn các giá trị TNTN và TNNV Cù Lao Chàm hiện nay 57

3.4 Phân tích SWOT những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác bảo tồn các giá trị của Cù Lao Chàm 62

3.4.1 Điểm mạnh 62

3.4.2 Điểm yếu 62

3.4.3 Cơ hội 63

3.4.4 Thách thức 65

3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của Cù Lao Chàm gắn với cộng đồng nhằm nâng cao sinh kế và hướng đến phát triển bền vững 66

3.5.1 Quan điểm và nguyên tắc bảo tồn 66

3.5.2 Một số giải pháp đề xuất 67

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

PCDA Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm vùng đông dân cư nghèo

PTBV Phát triển bền vững

SWOT Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Nguy cơ

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

TNNV Tài nguyên nhân văn

TP Thành phố

UBND Ủy ban nhân dân

UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc

VQG Vườn quốc gia

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ma trận phân tích SWOT 24 Bảng 3.1 Diễn biến rừng trên quần đảo Cù Lao Chàm 36Bảng 3.2 Số lượng du khách đến Cù Lao Chàm qua các năm (từ 2007 đến T9/2013) 52Bảng 3.3 Số hộ và người dân tham gia hoạt động du lịch tại CLC 53Bảng 3.3 Mức % thụ hưởng của các đơn vị trên 1 du khách đến Cù Lao Chàm 71

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế bền vững của nông dân nghèo (SLF) 11

Hình 2.1 Bản đồ xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm), TP Hội An, tỉnh Quảng Nam….18 Hình 2.2 Học viên tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc với một số trưởng thôn xã đảo Tân Hiệp 23

Hình 3.1 Bản đồ phân vùng khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An 33

Hình 3.2 Thi công đường Quốc phòng trên đảo (Ảnh chụp từ máy ảnh và từ vệ tinh, năm 2015) 48

Hình 3.3 Độ phủ san hô ở CLC năm 2011 và 2012 49

Hình 3.4 Độ phủ các loại san hô ở CLC năm 2012 49

Hình 3.5 Biểu đồ về biến động lượng du khách đến Cù Lao Chàm từ 2007 – T10/2015 53

Hình 3.6 Rác thải trên đảo 56

Hình 3.7 Khu xử lý rác thải trên đảo 56

Hình 3.8 Cua đá CLC được dán nhãn sinh thái trước khi bán trên thị trường 60

Trang 10

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Trong vòng 15 năm (2000 - 2015) gia nhập các hoạt động quốc tế trong khuôn khổ Chương trình “Con người và Sinh quyển” (viết tắt là MAB - Man and Biosphere) của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) Việt Nam đã đề xuất thành công để thành lập được 9 khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) bao gồm: Khu DTSQ Cần Giờ (2000), Khu DTSQ Cát Tiên (2001), Khu DTSQ quần đảo Cát Bà (2004), Khu DTSQ Châu thổ sông Hồng (2004), Khu DTSQ Kiên Giang (2006), Khu DTSQ Tây Nghệ An (2007), Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An (2009), Khu DTSQ Cà Mau (2009) và mới nhất là Khu DTSQ Lang Biang (2015) Mỗi khu DTSQ mang nét đặc trưng riêng với những giá trị độc đáo riêng về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, HST nhân văn và văn hóa xã hội… Chức năng của các khu DTSQ không chỉ hạn chế ở việc bảo tồn nghiêm ngặt như mô hình VQG hay khu BTTN trước đây, mà còn được mở rộng thêm chức năng phát triển (kinh tế, văn hóa, du lịch sinh thái…) và chức năng hỗ trợ nghiên cứu khoa học, giáo dục (nâng cao trình độ dân trí…) Như vậy khu DTSQ chính là

mô hình hướng đến sự phát triển bền vững “bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn” Các khu DTSQ ở Việt Nam ra đời cũng với mục tiêu to lớn là đóng góp tích cực vào công tác bảo tồn thiên nhiên môi trường, phát triển kinh tế xã hội góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên thực tế hiện nay, khi các khu DTSQ tại Việt Nam hầu hết mới được thành lập và chưa có cơ chế quản

lý và chế tài xử lý đồng bộ cho toàn hệ thống, chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của chính quyền và hiểu biết nhận thức của cộng đồng về vai trò của các khu DTSQ vẫn còn nhiều hạn chế Thách thức đặt ra đó là làm sao cân bằng được giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, làm sao để bảo tồn được các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, ĐDSH đồng thời đảm bảo sinh kế cho người dân vốn sống dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên sẵn có từ khu DTSQ từ bao đời nay

Được UNESCO công nhận vào năm 2009, Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới

Cù Lao Chàm – Hội An trở thành Khu DTSQ độc đáo nhất trong cả nước do sự kết hợp hài hoà giữa văn hoá và thiên nhiên thông qua sự kết nối giữa Di sản văn hoá

Trang 11

số khoảng 84.000 người, Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An có vị trí địa lý nằm cuối dòng sông Thu Bồn, vừa có biển, có đảo, vừa có đất liền nên nơi này được thừa hưởng sự đa dạng các HST từ trên cạn, dưới biển, bãi bồi ven sông, ven biển như: rừng tự nhiên trên đảo, rừng ngập mặn, rừng dừa nước, rạn san hô, thảm cỏ biển, các bãi sậy, bãi cói, cồn cát, quần cư rong biển, Các HST này được phân bố trên đảo, dọc bãi biển, trải dài dọc theo các nhánh sông và bao bọc lấy Hội An, mang lại cho Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An các nguồn tài nguyên thiên nhiên

đa dạng và cảnh quan tự nhiên độc đáo, tạo ra nhiều các dịch vụ sinh thái Bên cạnh

đó Khu DTSQ còn có lợi thế rất lớn về các di sản văn hoá – đặc biệt là Di sản văn hóa thế giới Phố cổ Hội An Những lợi thế này đã làm cho nơi đây trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước, thu hút nhiều nguồn đầu tư, tạo ra nhiều cơ hội về công ăn việc làm, cải thiện sinh kế và đời sống cho người dân địa phương Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An chịu sự quản lý trực tiếp

từ UBND TP Hội An, cùng phối hợp với BQL Khu BTB Cù Lao Chàm và Trung tâm quản lý bảo tồn Di sản văn hóa Hội An Hiện nay, sau 05 năm được UNESCO công nhận, Cù Lao Chàm – Hội An đã bước đầu gặt hái được nhiều thành công trong công tác bảo tồn các giá trị về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên thì Khu DTSQ cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề gây nên do sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sự phát triển ồ

ạt của du lịch trong vòng 10 năm trở lại đây đã gây ra rất nhiều sức ép lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm gia tăng ô nhiễm môi trường và các vấn đề xã hội khác Đời sống của người dân còn nhiều khó khăn cộng với nhận thức và ý thức về bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên còn rất nhiều hạn chế Những thách thức mà Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An đang phải đối mặt đó là: suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, cảnh quan thiên nhiên đang dần bị phá hủy, chính quyền địa phương và BQL Khu DTSQ gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thực thi, giám sát các công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên nơi đây Do đó, đề tài luận văn được đặt ra nhằm đề xuất những giải pháp để bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương – những người trực tiếp hưởng lợi từ danh hiệu và các giá trị của Khu DTSQ, nhằm cải thiện sinh kế cho người dân

Trang 12

hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Khu DTSQ thế giới Cù Lao Chàm – Hội

An

Hiện nay, Di sản phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá thế giới từ năm 1999 và vẫn hoạt động ổn định theo tôn chỉ và kế hoạch quản lý dài hạn của Hội đồng Di sản Thế giới phối hợp với Chính phủ Việt Nam, do vậy luận văn chỉ đi sâu vào nghiên cứu cho khu vực quần đảo Cù Lao Chàm – vùng lõi của Khu DTSQ thế giới Cù Lao Chàm – Hội An

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong vùng lõi Cù Lao Chàm, Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An Bao gồm các hệ sinh thái và cộng đồng dân cư thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp để bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn của quần đảo Cù Lao Chàm, gắn với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương nhằm cải thiện sinh kế, hướng tới sự phát triển bền vững cho

Cù Lao Chàm nói riêng và toàn Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An nói chung

Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ cần được giải quyết gồm:

 Tổng hợp và phân tích các tài liệu lý thuyết và thực tiễn của các vấn đề liên quan

 Đánh giá các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn của vùng lõi

Cù Lao Chàm

 Đánh giá hiện trạng bảo tồn các giá trị tài nguyên trên đảo, sức ép của phát triển kinh tế đến bảo tồn và sự tham gia của cộng đồng vào vấn đề bảo tồn các giá trị này

 Phân tích SWOT những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của việc bảo tồn gắn với cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

 Những giá trị của Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An là gì?

 Hiện trạng bảo tồn những giá trị của Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An

Trang 13

 Cần làm gì để vừa bảo tồn được các giá trị của Khu DTSQ đồng thời nâng cao sinh kế cho người dân sống dựa vào Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An?

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

 Đánh giá các giá trị tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn khu vực Cù Lao Chàm thuộc Khu DTSQ thế giới Cù Lao Chàm – Hội An, phân tích các vấn đề trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên

 Đề xuất các giải pháp để bảo tồn, phát huy những giá trị to lớn về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn của đảo Cù Lao Chàm dựa vào cộng đồng địa phương, đồng thời cải thiện sinh kế cho chính người dân ở đây, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững cho khu vực nghiên cứu

Kết cấu của luận văn

Cấu trúc của luận văn gồm 5 phần:

Phần mở đầu: Nêu lý do lựa chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

Chương 1: Tổng quan các tài liệu liên quan đến luận văn, trên thế giới và ở Việt Nam

Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về các giá trị TNTN, TNNV vùng lõi Cù Lao Chàm thuộc Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An Thực trạng bảo tồn các giá trị tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn; Phân tích SWOT đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của công tác bảo tồn; Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các giá trị TNTN, TNNV với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương nhằm cải thiện sinh kế cho người dân địa phương và hướng tới PTBV

Kết luận, kiến nghị và phụ lục

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về khu dự trữ sinh quyển

1.1.1 Khái niệm

Theo định nghĩa của UNESCO, khu dự trữ sinh quyển là “những khu vực hệ

sinh thái bờ biển và trên cạn giúp thúc đẩy các giải pháp điều hòa việc bảo tồn sự

đa dạng sinh học với việc sử dụng bền vững khu vực đó”

Mạng lưới hệ thống các khu dự trữ sinh quyển trên thế giới được hình thành

từ năm 1976 và đến nay (2015) đã có 669 dự trữ sinh quyển tại 120 quốc gia, trong

đó có 16 khu xuyên biên giới, được phân bố như sau [32]:

 67 khu tại 28 quốc gia ở châu Phi

 28 khu tại 11 quốc gia ở các nước Ả rập

 137 khu tại 24 quốc gia ở Châu Á và Thái Bình Dương

 297 khu tại 36 quốc gia ở Châu Âu và Bắc Mỹ

 122 khu tại 21 quốc gia ở Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê

Việt Nam tham gia vào mạng lưới lần đầu tiên năm 2000 với sự hình thành của Khu DTSQ Cần Giờ, đến nay sau 15 năm đã đề xuất và thành lập được 9 khu DTSQ, trở thành quốc gia có số lượng khu DTSQ lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á

Một khu vực muốn trở thành khu dự trữ sinh quyển phải đạt được 7 tiêu chí:

 Khu vực đề cử có đại diện đa dạng các HST của những khu vực địa lý sinh vật chính, bao gồm cả những khu vực phát triển có các mức độ tác động khác nhau của con người

 Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao

 Khu DTSQ đó có thể thực hiện phát triển theo hướng bền vững ở cấp độ vùng

 Khu DTSQ có diện tích thích hợp để đáp ứng được ba chức năng của khu dự trữ sinh quyển

Trang 15

 Khu vực đó có đủ những phân vùng thích hợp để thực hiện 3 chức năng của khu dự trữ sinh quyển

 Có bố trí các cơ cấu quản lý để huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan, giữa chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và khối tư nhân để thiết kế và thực hiện các chức năng của khu DTSQ

 Cơ chế thực hiện việc quản lý và bảo tồn được UNESCO chấp nhận, bao gồm: (a) các cơ chế quản lý các hoạt động và khai thác của con người tại vùng đệm; (b) có một chính sách hoặc kế hoạch quản lý cho toàn khu DTSQ; (c) có một cơ chế hoặc đội ngũ quản lý được thành lập để thực hiện chính sách hoặc kế hoạch đó; (d) có các chương trình nghiên cứu, quan trắc, giáo dục và đào tạo

Khu DTSQ khác với vườn quốc gia hay khu bảo tồn thiên nhiên ở chỗ:

 Mỗi VQG hay khu BTTN chỉ là một phần trong một khu DTSQ Mỗi khu DTSQ có thể có một hoặc nhiều vùng lõi là các VQG hay khu BTTN

 VQG hay khu BTTN (vùng lõi) chỉ thực hiện một trong ba chức năng của một khu DTSQ, đó là chức năng bảo tồn Trong khi khu DTSQ, ngoài chức năng bảo tồn (thiên nhiên là chủ yếu) còn thực hiện chức năng phát triển (kinh tế, văn hóa, du lịch sinh thái ) và chức năng hỗ trợ nghiên cứu khoa học, giáo dục (nâng cao trình độ dân trí )

1.1.2 Cấu trúc và chức năng của khu dự trữ sinh quyển

Cấu trúc của khu DTSQ được phân thành 3 vùng chức năng có quan hệ mật thiết đó là: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp [22]

Vùng lõi: Vùng này được thiết lập có tính chất lâu dài nhằm bảo tồn cảnh

quan, HST và đa dạng loài sống trong đó Các vùng lõi của các khu DTSQ trên thế giới nằm ở các HST khác nhau, do đó nếu nhìn trên phương diện toàn cầu sẽ có được bức tranh về các đại diện các HST Thông thường vũng lõi không có các hoạt động của con người, trừ các hoạt động có tính chất nghiên cứu và giám sát Trong một số trường hợp người dân địa phương có thể duy trì một số hoạt động khai thác truyền thống hoặc giải trí bền vững

Trang 16

Vùng đệm: Đây là vùng bao quanh giáp với vùng lõi Các hoạt động ở đây

được quản lý để giúp cho vùng lõi nhằm không làm tổn hại đến mục đích bảo tồn với đúng định nghĩa của nó là vùng “đệm” Các vùng này vẫn duy trì các hoạt động nhằm nâng cao sản lượng thu hoạch về sản xuất, nông lâm ngư nghiệp,… mà vẫn bảo tồn được các quá trình tự nhiên và ĐDSH Các thí nghiệm khoa học cũng được thực hiện ở vùng đệm nhằm khôi phục lại các HST đã xuống cấp Đây cũng là nơi cung cấp địa điểm lý tưởng cho giáo dục, đào tạo, du lịch và giải trí

nông nghiệp, khu dân cư và các hoạt động khác Cộng đồng khu vực, các tổ chức bảo tồn, các nhà khoa học, các tổ chức quần chúng, các nhóm văn hóa,

tư nhân và các hình thức sở hữu khác được điều phối để cùng làm việc quản

lý và PTBV nguồn lợi mang lại lợi ích cho dân cư sống trong đó Vùng này

có vai trò quan trọng trong việc duy trì các hoạt động kinh tế, xã hội cho sự PTBV của địa phương

Mỗi khu DTSQ có 3 chức năng:

 Chức năng bảo tồn: đóng góp vào việc bảo tồn đa dạng di truyền, loài, HST

Trang 17

tác động qua lại giữa con người và sinh quyển Về mặt phương pháp luận và cách tiếp cận cơ bản của khu DTSQ thì con người là “một phần của sinh quyển", là

"công dân sinh thái" [27]

1.2 Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong khu dự trữ sinh quyển

1.2.1 Phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển cho bảo tồn của các khu DTSQ

Sinh quyển là phần của trái đất có các sinh vật sinh sống kể cả con người, từ những loài sinh vật sống dưới đáy biển sâu đến những loài sinh vật trong không khí hoặc sâu trong lòng đại dương đều thuộc về sinh quyển Các khu DTSQ là những vùng đại diện cho các HST, vùng địa lý sinh học có ý nghĩa bảo tồn ĐDSH, có cơ hội cho phát triển bền vững địa phương và có diện tích đủ lớn để thực hiện 3 chức năng cơ bản: bảo tồn, hỗ trợ và phát triển Cấu trúc không gian của khu DTSQ cũng được thiết kế để đảm bảo cho 3 chức năng này, với 3 vùng rõ rệt: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp Mỗi khu DTSQ có thể có 1 hoặc nhiều vùng lõi, là khu vực dành riêng cho bảo tồn ĐDSH, các hoạt động giám sát, nghiên cứu, giáo dục tối thiểu tới các HST Các vùng đệm thường bao quanh vùng lõi, là khu vực ưu tiên cho phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững sinh thái như du lịch sinh thái, giáo dục môi trường, Vùng chuyển tiếp nằm phía ngoài cùng thực hiện các mô hình phát triển kinh tế, nơi gặp gỡ cùng làm việc của các nhà khoa học, cán bộ quản lý, các thành phần kinh doanh, hoạt động văn hóa, nhằm quản lý và phát triển bền vững tài nguyên Cấu trúc của khu DTSQ được thể hiện rất mềm dẻo và đa dạng tùy theo tình hình địa phương, đảm bảo đáp ứng tối đa được chức năng cơ bản của khu DTSQ và đảm bảo được phương châm cơ bản của khu DTSQ là bảo tồn và phát triển cùng song hành và bổ trợ cho nhau

Năm 1996, Ủy ban MAB – UNESCO đề xuất sáng kiến sử dụng các khu DTSQ như những phòng thí nghiệm học tập cho phát triển bền vững, coi khu DTSQ như một “phòng thí nghiệm học tập cho phát triển bền vững”, tức là: coi khu DTSQ như là “phòng thí nghiệm” để kết hợp hài hòa 2 “chất thí nghiệm” là “bảo tồn” và

“phát triển” Việc bảo vệ tốt vùng lõi là các VQG, khu di sản, công viên địa chất,

Trang 18

khu BTTN hay các khu BTB sẽ tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch khám phá, học tập nghiên cứu, Ngược lại các hoạt động kinh tế ở vùng đệm hay vùng chuyển tiếp sẽ tạo điều kiện nâng cao ý thức và chất lượng cuộc sống của người dân, từ đó tạo ra nguồn thu từ thuế và phí môi trường

Nếu “PTBV là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai” thì khu DTSQ sẽ là mô hình cho sự phát triển này Điều này hoàn toàn phù hợp với Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) của Đảng và Chính phủ về các giải pháp PTBV đất nước, trong đó nhấn mạnh quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân đối với vấn đề môi trường và khẳng định quan điểm phát triển theo phương thức đảm bảo kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý TNTN và bảo vệ môi trường [20]

1.2.2 Bảo tồn để phát triển (bảo tồn là công cụ để phát triển kinh tế - xã hội)

Việc bảo tồn các giá trị TNTN, TNNV chính là việc khai thác một cách khôn khéo các nguồn tài nguyên này để vừa bảo vệ, không làm suy thoái tài nguyên vừa tạo được công ăn việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Các khu DTSQ bản thân đều giàu có về các nguồn TNTN, cảnh quan, TNNV, cùng với danh hiệu khu DTSQ sẽ là thuận lợi lớn để thu hút du khách và phát triển du lịch cùng những nguồn tài trợ khác để bảo tồn các nguồn TN Đối với việc phát triển dịch vụ du lịch được xem như ngành “công nghiệp không khói”, nếu biết quy hoạch hợp lý và đầu tư bài bản thì sẽ tạo được nhiều nguồn thu nhập, công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương, cải thiện sinh kế, phát triển CSHT, phát triển giáo dục,

Nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch sẽ có được nhiều giá trị gia tăng nếu biết phát triển kinh tế chất lượng, bao gồm cả việc đăng ký nhãn mác sản phẩm, nhãn hiệu hàng hóa chất lượng cao, nhãn sinh thái, nhãn sinh quyển,

1.2.3 Phát triển để bảo tồn (Phát triển kinh tế để nâng cao hiệu quả bảo tồn)

Kinh tế phát triển thì cuộc sống người dân được cải thiện, khi đời sống vật

Trang 19

công nghệ, khi đó các doanh nghiệp và người dân mới có thể sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ như phí sử dụng nguồn nước sạch, nguồn tài nguyên, chi trả cho các dịch vụ sinh thái và tuân theo nguyên tắc chi trả cho nguồn phát thải Nhà nước hoặc BQL các khu DTSQ sẽ có thêm nguồn thu thuế, phí, để tái đầu tư cho các hoạt động bảo tồn của khu DTSQ Đặc biệt khi dân trí và ý thức của người dân được nâng cao thì áp lực lên các khu sinh quyển, khu bảo tồn sẽ giảm đi rất nhiều

Một trong các giá trị của khu DTSQ là ĐDSH cao, đồng nghĩa với việc hấp thu các chất thải khí nhà kính, hạn chế hiệu ứng nhà kính và BĐKH Các công ước quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính sẽ tạo ra các hoạt động thương mại và thị trường phát thải carbon, khi đó các quốc gia hay tập đoàn lớn sẽ phải bỏ tiền để mua tín chỉ carbon của các khu DTSQ và đây sẽ là nguồn thu đáng kể trong tương lai của các khu DTSQ [20]

Sinh kế bền vững

Sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên Tiêu chí sinh kế bền vững gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng – xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và cú sốc

Trang 20

chăn nuôi, thủ công gia đình, sản xuất và trao đổi hàng hóa (sinh kế sản xuất) và khai thác tài nguyên, các nguồn lợi tự nhiên (sinh kế chiếm đoạt)

1.3.2 Tiếp cận sinh kế bền vững

Ba thành tố chính của sinh kế theo DFIT là:

 Nguồn lực và khả năng mà con người có được

 Chiến lược sinh kế (thể hiện ở các hoạt động sinh kế)

 Kết quả sinh kế

Các thành tố của một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên ngoài Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (Hình 1.1)

Nguồn: [13]

Hình 1.1 Khung phân tích sinh kế bền vững của nông dân nghèo (SLF)

1.3.3 Giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế

Để giảm nghèo, phát triển sinh kế bền vững, ngoài việc các hộ dân phải tự

Trang 21

ngoài Vai trò của các chương trình can thiệp hỗ trợ là tác động vào tài sản sinh kế

và chiến lược sinh kế của nông hộ, giúp họ tăng cường tài sản và giảm tổn thương

1.3.4 Tương quan giữa sinh kế bền vững với bảo tồn tài nguyên ĐDSH ở các Khu DTSQ

a) Giá trị của tài nguyên khu DTSQ với sinh kế người dân địa phương

Đối với người dân địa phương, các giá trị sử dụng trực tiếp như: thu hái bền vững, săn bắt động vật, khai thác thủy hải sản, thu lượm củi đun, đất cho sản xuất nông nghiệp, bãi chăn thả là những giá trị thiết thực nhất và là nguồn tài nguyên quan trọng đối với họ, đặc biệt trong bối cảnh họ chưa phát triển được các sinh kế mới thay thế các sinh kế truyền thống dựa vào tài nguyên khu DTSQ Bên cạnh đó, các giá trị gián tiếp như ổn định thời tiết, khí hậu, cấp nước, kiểm soát lũ lụt cũng là điệu kiện quan trọng để người dân triển khai các hoạt động sinh kế ở khu DTSQ

b) Quản lý tài nguyên ở các khu dự trữ sinh quyển

Nguyên lý phân bổ và thụ hưởng lợi ích: Quản lý tài nguyên ở các khu

DTSQ gồm cả ba phương diện, đó là một loạt các sắp xếp tổ chức, kỹ thuật và bản địa dựa trên các yếu tố khoa học và xã hội liên quan đến việc tổ chức, kiểm tra, quyền hưởng thụ và phân bổ lợi ích của các nguồn tài nguyên các khu DTSQ Quyền hưởng thụ và phân bổ lợi ích của các khu DTSQ, KBT là vấn đề đã được phân tích, đánh giá và ứng dụng trong bảo tồn Đây là tiền đề hình thành hai

phương thức quản lý là quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý tài nguyên

Nguyên lý quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, đồng quản lý tài nguyên:

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng có tác động tích cực đến ĐDSH PGS Lê

Diên Dực trong bài viết “Vai trò của cộng đồng trong phát triển và bảo tồn đa

dạng sinh học” đã đưa ra 6 nguyên tắc của quản lý dựa vào cộng đồng Trong đó,

tác giả cho rằng phát triển sinh kế bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn về sinh kế và lương thực cho cộng đồng, sinh kế là điểm chủ chốt trong

mối tương tác giữa con người và tài nguyên, quyết định tính bền vững

Phát triển sinh kế bền vững với bảo tồn đa dạng sinh học: Sinh kế bền vững

là xu thế phát triển hài hòa để đảm bảo mục tiêu bảo tồn ĐDSH và phát triển kinh

Trang 22

tế, xã hội, đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương sống trong khu DTSQ [13]

1.4 Tổng quan các nghiên cứu liên quan

1.4.1 Tại Việt Nam

Trong hệ thống 9 khu DTSQ tại Việt Nam (tính đến đầu năm 2015), một số khu DTSQ có đặc điểm tương đồng về điều kiện sinh thái (như: biển đảo, rừng, các bãi bồi) như khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An như: Khu DTSQ Cát Bà, Khu DTSQ Kiên Giang, Khu DTSQ Cà Mau Một số khu đã triển khai các nghiên cứu

về bảo tồn và phát triển bền vững dựa vào cộng đồng và thu được nhiều thành tựu

Điển hình như các sáng kiến và chương trình cộng đồng đã được nghiên cứu

và triển khai ở khu DTSQ Cát Bà – Hải Phòng Trong vòng 10 năm sau khi Khu DTSQ quần đảo Cát Bà được công nhận, dịch vụ, du lịch sinh thái cộng đồng gắn với các hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học vùng lõi được tăng cường Việc săn bắt động vật, thay đổi cảnh quan đã được kiểm soát chặt chẽ trong khi kinh tế cộng đồng không ngừng được nâng cao từ các lợi ích của phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất thân thiện với môi trường Cát Bà đã nghiên cứu và triển khai các sáng kiến phát triển kinh tế cộng đồng và doanh nghiệp như: Chương trình kinh tế chất lượng, các mô hình khuyến nông, xây dựng và gắn nhãn sinh quyển/ sinh thái cho các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ du lịch, mô hình DLST, trồng rừng ngập mặn, giao khoán đất rừng,… đồng thời xây dựng Quỹ Phát triển bền vững Khu DTSQ Cát Bà nhằm huy động xã hội hoá các nguồn vốn của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước cho hoạt động bảo tồn và phát triển Khu DTSQ quần đảo Cát

Bà Các hoạt động, chiến lược phát triển sinh kế cộng đồng, gắn với bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học Khu DTSQ đã gặt hái được một số thành tựu đáng kể, đóng góp vào nỗ lực xoá đói giảm nghèo của quốc gia tại vùng biển Cát Bà Mức thu nhập bình quân đầu người của dân khu vực này tăng khá nhanh, năm 2004 đạt trên 4,7 triệu đồng/năm, đến 2011 là 24 triệu/người/năm Tỷ lệ hộ có mức sống từ trung bình trở lên chiếm 93,88% tổng số hộ trên địa bàn [18]

Trang 23

Khu DTSQ thế giới Kiên Giang được sự hỗ trợ của các tổ chức GIZ (Cộng hòa Liên bang Đức), AusAID (Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc) đã nghiên cứu và triển khai dự án “Bảo tồn và Phát triển Khu DTSQ Kiên Giang” năm 2011 – trọng điểm là VQG U Minh Thượng Với phương pháp tiếp cận có sự tham gia và phối hợp thực hiện của người dân địa phương đặc biệt là những người dân nghèo, hội phụ nữ, đoàn thanh niên và chính quyền địa phương với mục tiêu sử dụng bền vững TNTN Khu DTSQ Kiên Giang Dự án đã lồng ghép các hoạt động của mình với chương trình sinh kế và xóa đói giảm nghèo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và các tổ chức xã hội dân sự, người dân địa phương trong việc bảo tồn ĐDSH ở các khu vực ưu tiên Các hoạt động cụ thể của dự án: Tập huấn nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên, biên soạn tài liệu giáo dục môi trường và ban hành cho các trường tiểu học sử dụng làm tài liệu giảng dạy, triển khai mô hình quản lý vùng bờ biển trình diễn (trồng rừng ngập mặn ở khu vực xói

lở cao), chương trình sinh kế giúp tăng thu nhập bình quân cho phụ nữ góp phần xóa đói giảm nghèo (trồng lúa, rau màu, nuôi cá Sặc rằn dưới tán rừng tràm, nuôi sò huyết,…) [8]

1.4.2 Trên thế giới

Trong hệ thống 669 khu DTSQ trên thế giới (năm 2015) có rất nhiều khu DTSQ với những đặc thù hệ sinh thái tương đồng với Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An và cũng nhiều khu trong số đó đã nghiên cứu và áp dụng tương đối thành công những mô hình bảo tồn TNTN dựa vào cộng đồng góp phần nâng cao sinh kế

và phát triển bền vững

Khu DTSQ đảo Jeju – Hàn Quốc, nằm ở phần phía nam của bán đảo Triều Tiên với một ngọn núi lửa có độ cao 1.950 mét so với mực nước biển Khu DTSQ gồm có vùng lõi là Vườn Quốc gia Halla, hai dòng sông bao bọc xung quanh và ba hòn đảo nhỏ Sự đa dạng của các hệ sinh thái được trong dự trữ sinh quyển bao gồm các khu rừng lá kim, rừng lá rụng ôn đới, rừng thường xanh ôn đới và đồng cỏ ôn đới Ba hòn đảo nhỏ không người ở có tầm quan trọng trong bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học rừng và hệ thống các rạn san hô Trong vùng đệm xung quanh các

Trang 24

đảo nhỏ là nơi đánh cá và là nơi hoạt động các tour du lịch Các vùng đệm khác và vùng chuyển tiếp bao gồm khu vực trồng rừng, nơi có các hoạt động nông nghiệp, đất đồng cỏ chăn nuôi và khu dân cư Với sự đa dạng sinh học cao, địa hình núi lửa độc đáo và nền văn hóa đặc sắc của đảo Jeju đã thu hút nhiều khách du lịch Phát triển du lịch bền vững kết hợp bảo tồn các giá trị TNTN đã được chính phủ Hàn Quốc và chính quyền đảo Jeju hết sức quan tâm Mô hình được chính quyền nơi đây nghiên cứu và áp dụng là phát triển du lịch sinh thái và kinh tế sinh thái, cụ thể:

 Khu vực vùng lõi: là nơi được phép diễn ra các hoat động tham quan và đi bộ vào Vườn quốc gia Halla, bên cạnh đó là những hoạt động liên quan đến giám sát và nghiên cứu, và 1 số khu vực cho phép là nơi trồng nấm hương

(Lentinus edodes) cho người dân địa phương – một loại sinh kế tạo ra thu

nhập tương đối ổn định cho điạ phương và thân thiện với môi trường Trong khu vực ba hòn đảo không có người ở được cho phép diễn ra các hoạt động câu cá, và vùng thung lũng dọc hai con sông thường được diễn ra các hoạt động tham quan cắm trại mùa hè

 Vùng đệm : trồng nấm hương, trồng rừng và bảo vệ rừng, câu cá, ngắm cảnh, các hoạt động giám sát và nghiên cứu, các hoạt động du lịch tàu được cho phép trên vùng biển quanh ba đảo nhỏ, nơi đây được thiết kế thành công viên biển dành cho du lịch

 Vùng chuyển tiếp: Các loại đất trong vùng chuyển tiếp chủ yếu là những đồng cỏ, rừng, đất canh tác nông nghiệp, các trang trại chăn nuôi, vườn cây

ăn trái và các nhà kính, các cơ sở du lịch liên quan như sân golf và các khóa học cưỡi ngựa, và khu vực chủ yếu tập trung dân cư sinh sống [31]

Những hoạt động bảo tồn kết hợp phát triển kinh tế sinh thái, kinh tế bền vững nơi đây đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, đưa đảo Jeju trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân và nguồn thu ngân sách cho chính quyền địa phương đồng thời vẫn gìn giữ được các giá trị to lớn mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này

Trang 25

Khu DTSQ đảo Yakushima – Nhật Bản nằm ở tỉnh Kagoshima, Kyushu ở phía nam của Nhật Bản, bao gồm vùng lõi là 1 công viên quốc gia (chiếm 38% diện tích đảo) và ngọn núi Miyanoura (cao 1.936 mét trên mực nước biển, ở trung tâm của hòn đảo) Khu DTSQ có các HST rừng nguyên sinh nhiệt đới, cận nhiệt đới và

ôn đới, rừng lá kim thường xanh với cây tuyết tùng Nhật Bản đặc thù (Cryptomeria

japonica) - một số trong số đó có tuổi đời lên đến hơn 1.000 năm, đồng cỏ, HST

ven biển với giá trị ĐDSH cao với nhiều loài sinh vật đặc trưng quý hiếm Dân số trên đảo vào khoảng 14.000 người sinh sống bằng du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các ngành công nghiệp khác Cộng đồng dân cư trên đảo có một nền văn hóa truyền thống độc đáo có mối quan hệ gần gũi với thiên nhiên, đặc biệt chặt

chẽ với loài hươu (Cervus nippon) – loài động vật đặc trưng và chiếm số lượng rất lớn trên đảo, rùa biển (Caretta) và cá thu (Scomberomorus niphonius) Cùng với

nhiều lợi thế về nguồn TNTN và TNNV phong phú, đa dạng và độc đáo, Yakushima cũng từng phải đối mặt với rất nhiều thách thức về mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, người dân địa phương đã từng phản ứng dữ dội khi bị cấm vào vùng bảo tồn và bị bắt buộc ngưng hoàn toàn các hoạt động khai thác gỗ tùng,

gỗ sồi và săn bắn động vật – những nguồn sinh kế từng là truyền thống lâu đời và gắn với văn hóa nơi đây Khi đảo Yakushima được công nhận là khu DTSQ và được thế giới biết đến nhiều hơn thì lượng khách du lịch đến tham quan đảo cũng tăng dần hàng năm, lúc này lại gây ra nhiều áp lực lên các nguồn TNTN khi du khách hầu như chỉ tập trung vào những nơi cụ thể gây quá tải và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên những nơi này (như Jomon Sugi) Bên cạnh đó việc bảo vệ nghiêm ngặt loài hươu (không có kẻ thù tự nhiên trên đảo) cũng gây nên sự gia tăng

số lượng đàn hươu quá mức, ảnh hưởng đến mùa màng của người dân và gây hư hại nặng nề thảm thực vật tự nhiên Do vậy chính quyền Yakushima đã nghiên cứu và

áp dụng các kế hoạch tích hợp giữa khoa học kỹ thuật, quản lý và quy hoạch để tăng cường phát triển nền kinh tế địa phương dựa vào việc sử dụng bền vững nguồn TNTN, tăng cường du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa Khái niệm “Làng văn hóa môi trường Yakushima” được đề ra với việc nhấn mạnh mối quan hệ lịch

Trang 26

sử giữa thiên nhiên hùng vĩ nơi đây với nền văn hóa truyền thống đặc trưng Khái niệm này chia đảo Yakushima thành 3 khu vực dựa trên quan điểm của người dân

về thiên nhiên từng khu vực và mỗi khu vực có chính sách bảo tồn và sử dụng bền vững riêng:

 Khu vực bảo vệ: là vùng lõi của đảo Yakushima, nơi đây ngoài là khu di sản thế giới thì còn là không gian cho tín ngưỡng của người dân Khu vực này là nơi tôn trọng các mối quan hệ lịch sử giữa con người và thiên nhiên, cấm các tác động của con người và kiểm soát lượng du khách chặt chẽ

 Khu vực sử dụng bền vững: tiếp giáp và bao bọc xung quanh vùng lõi, là nơi

có các HST được bảo tồn, các hoạt động của còn người có giới hạn, được đầu tư để phát triển du lịch sinh thái thân thiện với thiên nhiên, là nơi phát triển ngành lâm nghiệp bền vững với các loài cây bản địa

 Khu dân sinh và văn hóa: bao bọc phía ngoài cùng của đảo, là nơi thúc đẩy một nền văn hóa phong phú và người dân sống hài hòa với thiên nhiên, nơi xây dựng các cơ sở du lịch theo hướng phân tán sự tập trung của khách du lịch ra xung quanh đảo [29,30]

Trang 27

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu của luận văn tập trung vào vùng lõi của Khu DTSQ là

xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, với 4 thôn: Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Hương và Thôn Cấm

Trang 28

a) Phương pháp tiếp cận hệ thống

Năm 1956 đánh dấu sự xuất hiện của tiếp cận hệ thống với công trình của

nhà sinh vật học người Áo Ludwig Von Bertalanffy cùng với “Học thuyết chung về

hệ thống” Trong tác phẩm này, ông đã đưa ra khái niệm hệ thống “là một tổng thể, duy trì sự cân bằng tồn tại bằng sự tương tác giữa các hợp phần tạo nên nó”, và

mỗi hợp phần của một hệ thống thông thường lại tham gia vào nhiều hệ thống khác nhau Mỗi hệ thống là một tổ hợp nhiều yếu tố cấu thành có mối quan hệ tương tác qua lại với nhau trong môi trường của hệ thống, khi một thành tố này thay đổi thì sẽ kéo theo sự thay đổi của thành tố khác và dẫn đến sự thay đổi của toàn hệ thống Khi xem xét trong môi trường của hệ thống lại bao gồm nhiều hệ thống khác nhau

và các hệ thống này cũng có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau Ví dụ: Trong

hệ thống HST nhân văn có hệ thống tự nhiên (bao gồm các yếu tố: tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, thông tin…), hệ thống kinh tế (sản xuất, phân phối, tiêu dùng,…) và hệ thống xã hội (chính sách, luật pháp, tôn giáo, tri thức,…), các hệ thống này có quan hệ chặt chẽ và tương tác lẫn nhau Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong môi trường của hệ thống vừa có tính nguyên nhân, vừa có tính điều khiển và rất nhiều tương tác có thể liên kết với nhau tạo thành chuỗi tương tác nguyên nhân – kết quả

Xây dựng mô hình và mô phỏng là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong tiếp cận hệ thống, được xây dựng như một phần của cách tiếp cận phân tích,

mô hình là sự hợp nhất các thành tố chính của hệ thống để xem xét hành vi của hệ thống như một tổng thể bằng cách đề cập thật nhiều đến sự phụ thuộc qua lại giữa các yếu tố

Tiếp cận hệ thống không chỉ sử dụng kiến thức chuyên sâu của một ngành khoa học mà còn sử dụng kiến thức đa ngành và liên ngành, chính vì vậy tiếp cận hệ thống được xem là một phương pháp tiếp cận rất quan trọng và được sử dụng thường xuyên trong nghiên cứu ở lĩnh vực môi trường và phát triển – lĩnh vực đòi hỏi các kiến thức liên ngành và đa ngành Đặc biệt vào những năm đầu thế kỷ 21 đã

Trang 29

đánh dấu bước phát triển ứng dụng ồ ạt của tiếp cận hệ thống vào các hệ sản xuất, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ,… [11]

Tiếp cận hệ thống trong quản lý TNTN coi TNTN là một bộ phận của của hệ thống tự nhiên, đồng thời nó cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các yếu tố kinh tế

xã hội

Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả xem xét vùng lõi Cù Lao Chàm là một hệ thống mà trong đó bao gồm nhiều yếu tố (tài nguyên thiên nhiên, con người – nhân văn,…) có mối quan hệ tương hỗ và tác động lẫn nhau trong quá trình vận hành và phát triển Thông qua mô hình phát triển bền vững để xem xét một cách có hiệu quả các giải pháp để bảo tồn yếu tố TNTN nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế cho người dân địa phương (nhân văn) và cũng nhờ sự phát triển kinh tế

để đảm bảo việc bảo tồn các nguồn TNTN một cách tốt nhất

b) Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái

Tiếp cận HST là giải pháp quản lý tổng hợp các hợp phần trong HST bao gồm đất, nước và các tài nguyên sinh học, cũng như các mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau nhằm thúc đẩy bảo tồn, sử dụng bền vững, chia sẻ công bằng lợi ích

có được từ các nguồn tài nguyên đó và dịch vụ có được từ HST

Cách tiếp cận này là khung cơ bản cho hành động nhằm thực hiện Công ước

về Đa dạng sinh học (CBD) Việc áp dụng tiếp cận HST giúp đạt được sự cân bằng giữa 3 mục tiêu: bảo tồn, sử dụng bền vững và chia sẻ một cách công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen Tiếp cận HST dựa trên việc ứng dụng các phương pháp khoa học thích hợp tập trung vào các cấp độ tổ chức sinh học, bao gồm các chức năng, quá trình, cấu trúc thiết yếu và những mối tương tác giữa sinh vật và môi trường của chúng Tiếp cận HST yêu cầu cách quản lý mang tính thích ứng để phù hợp với bản chất năng động và phức tạp của các HST

12 nguyên lý chung của tiếp cận HST:

1) Những mục tiêu của quản lý đất, nước và môi trường sống là một vấn đề của sự lựa chọn xã hội

2) Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý phù hợp nhất và thấp nhất

Trang 30

3) Các nhà quản lý HST nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động họ thực hiện tới những HST lân cận và các HST khác

4) Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý, đó là sự cần thiết thường xuyên để hiểu được và quản lý HST trong một bối cảnh kinh tế Mỗi một chương trình quản lý HST như thế này nên bao gồm:

 Giảm những khiếm khuyết của thị trường làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự ĐDSH;

 Khuyến khích để thúc đẩy việc sử dụng bền vững và bảo tồn sự ĐDSH;

 Nội tại hóa chi phí và lợi ích của một HST ở một cấp độ khả thi nhất

5) Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng HST, để duy trì dịch vụ HST nên được xem như là một mục tiêu ưu tiên của tiếp cận HST

6) HST nên được quản lý trong phạm vi chức năng của nó

7) Tiếp cận HST nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp

8) Nhận ra được sự khác nhau phạm vi không gian và những tác động muộn do đặc thù của một HST, mục tiêu của quản lý HST nên được thiết lập cho dài hạn 9) Quản lý phải nhận ra sự thay đổi là không thể tránh khỏi

10) Tiếp cận HST nên tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng ĐDSH

11) Tiếp cận HST nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học và bản địa, sự đổi mới và thực tiễn

12) Tiếp cận HST nên thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên quan của một

xã hội và những kiến thức khoa học

Trong khuôn khổ luận văn, cách tiếp cận HST sẽ xem xét vùng lõi Khu DTSQ – quần đảo Cù Lao Chàm như một HST đặc thù với các yếu tố: thiên nhiên, con người, văn hóa – xã hội không thể tách rời của HST quần đảo [14]

c) Phương pháp tiếp cận quản lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng

Việc quản lý bảo tồn TNTN dựa vào cộng đồng có nhiều ý nghĩa thực tiễn và

Trang 31

những người chịu tác động và hưởng lợi trực tiếp từ nguồn TNTN đó Nguyên tắc cốt lõi của việc tiếp cận quản lý TNTN dựa vào cộng đồng đó chính là sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì và giám sát việc quản lý bảo tồn TNTN mà nhờ đó cộng đồng được hưởng lợi Với tư cách vừa là người sử dụng, vừa là người quản lý, cộng đồng địa phương sẽ có trách nhiệm cao hơn đối với việc bảo tồn TNTN, đóng góp và đề xuất các ý tưởng, tiếng nói vào việc ra quyết định của chính quyền trong việc bảo tồn TNTN Trên hết, cộng đồng phải được tuyên truyền, tập huấn để nắm rõ được quyền lợi và lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp của cộng đồng khi tham gia vào công tác bảo tồn TNTN

Sự tham gia của cộng đồng địa phương có thể vào một, một vài hoặc tất cả các công đoạn: tham gia trực tiếp, quản lý, vận hành, giám sát,… của công tác quản lý bảo tồn TNTN Mức độ tham gia của cộng đồng cũng rất đa dạng, từ việc chia sẻ thông tin, đề xuất ý tưởng, thậm chí là chia sẻ chi phí hoặc tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tế của công tác bảo tồn TNTN tại địa phương

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp

Học viên đã thu thập, tổng hợp và kế thừa các nguồn tài liệu, số liệu, thông tin

về lĩnh vực bảo tồn các nguồn TNTN, các giá trị văn hóa nhân văn dựa vào cộng đồng, các phương pháp cải thiện sinh kế và phát triển bền vững cho cộng đồng dân

cư trong các khu DTSQ ở các nước trên thế giới, Việt Nam nói chung và vùng nghiên cứu (Cù Lao Chàm) nói riêng Các nguồn tài liệu, số liệu được thu thập đa dạng và cập nhật từ nhiều nguồn, từ chính thống trên giáo trình, các nghiên cứu khoa học đã được công bố rộng rãi, hoặc những nguồn thông tin từ các bài báo, chuyên đề, internet

b) Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Từ các nguồn tài liệu thứ cấp thu thập được, học viên sử dụng phương pháp thống kê và xử lý số liệu, tài liệu để tổng hợp nên bức tranh tổng quát về tài liệu liên quan đến các vấn đề mà luận văn hướng đến, hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu của luận văn

Trang 32

c) Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)

Phương pháp PRA được sử dụng để các thành viên cộng đồng tự đánh giá về thế mạnh và những mặt hạn chế của cộng đồng, cũng như những cơ hội và thách thức, các mối nguy cơ đối với hoạt động bảo tồn của khu vực Học viên áp dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc – một dạng phỏng vấn sâu, có dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng phỏng vấn nhằm làm

rõ các nội dung sau:

 Điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn của khu vực nghiên cứu;

 Hiện trạng các hoạt động du lịch, dịch vụ, sinh kế của địa phương;

 Nhận thức của người dân về danh hiệu khu DTSQ, vấn đề bảo tồn và sử dụng hiệu quả các nguồn TNTN, TNNV của địa phương;

 Một số hoạt động bảo tồn và tình hình vệ sinh môi trường ở địa phương;

 Những thế mạnh và hạn chế của địa phương trong công tác bảo tồn, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn TNTN, TNNV

Hình 2.2 Học viên phỏng vấn bán cấu trúc với một số trưởng thôn xã đảo Tân Hiệp

Các câu hỏi được thiết kế để phù hợp với thực tế và đối tượng được hỏi để thu thập được tối đa nguồn thông tin cần thu thập và độ chính xác được đảm bảo

Do thời gian nghiên cứu và khảo sát thực địa không nhiều, học viên chỉ tập trung

Trang 33

DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An, Khu BTB Cù Lao Chàm, và một số trưởng thôn xã đảo Tân Hiệp Lý do chọn những những đối tượng được phỏng vấn này vì họ là những người có hiểu biết nhất định và tương đối tổng quát về điều kiện tự nhiên,

KT - XH của khu vực nghiên cứu hoặc có chuyên môn về bảo tồn, đa dạng sinh học, quản lý tài nguyên Cụ thể, học viên tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc với một

số cán bộ trong BQL Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An (ông Phạm Văn Hiệp, ông

Lê Ngọc Thảo), một số cán bộ của BQL khu BTB Cù Lao Chàm (ông Ngô Đình Quý, ông Diên), trưởng thôn Cấm, trưởng thôn Bãi Làng, trưởng thôn Bãi Ông

* Công cụ SWOT

SWOT (Strength – Weakness – Opportunity – Threat): Công cụ phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối nguy cơ Dựa trên công cụ phân tích SWOT giúp cho việc làm rõ 4 mặt trên để lựa chọn phương pháp tối ưu, tránh sa vào các quyết định chủ quan Về cơ bản, mô hình của phân tích SWOT được thể hiện như trong Bảng 2.1 dưới đây

Bảng 2.1 Ma trận phân tích SWOT

Môi trường bên trong Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W) Môi

trường

bên

ngoài

Cơ hội (O) Sử dụng điểm mạnh

khai thác cơ hội (SO)

Khắc phục điểm yếu khai thác cơ hội (WO)

Nguy cơ (T) Sử dụng điểm mạnh

hạn chế nguy cơ (ST)

Khắc phục điểm yếu hạn chế nguy cơ (WT) Điểm mạnh, điểm yếu phản ánh yếu tố chủ quan, yếu tố bên trong, trong khi

cơ hội và nguy cơ phản ánh các yếu tố khách quan bên ngoài, bao gồm các khía cạnh về tự nhiên, môi trường, kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, khoa học

kỹ thuật và các yếu tố khác

* Phương pháp phân tích các bên liên quan (stakeholders)

Những người có liên quan là các cá nhân, các nhóm hay các tổ chức bao gồm

cả nam và nữ, những người mà bằng cách này hay cách khác quan tâm, tham gia hay bị ảnh hưởng (tích cực hay tiêu cực) bởi một dự án bảo tồn hay phát triển cụ thể Những người bị thúc đẩy hành động trên cơ sở các giá trị hay mối quan tâm của

Trang 34

họ Những người có liên quan có vai trò quan trọng vì họ có thể hỗ trợ và duy trì một nguồn tài nguyên cụ thể nào đấy liên quan trực tiếp đến sinh kế hoặc đời sống của họ, họ có thể là các đối tác tiềm năng hoặc là các mối đe dọa trong quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên Phân tích những người có liên quan là phương pháp mà thông qua đó sẽ hiểu biết rõ các đặc điểm của các cá nhân, nhóm hoặc tổ chức và mối quan hệ trong tương lai của họ đối với một nguồn tài nguyên hay dự án

cụ thể Phân tích những người có liên quan không chỉ là việc định nghĩa đơn giản về

họ mà còn là việc kiểm tra mối quan tâm của người có liên quan tới một hay nhiều nguồn tài nguyên cụ thể và tác động của hoạt động bảo tồn đến người có liên quan Phương pháp phân tích này cũng cố gắng xác định những chiến lược đương đầu với khó khăn để giảm thiểu hay loại bỏ các tác động tiêu cực của các hoạt động bảo tồn đến những người có liên quan Phương pháp này được học viên sử dụng để lựa chọn các giải pháp bảo tồn có sự tham gia tích cực của cộng đồng, gắn việc bảo tồn tài nguyên với lợi ích của người dân liên quan, bản chất chính là hướng bảo tồn đến phát triển và hướng phát triển gắn với bảo tồn

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Xã Tân Hiệp hay còn gọi là Cù Lao Chàm là một quần đảo thuộc thành phố Hội An, nằm về phía đông tỉnh Quảng Nam, cách bờ biển Cửa Đại 15km và cách trung tâm phố cổ Hội An 19km theo hướng Đông – Đông Bắc Cù Lao Chàm có 8 hòn đảo lớn nhỏ nối tiếp nhau theo hình cánh cung trải rộng là: Hòn Lao, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Dài, Hòn Mồ và Hòn Ông với tổng diện tích 11.560ha (bao gồm cả diện tích đất tự nhiên và mặt biển) Đảo lớn nhất là Hòn Lao với diện tích 1.317ha và cũng là đảo duy nhất có người dân sinh sống với khoảng hơn 2.500 người

b) Địa chất, địa mạo

Cù Lao Chàm là phần kéo dài về phía Đông Nam của khối núi đá granit Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà (phức hệ Hải Vân) được hình thành cách đây khoảng

230 triệu năm Chúng được lộ trên bề mặt trái đất và tạo địa hình trên đảo bởi quá trình vận động nâng lên của vỏ trái đất dọc các đứt gãy kiến tạo phương Tây Bắc – Đông Nam Nhìn tổng thể, hình thái chung của đảo Cù Lao Chàm có dạng khối với góc cạnh rõ ràng, phản ánh khá rõ vai trò của các hoạt động kiến tạo trong việc tạo nên bình đồ địa hình tại đây Sự giao nhau giữa các khe nứt, đứt gãy tạo điều kiện cho sự mở rộng các thung lũng, là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa nước trên sườn khối núi Hòn Biển Đặc điểm nổi bật của địa hình Cù Lao Chàm là tính bất đối xứng: đảo định hướng Tây Bắc – Đông Nam với sườn Đông Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn Bờ biển sườn Đông Bắc tạo bởi các đoạn bờ thẳng hoặc hơi cong, trùng với đứt gãy và khe nứt là các vách đứng, trơ đá gốc, cao đến 100m hoặc hơn, đang chịu sự công phá mãnh liệt của biển, với quá trình đổ lở khối tảng lớn Còn bờ biển Tây Nam của đảo được tạo bởi

Trang 36

các đoạn bờ cong lõm xen với các mõm nhô, tạo thành các dạng vũng, vịnh nhỏ, với tích tụ cát lấp đầy đáy cong lõm [4]

30 – 40m Thành phần đất thường là cát pha, cấp hạt >2mm thường thấp hơn 10%; bên dưới là các tảng cục đá phong hóa, tròn cạnh Có thể xếp các đất này vào nhóm Fluvisols Chúng có hàm lượng mùn nghèo và ít thay đổi theo độ sâu; đất chua, ít bị bạc màu Đất trên ruộng bậc thang thoải trồng lúa nước ở Bắc Đồng Chùa thuộc đất chua (pHKCl = 3,72 – 3,86), nghèo mùn (1,14% trên mặt, xuống 0,26% dưới 50cm), thành phần cơ giới chủ yếu cấp cát thô – bột, cấp hạt 2 – 0,02mm chiếm đến 82 – 86% Tại trũng thấp ruộng lúa nước của Đồng Chùa, đất cát pha màu xám đen đến xám nhạt, sũng nước, bên dưới có nhiều tảng cục granit tròn cạnh Đất chua (pH = 3,97 – 4,22), mùn khá hơn (2,5% trong lớp trên mặt), thành phần cơ giới bột – cát với cấp hạt 2 - 0,02mm chiếm 84 – 90% Trên các sườn thoải (< 20%), độ cao 60 – 80m gặp tổ hợp đất tầng dày Trong phẫu diện, đất có màu nâu vàng nhạt, hơi thô, viên cục góc cạnh, thịt trung bình ít dẻo, bên dưới (15 – 20cm) lẫn nhiều sạn thạch anh và các viên cục góc cạnh phong hóa từ granit (> 50%) Đất chua (pHKCl = 4,61 – 4,12) mùn khá hơn (3,32% trên mặt) [4]

d) Thủy văn và tài nguyên nước

Với lượng mưa trung bình năm tương đối cao (>2000mm/ năm), Cù Lao Chàm có tiềm năng nước ngọt khá dồi dào, nhưng do địa hình sườn dốc và lớp đất phủ nhiều nơi tương đối mỏng nên một lượng lớn nước mưa chảy tràn đổ thẳng

Trang 37

Chàm có nhiều khe nứt và hang đá cao tạo điều kiện thuận lợi để lưu giữ lại lượng nước mưa dồi dào vào mùa mưa và cung cấp cho các mạch ngầm Bên cạnh đó trên đảo Hòn Lao có hệ thống suối nhỏ khá phong phú và có lưu lượng dòng chảy lớn như: suối Đá Chồng, suối Bìm, suối Bãi Hương và suối Đồng Chùa

Suối Bìm là con suối lớn nhất trên đảo, hầu hết chảy ngầm dưới các khối đá lớn, suối là nguồn cấp nước sinh hoạt chính cho khu vực Bãi Làng, được ngăn ở độ cao 160m tại thành hồ chứa nhân tạo để cấp nước sinh hoạt cho vùng, lưu lượng khoảng 260l/s vào mùa mưa và lúc kiệt nhất có lưu lượng khoảng 6l/s Suối Đá Chồng đổ xuống bãi Đá Chồng, là con suối có lưu lượng lớn thứ hai trên đảo có lưu lượng khoảng 120l/s mùa mưa và lúc kiệt nhất khoảng 10l/s Suối Bãi Hương đổ xuống Bãi Hương cấp nước cho hơn 100 hộ dân ở đây, suối chảy quanh năm và được ngăn đập để dẫn nước cấp ở độ cao 80m Suối Đồng Chùa đồ về thung lũng Đồng Chùa ra Âu Thuyền, nước suối chủ yếu được sử dụng để cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ở khu vực Đồng Chùa

Tài nguyên nước ngầm Cù Lao Chàm cũng được đánh giá tương đối phong phú, bình quân độ sâu tầng ngầm từ 2 – 7m cách mặt đất, mực nước ngầm tại các giếng khơi cách mặt đất từ 1,5 – 2m, mực nước ngầm tại các giếng khoan dao động

từ 4 – 7m, là nguồn nước rất quan trọng cung cấp nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt ở thôn Bãi Hương [4]

Chất lượng nước của Cù Lao Chàm hiện nay vẫn còn tốt, các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nước sinh hoạt theo QCVN, chưa bị ô nhiễm, trừ độ đục của các sông suối vào mùa mưa lũ thường tăng cao do dòng chảy lớn Nhìn chung với nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm phong phú và đạt chất lượng tốt, Cù Lao Chàm có nguồn cung nước ngọt khá dồi dào và đảm bảo chất lượng, chưa phải đối mặt với việc thiếu nước sinh hoạt kể cả vào mùa khô kiệt Tuy nhiên,

Cù Lao Chàm cần có các biện pháp kịp thời để duy trì và bảo vệ nguồn nước, ngăn ngừa ô nhiễm nước do các hoạt động sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và du lịch gây nên

e) Khí hậu

Là một cụm đảo ven bờ, cách đất liền không xa nên các điều kiện khí hậu trên đảo Cù Lao Chàm có những nét tương tự so với khu vực Đà Nẵng – Hội An, và

Trang 38

thuộc á miền khí hậu phía nam của đặc trưng vùng biển Trung Trung Bộ Cù Lao Chàm chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa là căn bản, không có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt trong năm không quá 10oC Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 26,5oC, cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào tháng 12, 1, 2

Số giờ nắng của phần lớn các tháng trong năm luôn lớn hơn 100 giờ, đi kèm là lượng mưa tương đối dồi dào hơn 2000mm/năm Mùa mưa ở đây thường đến muộn hơn so với miền khí hậu phía Bắc (từ tháng 9 – tháng 12), lượng mưa vào thời điểm này chiếm hơn 85% tổng lượng mưa cả năm Đảo cũng thường phải chịu tác động của gió mạnh và các cơn bão nhiệt đới vào mùa nóng (tháng 6 – tháng 9), bão thường kèm theo sóng biển lớn gây thiệt hại cho nhân dân trên đảo và tàu thuyền qua lại trên khu vực Tốc độ gió trên đảo tương đối cao, thời điểm thấp nhất tầm 3,5m/s và cao nhất vào các tháng mùa gió đông bắc có thể lên tới 30m/s Do Cù Lao Chàm có địa hình cao chắn hướng đông bắc và hướng bắc là sườn vách dựng đứng nên đã hạn chế sự tác động của gió mùa đông bắc đến sự phát triển của hệ động thực vật và các hoạt động kinh tế - xã hội của đảo tập trung ở sườn thoải phía nam

và tây nam Độ ẩm trung bình năm khoảng 82%, cao nhất thường vào các tháng 12,

1, 2 đạt khoảng 89% và thấp nhất vào các tháng 3, 4, 5 đạt khoảng 80% [4]

Cộng với sự điều hòa khí hậu tuyệt vời của đặc trưng vùng biển đảo, Cù Lao Chàm được hưởng một nền khí hậu tương đối ôn hòa, quanh năm ấm áp, không quá khô và không quá ẩm, nhiều nắng, rất dễ chịu cho cuộc sống của cư dân và thuận lợi cho sự phát triển của thảm thực vật nơi đây Điều kiện khí hậu nơi đây cũng là yếu tố hết sức thuận lợi để phát triển du lịch biển, du khách có thể đến đảo để tham quan và tắm biển ở phần lớn thời điểm trong năm

3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

a) Dân số

Trước năm 1975, Cù Lao Chàm là nơi tụ cư lánh nạn của cộng đồng dân cư

từ các địa phương miền Trung khác nên dân số trên đảo thời điểm này tương đối đông, trên 2.100 người Sau chiến tranh, nhân dân hồi hương về đất liền, đảo chỉ

Trang 39

năm, đến năm 2014, dân số trên đảo có khoảng hơn 2.500 người sống tập trung ở đảo Hòn Lao Trên đảo, ngoài dân cư địa phương còn có một số đơn vị vũ trang như tiểu đoàn D70 lục quân và bộ đội Biên phòng đồn 276 Hiện nay toàn bộ dân cư trên đảo đều là dân tộc Kinh, đã định cư từ trước chiến tranh và phân bố tại 4 thôn: Bãi Ông, Bãi Hương, Bãi Làng và thôn Cấm

b) Tình hình kinh tế, cơ cấu kinh tế

Lao động của xã Tân Hiệp hiện được phân bố theo các ngành ngư nghiệp, thương nghiệp - du lịch – dịch vụ, nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Theo thống kê năm 2011, cơ cấu lao động tập trung đông nhất ở nhóm ngành ngư nghiệp (40% dân số), thương nghiệp – du lịch – dịch vụ (12% dân số), viên chức (12% dân số), sản xuất nhỏ (6%) Trước đây, cũng như đa số cư dân của các vùng biển đảo khác, dân cư trên đảo Cù Lao Chàm từ trước đến nay chủ yếu sống bằng nghề đi biển và các ngành nghề đặc thù miền biển Sau khi được UNESCO công nhận Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An, Cù Lao Chàm được biết đến nhiều hơn,

du khách đến đảo ngày càng đông, các dịch vụ du lịch trên đảo cùng nhờ thế ngày càng phát triển mạnh và đang chuyển dịch trở thành kinh tế mũi nhọn của đảo, thay thế dần các nguồn sinh kế khác, người dân tham gia vào các ngành dịch vụ du lịch cũng ngày càng tăng (năm 2006, số lao động tham gia trong nhóm ngành này là 6%, đến năm 2011 tăng lên 12% và tiếp tục tăng dần đến ngày nay) Nghề nông vốn là một nghề rất lâu đời và truyền thống của cư dân Cù Lao Chàm, tuy nhiên do đặc trưng về địa lý thổ nhưỡng, tính chất hóa lý của đất đai và diện tích hạn chế nên sản xuất nông nghiệp trên đảo vẫn rất hạn chế với 1 số loại hình trồng trọt: lúa nước, hoa màu, với diện tích nhỏ và sản lượng thấp, chỉ đủ cung cấp 1 phần cho nhu cầu của người dân trên đảo Nghề rừng cũng hạn chế phát triển do hiện tại rừng trên đảo một phần chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Quốc phòng, phần còn lại được chính quyền địa phương quản lý và bảo tồn nên việc khai thác lâm sản và các sản phẩm phụ rất hạn chế, chủ yếu là khai thác các loại cây thuốc và rau rừng để phục vụ cho nhu cầu người dân địa phương và phục vụ du lịch Trên đảo hiện có một số hộ làm nghề tiều thủ công nghiệp như: khai thác đá xây dựng (xây tường, kè biển), đan

Trang 40

võng ngô đồng, làm bánh mì, bánh ít, làm đồ thủ công mỹ nghệ phục vụ cho du lịch, trên đảo không có các cơ sở sản xuất công nghiệp khác

Đảo Cù Lao Chàm có cơ cấu các ngành kinh tế truyền thống gắn liền với khu vực biển đảo, đặc trưng của các làng chài Việt Nam từ bao đời như: ngư nghiệp, đan lưới, sửa tàu thuyền, chế biến thủy hải sản và một phần nhỏ làm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Các nghề này vẫn là nguồn sinh kế truyền thống của người dân đảo từ bao đời nay

c) Y tế - Giáo dục

Hiện nay trên đảo có một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở Trung bình trong những năm gần đây mỗi năm đào tạo khoảng 300 học sinh Các giáo viên đa số đều từ đất liền đến đảo để dạy học Trên đảo chưa có điều kiện và

cơ sở đào tạo trung học phổ thông nên các em học sinh phổ thông trung học phải vào thành phố Hội An để học tập

Cù Lao Chàm có 1 trạm y tế và 1 bác sỹ từ đất liền cử ra đảo để làm việc, có thể khám và điều trị cho một số bệnh thông thường và nhẹ, các ca bệnh nặng vẫn phải chuyển vào đất liền để chữa trị Các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng

và phòng chống dịch được triển khai tương đối chu đáo và kịp thời Tuy nhiên cũng như nhiều vùng xã đảo khác, các trang thiết bị cho y tế và giáo dục trên đảo còn sơ sài và thiếu thốn so với đất liền

d) Đời sống văn hóa, tinh thần

Công tác truyền thông, thông tin tuyên truyền trên đảo vào các ngày lễ lớn của dân tộc và địa phương được tổ chức tương đối tốt và thu hút sự quan tâm, tham gia đông đảo của người dân Đài truyền thanh của xã luôn duy trì được các buổi thu

âm và xây dựng các chương trình phát thanh về nhiều chủ đề khác nhau: kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng, tuyên truyền xây dựng nếp sống văn hóa, bảo tồn biển, bảo vệ môi trường, tuyên truyền phòng chống dịch, Tiêu biểu là các chương trình phát thanh chuyên mục “Bảo tồn biển”, “Nếp sống mới’, “Vì chủ quyền biên giới quốc gia”, Phong trào xây dựng đời sống văn hóa được chú trọng và đạt được

Ngày đăng: 20/11/2017, 09:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2014), Sổ tay du lịch Cù Lao Chàm, Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay du lịch Cù Lao Chàm
Tác giả: Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm
Năm: 2014
2. Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2015), Tổng hợp những giá trị di sản văn hóa của Hội An, Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp những giá trị di sản văn hóa của Hội An
Tác giả: Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm
Năm: 2015
3. Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm (2015), Hiện trạng rạn san hô tại Khu BTB Cù Lao Chàm, Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm, truy cập ngày 17/4/2016, http://www.culaochammpa.com.vn/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=236:hin-trng-rn-san-ho-ti-khu-bo-tn-bin-cu-lao-cham-nm-2012&amp;catid=38:tai-liu-vn-bn&amp;Itemid=2&amp;lang=vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng rạn san hô tại Khu BTB Cù Lao Chàm
Tác giả: Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm
Năm: 2015
4. Đặng Văn Bào và cs. (2008), Phát triển mô hình kinh tế sinh thái đảo Cù Lao Chàm, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 119 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mô hình kinh tế sinh thái đảo Cù Lao Chàm
Tác giả: Đặng Văn Bào và cs
Năm: 2008
5. Cổng thông tin điện tử Thành phố Đà Nẵng, Thắng cảnh di tích, Danang.gov, truy cập ngày 12/4/2016, http://www.danang.gov.vn/portal/page/portal/danang/chinhquyen/gioi_thieu/thang_canh_di_tich?p_pers_id=&amp;p_folder_id=6904985&amp;p_main_news_id=29471638&amp;p_year_sel= Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thắng cảnh di tích
6. Dulichculaocham.com.vn (2016), Di chỉ Bãi Làng, Dulichculaocham.com.vn, truy cập ngày 18/4/2016, http://www.dulichculaocham.com.vn/ di-chi-bai-lang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ Bãi Làng
Tác giả: Dulichculaocham.com.vn
Năm: 2016
7. Dulichculaocham.com.vn (2016), Khu di tích Bãi Ông, Dulichculao.com.vn, truy cập ngày 18/4/2016, http://www.dulichculaocham. com.vn/khu-di-tich-bai- ong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tích Bãi Ông
Tác giả: Dulichculaocham.com.vn
Năm: 2016
8. GIZ (2011), Dự án bảo tồn và phát triển Khu DTSQ Kiên Giang 2008 – 2016, Sở Khoa học và Công nghệ - UBND tỉnh Kiên Giang, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án bảo tồn và phát triển Khu DTSQ Kiên Giang 2008 – 2016
Tác giả: GIZ
Năm: 2011
9. Googlemap.com, Dữ liệu bản đồ khu vực Cù Lao Chàm, truy cập ngày 20/9/2016, https://www.google.com/maps/place/C%C3%B9+Lao+Ch%C3%A0m/@15.9509055,108.4770504,13z/data=!3m1!4b1!4m5!3m4!1s0x31426c2d9de37a13:0x7a481df43be05eee!8m2!3d15.9589711!4d108.5072994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dữ liệu bản đồ khu vực Cù Lao Chàm
10. Hoian.vn (2016), Hệ thống quản lý chất thải rắn Cù Lao Chàm, Hoian.vn, truy cập ngày 13/5/2016, http://dulichculaocham.net/tin-du-lich/he-thong-quan-ly-chat-thai-ran-o-cu-lao-cham/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý chất thải rắn Cù Lao Chàm
Tác giả: Hoian.vn
Năm: 2016
11. Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (2007), Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 105 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
12. Nguyễn Đức Minh (2014), Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An những vấn đề cần quan tâm, BQL Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An, Quảng Nam, 7 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An những vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Năm: 2014
13. Vũ Thị Ngọc (2012), Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, Tóm tắt luận văn thạc sỹ, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng ở khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Vũ Thị Ngọc
Năm: 2012
14. Shepherd G. (2004), Tiếp cận hệ sinh thái: Năm bước để thực hiện, IUCN, Gland, Switzerland và Cambridge, Vương quốc Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hệ sinh thái: Năm bước để thực hiện
Tác giả: Shepherd G
Năm: 2004
15. Lê Ngọc Thảo (2015), Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại Khu SQ Cù Lao Chàm – Hội An, BQL Khu DTSQ Cù Lao Chàm – Hội An, Quảng Nam, 9 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại Khu SQ Cù Lao Chàm – Hội An
Tác giả: Lê Ngọc Thảo
Năm: 2015
16. Phạm Thị Kim Thoa (2015), “Đa dạng thực vật thân gỗ Cù Lao Chàm”, Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 2015, 1, tr. 3669-3676 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thực vật thân gỗ Cù Lao Chàm”, "Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp 2015
Tác giả: Phạm Thị Kim Thoa
Năm: 2015
17. Thông tin Du lịch Đà Nẵng Hội An (2016), Đến Cù Lao Chàm khám phá vương quốc chim Yến, Dananghoian.com, truy cập ngày 25/4/2016, http://dananghoian.com/den-cu-lao-cham-kham-pha-vuong-quoc-chim-yen/. 5 18. Trang thông tin điện tử Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến Cù Lao Chàm khám phá vương quốc chim Yến
Tác giả: Thông tin Du lịch Đà Nẵng Hội An
Năm: 2016
19. Nguyễn Hoàng Trí (2006), Sinh quyển và các khu dự trữ sinh quyển, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 236 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh quyển và các khu dự trữ sinh quyển
Tác giả: Nguyễn Hoàng Trí
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
20. Nguyễn Hoàng Trí (2014), Phát triển một nền kinh tế dựa vào bảo tồn với phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn trong các khu DTSQ biển, đảo của Việt Nam, Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB Việt Nam), Hà Nội, 12 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một nền kinh tế dựa vào bảo tồn với phương châm bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn trong các khu DTSQ biển, đảo của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Trí
Năm: 2014
21. Chu Mạnh Trinh (2013), Một số kinh nghiệm quản lý khu BTB Cù Lao Chàm, Fistenet.gov.vn, truy cập ngày 18/4/2016, http://www.fistenet.gov.vn/d-khai-thac-bao-ve/b-bao-ve-nguon-loi/mot-so-kinh-nghiem-quan-ly-khu-bao-ton-bien-cu-lao-cham/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm quản lý khu BTB Cù Lao Chàm
Tác giả: Chu Mạnh Trinh
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm