1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn hoàng văn viện liên kết với công ty cổ phần greenfeed việt nam

54 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 920,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ DƯƠNG VĂN THAO Tên chuyên đề: “ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 N

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

DƯƠNG VĂN THAO

Tên chuyên đề:

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN HOÀNG VĂN VIỆN LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY

CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

DƯƠNG VĂN THAO

Tên chuyên đề:

“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN HOÀNG VĂN VIỆN LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY

CỔ PHẦN GREENFEED VIỆT NAM”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2017

Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Ngọc Dương

Thái Nguyên, 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm

ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới TS Dương Ngọc Dương đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cổ phần Greefeed Việt Nam, cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công nhân trong trang trại ông Hoàng Văn Viện đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp đỡ

và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2017

Sinh viên

Dương Văn Thao

Trang 4

ii

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trại cho lợn nái 21

Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái Error! Bookmark not defined Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng của trại Error! Bookmark not defined Bảng 4.3 Kết quả công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất Error! Bookmark not defined Bảng 4.4 Mức dinh dƣỡng cho lợn con khi cai sữa 31

Bảng 4.5 Mức ăn cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 31

Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về chất lƣợng lợn con 32

Bảng 4.7 Bảng tăng khối lƣợng trên con trên ngày 33

Bảng 4.8 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con theo mẹ 34

Bảng 4.9 Tỷ lệ nhiễm bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày theo tháng 35

Bảng 4.10 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Error! Bookmark not defined Bảng 4.11 Phác đồ điều trị bệnh bệnh cho đàn lợn giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tại cơ sở 37

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại lợn Hoàng Văn Viện liên kết với công ty cổ phần Greenfeed 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 3

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4

2.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở 4

2.2.1 Đối tượng vật nuôi của trại 4

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở 4

2.3 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con 5

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 6

2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 11

2.3.4 Cai sữa cho lợn con 15

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 18

2.3.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 20

Trang 7

v

2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 21

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26

3.1 Đối tượng tiến hành 26

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.3 Phương pháp tiến hành 26

3.3.1 Phương pháp theo dõi 26

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định chỉ tiêu 26

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 28

4.1 Kết quả công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất Error! Bookmark not defined 4.1.1 Công tác chăn nuôi 28

4.1.2 Công tác thú y Error! Bookmark not defined 4.1.3 Công tác khác Error! Bookmark not defined 4.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại cơ sở 30

4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tập tại cơ sở 34

4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 34

4.3.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 34

4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 35

4.4.1 Tình hình nhiễm bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày theo tháng 35

4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh 36

Trang 8

vi

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

tại cơ sở trong thời gian thực tập 37

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trang 9

1

Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ở nước ta trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng, trong cơ cấu nông nghiệp hai ngành này có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển, ngành chăn nuôi đã đem lại lợi nhuận kinh tế đáng kể cho đất nước đặc biệt là chăn nuôi lợn

Lợn là một trong những con vật nuôi chính, hiện đang được nuôi tại các

xí nghiệp, trang trại, cũng như các nông hộ, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người dân lao động

Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà cả chất lượng của sản phẩm phải đảm bảo về chất lượng dinh dưỡng, đặc biệt là phải an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng

Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó Thịt lợn chiếm 75-80% so với các loại thịt trong chăn nuôi Để đáp ứng được nhu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm đầu tư phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho chăn nuôi Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện

chuyên đề: "Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Hoàng Văn Viện liên kết với công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam”

Trang 10

- Đánh giá đƣợc tình hình chăn nuôi tại trại lợn Hoàng Văn Viện

- Áp dụng đƣợc các quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn con từ

sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Xác định đƣợc tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại

Trang 11

3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại lợn Hoàng Văn Viện liên kết với công ty cổ phần Greenfeed

Trang trại sản xuất lợn hướng nạc của Ông Hoàng Văn Viện làm trưởng trại, nằm trên địa phận xã cao minh, thị xã Phúc Yên , tỉnh Vĩnh Phúc Trại lợn được thành lập năm 2016, là trại lợn tư nhân do ông Hoàng Văn Viện làm chủ đầu và liên kết với công ty cổ phần Greenfeed

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

- Trại lợn của Ông Hoàng Văn Viện được xây dựng trên diện tích 3 ha gồm trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 300 nái bao gồm: 2 chuồng đẻ mỗi chuồng có 50 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 2 chuồng bầu mỗi chuồng có 175 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 1 chuồng đực giống + nái hậu bị có 10 ô kích thước 5m × 6m, 6 chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 20 ô kích thước 5m × 6m, và 1 chuồng

úm có 20 ô kích thước 5m × 6m Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; 4 quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị + đực giống và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ

có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng

Trang 12

4

- Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:

Chủ trại: 01 người

Trưởng trại: 01 người

Kỹ thuật trại: 01 người

Kế toán: 01 người

công nhân: 08 người, sinh viên thực tập: 01 người

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thương phẩm Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở

2.2.1 Đối tượng vật nuôi của trại

Trại lợn của Ông Hoàng Văn Viện nuôi các giống lợn như: Yorkshire, Landrace, Duroc

2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở

- Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,5 lứa/năm

Số con sơ sinh là 11,15 con/đàn (có đàn lên đến 17 con/đàn), số con cai sữa: 9,9 con/đàn

Trang 13

- Cơ cấu đàn lợn nái của trại trong 3 năm gần đây

- Cơ cấu đàn lợn nái của trại từ năm 2016 đến nay như sau:

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái của trại từ năm 2016 đến tháng 5 năm 2017

*Nguồn: Trại lợn tại xã cao minh,thị xã Phúc Yên,tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 2.1 cho thấy, số lượng lợn nái sinh sản của trại không có biến động lớn qua các năm Số lượng lợn nái có xu hướng tăng lên, đặc biệt lợn nái hậu bị tăng lên số lượng lớn nhằm thay thế cho các lợn nái sinh sản không đủ tiêu chuẩn và loại thải

2.3 Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

* Các thời kỳ quan trọng của lợn con

+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

Trang 14

6

Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này

+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ

và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi

+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa

Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc

23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con

2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ

Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong kỹ thuật nuôi lợn con ở thời kỳ

bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn ở lợn con

+ Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có

Trang 15

30 - 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể xuống dưới 10oC ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con

Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [16], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh

+ Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến:

Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi Ngoài ra, đuôi lợn dài khi nằm xuống sàn dễ bị nhiễm bẩn, dính phân ở đuôi, khi ve vẩy đuôi sẽ làm cho lợn

dễ nhiễm khuẩn và mắc các bệnh về đường hô hấp

Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc từ 3 đến 5 ngày sau

đẻ Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 - 3 cm Cắt xong dùng cồn iot 70o để sát trùng Lợn sau khi cắt đuôi sẽ giảm được các bệnh về đường

hô hấp, vì đuôi lợn là tác nhân để vi sinh vật và các mầm bệnh tấn công vào

cơ thể do quá trình vẩy đuôi của lợn Ngoài ra, việc cắt đuôi lợn còn hạn chế

Trang 16

Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến

Theo Nguyễn Bá Hiên, Phạm Sỹ Lăng (2013) [14], bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2 dến 4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉa chảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già

Trang 17

9

Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin:

- Salmonella (2 ml/con) phòng bệnh phó thương hàn

- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả

- Giai đoạn 60 đến 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng

và đóng dấu

Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ

sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này

* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi

Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề

15 đến 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn

- bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường nhỏ hơn 35oC Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều

* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi

Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt

Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/ kg thể trọng

để tăng khối lượng, duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của

Trang 18

10

nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết

* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa

Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần

cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con

Một cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội

ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây

ra có thể bắt đầu từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:

+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg

+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con

+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể

+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được

+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa

Trang 19

11

+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống

+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy

2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ

* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [24], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], lợn con mới đẻ lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ lợn mẹ

Theo Trần Thị Dân (2008) [5], lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -

6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin

C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng ˠglobulin mà sữa thường không có, ˠglobulin có tác dụng giúp cho lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật, Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác

Trang 20

12

dụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để hấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao

Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú

ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được

bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phải kiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng có trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh

bị teo vú cho lợn mẹ

Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm thay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn

Theo Duy Hùng (2011) [13], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống

đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy

cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng

bị viêm Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng bị sưng

Trang 21

13

Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con cũ và mới mới không bị lợn mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải

cố định vú bú

* Bổ sung sắt cho lợn con

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ ngày = 210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2mg/ ngày (36

- 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg,

vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắt thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc

3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200

mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi, lần 2: 10 - 12 ngày tuổi Việc tiêm sắt đúng thời điểm cho lợn con cần được thực hiện nghiêm túc, nếu không sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe và sự phát triển của lợn con

Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết

Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằng cách tiêm, cho uống hoặc cho ăn

Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nên dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri - Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cách thức sử dụng:

Trang 22

14

- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200

mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con

- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng 100mg cho 1 lợn con

Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500mg) Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3 sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con

- Cách tiêm sắt cho lợn con

Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kim tiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơm dùng kim 8, dài 1 cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí có thể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay hay sát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằng nước sát trùng Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc

sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn

Nên tiêm vào bắp thịt vùng cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dây thần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán Tiêm sắt vào cơ bắp hay tiêm vào dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểm khuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước

* Tập cho lợn ăn sớm:

- Mục đích:

+ Bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm sau 3 tuần tiết sữa

Trang 23

15

+ Rèn luyện bộ máy tiêu hóa của lợn con sớm hoàn thiện về chức năng, đồng thời kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển nhanh hơn về kích thước và khối lượng

+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế được các bệnh đường ruột của lợn con

+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn

mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con

2.3.4 Cai sữa cho lợn con

* Điều kiện cai sữa cho lợn con:

- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, cân đối

-Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt

- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn

- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật

- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao

Trang 24

16

* Các hình thức cai sữa:

- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợn con khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹ nhàng hơn

+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợn con cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn

- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi

+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên 2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữa thông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ

+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sóc nuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm

* Kỹ thuật cai sữa:

- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con

- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày

- Chế độ ăn đối với lợn con:

+ Tỷ lệ xơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triển

Trang 25

17

chậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đến còi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6 % Xu hướng trong những năm gần đây ở các nước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩu phần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe

+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốt cho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩu phần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăng trọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợn con trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần

+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽ dẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất là protein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễ nhiễm bệnh

Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh: thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăn tinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 : 1, ngoài ra người chăn nuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do

Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg, Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng

+ Phương pháp cho lợn con ăn:

Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọng cao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công lao động trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp

để cho lợn con ăn

Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản

xạ có điều kiện về tiêu hóa

Trang 26

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con

Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

* Yếu tố bên trong:

Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu

* Yếu tố bên ngoài:

Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác

+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong

cơ thể

+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể

Trang 27

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [11], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 34o

C trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

* Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9%

so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời

* Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng

Ngày đăng: 20/11/2017, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Cargill tại Việt Nam (2003), Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn, Sách tham khảo, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Công ty Cargill tại Việt Nam
Năm: 2003
2. Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare (2003), Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare
Năm: 2003
3. Công ty Pig Việt Nam (1998), Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Sách tham khảo, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Công ty Pig Việt Nam
Năm: 1998
4. Trần Cừ (1992), Cơ sở sinh lý nuôi dưỡng lợn con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý nuôi dưỡng lợn con
Tác giả: Trần Cừ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
5. Trần Thị Dân (2008), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
6. Đoàn Thị Kim Dung (2004), “Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị”. Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động của một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
7. Nguyễn Chí Dũng (2013),“Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. Coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị”. luận văn thạc sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. "Coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con nuôi tại tỉnh Vĩnh Phúc và biện pháp phòng trị”
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2013
8. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phƣợng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
10. Trần Đức Hạnh (2013), “Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị”. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu vai trò gây bệnh của Escherichia coli, Salmonella và Clostridium perfringens gây tiêu chảy ở lợn tại 3 tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị”
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Năm: 2013
11. Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc (1998), Stress trong đời sống con người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong đời sống con người và vật nuôi
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Duy Hùng (2011), “Bệnh viêm vú ở lợn nái”,Báo nông nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiê ̣p, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm vú ở lợn nái"”,Báo nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Duy Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p
Năm: 2011
14. Phạm Sĩ Lăng, Nguyễn Bá Hiên ( 2013), Bệnh của lợn tại Việt Nam, trang 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của lợn tại Việt Nam
15. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
16. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997), Giáo trình bệnh nội khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh nội khoa gia súc
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
17. Trần Văn Phùng, Hà Thị Hảo, Trần Thanh Vân, Từ Quang Hiển (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Hà Thị Hảo, Trần Thanh Vân, Từ Quang Hiển
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2004
18. Đặng Minh Phước, Dương Thanh Liêm (2006), “Nghiên cứu sử dụng axit hữu cơ bổ sung vào thức ăn để kích thích tăng trưởng và phòng bệnh lợn con tiêu chảy trên lợn con sau cai sữa”, Tạp chí khoa học chăn nuôi số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng axit hữu cơ bổ sung vào thức ăn để kích thích tăng trưởng và phòng bệnh lợn con tiêu chảy trên lợn con sau cai sữa”, "Tạp chí khoa học chăn nuôi
Tác giả: Đặng Minh Phước, Dương Thanh Liêm
Năm: 2006
19. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khách Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khách Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
20. Lê Văn Thọ (2007), Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Lê Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Lao Động Xã Hội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm